Đề tài không tập trung nghiên cứu toàn bộ những đóng góp của các thế hệ nho sĩ trên vùng đất Quỳnh Lu từ thế kỷ XI đến nay đối với quốc gia dân tộc mà chỉgiới hạn trong phạm vi hơn một t
Trang 1trờng đại học vinh
Trang 2bộ giáo dục và đào tạo trờng đại học vinh
Trang 3Nhân dịp này, chúng tôi cũng xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa sau đại học, Trờng đại học Vinh đã tạo mọi điều kiện thuận lợi trong suốt quá trình học tập, rèn luyện, tu dỡng tại Khoa và Nhà trờng.
Lời cuối cùng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đối với bạn bè, gia
đình và những ngời thân thiết đã luôn động viên, giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôI trong thời gian học tập vừa qua.
Vinh, tháng 12 năm 2009
Học viên
Hồ Đại Thắng
Trang 4Môc lôc
Trang 5Ch÷ viÕt t¾t
Nxb TP HCM Nhµ xuÊt b¶n thµnh phè Hå ChÝ Minh
Nxb VH TT Nhµ xuÊt b¶n v¨n ho¸ th«ng tin
Nxb CTQG Nhµ xuÊt b¶n chÝnh trÞ quèc gia
Nxb KHXH Nhµ xuÊt b¶n khoa häc x· héi
Trang 6Không những nổi tiếng về truyền thống khoa bảng mà vùng đất Quỳnh
Lu còn sinh ra và nuôi dỡng cho quốc gia dân tộc nhiều nhân vật nổi tiếng nh
Hồ Sỹ Dơng, Hồ Bá Ôn, Hồ Sỹ Tuần, Trần Duy, Trần ái, Dơng Thúc Hạp v.v
Đề tài không tập trung nghiên cứu toàn bộ những đóng góp của các thế hệ nho
sĩ trên vùng đất Quỳnh Lu từ thế kỷ XI đến nay đối với quốc gia dân tộc mà chỉgiới hạn trong phạm vi hơn một thế kỉ kể từ khi nhà Nguyễn phục hng giáo dụcNho học cho đến lúc “Nho tàn học cũng tàn theo” nhằm chỉ những mục đíchchính sau đây:
- Nghiên cứu bớc đầu một cách có hệ thống việc các làng khoa bảng,dòng họ khoa bảng và rộng hơn là c dân làng xã Quỳnh Lu đã kế thừa và pháthuy truyền thống giáo dục khoa cử của các thế hệ cha ông trong bối cảnh lịch
sử đầy biến động, không chỉ nghiên cứu về truyền thống lịch sử ở một vùng quênổi tiếng mà thông qua đó còn góp phần nghiên cứu về các làng khoa bảng,dòng họ khoa bảng ở một vùng quê cụ thể, từ đó tìm ra lời giải nhằm giải quyếtnhững vấn đề mà giới nghiên cứu sử học, dân tộc học, xã hội học… lâu nayquan tâm
- Nghiên cứu một cách toàn diện những đóng góp của tầng lớp trí thứcnho sĩ Quỳnh Lu đối với quê hơng, dân tộc trong vòng 117 năm (1802- 1919)
và chính xác hơn là 112 năm (1807- 1919) khi Nhà Nguyễn tổ chức kì thi Hơng
đầu tiên cho đến kì thi Hội cuối cùng đợc tổ chức, góp phần không nhỏ vào việc
Trang 7nghiên cứu quá trình phục hng giáo dục của vơng triều Nguyễn và chỉ rõnguyên nhân lụi tàn của nền giáo dục Nho học đã tồn tại suốt gần 9 thế kỉ qua(1075-1919) Đây là vấn đề đang đợc quan tâm nghiên cứu.
- Đề tài góp phần hệ thống một cách khách quan toàn diện những đónggóp của đội ngũ trí thức Nho học Quỳnh Lu trên các phơng diện: Củng cố, duytrì chế độ phong kiến, bang giao, chống ngoại xâm, văn học nghệ thuật, sử học,triết học…
Từ đó mở ra một cách tiếp cận mới khi nghiên cứu về đội ngũ trí thứcNghệ An và rộng hơn là cả dân tộc không chỉ ở thế kỷ XIX mà trong suốt thờigian dài mà đội ngũ này đợc các vơng triều phong kiến ở nớc ta coi là rờng cộtcủa quốc gia dân tộc
1.2 Về mặt thực tiễn.
Đề tài tập trung nghiên cứu về đóng góp của đội ngũ trí thức Nho họcQuỳnh Lu từ 1802-1919 đối với dân tộc trên nhiều lĩnh vực: giáo dục, khoa cử,văn hoá, chính trị, ngoại giao, chống ngoại xâm…do đó có ý nghĩa thực tiễn sâusắc:
- Đề tài góp phần vào việc nghiên cứu biên soạn lịch sử địa phơng Quỳnh
Lu, đây đang là một vấn đề mà Đảng bộ và nhân dân huyện nhà đang rất quantâm
- Đề tài sẽ là tài liệu quan trọng, hữu ích cho giáo viên THPT và THCS sửdụng,tham khảo để biên soạn bài giảng lịch sử địa phơng ở trờng học
- Đề tài góp phần giáo dục tình yêu quê hơng đất nớc cho các thế hệ trẻ,
đồng thời là tấm lòng tri ân của tác giả đối với quê hơng Quỳnh Lu-nơi tôi đãsinh ra, lớn lên và đợc uống nguồn nớc mát của dòng chảy văn hoá-lịch sử tựbao đời cha ông trao lại
Trên cơ sở đó tôi đã mạnh dạn chọn đề tài "Đóng góp của trí thức Nho học Quỳnh Lu (Nghệ An) đối với lịch sử dân tộc (1802-1919)" làm luận văn
thạc sỹ khoa học
2 Lịch sử vấn đề
Trang 8Cùng với các bộ phận khác trong xã hội thì trí thức có những đóng gópquan trọng trong quá trình phát triển của lịch sử dân tộc, điều này đã đợc trìnhbày sáng tỏ, đậm nét trong kết quả nghiên cứu của giới sử học Viết về vấn đềnày đã có nhiều cuốn sách tiêu biểu đề cập đến nh:
- "Một số vấn đề về trí thức Việt Nam” của tác giả Nguyễn Văn Khánh,Nxb LĐ 2001
- “Danh nhân lịch sử Việt Nam” của GS Vũ Khiêu chủ biên, Nxb TP Hồ
Những tác phẩm trên tạo điều kiện cơ sở cho quá trình nhận thức về vị trí
và vai trò của trí thức trong chặng đờng phát triển của lịch sử từ đó tạo điềukiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình hình thành những nhận thức về đónggóp của lực lợng trí thức đối với lịch sử dân tộc
Trong tác phẩm “Những ông nghè, ông cống triều Nguyễn” của BùiHạnh Cẩn, Nguyễn Loan, Lan Phơng, Nxb Văn hoá thông tin 1995, là côngtrình khoa học lớn giới thiệu với độc giả một cách cụ thể về thân thế, sự nghiệpcủa các nhà khoa bảng thời Nguyễn, nó nh một cuốn từ điển để tạo điều kiệnthuận lợi lớn nhất cho những ngời dùng nó làm t liệu để tra cứu về các nhà khoabảng thời Nguyễn, từ đó thấy rõ vị trí, vai trò quan trọng của khoa cử, bởi đây
là yếu tố cơ bản trụ cột để xây dựng lâu đài văn hoá và văn minh của dân tộcViệt Nam
Dới triều Nguyễn, với 39 khoa thi Hội lấy 291 Tiến sĩ và 266 Phó bảng,với 47 khoa thi Hơng lấy đỗ 5.232 Cử nhân, đã tạo cho xã hội Việt Nam thời
Trang 9Nguyễn một lực lợng trí thức Nho học đông đảo, tạo điều kiện thuận lợi để cácHoàng đế nhà Nguyễn thực hiện công cuộc xây dựng, duy trì và phát triển chế
độ phong kiến trung ơng tập quyền
Trong cuốn: “Quỳnh Lu huyện địa đầu xứ Nghệ“ và Địa chí văn hoá“
Quỳnh Lu “và một số tác phẩm báo chí khác đã nghiên cứu một cách khái quát,
chung chung về điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội, phong tục-tập quán vàcũng đã có đề cập đến một số hoạt động của lực lợng Nho học Quỳnh Lu vànhững đóng góp của họ đối với sự phát triển của quê nhà Tuy nhiên, những tácphẩm đó cha đi sâu vào phân tích, đánh giá, để làm rõ những đóng góp, nhữngcông lao to lớn của tầng lớp trí thức Nho học huyện nhà đối với sự phát triểncủa lịch sử dân tộc từ 1802-1919
Ngoài ra, còn có những luận văn thạc sĩ khoa học nh: "Lịch sử - văn hoá dòng họ Dơng ở Quỳnh Đôi - Quỳnh Lu - Nghệ An " của Mai Thị Khánh
Hồng đã có cái nhìn tổng quan và đã đi sâu nghiên cứu dòng họ Dơng - mộtdòng họ nổi tiếng khoa bảng ở Quỳnh Lu, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giảtrong quá trình tập hợp t liệu về một số nhân vật của dòng họ Dơng trong đónggóp đối với lịch sử dân tộc
Nh vậy, với những công trình nghiên cứu lịch sử trên đã tạo điều kiệnthuận lợi để chúng tôi có điều kiện tiếp xúc với lực lợng trí thức Việt Nam, từ
đó có những so sánh để tìm ra những nét chung, nét riêng giữa trí thức Nho họcQuỳnh Lu với lực lợng trí thức Nho học cả nớc, cũng nh học hỏi về phơng phápluận sử học khi tiếp cận nghiên cứu, đánh giá những đóng góp của lực lợng tríthức Nho học quê hơng Đây là những tài liệu quan trọng để khảo sát cho đề tài
Cùng với Nghị quyết của hội nghị TW VII khoá X về vấn đề trí thức,cùng với sự kế thừa thành quả của các công trình nghiên cứu trớc đó, đồng thờidựa vào nguồn tài liệu lu trữ tại các trung tâm nh: Trung tâm lu trữ quốc gia, thviện trung ơng, th viện tỉnh Nghệ An, th viện huyện Quỳnh Lu, th viện trờng đạihọc Vinh và đặc biệt là tài liệu của ban tuyên giáo huyện uỷ Quỳnh Lu và tài
Trang 10liệu su tầm ở địa phơng tác giả đã cố gắng sàng lọc, phân loại, so sánh, tổnghợp, phân tích, đánh giá để làm nổi bật những đóng góp của trí thức Nho họchuyện nhà về mọi mặt đối với tiến trình phát triển của lịch sử dân tộc, từ đó tạocho các thế hệ sau một cái nhìn khách quan về các nhà trí thức Nho học phongkiến trong giai đoạn 1802-1919 và cũng qua đó có thể khoả lấp đợc nhữngkhoảng trống trong nghiên cứu lịch sử địa phơng.
3 Đối tợng, nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu
Đề tài luận văn tập trung nghiên cứu các nội dung cơ bản sau:
- Thời gian: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu những đóng góp của trí thứcNho học Quỳnh Lu đối với lịch sử dân tộc từ 1802-1919
- Không gian: Trong khuôn khổ của một luận văn Thạc sĩ, chúng tôi chỉdừng lại nghiên cứu những đóng góp của đội ngũ trí thức Nho học từng sinh ra,lớn trên địa bàn huyện Quỳnh Lu mà cha có điều kiện để mở rộng ra phạm vinghiên cứu cả tỉnh Nghệ An, cả toàn quốc
- Nội dung chính của đề tài: Đề tài tập trung nghiên cứu những đóng của
đội ngũ trí thức Nho học Quỳnh Lu đối với quốc gia dân tộc trên các phơngdiện: Kế thừa và phát huy truyền thống giáo dục khoa bảng, văn hoá nghệ thuật,
sử học, củng cố duy trì chế độ phong kiến, xây dựng quê hơng làng xóm,chốngngoại xâm nhằm bảo vệ độc lập dân tộc(1858-1884) và giải phóng dân tộc(1885-1919)
Để làm rõ những nội dung trên, chúng tôi có trình bày khái quát đôi nét
về điều kiện tự nhiên, điều kiện xã hội của huyện Quỳnh Lu và bối cảnh lịch sử,yêu cầu đặt ra đối với quốc gia dân tộc ở thế kỷ XIX, những nội dung kháckhông nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
4 Phơng pháp nghiên cứu
- Đọc, thống kê tài liệu, xử lý tài liệu
- Điền dã, khảo sát hiện trờng, phỏng vấn, điều tra, bổ sung t liệu
Trang 11- Sử dụng phơng pháp thống kê, phơng pháp lô gích, phơng pháp lịch sử vàcác phơng pháp liên ngành.
- Sử dụng phơng pháp phân tích, so sánh, tổng hợp
- Phơng pháp luận sử học Mácxít và t tởng Hồ Chí Minh là sợi chỉ đỏxuyên suốt quá trình nghiên cứu để thực hiện đề tài
5 Nguồn t liệu
Vì đây là luận văn nghiên cứu, đánh giá một vấn đề lịch sử quan trọng,
do đó quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng các nguồn t liệu:
- Tài liệu đợc lu giữ ở th viện Quốc gia, th viện Tỉnh
- Tài liệu tại th viện trờng Đại học Vinh
- Tài liệu ở th viện huyện Quỳnh Lu, Ban tuyên giáo Huyện uỷ
- Thông qua các tạp chí, mạng thông tin đại chúng
- Thông qua các tài liệu ở địa phơng, gia phả các dòng họ,v.v
6 Đóng góp của đề tài
- Là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện có hệ thống đónggóp của đội ngũ trí thức Nho học Quỳnh Lu trong tiến trình phát triển lịch sửdân tộc cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu nghiên cứu
và biên soạn lịch sử địa phơng
- Đa ra những nhận xét chung và riêng của đội ngũ trí thức Nho họcQuỳnh Lu so với trí thức Nho học cả tỉnh, cả nớc
- Tài liệu phục vụ công tác giảng dạy lịch sử địa phơng ở trờng THCS vàTHPT trên địa bàn Nghệ An và nhất là huyện Quỳnh Lu
- Thể hiện tấm lòng của tác giả đối với quê hơng, hy vọng luận văn sẽgóp phần giáo dục tình cảm đối với quê hơng trong thế hệ trẻ
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục Nội dung chínhcủa luận văn bao gồm 3 chơng:
Trang 12¬ng 3 : §ãng gãp cña trÝ thøc Nho häc Quúnh Lu trªn c¸c lÜnh vùc v¨n ho¸,
nghÖ thuËt, v¨n häc, lÞch sö, triÕt häc, ngo¹i giao
Trang 13Nội dung Chơng I trí thức Nho học Quỳnh Lu Kế THừA, PHáT HUY TRUYềN
THốNG giáo dục, khoa BảNG (1802-1919) 1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên và xã hội
1.1.1 Vài nét về điều kiện tự nhiên
Quỳnh Lu là huyện địa đầu xứ Nghệ Tính đến tháng 12.2008 Quỳnh Lu
có 42 xã và 1 thị trấn với hơn 37 vạn dân, mật độ dân số khá lớn với khoảng hơn
660 ngời/km2 và chủ yếu tập trung ở phía Bắc, phía Nam và phía Tây Nam, cònphía Tây dân c còn tha thớt Với 21 xã vùng giáo, 9 xã miền núi và hơn 2.800
hộ dân tộc, huyện nằm ở phía Bắc của tỉnh Nghệ An, đợc coi là phên dậu củatỉnh nhà, và vì thế đây là yếu tố cơ bản tạo điều kiện thuận lợi cho Quỳnh Lu làhuyện đầu tiên tiếp nhận các yếu tố văn hoá chính trị, xã hội từ miền Bắc vào
Quỳnh Lu tuy là huyện đồng bằng nhng địa hình khá phong phú vớinhiều loại địa hình có cả rừng núi, đồng bằng và biển
Diện tích đất tự nhiên: 58.507 ha
Diện tích đất nông nghiệp: 15.427,64ha
Quỳnh Lu có toạ độ địa lý:
Trang 14Phía Nam và Tây Nam, Quỳnh Lu giáp với Diễn Châu và Yên Thành, có
đờng ranh giới dài 31km Cả ba huyện đều chung một khu vực đồng bằng thờnggọi là khu vực đồng bằng Diễn – Yên – Quỳnh Khu vực đồng bằng này vềlịch sử hình thành và đặc điểm đều giống nhau, độ cao so với mặt biển gần đồng
đều, chỗ cao nhất là 3m, chỗ thấp nhất là 0,2m
Phía Tây, Quỳnh Lu giáp với Nghĩa Đàn, có chung đờng ranh giới dài33km, ngăn cách giữa hai huyện là dãy núi chạy dài liên tục
Phía Đông, Quỳnh Lu giáp biển tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triểnkinh tế ng nghiệp
Quỳnh Lu có 3 vùng địa hình rõ rệt:
-Vùng ven biển, với 12 xã phần lớn các xã này nằm lọt giữa Kênh Dâu(thờng gọi là sông Mơ hoặc kênh Nhà Lê) với biển đông Kênh Dâu chạy theochiều Bắc Nam gần nh nằm song song với bờ biển, nối sông Hoàng Mai và sôngNgọc Đệ gồm các xã: Quỳnh Thọ, Quỳnh Long, Quỳnh Thuận, Tiến Thuỷ,Quỳnh Nghĩa, Quỳnh Minh, Quỳnh Lơng, Quỳnh Bảng, Quỳnh Liên, QuỳnhPhơng,Quỳnh Lập và Sơn Hải
Đây là vùng đất do cát, đất bùn và vỏ các loài nhuyễn thể, nói chung làtrầm tích biển bồi tụ nên độ màu mỡ có hạn chế Là vùng nhỏ, hẹp địa hìnhphức tạp, thấp dần về phía Đông, độ chênh từ Tây xuống Đông trung bình là4m, có chỗ 6m so với mặt nớc biển Vì thế đồng ruộng dễ bị xói mòn làm choviệc cải tạo đất đai và canh tác gặp nhiều khó khăn Do đó c dân ở đây chủ yếutrồng các loại cây lơng thực theo mùa: Lúa, ngô, khoai, kê, đâu, lạc, vừng
- Vùng đồng bằng bắt đầu từ Mai Hùng đến Quỳnh Diễn – xã cực Namcủa huỵên Vùng này do sự bồi tụ của các loại trầm tích biển nhng đã lâu đời, đ-
ợc sự cải tạo thờng xuyên của con ngời nên độ phì nhiêu có khá hơn, nhng xéttoàn diện thì ở đây chất phù sa kém hơn so với ở đồng bằng sông Mã, sôngHồng và đồng bằng sông Cửu Long Với sự giúp đỡ của lợng nớc từ đập ba ra
Đô Lơng đa về đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp
Trang 15mà chủ yếu là canh tác trồng lúa nớc Đây là vùng trung tâm kinh tế văn hoá chính trị của huyện, gồm Thị trấn Cầu Giát và các xã Quỳnh Giang, QuỳnhDiễn, Quỳnh Hồng, Quỳnh Mỹ, Quỳnh Hậu, Quỳnh Thạch, Quỳnh Đôi, QuỳnhYên, Quỳnh Thanh, Quỳnh Văn, Quỳnh Ngọc, Quỳnh Bá, Quỳnh Lộc, Quỳnh
-Dị, An Hoà, Quỳnh Hng, Quỳnh Xuân
- Vùng đồi núi bao gồm các xã phía Tây và một số xã phía Bắc, địa thế từTây sang Đông thấp dần, hạ xuống một cách đều đặn tạo nên một dải bán sơn
địa Với sự phong phú về các loại đất đã tạo điều kiện thuận lợi cho khả năng
mở rộng diện tích canh tác, phát triển mạnh chăn nuôi, phát triển nông nghiệp
và lâm nghiệp, gồm các xã Tân Sơn, Quỳnh Châu, Quỳnh Tam,Ngọc Sơn,Quỳnh Tân, Quỳnh Thắng, Tân Thắng, Quỳnh Trang, Quỳnh Vinh, QuỳnhLâm, Quỳnh Hoa, Mai Hùng, Hoàng Mai
Tóm lại: Quỳnh lu là hình ảnh thu nhỏ của Nghệ An mang những nét
điển hình của thiên nhiên Nghệ An, ngoài nét chung Quỳnh Lu còn có mangthêm những đặc điểm riêng biệt Tất cả những nét riêng đó đã tạo điều kiện ảnhhởng có tính quyết định đến các loại hình kinh tế, đến đời sống nhân dân và cáchoạt động văn hoá chính trị khác Với 3 vùng đất khác biệt, không có sự u đãicủa thiên nhiên do đó trong tiến trình phát triển lịch sử nhân dân Quỳnh Lu đãphải bỏ ra nhiều trí tụê và sức lực để chinh phục thiên nhiên cải tạo đất đai, khaikhẩn cày bừa đã làm cho Quỳnh Lu ngày một phát triển trù phú và có nhiều
đóng góp cho sự phát triển của lịch sử dân tộc
Về mặt khí hậu và thời tiết, Quỳnh Lu nằm trong vùng nhiệt đới nhng lại
ở vùng miền biển nên thờng nhận đợc 3 luồng gió:
- Gió mùa Đông Bắc: Gió từ trong lục địa lãnh lẽo của vùng Sibia vàMông Cổ, thổi qua Trung Quốc và vịnh Bắc Bộ tràn về, bà con gọi là gió bắc
- Gió mùa Tây Nam: Gió tận vịnh Bengan tràn qua lục địa, luồn qua dãyTrờng Sơn thổi sang, nhân dân gọi là gió Lào nhng thực chất đây là gió Tây khônóng
Trang 16- Gió mùa Đông Nam mát mẻ từ biển Đông thổi vào, nhân dân gọi là gióNồm.
Và nh toàn tỉnh Nghệ An, khí hậu Quỳnh Lu đợc chia làm 2 mùa rõ rệt:
- Mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 10 dơng lịch
- Mùa lạnh từ tháng 11 năm trớc đến tháng 4 dơng lịch năm sau
Mùa ma bão thờng bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9 âm lịch có thể kể cónhiều trận lụt bão, hạn hán mất mùa mà tiêu biểu đã đợc lịch sử ghi lại, tiêubiểu nh hạn hán năm 1931:
Ngồi buồn kể sự lo thay Năm Ngọ vừa khỏi, năm này cũng chẳng ra sao Hạn ba bốn tháng xôn xao,
Kẻ lên giếng Bái, ngời vào giếng Hung……
Nhờ là vùng có biển nên Quỳnh Lu có điều kiện thuận lợi hơn, vì giápThanh Hoá xa dãy Trờng Sơn, nên gió mùa Đông Bắc và ma phùn cũng chỉ thổiqua vài ngày, không dầm dề, ớt át kéo dài lê thê nh ở nhiều huyện Nam Đàn,Thanh Chơng, Đô Lơng,v.v
Với vị trí địa lý, với địa hình nh vậy nên Quỳnh Lu cũng giống nh DiễnChâu có một hệ thống giao thông phong phú và đa dạng, là nơi có nhiều loạihình đờng giao thông Quốc gia đi qua Đó cũng là một yếu tố thuận lợi cho quátrình trao đổi về văn hoá, giao lu phát triển về kinh tế
1.1.2 Vài nét về điều kiện xã hội
Quỳnh Lu là đất của bộ Hàm Hoan Đời Hán đặt là huyện Hàm Hoan –huyện lớn nhất của quận Cửu Chân Thời Tam Quốc và Lỡng Tấn, Hàm Hoan là
đất của huyện Cửu Đức nhng Hàm Hoan lúc này không bao gồm cả Nghệ Tĩnh
mà chỉ có các huyện Anh Sơn, Tân Kỳ, Nghĩa Đàn, Quỳ Châu (cũ), Yên Thành
và Diễn Châu bây giờ, trong đó Quỳnh Lu
Thời Nam Bắc triều và thời Tuỳ vẫn thế Năm 618, nhà Đờng lật đổ nhàTuỳ, buổi đầu nhà Đờng cũng theo cơng vực của các quận, huyện nh nhà Tuỳ,
Trang 17đặt vùng này là quận Trung Nghĩa, sau gọi là quận Diễn Thuỷ Trong thời TrinhQuán (627 - 650) lại bỏ, gồm cả Nghệ Tĩnh hiện tại gọi là Hoan Châu Mãi nămQuảng Đức thứ 2 (764) mới tách một phần Hoan Châu, đặt Diễn Châu xếpngang hàng với Hoan Châu, đó là một dãy đất từ Cầu Cấm (Nghi Lộc) chảythẳng lên Quế Phong và ra mãi khe Nớc Lạnh, giáp Châu ái (tức Thanh Hoábây giờ) trong đó có Quỳnh Lu Buổi đầu tự chủ, vùng đất Nghệ Tĩnh đợc gọi làChâu Hoan và Châu Diễn, Quỳnh Lu thuộc vùng đất Châu Diễn.
Năm 1009, nhà Lý thay nhà Tiền Lê, thời gian đầu vẫn gọi là “châu”, sau
đó Lý Thái Tổ chia nớc ta thành 24 lộ Diễn Châu là một lộ, Quỳnh Lu nằmtrong lộ Diễn Châu Đời Lý Nhân Tông gọi Diễn Châu là “phủ” Tuy chia nớc
ta ra các đơn vị hành chính nh thế nhng sự cũ vẫn gọi Nghệ An cũ (bao gồm cả
Hà Tĩnh) là Châu, nên mới gọi Lý Nhật Quang là Tri Châu Nghệ An
Năm 1225, nhà Trần lên tiếp tục kinh dinh vùng Hoan Diễn, năm 1256
đổi Hoan Châu và Diễn Châu làm trại rồi lại gọi là lộ và phủ Năm Quang Tháithứ 10 (1397) đổi Diễn Châu thành trấn Vọng Giang
Đến đời Hồ, Nhà Hồ đổi trấn Vọng Giang thành phủ Linh Nguyên TrấnVọng Giang hay phủ Linh Nguyên tức là Châu Diễn thời Trần, Hồ gồm có cáchuyện: Thiên Động, Phù Dung, Phù Lu, Quỳnh Lâm và Trà Thanh Thời Minhlại gọi là phủ Diễn Châu Sách “Đất n ớc Việt Nam qua các đời” của Đào Duy
Anh cho rằng huyện Thiên Động là đất của huyện Yên Thành ngày nay, PhùDung là đất của huyện Diễn Châu, còn Phù Lu, Trà Thanh và Quỳnh Lâm là đấtcủa huyện Quỳnh Lu, Nghĩa Đàn hiện tại
Đời Lê, buổi đầu Diễn Châu thuộc đạo Hải Tây Năm Quang Thuận thứ
10 (1469) Lê Thánh Tông định lại bản đồ để thống thuộc các phủ, huyện vàocác Thừa Tuyên gọi là Nghệ An Thừa Tuyên Năm Hồng Đức thứ 21 (1490) đổilàm xứ, trong đời Hồng Thuận (1509 - 1516) đổi làm trấn Đời Tây Sơn và đầu
đời Nguyễn vẫn gọi là trấn Nh vậy từ năm 1469, Diễn Châu chỉ là một phủ củatrấn Nghệ An Phủ Diễn Châu có 2 huyện: Đông Thành (Diễn Châu và Yên
Trang 18Thành hiện tại) và Quỳnh Lu (tức Quỳnh Lu hiện tại và Nghĩa Đàn trớc đây).Cái tên Quỳnh Lu có từ đó.
Thời Nguyễn đời Gia Long vẫn gọi là trấn Nghệ An Năm Minh Mệnhthứ 12 (1831) mới đặt tỉnh Nghệ An và tỉnh Hà Tĩnh Quỳnh Lu thuộc phủ DiễnChâu, tỉnh Nghệ An Năm Minh Mệnh thứ 21 (1840) tách 4 tổng phía Đônggồm Phú Hậu (sau đổi thành Hoàn Hậu), Thanh Viên, Quỳnh Lâm và HoàngMai gọi là huyện Quỳnh Lu lệ vào phủ Diễn Châu Năm 1919, chính quyềnthực dân Pháp và Nhà nớc phong kiến Việt Nam bỏ cấp phủ, Quỳnh Lu khôngcòn là cấp dới của phủ Diễn Châu Diễn Châu vẫn gọi là phủ nhng chỉ lãnh 5tổng, ngang bằng hay hơn tí chút huyện Quỳnh Lu, không còn là cấp quản lý vềphơng diện nhà nớc đối với huyện Quỳnh Lu
Cách mạng tháng 8 thành công, Nhà nớc ta gọi các đơn vị hành chínhphủ, huyện, châu đều là huyện và có điều chỉnh một số phần đất, một số làngcủa huyện Diễn Châu, Yên Thành đợc cắt về Quỳnh Lu Và từ sau năm 1954,Quỳnh Lu có 41 xã và 1 thị trấn (trong đó có 9 làng cắt từ Diễn Châu, YênThành sang) – Hiện nay Quỳnh Lu có 42 xã và 1 thị trấn
Đó là quá trình hình thành tên huyện, còn trong thực tế thời NguyênThuỷ cách chúng ta 5000 đến 6000 năm đã có c dân trên đất Quỳnh Lu Họsống trên các đồi điệp đã để lại một nền văn hoá mà các nhà khảo cổ học, sửhọc gọi là “Văn hoá Quỳnh Văn” Ngời Nguyên Thuỷ sống ở Quỳnh Lu từ vănhoá Quỳnh Văn (sơ kỳ đồ đá mới) đến văn hoá Đông Sơn (đồ đồng) ở Đồi Đền(Quỳnh Hậu), trải qua quá trình thăng trầm của thời gian, dần dần c dân lan toảdần từ vùng bán sơn địa phía Tây và phía Tây Bắc xuống các cồn gò, các rễ đấtven núi, ven đồi Nớc biển lùi dần đến đâu họ đắp đập ngăn mặn lập trang trại
đến đó Và nh vậy đến cuối đời Trần, tuy còn tha thớt nhng khắp địa bàn Quỳnh
Lu đều có c dân sinh sống Và cho đến thời Lê, cái tên Quỳnh Lu chính thức
đ-ợc dùng
Trang 19Về tôn giáo tín ngỡng, xuất phát từ niềm tin và lòng hớng thiện, ở vùng
đất nhỏ hẹp này đã tập trung một lợng dân số khá đông đi theo các tôn giáokhác nhau: Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo và Thiên chúa giáo Đặc bịêt là thiênchúa giáo, có nhiều làng công giáo toàn tòng nh Song Ngọc ở QuỳnhNgọc,Yên Hoà ở Quỳnh Vinh,Thanh Giã ở Quỳnh Thanh…100% dân số đi theo
đạo thiên chúa Sự đa dạng trong tín ngỡng đã tạo nên một số khó khăn nhất
định cho quá trình phát triển mọi mặt của huyện nhà, đặc biệt là việc tổ chức
đoàn kết toàn dân trong công cuộc đấu tranh chống kẻ thù và công cuộc lao
động sản xuất xây dựng quê hơng, đất nớc
Với những điều kiện tự nhiên có nhiều khó khăn và thuận nhng trong ờng kỳ lịch sử chúng ta thấy con ngời Quỳnh Lu xứng đáng với hai chữ “địa
tr-đầu” tức là luôn đi đầu sóng ngọn gió trong quá trình kiên cờng chế ngự thiênnhiên, lợi dụng thiên nhiên để khai thác nó, mảnh đất chẳng lấy gì đợc thiênnhiên u đãi để làm nên những cánh đồng màu mỡ, nhiều xóm làng trù phú đợc
ra đời “Thợng Ngũ Bàu, hạ Lục Phú ” là niềm tự hào của ngời Quỳnh Lu Trí
óc và cách sống của họ đã không dừng lại ở Quỳnh Lu với cuộc sống nôngnghiệp tự cấp mà đã vơn lên vợt đến các vùng miền khác khắp kinh kỳ,từ trấn
Đàng Ngoài, vào Huế, Đà Nẵng, Đàng Trong trao đổi hàng hoá làm choQuỳnh Lu thoát khỏi vùng khép kín vốn có - là yếu tố cố hữu của làng xã ViệtNam Rồi các ông đồ ở các làng quê Phú Đa, Phú Nghĩa, Hoàng Mai, Quỳnh
Đôi đã từng đeo khăn gói đỏ theo đờng thiên lý đi truyền bá chữ nghĩa, truyềnbá đạo lý khắp bốn phơng, từ đó làm cho ngời Quỳnh Lu đã tiếp cận đợc vớinhiều vùng văn hóa trong nớc, cả vùng văn hoá kinh kỳ, đem nhiều thông tinmới lạ về cho nhân dân, để Quỳnh Lu ứng xử nhanh nhạy hơn trong cuộc sốngnhững khi gặp khó khăn Điều đó chúng ta đợc thấy rõ phần nào trong nhữngnăm loạn lạc đói kém, dịch tễ nhân dân Quỳnh Lu ít ngời phiêu tán, ít ngời bịchết đói hoặc phải đi ăn mày, ăn xin khắp tứ phơng
Trang 20Dù phải đối phó với nhiều khó khăn, với các thế lực nh giặc ngoại xâm,các cuộc chiến tranh nội bộ… mà cổ nhân đã để lại câu:
“Quỳnh Lu chiến địa Mai giang huyết hồng
Nhng ở trong bất kỳ hoàn cảnh nào, khí chất và tính cách con ngờiQuỳnh Lu vẫn mau chóng vợt lên những phá phách, những điêu tàn, những đauthơng, mau chóng vơn lên để khôi phục cuộc sống, đa cuộc sống mãi mãi pháttriển Trong cuộc sống hàng ngày, họ sống cần cù kiệm ớc đã thành nề nếp, tôntrọng ngời có công với đất nớc, với nhân dân, hâm mộ các anh hùng tôn trọng tổtiên, kính yêu cha mẹ, sống với anh em bạn bè, bà con, làng nớc tơng thân tơng
ái Ngoài ra họ còn có tinh thần hiếu học, biết thởng thức cái đẹp trong cuộcsống, trong xã hội, trong văn chơng
Tinh thần chung của nhân dân xứ Nghệ nói chung của Quỳnh Lu nóiriêng là yêu cuộc sống, tin tởng vào tự nhiên, tin tởng vào tơng lai, giàu tìnhnghĩa, thông minh, trọng khí tiết, sẵn sàng hy sinh về việc lớn Đức tính chịukhó, chịu khổ, yên cảnh bần hàn đã qua, giờ đây họ càng chịu khó, nhng chịukhó lao động, chịu khó học tập, chịu khó suy nghĩ sáng tạo để vợt lên hoàn cảnhlàm ra làm nhiều sản phẩm đẹp cho gia đình, cho xã hội để tạo cho cuộc sống
ấm no hạnh phúc Đó cũng là yếu tố cơ bản quan trọng, tạo cho sự đóng góp tolớn của Quỳnh Lu vào sự phát triển của toàn xã hội, của dân tộc trong mọihoàn cảnh lịch sử
1.2 Khái quát về truyền thống khoa bảng
1.2.1 Truyền thống giáo dục khoa bảng
Giáo dục là nguồn gốc của mọi tiến hoá xã hội, có mối quan hệ đến
“Yên, Nguy, Trị, Loạn” và vì thế giáo dục đợc đánh giá vô cùng quan trọng,
đ-ợc ngời đời coi trọng và mọi quốc gia dân tộc, trong các giai đoạn lịch sử nhất
Trang 21định cũng đều coi trọng vấn đề này, điều này đợc thể hiện qua cách đặt vấn đềgiáo dục và nội dung giáo dục của các quốc gia đó Giáo dục bao gồm, giáo dụcgia đình, giáo dục xã hội và giáo dục nhà trờng Ba môi trờng đó ở quốc gianào, địa phơng nào, ở thời gian nào cũng đều phải gắn liền với nhau, Quỳnh Lucũng nh vậy Và do đó, từ xa xa, giáo dục, khoa cử đã trở thành truyền thống tốt
đẹp, tạo điều kiện cho sự phát triển của giáo dục, khoa cử giai đoạn sau này củaquê hơng Quỳnh Lu
Gia đình đợc coi là trờng học đầu tiên của cuộc đời con ngời, là nơi hìnhthành nhân cách của mỗi con ngời Dạy con từ thuở còn thơ qua lời ru của ông
bà, cha mẹ, là bắt đầu truyền thụ văn hoá dân tộc và văn hoá loài ngời cho concháu Từng phút, từng giây cha mẹ, ông bà truyền cho con cháu những tìnhcảm, những nhận thức, những ý nghĩ của mình, những trải nghiệm của mìnhtrong cuộc sống và những mong ớc đối với con cháu khi khôn lớn trởng thành
ở Quỳnh Lu, mọi gia đình đều muốn có những đứa con ngoan, vì thế họphải dày công dạy bảo, ngoài giáo dục bằng lơì nói, cha mẹ, ông bà phải lấyhành động của mình để làm gơng hiếu thảo cho con cái noi theo, dạy con phảibiết theo lứa tuổi, theo giai đoạn phát triển của con cái Nhận ra đợc điều nàycũng là một kỳ công của ngời làm cha, làm mẹ trong quá trình nuôi dạy con cái
Đối với những gia đình có học vấn, nhất là những gia đình khoa bảng,việc giáo dục con cái trong gia đình rất đợc coi trọng, ngoài tri thức dân giancòn có những bài giáo huấn, những gơng đạo lý trong sách vở, những gia đìnhnày thờng rất nghiêm ngặt trong cách dạy con cái từ lúc ấu thơ, từng lời nói,cách đi, nết đứng, cách ứng xử phải làm sao đó để chứng tỏ con cái mình làcon nhà gia giáo, phải khuyên dạy để mọi thành viên trong gia đình hoà thuận,
đoàn kết, nhất là con cái phải c xử với nhau, c xử với mọi ngời trong gia
đình,với họ hàng thân thuộc và với bà con làng xóm phải có lễ phép, có nề nếp,
có văn hoá, có lễ độ, đoàn kết, biết nhờng nhịn kính trên nhờng dới Và nh vậygiáo dục đã có truyền thống từ xa xa, để có đợc những con ngời sống tốt cho đời
Trang 22thì việc giáo dục đã đợc quan tâm và trở thành yêu cầu cơ bản không thể thiếutrong các làng, xã Điều này đợc thể hiện rõ nhất thông qua một số di huấn củamột số dòng họ:
Nh di huấn của dòng họ Vũ ở làng Phú Mỹ xã Quỳnh Hoa có đoạn viết:
Phải cần, phải kiệm, phải nhẫn, phải công tâm, đó là phép tề gia muôn
“
thủơ [32;336]”
“Cha phải nghiêm, mẹ phải hiền, anh em phải kính nhờng, con phải hiếu thảo, cháu phải thừa (vâng chịu, tiếp nối), vợ chồng phải ân ái, trai gái phải riêng, lớn bé có lễ phép, đó là gia đình có lễ Với bầu bạn phải thật thà,
sự nớc phải trong, yêu ngời cô, trọng ngời hiếm, kính ngời già, thơng ngời nghèo đó là tu thiện, tu phúc”[32;337]
“Gặp lúc cơ cẩn phải giúp đỡ nhau, khi hoạn nạn phải tơng cứu; Hôn nhân, tử táng phải tơng trợ”.[32;337]
Nh vậy giáo dục con cái trong các gia đình tại các làng, xã còn tạo chocon cháu ý thức giữ gìn danh dự cho cha mẹ, cho gia đình, cho họ hàng Tronghơng ớc làng Thanh Sơn soạn ngày 9/11/1854 trong điều 6 ghi rõ: “Ngời nào trong làng bất hiếu, bất đệ và bất mục, quả có bằng chứng, chức dịch phạt tiền 1 quan 2, hộ hạng phạt 30 roi ”
Khoán ớc làng Thợng Yên: “Làng cấm mọi ngời chửi bới lẫn nhau, cấm con cái đánh đập lăng mạ cha mẹ, ông già bà lão; Cấm vợ không đợc đánh, chửi chồng Đàn bà đánh chửi chồng làng bắt gọt đầu bôi vôi rao mõ khắp thôn xóm Nghiêm cấm ngoại tình thông dâm Ai mắc tội ngoại tình thì làng cũng bắt cạo trọc đầu, bôi vôi rao mõ khắp xóm”.[32;337]
Hơng ớc làng Tiên Yên, trong điều 15 ghi rõ: “Những ngời nào trong làng mà phạm vào tội bất hiếu, bất mục, hoặc gian dâm dạo ác hay là khinh mạn kẻ tôn tởng đều theo trờng hợp mà định phạt Nếu ngang ngạnh không chịu, thì sẽ thân trình quan trên xét [32;338]”
Trang 23Khoán ớc của hội T văn Quỳnh Đôi còn viết: “Hễ có một ng ời nào ngang ngợc hay chửi bới ngời khác thì con cháu ngời ấy có đến học với thầy nào thời không đựơc dạy, bởi vì những con cháu ngời đó hoặc ngời ấy có đi thi Hơng, thi Hội, bản hội cũng không cho vào hội T văn, nhà ngời ấy có việc mừng rỡ hay ma chay, mời T văn làm lễ, T văn không đợc chỉnh tề áo mũ đến giúp, làm thế để trừng giới”.[40;73]
Nh vậy, giáo dục trong gia đình là một mắt xích quan trọng đầu tiên cho
sự phát triển giáo dục – khoa bảng trong giai đoạn sau bởi chính quá trình này
đã tạo nên cho con ngời những nhận thức, quan điểm, t tởng về học hành, thi cử,khoa bảng một cách hoàn hảo Và vì thế ở Quỳnh Lu đã tạo nên đợc một truyềnthống hiếu học, truyền thống đó đã đợc đúc kết qua thời gian bằng những kếtquả to lớn với những chức danh, chức sắc trong lịch sử dân tộc
Lê Quỳnh ngời xã Hoàng Mai – Nay là Quỳnh Thiện đã đỗ đệ TamGiáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Quý Mùi niên hiệu Phúc Thái I (1643) đời LêChân Tông – là ngời mở đầu cho nền khoa cử Quỳnh Lu, mặc dù khá muộn,tức là giữa thế kỷ XVII Quỳnh Lu mới có ngời đỗ đại khoa nhng cũng từ đó vềsau Quỳnh Lu có khá nhiều ngời đỗ đạt, đó là cái gốc căn bản để làm gơng chomuôn đời sau về học hành khoa cử Có thể nói đây là bớc ngoặt quan trọng cho
sự đỗ đạt thành danh của các thế hệ con cháu sau này Xét một cách toàn diệnnhững ngời Quỳnh Lu đỗ đạt ở các kỳ thi ngày một tăng, đó chính là thành quảcủa công tác giáo dục gia đình, nhà trờng và xã hội, là sự kế thừa của nhữngmặt tích cực tiến bộ mà thế hệ trớc để lại và đây chính là căn nguyên để làmcho huyện nhà thịnh đạt qua bao đời Trải qua các kỳ thi, Nho sĩ Quỳnh Lu đã
đạt đợc đại khoa:
1) Lê Quỳnh (1513)
Ngời xã Hoàng Mai, nay là xã Quỳnh Vinh, huyện Quỳnh Lu Đỗ đệTam Giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Quý Mùi niên hiệu Phúc Thái 1 (1643)năm 31 tuổi đời Lê Chân Tông Làm quan đến chức Hiến sát sứ
Trang 242) Hồ Sỹ Dơng (1622 - 1681)
Ngời xã Hoàn Hậu, nay là xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu Năm ất Dậu(1645), ông dự thi Hơng đỗ giải nguyên đến năm Mậu Tý (1648) vì đi thi hộngời khác cho nên phạm tội sung vào quân ngạch Đến khoa thi Hơng Tân Mão(1651) đi thi lại đỗ Năm sau đi thi Hội, 31 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩxuất thân khoa Nhâm Thìn niên hiệu Khánh Đức 4 (1652) đời Lê Thần Tông.Làm quan đến chức Tham tụng, Hình bộ Thợng Th kiêm Đông đại các học sĩ,giám tu quốc sử, tớc Duệ quận công Năm Chính Hòa 2 (1682), ông mất, thọ 60tuổi Sau khi mất đợc tặng chức Thiếu bảo, Binh bộ thợng th
3) Hồ Phi Tích (1675 - 1744)
Ngời xã Hoàn Hậu, nay là xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu Năm 26 tuổi
ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp) khoa Canh Thìn niên hiệuChính Hòa 21 (1700) đời Lê Hi Tông Từng đi sứ sang nhà Thanh Làm quan
đến chức hình bộ thợng th, tớc Quỳnh quận công Thọ 70 tuổi Sau khi mất đợctặng chức Thiếu bảo
4) Hồ Sĩ Tân (1691- 1760)
Ngời xã Hoàn Hậu, nay là xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu, cháu họ của
Hố Sĩ Dơng Năm 31 tuổi, ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa TânSửu niên hiệu Bảo Thái 2 (1721) đời Lê Dụ Tông Làm quan đến chức Hàn Lâm
đãi chế Thọ 70 tuổi
5) Hồ Sĩ Đống (1739 - 1785)
Còn có tên là Hồ Sĩ Luyện, ngời xã Hoàn Hậu, nay là xã Quỳnh Đôi,huyện Quỳnh Lu Năm 34 tuổi, ông đỗ Hội nguyên Năm sau đó đỗ Đìnhnguyên, Đệ nghị giáp Tiến sĩ xuất thân (Hoàng Giáp) khoa Nhâm Thìn niênhiệu Cảnh Hng (1772) đời Lê Hiển Tông Ông từng đợc cử làm phó sứ sang nhàThanh Khi trở về đợc thăng chức Hộ bộ Tả thị lang Vì có tang cha nên cáoquan về nhà Trịnh Khải phục dụng, phái ông đi xem xét công việc vùng ThuậnQuảng Sau đó triệu ông về kinh, đổi bổ sang võ giai, giữ chức quyền phủ sự
Trang 25(1/1784) Sau thăng chức Đồng Tham tụng, tớc Kinh Dơng Hầu Mất năm CảnhHng ất Tỵ (1785) Thọ 47 tuổi Sau khi mất, đợc thăng chức Thợng th Bộ binh,tớc Ban quận công.
6) Phan Hữu Tính (1773 1831)–
Ngời xã Hoàn Hậu, nay là xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu tỉnh Nghệ
An Đỗ giải nguyên trờng thi hơng Nghệ An khoa Tân Tỵ (1821) 49 tuổi đỗ Đệtam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Ngọ niên hiệu Minh Mệnh 3(1822) Lúc đầu đợc bổ làm Đốc học Định Tờng, sau đợc điều về kinh làmLang trung bộ Lại, sau chuyển sang Lang trung bộ Binh, thăng đến chức Tnghiệp quốc tử giám
Hữu Tính làm quan trong sạch, sống giản dị, không khác gì ngời học trònghèo Lúc công việc nhàn rỗi, thích cùng với sĩ nhân vui thởng văn thơ
7) Vũ Nguyên Dinh (? - 1858)
Ngời xã Thanh Viên, nay xã Quỳnh Thanh, huyện Quỳnh Lu Ông đỗ Cửnhân khoa Canh Tý (1840) Năm sau, đỗ Phó bảng khoa Tân Sửu niên hiệuThiệu Trị 1 (1840) Lúc sau đợc bổ chức Hàn lâm hiệu thảo, sau điều làm triphủ Thiên Phúc Năm Thiệu Trị 7 (1847) về kinh làm giám sát Ngự Sử Năm Tự
Đức 1(1848) chuyển sang lễ khoa chởng ấn cấp sự trung Thờng cùng ngự sửNguyễn C dâng sớ tâu trình về việc đói kém của các hạt Thừa Thiên, QuảngBình, Hà Tĩnh, Nghệ An Năm Tự Đức 8 (1855) làm án sát sứ Gia Định Banăm sau mất tại ly sở (1858)
8) Hồ Sĩ Tuần (1813-?)
Ngời xã Phú Hậu, nay là xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu Năm 32 tuổi
đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân khoa Giáp Thìn niên hiệu Thiệu Trị 4(1844) Lúc đầu đợc bổ tri phủ Quảng Oai, làm hàn lâm hiệu thảo Năm Tự Đức
1 (1848) đợc điều về kinh thăng Lễ Bộ Lang trung, Thị giảng học sĩ, sung sửquán toản tu, chuyển sang Biện lý bộ lễ rồi đợc thăng Tuần phủ Quảng Yên Cótiếng thanh liêm, thẳng thắn Mất tại lị sở, truy tặng chức bố chánh sứ
Trang 269) Văn Đức Giai (1807-?)
Còn gọi là Văn Đức Khuê, ngời xã Phú Hậu, nay là xã Quỳnh Đôi, huyệnQuỳnh Lu Ông đỗ Cử nhân khoa Quý Mão, 38 tuổi đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩxuất thân khoa Giáp Thìn niên hiệu Thiệu Trị 4 (1844) Trớc từng mộ quânnghĩa dũng tòng chinh ở quân thứ Gia Định, mấy lần thăng chức lên tới Bốchánh Phú Yên , sau sung tán lý quân vụ ở quân thứ Hải An, tuẫn tiết, đợc truytặng chức tuần phủ Sinh thời, ông có tiếng là thanh liêm, sớm mồ côi cha, lớnlên thờ phụng mẹ có hiếu Sau khi thi đỗ về c tang mẹ 3 năm, ngày nào cũngbuồn đau thống thiết, mọi ngời suy tôn là hiếu hạnh
10) Trần Hữu Dực (1821-?)
Còn có tên là Trần Hữu Di, ngời xã Đăng Cao, nay là xã Quỳnh Giang,huyện Quỳnh Lu Ông đỗ Cử nhân khoa Canh Tuất (1850) 31 tuổi đỗ bác họchoành từ, Đệ tam giáp đồng cát sĩ xuất thân, chế khoa cát sĩ năm Tân Hợi niênhiệu Tự Đức 4 (1851) Làm quan thị giảng ở viện Tập hiền Lúc đầu, ông đợc
bổ làm Hàn lâm viện tu soạn, điều bổ Tri phủ Vĩnh Tờng, sau đợc điều về kinhlàm việc ở Tập hiền viện, sung Kinh diên khởi c chú Ông mộ binh ứng nghĩachống Pháp, cha kịp đi thì mất,
11) Phạm Đình Trác (1824-?)Ngời xã Thanh Sơn, nay là xã Sơn Hải,
huyện Quỳnh Lu Ông đỗ Cử nhân khoa Canh Tuất (1850) Năm 30 tuổi đỗ Phóbảng khoa Quý Sửu niên hiệu Tự Đức 6 (1853) Làm quan Tri huyện
12) Trần Vĩ (1840-?)
Ngời làng Thọ Mai, nay thuộc xã Mai Hùng, huyện Quỳnh Lu Cháu củaTrần Dung, con của Trần ái Ông đỗ Cử nhân khoa Tân Dậu (1861) 26 tuổi đỗPhó bảng khoa ất Sửu niên hiệu Tự Đức 18 (1865) Làm quan Đốc học QuảngNam, sau bị giáng chức, sung quân
13) Nguyễn Sĩ Phẩm (1841-?)
Ngời xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu, nay cũng là Quỳnh Đôi Ông đỗ
cử nhân khoa Đinh Mão (1867) 29 tuổi đỗ Hội nguyên, Đệ tam
Trang 27giáp đồng Tiến sĩ xuất thân Ân khoa Kỷ Tỵ niên hiệu Tự Đức 22(1869) Làm quan Hàn lâm biên tu.
14) Hồ Bá Ôn (1842 - 1883)
Ngời xã Quỳnh Đôi, nay cũng là xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu Con
ông Hồ Trọng Toàn, đỗ Cử nhân khoa Canh Ngọ (1870) 22 tuổi đỗ Phó bảngkhoa ất hợi niên hiệu Tự Đức 28 (1875) Làm quan trải các chức Hàn Lâmviện kiểm thảo, sung nội các Biên tu, Tri huyện Hơng Thủy Năm tự Đức 30(1877) thăng hàm Trớc tác, lĩnh chức nội các Thừa chỉ, chuyển Thị độc Năm
Tự Đức 34 (1881) lĩnh chức án sát Nam Định Tháng 2.1881, quân Pháp đóngchiếm Hà Nội và Nam Định, ông cùng Tổng đốc Vũ Trọng Bình và Đề đốc LêVăn Điếm xuất quân đánh chiếm lại thành Văn Điếm chết tại thành, ông bị th-
ơng Quân sĩ hết lòng chạy chữa thuốc thang nhng ông nói: “Thành đã mất thìcần sống làm gì” Nhà vua nghe chuyện thơng tiếc, cấp tiền bạc đa về quê rồimất Thọ 41 tuổi Truy tặng Quang lộc tự khanh
15) Dơng Thúc Hạp (1835-?)
Ngời xã Quỳnh Đôi, nay cũng là xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu Ông
đỗ Cử nhân khoa Kỷ Mão (1879) 50 tuổi đỗ Đệ tam giáp Đồng Tiến sĩ Xuấtthân ân khoa giáp thân niên hiệu Kiến Phúc 1 (1884) Làm quan đốc họcNghệ An
16) Hoàng Mậu (1858-1935)
Ngời xã Quỳnh Đôi, nay cũng là xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu Ông
đợc coi nh một thần đồng,gặp cảnh nhà nghèo không thể đi thi đợc, khoa GiápThân (1884) đỗ nhị trờng, khoa Giáp Ngọ (1894) ông đỗ Cử nhân, 40 tuổi đỗPhó bảng khoa ất mùi (Thành Thái 7 -1895) Làm quan Tri Phủ Nông Cống,Tri phủ Quảng Xơng, Giáo thụ Thọ Xuân (Thanh Hóa), 60 tuổi nghỉ hu, đợctặng Hồng Lô tự thiếu Khanh hu trí, từng giữ chức Toản tu Quốc sử Quán triều
Trang 28Nguyễn, tham gia biên soạn đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục chínhbiên.
17) Phan Duy Phổ (1855 -?)
Ngời xã Quỳnh Đôi, nay là xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu Ông đỗ Cửnhân khoa Nhâm ngọ (1882) 53 tuổi đỗ phó bảng khoa Đinh Mùi niên hiệuThành Thái 19 (1907), không làm quan, ở nhà mở trờng dạy học
18) Lê Xuân Mai (1874 -?)
Ngời xã Phú Hậu, nay là xã Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lu, sinh năm GiápTuất, đỗ Cử nhân khoa Đinh Dậu (1897) Năm 37 tuổi ông đỗ Phó bảng khoacanh tuất niên hiệu Duy tân 4 (1910) Làm quan thừa biện bộ Lại
19) Đinh Loan Tờng (1880 -1941)
Ngời thôn Ngọc Đoài (Quỳnh Ngọc), nay thuộc xã Quỳnh Hng, huyệnQuỳnh Lu Ông là con của Đinh Luyện, em của Đinh Đĩnh Đỗ Cử nhân khoa
ất mão (1915) Năm 31 tuổi, ông đỗ Đệ tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoabính thìn niên hiệu Khải Định 1 (1916) Làm Thừa phái bộ Lại
Nh vậy, từ thời Lê Chân Tông (1643) cho đến thời Nguyễn, ở Quỳnh Lu
có 19 ngời đỗ đại khoa, thời Nguyễn có 14 ngời
Về trung khoa, riêng Cử nhân thời Nguyễn ở Quỳnh Lu có 88 ngời Đây
là một sự thành công lớn, bởi chúng ta biết rằng, theo “Quốc triều hơng khoalục” của Cao Xuân Dục thì kể từ khoa thi Hơng đầu tiên năm Đinh Mão niênhiệu Gia Long 6 (1807) cho đến khoa Mậu Ngọ (khoa cuối cùng) năm Khải
Định thứ 3 (1918) thì: Toàn quốc có 7 trờng thi, gồm 47 khoa thi Hơng, số ngờilấy trúng Cử nhân là 5.226, Quỳnh Lu trúng 88 ngời, trong khi Nghệ An và HàTĩnh đỗ 833 ngời, nghĩa là Quỳnh Lu chiếm khoảng 11%
Có 38 khoa sĩ tử Quỳnh Lu trúng bảng, có nhiều khoa sĩ tử Quỳnh Lutrúng bảng khá đông Đây là thành quả lớn của lòng quyết tâm, của tinh thầnhiếu học của nhân dân Quỳnh Lu, cũng vì cái khó, cái khổ mà họ phấn đấu để
Trang 29đợc học tập, để đợc thoát ly khỏi cái nghèo Trong lịch sử, nhân dân Quỳnh Lu
đã vơn lên bằng nhiều con đờng, bằng nhiều hình thức nhng con đờng hoạn lộ làmột yếu tố căn bản, đợc ngời đời đánh giá và coi đó là điều tích cực tiến bộ, đócũng là kết quả của sự kế thừa truyền thống từ xa xa để lại cho các thế hệ concháu đời sau
Nhìn lại những chặng đờng phía trớc từ đời Lê, qua “Quỳnh Lu phongthổ ký” ở các xã trong huyện nhà đều có ngời đỗ đạt, sự đỗ đạt đó nh có sức lanrộng từ một làng xã đến nhiều làng xã, đến cả huyện ở đây ta cha bàn đến làngkhoa bảng, ta cha nói đến những thành quả lớn lao, nhng qua việc điểm xuyếnnày cũng đã khẳng định đợc sự ảnh hởng lan toả, có tính truyền thống của khoabảng huyện nhà
Bên cạnh những ngời đỗ đạt cao là tấm gơng sáng cho truyền thống hiếuhọc của nhân dân huyện nhà, còn có những ngời học giỏi, trí cao có tiếng làthần đồng nhng nhiều ngời chỉ đậu tú tài, một số ngời không đi thi vì quá nghèokhó, không đủ tiền lều chõng, ăn ở tốn kém trong những ngày thi cử kéo dàihàng tháng trời, một số khác chán ghét chế độ khoa cử, chán ghét quan trờngkhông muốn chen chân vào vòng danh lợi nh Nguyễn Tác Lâm, Hồ Năng Sự,Trần Phợng Lãm, Vũ Hoè họ là anh học, anh nho, anh đồ rồi ông đầu xứ, đầuphủ, đầu huyện nhng họ lại đợc nhân dân mến phục ngợi ca Dù đỗ hay khôngnhững sĩ tử có danh tiếng đều làm nên danh giá cho cả làng mình, địa phơngmình Trong thúc ớc xã Phú Đa (Quỳnh Bảng) có câu:
Sĩ đủ lối đồng văn trong vạn quốc
Đờng công danh khoa mục kém thua gì
Trong một th tịch của họ Hoàng Phú Đa có câu:
Bảng lĩnh văn khôi quang địa diện Mai giang thủ bội phối điều tâm.
Tạm dịch:
Núi Bảng Lĩnh tiêu biểu cho sự học vấn làm rạng rõ bộ mặt đất.
Trang 30Sông Mai Giang bao mạch tụ nhuần nên đất đai của quê làng đợc màu mỡ.
Cũng vì thế mà từ ngày xa, các cụ khi đặt tên thôn trong xã đã thể hiện lànơi hiếu học, thể hiện sự u ái của vùng đất đã tạo nên bao nhà khoa bảng chothôn, cho xã sau này và cũng qua đó muốn gửi gắm bao nỗi niềm tâm sự, baokhao khát chờ mong ở quê hơng bản quán của mình nh thôn Văn Học, thôn VănHng, thôn Văn Bằng, thôn Văn Lý, Văn Đông Tất cả đều toát lên những nétnhân văn, nét đẹp văn hoá tinh thần, niềm tự hào của quê hơng Quỳnh Lu cũng
nh của cả dân tộc Việt
Dân Hiền Lơng (Quỳnh Lơng) cũng tự hào không kém về thành quả củaquê mình, trong bài văn “Mừng lão đầu năm” đã có câu:
“Địa linh lừng lẫy khoảng non sông, nhân kiệt mở mang miền đất nớc
Đờng văn khoa trớc sau nối gót, bản triều văn khoa, Lê triều giáp bảng, lối trâm anh rạng rỡ chốn Hoan Châu ”.
ở ngay đầu làng, nơi biểu tợng sự tôn kính của nhân dân trong làng đốivới sự trờng tồn của nơi mình sinh ra và lớn lên, nhân dân đã đề đôi câu đối:
“Phúc trạch bản tự nhiên, ngô sinh Hoàn Hậu Nhân tài do đắc địa, thế xuất Hiền Lơng”
Nhân dân hai làng Thanh Đàm đông và Thanh Đàm trung xa là vùng đấtgiáp đờng quan (Nhân dân gọi tắt là làng Quan), còn lu giữ mãi một bài ca,trong đó có những câu:
“Học hành có bút có nghiên Hữu sau ao Mực, tả tiền khe Son
Đất này chiếm bảng vàng son.
Anh em hơng cống, cha con sinh đồ ”Làng Thiện Kỵ tự hào có Lê Quỳnh đỗ tiến sỹ năm 1643, khai khoa chocả huyện về hàng đại khoa, nhân dân lập đền Hiền từ để thờ phụng, để nhớ ơn
và cũng là để làm điều răn dạy, giáo huấn cho các thế hệ đời sau, trong đó có đôicâu đối:
Trang 31“ái châu luyến thế công thần thổ
Lu huyện khai khoa tiến sĩ từ”
Đó là truyền thống giáo dục khoa bảng của huyện nhà đợc thể hiện sâu
đậm trong tâm t nguyện vọng, tình cảm chân thật của nhân dân, của những ngời
đi trớc để từ đó trở thành truyền thống tốt đẹp, oai hùng cho quê hơng Và nhvậy chúng ta có thể thấy rõ, nếu nói là địa linh nhân kiệt – có đất tốt, linhthông sẽ có nhân tài – liệu đó có phải là yếu tố quan trọng quyết định không.Vậy, nếu khi không có những cá nhân kiệt xuất trớc đó, nếu ở đó không có mộttruyền thống giáo dục khoa bảng tiến bộ, tích cực, nếu ở đó không có sự lutruyền, kế tục của đời trớc cho đời sau và nếu ở đó con ngời không có ý thức kếthừa, tiếp thu một cách tích cực, chăm lo để phát triển theo lớp cha anh trớc đóthì chắc chắn ở đó không thể có đợc những thành quả nh bao ngời mong muốn
Trang 32mà chăm học , đợc khí tốt của sông núi nên sinh ra nhiều bậc danh hiền”.
Cộng thêm vào đó là niềm khát vọng vơn lên trong khoa bảng của nhân dânNghệ An rất mãnh liệt Phải hứng chịu những khắc nghiệt của thiên nhiên, chonên nhân dân nơi đây quyết chí đi tìm một con đờng mới: Đi học Học với ớcvọng tìm ra một nghề mới, nâng cao vị trí xã hội của bản thân Đó chính là
động lực thôi thúc các sĩ tử Nghệ An đi theo con đờng nghiệp cử Bởi vậy đếnvới Nghệ An chúng ta sẽ tìm thấy rất nhiều làng học nổi tiếng đăng khoa nh:Nho Lâm (Diễn Châu), Trung Cần (Nam Đàn), Bạch Ngọc (Đô Lơng) và một
địa danh không thể không nhắc đến đó là Quỳnh Đôi (Quỳnh Lu)
Làng Quỳnh từ lâu đã nổi tiếng là làng học, một vùng đất hứa của khoacử: “ Bắc Hà - Hành Thiện, Hoan Diễn – Quỳnh Đôi” Trong tác phẩm: “Cómột nớc Việt Nam nh thế” – Cố thủ tớng Phạm Văn Đồng đề tựa đã nhận
định: “ở Việt Nam có nhiều làng gọi là làng học, khoảng mấy trăm năm lại đâyhầu nh khoa thi nào cũng có ngời đỗ đạt cao, đó là những làng: Quỳnh Đôi,Hành Thiện, Mộ Trạch, Cổ Am đến nay phong trào giáo dục của những làngnày vẫn khá cao, cung cấp cho đất nớc nhiều nhà khoa học và quản lý xã hội
Nhìn chung ở Quỳnh Lu có nhiều làng xã có ngời đỗ đạt, họ góp sứcmình vào khoa bảng cho huyện, dù ít, dù nhiều thì đó cũng là thành quả củalàng xã trong việc phát huy truyền thống khoa bảng của huyện, tiêu biểu:
- ở Phú Minh (Quỳnh Minh), gia đình ông Hồ Minh Tịnh - Ông cháu
đều thi đậu; Gia đình ông Hồ Mậu Đức – cả hai cha con cùng thi đậu, cha đậunăm 1841, con là Hồ Mậu Đồng đậu năm 1873
- ở Quỳnh Mai (Mai Hùng) có nhiều đời thi đậu, cha của Trần ái là TrầnDung đậu năm 1807, Trần ái đỗ năm 1834 và con của Trần ái là Trần Vĩ đổnăm 1861
- ở Ngọc Đoài (Quỳnh Ngọc) nay là Quỳnh Hng có gia đình ông ĐinhHuy Luyện (còn có tên là Đinh Văn Bích) cha con, anh em đều thi đậu, ĐinhHuy Luyện đỗ năm 1855, Con là Đinh Danh Định đỗ năm 1888, và em của
Trang 33Đinh Danh Định là Đinh Loan Tờng đỗ Cử nhân năm 1915 và năm 1916 đỗTiến sĩ).
- ở Văn Trờng (Quỳnh Thọ) cha con cũng thi đậu, cha là Nguyễn NghĩaLộc đậu năm 1868, con là Nguyễn Văn Ngạn đậu năm 1918
Tuy nhiên cái rốn đỗ đạt khoa bảng vẫn là làng Quỳnh Đôi, bà con làngQuỳnh từng có câu ca:
“Làng ta khoa bảng thật nhiều
Nh cây trên núi nh diều trên không”
Hay nh: Làng Quỳnh lắm kẻ đăng khoa“
Ông Nghè, ông Cống nh hoa vờn Quỳnh”
Và còn nhiều, rất nhiều sự ca ngợi về truyền thống khoa bảng ở nơi đây.Trải dài theo trục của thời gian, từ 1444 trở về trớc - năm có ngời làngQuỳnh bắt đầu dự thi, đến năm 1919 – năm cuối cùng của thi cử theo lối Nhohọc, làng Quỳnh Đôi có trên 1.000 ngời đậu từ Tú tài đến Tiến sĩ Theo “Quỳnh
Lu khoa danh trờng biên” của Hồ Sĩ Tôn thì từ 1444 đến 1725 Quỳnh Đôi có
707 ngời đậu từ Tú tài đến Tiến sĩ Trong sách gần đây (Đời nối đời vì nớc) đãthống kê 14 họ ở Quỳnh Đôi thì trong thời gian trên có 1.137 ngời thi đỗ, trong
đó tiến sĩ 12 ngời, phó bảng 92 ngời, cử nhân 210 ngời, tú tài 823 ngời Họ
Hồ có 560 ngời, Họ Nguyễn có 177 ngời, họ Dơng có 156 ngời, họ Phan có 84ngời, họ Hoàng có 39 ngời đỗ đạt ở Quỳnh Lu cả đời Lê và đời Nguyễn có
19 ngời đỗ Đại khoa thì Quỳnh Đôi có 13 ngời, trong đó có 9 Tiến sĩ và 4 Phóbảng
Theo “Quốc triều hơng khoa lục” thời Nguyễn cả Quỳnh Lu có 88 ngờitrúng Cử nhân, thì Quỳnh Đôi có 51 ngời, nhiều gia đình có từ 2 – 3 ngời đậu
Lý giải cho truyền thống hiếu học và khoa bảng đỗ đạt của làng Quỳnh,nhân dân Quỳnh Đôi cắt nghĩa cho sự hiển danh của bao ngời làng mình bằng:
“Đất quý”, “Vị trí của làng” Những cảnh vật do thiên nhiên tạo ra dù là khókhăn, cách trở đối với cuộc sống nhng lại đợc hiểu nh là sự trợ lực về tâm linhnhằm gây sự phấn chấn tinh thần học tập, vững vàng tâm lý trong thi cử của ng-
Trang 34ời làng Quỳnh Những núi non ấy từ ngàn xa đã đứng vây quanh làng Quỳnh,
nó là bức tờng bao quanh che chắn, để loại trừ những tà khí, để sàng lọc nhữngtinh hoa của đời, của trời để ban phát cho những ngời làng Quỳnh Và rồi nhữngbức tờng thành đó lại là nơi chứng kiến về sự hiếu học và những khao khátthành đạt của ngời làng Quỳnh, và chính nó là nơi chứng tích cho những thànhquả mà nhân dân làng Quỳnh đã làm đợc, nó nh tô thắm thêm cho quê hơng xứ
sở, làm đẹp thêm làng khoa bảng muôn đời: “Đông có Quy Lĩnh, Tây có TợngSơn, Nam có Mục Lĩnh, Bắc có núi Bát Nhã chầu về” đó là thế núi bao quanhlàng Quỳnh
Đầu làng mình, nhân dân Quỳnh Đôi dựng nhà thờ đức Khổng Tử – vị
tổ s của Nho học, nhà thánh đợc xây cất trên một mảnh đất nổi tiếng là địa linh,rất thịnh cho việc học hành thi cử của nhân dân Làng Quỳnh còn dụng ý khi
đắp đờng từ Bào Hậu về làng mình quanh co để tăng thêm sự long trọng, uynghiêm của đám rớc những ngời đỗ đạt vinh quy bái tổ
Tuy nhiên, xét một cách thực tế hơn, chúng ta cũng thấy rõ trong điềukiện khó khăn vất vả, ngời làng Quỳnh nói riêng và ngời xứ Nghệ nói chung, đãphải tìm cho mình một hớng đi riêng, một nghề riêng biệt: Nghề đi dạy học để
“Tiến vi quan, thoái vi s” Ngời dân ở đây có thể thiếu cái ăn, cái mặc nhngkhông thể thiếu cái chữ Gia đình khá giả cho con đi học đã đành, gia đìnhnghèo khó cũng chắt chiu cho con đi học Có vất vả có cực nhọc đến đâu thì ng-
ời vợ, ngời mẹ cũng tảo tần hôm sớm để nuôi chồng, nuôi con đi học kiếm cáichữ cho bằng ngời, bằng ta Do vậy, việc học hành đã trở thành một phong trào
đua tranh của mọi nhà, tạo thành một làn sóng trong làng xã, một truyền thốngriêng của làng Quỳnh Bên cạnh cái tâm linh của tự nhiên mà con ngời nghĩ đến
và sự vất vả cật lực của ngời mẹ, ngời vợ thì chủ trơng khuyến học của làng xã
đã trở thành một động lực mạnh mẽ thúc dục nhân dân làng Quỳnh học tập,
điều đó thể hiện rõ trong hơng ớc của làng Quỳnh đợc biên soạn 1636:
Trang 35Điều 54: Cảnh Hng năm thứ 29 (1768) ngày 7 tháng 1, quan tri phủ Đức
Quang Hồ Phi Quỳnh hợp đồng với làng bàn rằng, làng ta làng văn nhã, học tròrất nhiều, xa nay nhà nào cũng tập tành học hành riêng ở nhà, chắc mình đã làhay là giỏi, cha lấy đâu làm bằng cứ Từ nay hàng năm đến đầu xuân độ chừngtrung tuần chọn ngày tốt, sáng mai đánh ba hồi trống cho các thầy nho sinh,hiệu sinh, học sinh đều mang lều chiếu đến đình trung, làng ra bài cho làm Ai
đậu hạng u thì việc công dịch trừ suốt cả 3 năm, hạng bình trừ nửa năm, hạngthứ trừ ba tháng Còn những ngời cha đến tuổi việc quan mà đỗ thì làng tùyhạng mà thởng giấy cho.Từ nay phải cứ theo lệ này mà làm vì cũng là thiênchức của triền đình để khuyến khích kẻ học trò để chấn hng văn phong củalàng, khi nào cũng làm thế, không đợc bỏ quên [49;100]
Điều 68: Làng có lệ đầu năm khao phục, con ai đậu thì đựơc nhiễu trừ để
khuyến khích con em trong làng Quan viên nào đợc làng cử làm sơ khảo, phúckhảo thì phải cốt lấy sự công bằng, tùy văn thể mà đợc đa vào hạng u bình là do
ý kiến của tôn trởng, không đợc lấy ý kiến riêng của mình tranh biện phải trái,nếu ai không nghe thì về sau không cử làm các chức giám khảo, các chức đăngtả và các chức sắc số hiệu, không đợc thiện tiện đến các nơi sơ phúc khảo quan
để chỉ tính danh của ngời dự khảo Ai trái điều đó, có ngời phát giác, phải phạt.Ngời nào đậu hạch đợc, bất kỳ hạng ngời nào đều đợc miễn việc lính tráng, việc
đài đệ lúa thóc, kể cả việc bắc cầu, đắp đờng, làm nhà cửa quan t, đào sông xâycống, gặt lúa thu thuế trừ cả (hết hạn lại phải cùng làng đồng thụ dịch) Còn aikhông dự hạch thì không đợc trừ gì.[49;106]
Điều 69: Làng ta nhiều kẻ văn nhân, chuyên làm nghề dạy học trò, đã là
ngời dạy học thì nên biết giữ gìn mình mà tự trọng, khi ăn nói lúc đứng ngồikhông nên cẩu thả, lại còn ra dáng này nọ, yêu sách tiền cho nhiều, không đợc
nh ý, mắng nhà chủ, đóng cổng ràn trâu, hoặc có t tình, tiếng tăm đồn rậy làmdơ dáng đạo mình, … Những ngời có chức trong số hội mà có sự ấy thì phải sổ
Trang 36tên, còn những ngời thuộc hạng ngoại, đánh đòn 30 roi, làng gửi giấy đến nơidạy học cho quan địa phơng nơi ấy đuổi đi.[49;107]
Điều 70: Học trò cốt có nết na làm đầu, gần đây học trò chỉ chuyên tập
văn bài, về mặt tu luyện tính nết cho hay thời còn thiếu, cho nên làng có bànbạc thi thố việc gì thì tụ họp dèm pha phỉ báng này nọ, lấy lời bậy bạ viết vàogiấy Cái tệ ấy nên bỏ Từ nay về sau ai còn giữ thói ấy, có ngời phát giác, phạt
1 con lợn đáng giá 3 quan.[49;107]
Điều 104: Minh Mệnh năm thứ 7 (1826), ngày 18 tháng 5, làng bàn lệ cũ
làng ta, ai thi đậu đại khoa, khi khâm phụng vinh quy, về nhà làng mới sắm sửanghi trợng đi đón rớc, còn đi thi Hơng đỗ tứ trờng (Cử nhân) thì thôi Nhng từnay về sau, hễ ai đi thi Hơng đậu tứ trờng về đến chợ Bèo, làng cũng sắm sửanghi trợng đón rớc về đến nhà, để tỏ lòng trọng đạo.[49;114]
Điều 109: Thiệu Trị năm thứ 4 (1844), ngày 17 tháng giêng, làng bàn:
Nguyên khoán trớc định hễ đầu năm mở cuộc khảo hạch học trò, nay lại bànhàng năm đầu năm cũng mở cuộc khảo hạch học trò để khuyến khích kẻ hậuhọc Vậy đến ngày thời quan viên, hơng lão, tú tài các chức, đều phải tới đình
để làm giám khảo.Học trò ngoài 40 tuổi thì không phải làm Còn ngoài ra, cha
đến 40 tuổi đều phải sắm sửa lều chiếu để ra đình hành văn Nếu ai bỏ thiếu thìphải bắt thiếu 6 tiền Việc khuyến khích học trò là việc hệ trọng, bao giờ cũngphải giữ lệ này.[49;116]
Cũng trong hơng ớc có ghi:
- Ai đỗ tiến sĩ sau khi mất đợc các quan viên mặc áo, đội mũ trắng đếnnhà làm lễ tế và khi tống táng thì đa đến tận huyệt để tỏ ý hậu đãi ngời khoabảng qua đời, hàng năm đợc làng đến cúng lễ vào dịp tết
- Từ 1600 làng trích 18 mẫu ruộng (9 ha), bằng 1/10 tổng số diện tíchlàm học điền giúp trò nghèo chăm học, học khá
- Từ năm 1852 ai đỗ tú tài trở lên nếu không có con trai nối dõi sau khimất đợc làng thờ trong hiền từ
Trang 37Làng Quỳnh Đôi lập hội T văn sớm (1600), hội kết nạp những ngời đỗ
Tú tài trở lên, đây không phải là một tổ chức hành chính nhng hội tham gia tíchcực vào các hoạt động của làng và giữ vai trò chủ chốt trong việc đặt ra khoán -
ớc, sửa đổi, bổ sung những điều đã quy định, nhất là việc khuyến học Những
điều khoán nêu trên thực sự là nguồn động lực to lớn, tiếp thêm sức mạnh vàcũng cố thêm ý chí của nhân dân làng Quỳnh trên con đờng khoa cử Cũng vìthế mà ở làng Quỳnh đã có ngời con làm hiển danh cho dòng họ, gia đình, chocả làng, cả huyện
ở làng Quỳnh nhà nào cũng có ngời đi học, có nhiều ngời đi thi, không
có khoa thi Hơng nào, không ở Nghệ Tĩnh thì ở nơi khác mà không có ngời làngQuỳnh thi đỗ, có ít làng ở Nghệ An, không nói là cả nớc đạt đợc một hiện tợngrực rỡ phi thờng nh vậy
Năm 1440, các ông tổ khai cơ làng Quỳnh đã có ý thức về học vấn, trình
độ cho con cháu mình về sau nên đã mời ông Dơng Văn Khai về dạy học chocon cháu mình và bắt đầu mở màn cho việc học và thi cử của làng ở một giai
đoạn lịch sử: “Chính quyền vững vàng, kinh tế ổn định , văn hoá- khoa học pháttriển”, các chính sách khuyến khích học tập, tuyển chọn nhân tài đợc nhà vua
đặc biệt quan tâm Là những ngời có trí thức khoa bảng, lại đợc triều đình Hậu
Lê khuyến khích, cổ vũ việc học tập thi cử các vị tổ khai cơ lập ấp và vị tổ họDơng đã xác định đợc hớng đi đúng cho con cháu mình, dân ấp mình là con đ-ờng học vấn khoa bảng và vì thế trong các họ tộc việc thúc đẩy học tập đợc tiếnhành bằng nhiều biện pháp tích cực: Mời thầy về dạy học, mở trờng lớp t gia, tổchức kèm cặp trong gia đình, đề ra khoán ớc cổ vũ việc học tập, tổ chức cácbuổi khảo hạch thi chọn trò giỏi ở đây chúng ta cũng thấy rõ, ngay trong hơng
ớc cũng thể hiện thành quả học tập, khảo hạch ở làng quê, nếu đạt thành tích thìphần thởng xứng đáng cũng là kinh tế nh lúa má, ruộng đất, giảm thuế, giảmcác khoản đóng góp chính vì vậy đã tạo đợc đòn bẩy thúc đẩy việc học tập
Trang 38Xét về dòng họ khoa bảng thì chúng ta thấy rằng, ở mỗi làng quê đều cónhững đóng góp quan trọng để tạo nên thành quả cho cả huyện Nếu xét theotiêu chí về một dòng họ khoa bảng thì theo cuốn “Khoa bảng Nghệ An 1075-1919” của Đào Tam Tĩnh thì: Dòng họ gồm có nhiều đời, nhiều thế hệ đều thi
đậu, có ngời đậu đại khoa, có ngời đậu xuất sắc trong các khoa thi [93;152] Thìdòng họ khoa bảng ở Quỳnh Lu cũng đựơc nhắc đến rải rác ở một số xã và tậptrung nhất vẫn là Quỳnh Đôi Và chính vì sự tập trung đó mà Quỳnh Đôi đợc
đánh giá là một làng khoa bảng, nên khi nhắc đến mô hình làng xã điển hình thìchúng ta lại nhớ đến Quỳnh Đôi và khi nhắc đến Quỳnh Đôi chúng ta lại nghĩ
đến các dòng họ đã tạo nên thành quả của làng Quỳnh ,với 29 dòng họ có khoabảng, dẫn đầu cả tỉnh Tiêu biểu một số dòng họ:
- Họ Hồ ở Quỳnh Đôi
Họ Hồ là một trong số các dòng họ đặt nền móng lâu đời xứ Nghệ Ông
tổ của họ Hồ là Hồ Hng Dật Theo gia phả họ Hồ (1660) do tiến sĩ Hồ Sĩ Dơngbiên soạn, Hồ Hng Dật là ngời huyện Vũ Lâm - tỉnh Triết Giang -Trung Quốc
Ông đậu trạng nguyên vào năm thứ 2 đời vua Hán ẩn Đế, đợc cử sang GiaoChâu làm Diễn Châu Thái Thú Sau một thời gian làm quan ông lui về làm trạichủ ở hơng Bàu Đột (Nay thuộc xã Quỳnh Lâm – Quỳnh Lu – Nghệ An), đếnnay đã hơn 1000 năm
Nhà thờ họ Hồ ở Quỳnh Đôi có bức hoành phi của tiến sĩ Hồ Sĩ Tuần đề
“Nhất bản năng song cán” tạm dịch: Một gốc tốt hai cành, nh vậy họ Hồ gốc tổ
ở Bàu Đột (Quỳnh Lâm – Quỳnh Lu – Nghệ An), có hai tông phái: Trởng ởChâu Diễn, thứ ở Thanh Hoá [31;23] Tông phái Châu Diễn khởi đầu từ HồKha, ông là cháu 13 đời trạng nguyên Hồ Hng Dật Hồ Kha là ngời thông văn,giỏi võ, một quan chức đời Trần có uy tín lớn trong vùng Ông đã quyết định bỏcông khai phá mảnh đất Trang Thổ Đôi làm kế lâu dài cho con cháu đời sau.Sau đó ông giao cho con cả là Hồ Hồng tiếp tục sự nghiệp của mình ở đây Concháu họ Hồ về sau có mặt nhiều nơi trong cả nớc Tính đến nay, họ Hồ đã tồn
Trang 39tại và phát triển qua hơn 38 đời trong thời gian trên 1000 năm Đây là dòng họnổi tiếng về truyền thống yêu nớc cách mạng, về văn học, sử học, có nhiều đónggóp cho lịch sử, sinh ra những nhân vật nổi tiếng.
Việc học hành đạt đợc thành quả rực rỡ, ngời mở đầu là Hồ Ước Lễ đời
Lê Nhân Tông, cho đến lúc hết thi cử bằng chữ Hán (1919) đã có: 1 Thái họcsinh, 2 Hoàng giáp, 3 Tiến sỹ, 1 Thiên hạ sĩ vọng, 51 Hội thí tam trờng và Phóbảng, 110 Giám sinh, Hơng cống và Cử nhân, 282 Sinh đồ và Tú tài [93;153]
Họ Hồ có nhiều gia đình cha con, ông cháu, anh em đều đỗ đạt:
- Gia đình Hồ Phí Tích có 7 con trai đã đậu Hơng cống và Hội thí tam ờng, tính từ Hồ Hiến (ông nội của Hồ Phi Tích) cho đến Hồ Phi Thống có 8 đời
tr-đậu liên tiếp
- Gia đình Hồ Sĩ Vũ và Hồ Sĩ Danh: 9 ngời đều đỗ, trong đó 5 anh em Hồ
Sĩ Định thì 1 đậu Hoàng giáp, 1 Phó bảng, 2 Giám sinh, 1 Sinh đồ
- Gia đình Hồ Bá Ôn có 5 đời đậu liên tiếp
- Gia đình Hồ Sĩ Trinh ông cháu đều đỗ đạt
- Gia đình Hồ Trọng Định cha con đều đỗ đạt
- Gia đình Hồ Sỹ Lâm anh em đều đỗ đạt
- Gia đình Hồ Quý Châu ba anh em đều đỗ
- Gia đình Hồ Tam Kiệm cha con cùng đậu
- Gia đình Hồ Phi Tự cha con đều đậu [93;154]
- Họ Nguyễn (Quỳnh Đôi)
Theo gia phả họ Nguyễn thì nguồn gốc họ Nguyễn ở Quỳnh Đôi từ thuỷ
tổ Nguyễn Ma Lệnh công Ông tên huý là Nguyễn Thạc Tiên tổ ông là ngờithôn Minh Quả thuộc xã Hoàn Hậu Thời vua Phế Đế nhà Trần, niên hiệu XơngPhù năm thứ hai (1378), ông từ giáp trung thị (Văn Thai) thuộc tổng ThanhViên dời đến Trang Thổ Đôi cùng với hai ông tổ họ Hồ và họ Hoàng, ông trởthành thuỷ tổ của họ Nguyễn
Trang 40Năm thứ 11 hiệu Nguyên Hoa Lê Trang Tông (1543), khoa thi Hơng nămQuý Mão, cháu bốn đời là Nguyễn Lân, Nguyễn Văn Ba đều đỗ Tam trờng, lànhững ngời đỗ trớc tiên của họ tộc Các đời về sau con cháu thịnh vợng, đời nàocũng có ngời khoa mục Từ thời ấy đến năm thứ 8 Tự Đức, thi Hơng đợc 18 ng-
ời Tứ trờng, đỗ Tam trờng đợc 45 ngời Sau đỗ Cử nhân 2 ngời, đỗ Tú tài 5 ngời,
đỗ Cử nhân võ 1 ngời Thời Pháp thuộc đỗ đầu Cử nhân lụât 1 ngời.[40;143]
Dòng họ Nguyễn có nhiều đóng góp cho cuộc đấu tranh chống giặcngoại xâm cũng nh xây dựng đất nớc Trong phong trào Cần Vơng, NguyễnQuý Yêm đã liên kết với các thân sĩ ở Thanh Hoá nh Tống Duy Tân ở TốngSơn, Nguyễn Siêu, Đinh Công Tráng, Hà Văn Mao khởi binh Cần Vơng Về sau
ông bị địch bắt và bị chúng tra tấn dã man nhng ông không hề khuất phục.Nguyễn Phi Chiểu là ngời giỏi văn chơng đợc ngời đơng thời tặng bốn chữ “Tàikhả trạng nguyên” Tuy đậu không cao song do học giỏi nên ông đợc Vua Tự
Đức xác nhận và tặng bức hoành phi có bốn chữ “Hữu học năng văn” do tự tayVua viết Ông đợc cử làm Huấn đạo huyện Kim Sơn, sau làm giáo thụ ở phủDiễn Châu
Họ Nguyễn là họ triệu cơ của làng Quỳnh Đôi và nhà thờ họ Nguyễn ởxã đợc công nhận là di tích lịch sử văn hoá quốc gia vì những đóng góp củadòng họ này cho quê hơng đất nớc Ngoài họ Nguyễn Triệu cơ nêu trên, ở làngcòn có các dòng họ Nguyễn khác tông nh họ Nguyễn Thị Công, họ NguyễnTiên Công, họ Nguyễn Công Trâm, họ Nguyễn Đức Tâm, họ Nguyễn DơngDực,.v.v
-Họ Hoàng (Quỳnh Đôi)
Ông Hoàng Khánh Công, vào khoảng hiệu Xơng Phù nhà Trần, làm quanhành khiển quản thủ lộ Diễn Châu, ông ở giáp Hiền Lơng thuộc xã Hoàn Hậu,sau ông dời đến ở Trang Thổ Đôi, đồng thời với hai ông tổ họ Hồ, họ Nguyễn,
ông chính là thuỷ tổ họ Hoàng