Mặc dù đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về sựnghiệp của Thiếu Sơn, chúng tôi vẫn mong muốn tìm hiểu một cách đầy đủhơn, sâu sắc hơn đối với các tác phẩm của ông để nhìn nhận
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Người hướng dẫn khoa học:
TS LÊ VĂN DƯƠNG
VINH - 2011
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Nhiệm vụ nghiờn cứu 9
4 Phạm vi tư liệu khảo sỏt 9
5 Phương phỏp nghiờn cứu 9
6 Cấu trỳc của luận văn 10
Chơng 1 PHấ BèNH VĂN HỌC VIỆT NAM NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA THIẾU SƠN 11
1.1 Phờ bỡnh văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX trước yờu cầu hiện đại hoỏ 11
1.1.1 Khỏi niệm phờ bỡnh văn học 11
1.1.2 Vấn đề thời điểm ra đời của phờ bỡnh văn học hiện đại Việt Nam 14
1.1.3 Hiện đại hoá phê bình văn học-một nhu cầu khách quan, tất yếu 16
1.1.4 Những chặng đờng phát triển của phê bình văn học việt Nam nửa đầu thế kỷ XX 28
1.2 Sự xuất hiện của Thiếu Sơn trong tư cỏch nhà phờ bỡnh văn học 42
1.2.1 Vài nét tiểu sử 42
1.2.2 Tổng quan về hoạt động văn học của Thiếu Sơn 48
Chương 2 ĐểNG GểP CỦA THIẾU SƠN TRONG VIỆC HIỆN ĐẠI HOÁ QUAN NIỆM VỀ VĂN HỌC 53
2.1 Văn học Việt Nam trước thế kỷ XX với sự chi phối của quan niệm “Thi dĩ ngụn chớ”, “Văn dĩ tải đạo” 53
2.2 Sự tỏc động và chi phối của quan niệm “Thi dĩ ngụn chớ”, “Văn dĩ tải tạo” tới quan niệm văn học của một số nhà Nho đầu thế kỷ XX 63
2.2.1 Quan niệm về văn học của Phạm Quỳnh 64
2.2.2 Quan niệm về văn học của Nguyễn Bỏ Học 67
Trang 42.3 Thiếu Sơn với việc đổi mới quan niệm về văn học 69
2.3.1 Cơ sở của việc đổi mới quan niệm về văn học của Thiếu Sơn 69
2.3.2 Quan niệm về văn học của Thiếu Sơn 79
Chương 3 ĐÓNG GÓP CỦA THIẾU SƠN TRONG VIỆC HIỆN ĐẠI HOÁ QUAN NIỆM VỀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC VÀ KHỞI XƯỚNG 94
3.1 Từ đổi mới quan niệm về văn học đến đổi mới quan niệm về phê bình văn học 94
3.1.1 Quan niệm truyền thống về phê bình văn học 94
3.1.2 Phê bình văn học theo quan niệm của Thiếu Sơn 98
3.2 Thiếu Sơn, người khởi xướng thể loại phê bình nhân vật 116
KẾT LUẬN 125
TÀI LIỆU THAM KHẢO 132
Trang 5MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Nửa đầu thế kỷ XX, phê bình văn học đã có những bước tiếnnhanh chóng và sôi động tạo nên môi trường, không khí tranh luận họcthuật rộng rãi và có nhiều thành tựu lớn: Hiện đại hoá bản thân thể loại vàgóp phần hiện đại hoá các thể loại khác như thơ, tiểu thuyết, kịch nói…Phê bình văn học được chuyên sâu hơn, hiện đại hơn từ quan niệm đến thaotác tiếp cận đối tượng Nhiều nhà phê bình với những công trình phê bình
có giá trị xuất hiện như: Việt Hán văn khảo (1918) của Phan Kế Bính,
Quốc văn cụ thể (1932) của Bùi Kỷ, Phê bình và cảo luận (1933) của
Thiếu Sơn, Duy tâm hay duy vật (1935) của Hải Triều, Chương Dân thi
thoại (1936) của Phan Khôi, Thi nhân Việt Nam (1942) của Hoài Thanh và
Hoài Chân, Nhà văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan, Việt Nam văn học
sử yếu (1943) của Dương Quảng Hàm,, Khảo luận về Kim Vân Kiều (1943)
của Đào Duy Anh, Văn học khái luận (1944) của Đặng Thai Mai… Trong
số các nhà phê bình này phải kể đến Thiếu Sơn, người đặt những viên gạchđầu tiên cho nền phê bình văn học hiện đại Việt Nam
1.2 Xuất hiện bất ngờ trên diễn đàn văn chương học thuật, mangtheo thể văn phê bình mới lạ, Thiếu Sơn khiến người đọc phải ngỡ ngàng
và đón chào ưu ái Với ngòi bút phê bình nhạy bén, ông có công khuấyđộng thêm không khí sáng tác và thưởng thức văn chương những năm 1932
- 1945 của nước nhà Là khởi điểm của những khởi điểm, Thiếu Sơn đượccoi là một trong những người mở đầu cho phê bình văn học bằng chữ Quốcngữ ở Việt Nam, tác giả của cuốn sách phê bình văn học đầu tiên ở nước ta:
Phê bình và cảo luận (1933) Điều đáng nói là, những công trình của ông
không chỉ mang ý nghĩa mở đường cho một nền phê bình văn học, mànhững gì Thiếu Sơn đặt ra trong đó cách đây đã gần tám mươi năm, vẫncòn có ý nghĩa thời sự
Trang 61.3 Mặc dù đã có nhiều bài viết và công trình nghiên cứu về sựnghiệp của Thiếu Sơn, chúng tôi vẫn mong muốn tìm hiểu một cách đầy đủhơn, sâu sắc hơn đối với các tác phẩm của ông để nhìn nhận rõ hơn nhữngđóng góp của ông cho nền phê bình văn học Việt Nam hiện đại.
1.4 Đối với người viết luận văn, việc thực hiện đề tài này là quátrình học hỏi, trang bị cho bản thân vốn kiến thức về lý luận, phê bình vănhọc trong đời sống nhằm đáp ứng tốt hơn cho công tác giảng dạy văn họctrong nhà trường
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Trước Cách mạng tháng Tám
Trước khi được in thành tập sách, phần lớn những bài viết của Thiếu
Sơn trong Phê bình và cảo luận đã được phổ biến trên các báo và được dư
luận cổ vũ, hoan nghênh nhiệt liệt
Phan Khôi, trong lời giới thiệu trân trọng trên báo Phụ nữ tân văn,
ngày 18/6/1931, đã tỏ rõ sự hồi hộp, ngỡ ngàng của mình trước sự xuấthiện của một thể văn lạ: “Cô dâu nếu là mới thì lối văn phê bình nhân vậtnày đối với xã hội ta lại còn mới hơn nữa” Ông cho đó là “những bài vănhay” là “hột gạo no nê nguyên vẹn”, “thật lối văn phê bình nhân vật ở nước
ta quả chưa hề có” ( ) “Mới ngó như khí sơ lược một chút, nhưng xem kỹthì thấy tác giả cốt trọng đại thể, chứ không cầu toàn (…) đúng với phươngpháp phê bình” [60, 23]
Vào năm 1932, Sư Ưng Quả trong một buổi diễn thuyết văn học ở
Huế với bài viết nhan đề Nước ta đang có một thời kỳ phục hưng, có nhắc
đến sự cần thiết của phê bình văn học và nhận xét về Thiếu Sơn: “Mấy bàiông Thiếu Sơn bằng một lối văn chặt chịa, chải chuốt, trong đó ta thấy cáiảnh hưởng của văn Tây dung hợp cái số hiếu rất chắc chắn” [61, 18]
Trong chuyên luận Duy tâm hay duy vật (1935), Hải Triều đả kích Thiếu Sơn về bài viết Hai cái quan niệm về văn học (In trên Tiểu thuyết
thứ bảy, số 38, ngày 16/2/1935): “…Ông Thiếu Sơn người ta thường bảo là
Trang 7một nhà viết văn sành, mà lý sự lại già dặn Nhưng ông sành ở đâu chúngtôi không biết, ông già dặn chúng tôi không hay, chớ đến cái bài “Hai quanniệm về văn học” thì tỏ ra lúng túng làm sao” [58, 331].
Thiếu Sơn cũng là một trong ba nhà phê bình được đề cập trong cuốn
Nhà văn hiện đại (1942, 1945) của Vũ Ngọc Phan Đánh giá về Thiếu Sơn,
Vũ Ngọc Phan đã khá hẹp hòi và thiếu cảm quan lịch sử khi cho rằng: “Tác
giả tập Phê bình và cảo luận là một nhà phê bình mềm mỏng và thủ cựu,
mềm mỏng vì cái giọng nước đôi của ông không làm mất lòng ai cả, nhưngcũng không làm lợi cho ai, cả độc giả lẫn tác giả Thủ cựu vì những cái ôngkhen đều là những cái quá cũ, không còn thích hợp với thời buổi mới nữa,
và “Đọc hai chục bài phê bình của ông cũng như đọc một bài” (…) “ôngchăm chú vào sự gọt dũa câu văn nên lời át mất cả ý, trong sự phát biểu ýkiến cùng tư tưởng, ông thiếu hẳn sự thành thực” [53,10]
Có thể nói, trước năm 1945 dù có những ý kiến trái chiều, thậm chí làđối lập nhưng cũng không ít nhận định đã bước đầu chú trọng tới vai trò vànhững đóng góp của Thiếu Sơn đối với phê bình văn học Việt Nam hiện đại
2.2 Sau Cách mạng tháng Tám
Tác giả Nguyễn Văn Trung trong công trình Lược khảo văn học,
tập 3, Nhà xuất bản Nam Sơn, năm 1968 khi đề cập đến các khuynh hướngtrong phê bình văn học Việt Nam đã xếp Thiếu Sơn vào nhóm phê bình ấntượng
Thanh Lãng, trong cuốn Phê bình văn học Việt Nam thế hệ 1932,
năm 1973, đã khẳng định mạnh mẽ công lao của Thiếu Sơn quả thực đãkhai mở hẳn một kỷ nguyên mới: “Từ Phạm Quỳnh đến Phan Khôi, qua LêThước, thể văn phê bình dưới ngòi bút Thiếu Sơn đã tiến một bước dài”[30, 291]
Nhà báo Phạm Hữu Tùng, nguyên Uỷ viên Thường vụ Hội các Nhà
viết báo Nam Bộ, năm 1974 có bài Chào anh Thiếu Sơn, chào mừng ông
vừa được chính quyền Sài Gòn trả lại tự do sau ba năm bị giam cầm:
Trang 8“Quyển: Phê bình và cảo luận và hàng loạt bài trên báo Phụ nữ tân văn đặt
ông vào hàng những cây bút mở màn cho sinh hoạt phê bình văn học ởnước ta (….) Con người cũng như văn của ông thật giản dị và trong sáng”[60, 599]
Năm 1977, ở bài viết Nghiên cứu, lý luận, phê bình văn học, Mã Giang Lân nhận định: “Thiếu Sơn trong Phê bình và cảo luận (1933) thể
hiện rõ lối viết phê bình truyền thống với cách phân tích tổng hợp, kháiquát của văn chính luận phương Tây Văn ông trong sáng, cân đối, hàmsúc, thâm trầm, kín đáo, nhưng vẫn đề cập đến những vấn đề thời sự vănhọc, những yêu cầu của tình hình văn học lúc ấy” [33, 356]
Tháng 1- 1978, Lý Quý Chung có bài viết Vài kỷ niệm riêng với nhà
báo Thiếu Sơn, ghi lại những hồi ức của mình về Thiếu Sơn Đối với ông,
Thiếu Sơn là bậc lão thành mà ông hết sức kính phục, một người sống giản
dị, đơn sơ nhưng hết sức lạc quan: “Tôi không được dịp gần gũi bác ThiếuSơn nhiều nhưng những lần hiếm hoi được gặp bác đã gây cho tôi một ấntượng sâu sắc về một con người viết văn viết báo mãi cho đến lúc sức tànlực tận vẫn không ngừng đấu tranh quyết liệt cho chánh nghĩa” [60, 593]
Trần Thị Việt Trung đã tóm tắt những đóng góp của Thiếu Sơn đối
với văn học Việt Nam trong phần kết luận của bài viết Thiếu Sơn và công
trình phê bình lý luận đầu tiên trong văn học Việt Nam hiện đại: Phê bình
và cảo luận (1933) đăng trên Tạp chí Văn học, số 6, năm 1992 với những
nhận định xác đáng: “Tác giả Thiếu Sơn thực sự đã là một nhà phê bìnhvăn học đầu tiên ở Việt Nam theo đúng nghĩa hiện đại của nó Dù là nhàphê bình đầu tiên với những bước đi còn chập chững của mình, Thiếu Sơncũng đã để lại cho chúng ta một bài học lớn về tính khoa học, về nhân cách
và bản lĩnh của một nhà phê bình chân chính” [60, 14]
Mộng Bình Sơn và Đào Đức Chương trong công trình viết chung
Nhà văn phê bình - khảo cứu văn học Việt Nam, xuất bản năm 1996, đã
đánh giá cao vai trò, vị trí của Thiếu Sơn trong việc hiện đại hoá phê bìnhvăn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX: “Ông Thiếu Sơn là một nhà văn phê
Trang 9bình của tiền bán thế kỷ XX, một người đã mở đầu cho một đường lối mới,một chủ trương mới làm nền tảng cho phong trào phê bình văn học sau này.Ông là một cái gạch nối giữa các ngòi bút cựu học và tân học trong giaiđoạn biến cố lịch sử văn học của thế hệ 1932 - 1945 (…) lấy văn học Tâyphương làm nền tảng để cải tiến quan niệm một chiều của văn học ViệtNam lâu đời chịu ảnh hưởng văn học Trung Hoa” [58, 109].
Trên trang web http://Chuyen.Tiengiang.edu.vn tháng 10 - 2002, tác
giả Võ Phúc Châu lại phân tích tìm hiểu về Thiếu Sơn ở một khía cạnh
khác: Văn phong tranh luận của Thiếu Sơn trên báo chí để nhận ra dáng
nét riêng, phong cách riêng của Thiếu Sơn với những nhận định, đánh giá :
“Những bài tranh luận của Thiếu Sơn thường có, lối đặt tựa đề ngắn gọn,hàm súc” “Cách mở đầu bài viết của Thiếu Sơn khá nhẹ nhàng, luôn xuấtphát từ dư luận, nhu cầu của người đọc”, hay “Khi biện luận, Thiếu Sơnthường hay lật đi lật lại vấn đền, đối chiếu, so sánh, rồi mới bộc lộ ý kiến hếtsức coi trọng vấn đề định danh cho mọi hiện tượng, mọi khía cạnh vấn đề”(…) “Chỉ qua văn phong, Thiếu Sơn cũng xứng đáng là tác giả phê bình cótầm cỡ sắc bén, uyên bác, nhạy cảm và nhất là hết sức vô tư trong cầm cânnảy mực đánh giá, tranh luận về tác giả và tác phẩm văn chương” [7]
Năm 2003, trong bài Những văn nhân chính khách một thời dưới con
mắt suy xét của Thiếu Sơn (1908-1978), Huy Cận nhận xét : “Phê bình tác
phẩm hay phê bình nhân vật đều khó, nhưng phê bình nhân vật còn khóhơn một bậc ( ) Có thể nói, Thiếu Sơn đã sáng tạo ra loại phê bình nàytrong văn học của nước ta” [63, 5]
Trong Từ điển văn học (bộ mới), Nhà xuất bản Thế giới, năm 2004, mục Thiếu Sơn, Vũ Thanh viết : “Với Phê bình và cảo luận , ông được coi
là một trong những người mở đầu cho phê bình văn học bằng chữ Quốcngữ ở Việt Nam Trước đó trong văn học Việt Nam , thể văn này chỉ xuấthiện trong những lời bình chú tuỳ hứng hay thi thoại xen lẫn trong nhữngcuốn biên khảo để bình giá tác phẩm, chứ chưa tồn tại như một thể loại độc
Trang 10lâp ( ) Mặc dù có những tác động tích cực đến sáng tác và thưởng thức
văn học đương thời, nhưng Phê bình và cảo luận vẫn không tránh khỏi
những hạn chế tất yếu của một cuốn sách “mở đầu” [74, 1680]
Nguyễn Thị Thanh Xuân, năm 2004, trong chuyên luận Phê bình
văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (1900 - 1945) , đã nhận định: “Đóng
góp của Thiếu Sơn trong lịch sử phê bình trước 1945 thật đáng chú ý.Không hoạt động văn học chuyên nghiệp như hầu hết các nhà văn khác,ông vẫn là người có cái khả năng nhập cuộc mạnh mẽ, ông luôn luôn đứnggiữa dòng Những vấn đề văn hoá, văn học mà ông đề cập thường có tínhthời sự, đáp ứng được và đúng vào những yêu cầu của tình hình văn học tathời kỳ ấy, với sự cần thiết phải nhìn lại hoạt động văn học (…) Thiếu Sơn
đã nhạy bén khi đặt lại vấn đề văn chương chơi và văn chương có ích; vàtrong lịch sử văn học Việt Nam, có lẽ ông là người đầu tiên thực hiện phêbình nhân vật, nhân vật văn hoá và theo đuổi bền bỉ gần nửa thế kỷ” [101,224]
Nhân sự kiện Nhà xuất bản Văn học cho ra mắt cuốn Thiếu Sơn
toàn tập (2 tập, 1.600 trang), bản thảo do người em ruột tác giả - NSƯT Lê
Quang Hưng sưu tầm, biên soạn, tác giả Giáp Nguyễn trên trang web
http: //Pda.vietbao.vn ngày 27- 4- 2004 có bài viết Thiếu Sơn - nhà yêu nước, nhà phê bình lớn: “Sở dĩ Phê bình và cảo luận được đánh giá cao vì
thời điểm lúc bấy giờ những tác phẩm bàn về phê bình con non nớt chưa có
hệ thống Thiếu Sơn đứng trên quan điểm người cùng thời mà đánh giáthẩm định, chứ chỉ chín nhân vật được ông "phê" thì chưa đủ hình thànhmột nhà phê bình nhân vật Cái cộng hưởng làm nổi bật đó là lối văn chínhluận sắc bén với ba bài cảo luận nêu lên quan điểm yêu nước và ý thức tinhthần về Quốc ngữ nước nhà” [44]
Năm 2004, trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ XX do Phan Cự Đệ
chủ biên, khi đề cập đến các khuynh hướng trong phê bình văn học ViệtNam giai đoạn 1932 - 1945, Trần Đình Sử đã xếp Thiếu Sơn vào nhóm các
Trang 11nhà phê bình có xu hướng tổng kết: “Ông là người cho xuất bản cuốn sáchphê bình văn học đầu tiên, có ý thức trưng ra một thể loại phê bình mới,phê bình nhân vật và có quan điểm rõ ràng Gọi là tác giả có xu hướng tổngkết là vì cuốn sách này đã trình bày lần đầu tiên chín chân dung các nhàvăn đầu thế kỷ” [15, 706].
Với công trình Lý luận, phê bình văn học Việt Nam từ đầu thể kỷ
XX đến 1945, Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, năm 2005, (Nguyễn Ngọc
Thiện chủ biên) ở bài viết về Thiếu Sơn, Nguyễn Đăng Điệp đã có
những phân tích , nhận xét về cuốn Phê bình và cảo luận: “Với Phê bình
và cảo luận, Thiếu sơn được coi là người mở đường cho nền phê bình
văn học Việt Nam hiện đại (…) Ý nghĩa của công trình bày còn nằm ởchỗ, sau này, khoa nghiên cứu văn học nước ta cũng mở ra hai ngã rẽ cơbản: Phê bình và nghiên cứu như Thiếu Sơn đã đặt ra trong tác phẩm củaông” [81, 309-310] Ở công trình này Nguyễn Ngọc Thiện cũng khẳngđịnh: “Cách đây hơn 70 năm, năm 1933 trên văn đàn nước ta xuất hiện
cuốn Phê bình và cảo luận của Thiếu Sơn, một trong số ít tác phẩm được
lịch sử văn học ghi nhận là đã vinh dự cắm mốc khai mở cho thể loại phêbình văn học trong tiến trình hiện đại hoá văn học nghệ thuật Việt Nam từnửa đầu thế kỷ XX” [81, 436]
Trên trang web http://www Tapchisonghuong.com tháng 2, năm
2009, có đăng bài viết Thiếu Sơn với phê bình và cảo luận của hai tác giả
Hương Giang và Phạm Phú Phong Trong bài viết này, Hương Giang vàPhạm Phú Phong đã phân tích và đánh giá rất cao những đóng góp củaThiếu Sơn Bài viết cũng đã có cái nhìn khách quan, khoa học khi đánh giá
về công trình Phê bình và cảo luận của ông: “Có người cho rằng: Phương
pháp phê bình của Thiếu Sơn còn võ đoán cảm tính, là phương pháp phêbình xã hội chứ chưa phải phê bình thẩm mỹ Nhưng làm sao đòi hỏi mọiđiều ở một tác phẩm mở đường, tác phẩm đi tiên phong cho nền văn học
Trang 12nước nhà, nhất là ở thời điểm chưa có ý thức một cách đầy đủ về phươngpháp, chưa có khoa học phương pháp đối với khoa học về văn học” [21].
Trên trang web http://Vannghequandoi.com.vn ngày 03/6/2009 có bài của tác giả Đinh Thị Minh Hằng với tựa đề Lý luận, phê bình văn học
Việt Nam đầu thế kỷ XX - tiếp thu, cách tân và sáng tạo với những đánh
giá ,nhận định xúc động về văn phong của Thiếu Sơn: “Thiếu Sơn đã kếthợp một cách nhuần nhị phương pháp phê bình hiện đại của phương Tâyvới tinh hoa của nền văn học dân tộc, để tạo nên những trang viết đầy ấntượng, mang đậm dấu ấn chủ quan, với nhiệt thành tìm cái đẹp và biểudương cái đẹp của tác phẩm văn học” [24]
Cuối năm 2010, với tác phẩm Phê bình văn học con vật lưỡng thê ấy,
ở phần hai Phê bình văn học Việt Nam nhìn nghiêng từ phương pháp, nhà
phê bình Đỗ Lai Thuý đã có những phân tích rất sắc sảo, tinh tế về Thiếu
Sơn cũng như công trình Phê bình và cảo luận của ông: “Trước hết, Thiếu
Sơn có quan niệm mới về văn chương, chống lại quan niệm văn chươngcông cụ của Nho giáo (…) Vì thế, không phải ngẫu nhiên mà ông chính làngười châm ngòi cho cuộc tranh luận “Nghệ thuật, vị nghệ thuật hay nghệthuật vị nhân sinh” (…) Bản thân ông đã đi đầu trong việc trở thành một nhà
phê bình có chuyên môn” Và “sự xuất hiện cuốn Phê bình và cảo luận của
Thiếu Sơn Lê Sĩ Quý (1908 - 1978) là một viên đá tảng trên con đường trởthành chuyên nghiệp của phê bình văn học Việt Nam” [83, 96]
Nhắc nhớ nhiều kỷ niệm về Thiếu Sơn, nhà thơ Viễn Phương, nhàvăn Anh Đức, Nguyễn Văn Lưu, Nguyễn Quang Sáng… đều có nhiều vuibuồn và có cùng nhận xét: “Thiếu Sơn là nhà văn tham gia từ những ngàyđầu cách mạng (…) Nhưng nhiều người chỉ biết đến ông trên phương diệnnhà phê bình”
Nhìn chung những ý kiến đánh giá về công lao của Thiếu Sơn đốivới phê bình văn học nước nhà là tương đối thống nhất Trong đó, nhiều ýkiến cho rằng, Thiếu Sơn là một trong những người đã có công lớn trong
Trang 13việc đặt nền móng cũng như đi tiên phong trong sự nghiệp phê bình vănhọc Việt Nam hiện đại Ông được xem là nhà phê bình văn học có tư duyhiện đại, sắc sảo và tinh tế trong nhận định đánh giá những sáng tác, cácchân dung văn học nửa đầu thế kỷ XX.
Trên thực tế vẫn còn thiếu những công trình chuyên biệt, có tính hệthống để đánh giá đóng góp của Thiếu Sơn trong nền lý luận, phê bình vănhọc Việt Nam hiện đại Vì vậy, việc nghiên cứu vị trí, vai trò của ông đốivới phê bình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX vẫn là một việc làm có
ý nghĩa
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Tìm hiểu những đóng góp của Thiếu Sơn cho hiện đại hóa phêbình văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
3.2 Khẳng định vị trí của Thiếu Sơn trong lĩnh vực phê bình văn họcViệt Nam nửa đầu thế kỷ XX
4 Phạm vi tư liệu khảo sát
- Toàn bộ những công trình phê bình của Thiếu Sơn trước 1945 được
Lê Quang Hưng sưu tầm ,tuyển chọn, đưa vào cuốn Thiếu Sơn Nghệ thuật
và nhân sinh - Tuyển tập Nhà xuất bản Văn hoá Thông tin, Hà Nội, 2001.
- Thiếu Sơn , Toàn tập, gồm 2 tập, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 2003.
- Những bài phê bình văn học của Thiếu Sơn in trong Tuyển tập phê
bình văn học Việt Nam 1900-1945 (Nguyễn Ngọc Thiện chủ biên), Nhà
xuất bản Văn học, Hà Nội, 1997, tập 2
- Những bài phê bình văn học của Thiếu Sơn in trong Văn học Việt
Nam thế kỷ XX, Quyển 5 (Lý luận -phê bình), tập 3, Nhà xuất bản Văn học,
2006
- Cuốn Những văn nhân chính khách một thời, Thiếu Sơn, Nhà xuất
bản Công an nhân dân, 2006
Ngoài ra, luận văn còn mở rộng diện khảo sát ra nhiều tác phẩm củacác nhà phê bình văn học khác cùng thời nhằm so sánh, đối chiếu
Trang 145 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp thống kê - miêu tả
- Phương pháp đối chiếu, so sánh
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn được cấu trúc
gồm 3 chương:
Chương 1 Phê bình văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX và
sự xuất hiện của Thiếu Sơn
Chương 2 Đóng góp của Thiếu Sơn trong việc hiện đại hoá quan
niệm về văn học
Chương 3 Đóng góp của Thiếu Sơn trong việc hiện đại hoá quan
niệm về phê bình văn học và khởi xướng thể loại phê bình nhân vật
Trang 15Chương 1 PHÊ BÌNH VĂN HỌC VIỆT NAM NHỮNG NĂM ĐẦU THẾ KỶ XX
VÀ SỰ XUẤT HIỆN CỦA THIẾU SƠN
1.1 Phê bình văn học Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX trước yêu cầu hiện đại hoá
1.1.1 Khái niệm Phê bình văn học
Khi nghiên cứu lịch sử văn học của một thời kỳ, không thể khôngnói đến hoạt động phê bình văn học của thời kỳ đó, bởi một nền văn họctrưởng thành luôn luôn phát triển trên hai điểm tựa: sáng tác và phê bình.Biêlinxki (1811-1848) gọi phê bình là sự “tự ý thức” của thời đại thông quavăn học Cho nên, phê bình chính là con đẻ của thời đại Mặt khác, phêbình lại là một phương diện của quá trình văn học Vì thế, hình thái tồn tạicủa xã hội, đặc điểm tính chất của nền văn học trong một thời kỳ lịch sử sẽ
có ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của phê bình văn học Phê bình chỉtồn tại và phát triển khi và chỉ khi bản thân hoạt động này mang lại cho conngười những nhận thức có tính định hướng thẩm mỹ
Ban đầu, nghĩa của phê bình là lòng khao khát thưởng thức (đọc vàhiểu) tác phẩm cùng cảm hứng được nói lên những ý kiến của mình về tácphẩm ấy nhằm chia sẻ với mọi người Thuộc lĩnh vực tiếp nhận nhưng phê
bình không dừng lại ở hành động đọc thuần tuý (như của độc giả) mà đi tiếp tới hành động viết (như của nhà văn) Ngay trong phương thức tiến
hành công việc này, phê bình đã thể hiện tính chất trung gian, bắc cầu đặcbiệt của mình Để có những trang viết đạt chuẩn của phê bình, nhà phê bìnhkhông chỉ ghi lại những rung cảm tự nhiên, mà phải tiến hành những thaotác giải mã tác phẩm, cắt nghĩa quá trình sáng tạo của nhà văn trong việchoàn thành tác phẩm Khi đó, nhà phê bình đã đưa lý trí vào để cắt nghĩanhững quy luật của tình cảm, dùng khoa học để tiếp cận nghệ thuật Côngviệc này đòi hỏi nhà phê bình phải được trang bị những kiến thức và kỹ
Trang 16năng cần thiết (thế giới quan, nhân sinh quan, tiềm thức, kiến thức chuyênmôn, kinh nghiệm sống v v…).
Khái niệm phê bình cũng vận động theo dòng lịch sử Thoạt tiên nó
là hoạt động phán đoán tự nhiên, xuất phát từ nhu cầu thưởng ngoạn tácphẩm Sau đó, nó được xác lập một cách chính thức như một thể loại haymột bộ môn và cho đến nay, phê bình đã được thừa nhận như một ngànhkhoa học về văn học mang tính nghệ thuật cao
Ở Việt Nam hiện nay, trong một số giáo trình lý luận văn học, từđiển thuật ngữ văn học, phê bình văn học được quan niệm là: “Sự phánđoán, bình phẩm, đánh giá và giải thích tác phẩm văn học, đồng thời kèmtheo việc phán đoán, bình luận, giải thích, đánh giá những hiện tượng đờisống mà tác phẩm nói tới” [4, 259]
Đối tượng của phê bình văn học là toàn bộ những hiện tượng vănhọc đã và đang diễn ra, có thể là những yếu tố mang tính vi mô cho đếnnhững sự kiện mang tính vĩ mô, trong đó tác phẩm văn học được xem làcăn cứ đầu tiên, hết sức quan trọng
Phê bình văn học là việc phân tích, đánh giá đối với tác giả, tácphẩm trường phái, trào lưu văn học theo một quan điểm lý luận nhất định
và một chuẩn mực thẩm mỹ nhất định Phê bình phát triển và đi sâu hơntheo sự phồn vinh của sáng tác văn học Ngược lại, có tác dụng thúc đẩyđối với sáng tác, đồng thời cũng nêu lên tiêu chuẩn phê bình, theo đó đượchiểu là thước đo để đánh giá tính tư tưởng và tính nghệ thuật của tác giả vănnghệ Hai phương diện này có liên quan với nhau, được hình thành qua thựctiễn phê bình và diễn biến không ngừng theo sự thay đổi của thời đại và sựphát triển của hoạt động sáng tác Thời đại khác nhau, giai cấp khác nhau, cónhững tiêu chuẩn phê bình khác nhau Cùng một giai cấp nhưng trong thời
kỳ lịch sử khác nhau cũng có yêu cầu khác nhau đối với tiêu chuẩn phêbình
Trang 17Phê bình văn học giữ một vai trò quan trọng trong đời sống văn học
vì nó có khả năng tác động đến tất cả các khâu của tiến trình nghệ thuật:hiện thực - nhà văn - tác phẩm - người đọc Không có tham vọng thế chânnhà văn hay độc giả, nhà phê bình tái tạo nên tác phẩm như một quá trìnhđồng sáng tạo Là người đọc chuyên nghiệp, nhà phê bình có thể ảnh hưởngđến quá trình sáng tác của nhà văn Là người có công phát hiện những nhàvăn mới, góp phần khẳng định lại những giá trị bị lãng quên, hoặc mang lại
ý nghĩa thời sự cho các vấn đề văn học, nhờ sự phân tích, lý giải tác phẩmvăn học qua nhiều góc độ khác nhau, nhà phê bình có thể giúp nhà văn hiểuthêm về đứa con tinh thần của họ Do vậy, phê bình văn học đem lại choquá trình sáng tạo của nhà văn những động lực và định hướng quan trọng
Phê bình văn học cũng là tiếng nói tác động đến sự phổ biến tácphẩm và thị hiếu của người đọc Trong đời sống văn học diện nay, tácphẩm văn học thường xuất hiện trước công chúng, dưới ánh sáng những lờigiải thích của phê bình Khi nói văn học có tác động đến việc nâng cao thịhiếu thẩm mỹ của người đọc, thì không chỉ là nói về tác phẩm văn học màphải hiểu trong đó có cả vai trò của phê bình văn học Phê bình văn họcgóp phần đánh thức cảm xúc về cái đẹp và tinh thần sáng tạo người đọc.Nhà phê bình thực hiện điều này không chỉ bằng những phương thức nghệthuật (như trích dẫn những câu thơ hay, những đoạn văn giàu tính thẩm mỹtrong tác phẩm) mà còn bằng những phương tiện chính của phê bình (vẻđẹp của ngôn từ, giọng văn biểu cảm, cấu trúc chặt chẽ của bài phê bình,những phát hiện độc đáo…)
Khi nhìn nhận về khả năng của một người làm phê bình, cũng cần xácđịnh rằng, người làm công việc này phải hiểu rõ đối tượng mình nghiên cứumột cách sâu sắc để có những khám phá, sáng tạo đánh giá cho văn học cũngnhư cho đời sống xã hội Điều này đòi hỏi người phê bình ngoài việc biếtnhìn nhận ra trước, còn biết phân tích soi sáng, tìm ra nguyên nhân vạch rabản chất khuynh hướng, là điều người đọc thông thường ít khi nhận thấy mà
Trang 18ngay cả tác giả có khi cũng không tự biết nữa Tất nhiên, đó không phải làviệc sáng tác thêm để cho tác phẩm được hoàn hảo mà xuất phát từ đặc trưngcủa văn học là nghệ thuật ngôn từ, tính đa nghĩa của tác phẩm nhiều khi vượt
xa những mục đích sáng tạo ban đầu Nhiều công trình nghiên cứu đã trởthành tác phẩm văn học, tức nghệ thuật ngôn từ Đến lượt nó, các công trìnhphê bình lại được sự tiếp nhận, phán xét của người đọc và các nhà phê bìnhkhác
Để hoàn thành trách nhiệm của mình trước văn học và trước xã hội,nhà phê bình cần có một kiến thức rộng và sâu về văn học, xã hội, cùngtrình độ nghề nghiệp vững vàng và sự mẫn cảm về nghệ thuật Nhà phêbình chỉ thuyết phục được nhà văn khi trang viết của mình nêu lên đượcnhững đặc điểm, những ưu, nhược điểm trong các sáng tác ấy, để từ đó đưa
ra những nhận định khái quát về mặt triết lý, thẩm mỹ Ngoài kiến thức vềvăn hoá, người làm phê bình cần phải hiểu biết cuộc sống một cách sâu sắc
và tính chân thực nghệ thuật của tác phẩm, cũng như phát hiện ra sự phùhợp hay không phù hợp của nó đối với nhu cầu bạn đọc đương thời
1.1.2 Vấn đề thời điểm ra đời của phê bình văn học hiện đại Việt Nam
Thật khó để xác định một cách cụ thể thời điểm ra đời của phê bìnhvăn học Việt Nam Trở ngại lớn nhất là tình hình tư liệu Sách vở của chaông ta trong các thế kỷ trước thế kỷ XX đã mất mát quá nhiều Và theoPhương Lựu thì còn có “nguyên nhân sâu xa từ đặc điểm chưa thật hệthống trong lý luận thơ văn cổ nước nhà (…) Nhưng nguyên nhân trực tiếplại chính là việc sưu tầm nghiên cứu chưa thật hệ thống đối với lý luận thơvăn đó để khả dĩ có thể làm hậu thuẫn tin cậy cho các nhà nghiên cứu lịch
sử văn chương” [38, 9]
Nếu hiểu phê bình văn học là hành động nhận xét, phân tích, đánh
giá tác phẩm và tác giả văn chương thì có thể cho rằng , thể loại phê bình
văn học đã xuất hiện ở Việt Nam khá sớm Bởi vì công việc phân tích, lýgiải, bình luận, ghi chép, biên soạn các tác phẩm tác giả đã được cha ông ta
Trang 19tiến hành ít nhất là từ thế kỷ XIV - XV Các bài tựa, bài bạt, những lời
bình qua các cuộc trò chuyện đàm đạo văn thơ, những thư từ trao đổi về
văn chương, những nhận định, đánh giá, suy nghĩ khi sưu tầm bổ sung…cũng đã chứa đựng những phán đoán có ý nghĩa nguyên tắc và tích cực đốivới tác phẩm văn học Tuy nhiên, phê bình văn học ở thời kỳ này còn tảnmạn, chưa thành hệ thống, thường giới hạn trong phạm vi hẹp giữa người
viết với các trí thức Nho học tri âm, tri kỷ Dương Quảng Hàm trong Việt
Nam văn học sử yếu quan niệm về “thể văn phê bình” như sau: “Thể văn
phê bình là một thể văn ta mới mượn của Pháp văn Không phải xưa kiacác cụ không hề phê bình, nhưng các lời phán đoán khen chê của các cụ chỉxen vào trong một bài văn hoặc một cuốn sách chứ chưa hề biệt lập thànhmột văn thể riêng Mãi đến gần đây, các văn gia mới phỏng theo thể phêbình của người Pháp mà viết tác phẩm thuộc thể ấy” [31, 289]
Có thể nói, phê bình văn học hiện đại ở Việt Nam, so với nhiều nướctrên thế giới, hình thành khá muộn Đầu thế kỷ XX, những biến đổi xã hội
ở các mặt kinh tế, văn hoá, khoa học kỹ thuật đưa đến những biến đổi vềthế giới quan, nhân sinh quan Văn hoá dân tộc tiếp biến cùng chung vớivăn hoá khu vực, hội nhập khu vực và thế giới Văn học chịu ảnh hưởng ýthức hệ hiện đại: tư sản và vô sản Bên cạnh những thể loại truyền thống,
có những thể loại mới được hình thành Theo Giáo sư Mã Giang Lân, ởViệt Nam lý luận phê bình thực sự có dấu hiệu hiện đại vào đầu thế kỷ XXnhư: “Tăng cường tư duy phân tích lý luận, sử dụng một số khái niệmmang tính công cụ để tiếp nhận đối tượng, văn học được coi như một đốitượng khoa học được nhìn nhận đánh giá từ nhiều góc độ” [33, 345] TheoGiáo sư Trần Đình Sử, phê bình văn học Việt Nam hiện đại được bắt đầu từnhững năm 30 - 40 của thế kỷ XX Văn học Việt Nam giai đoạn 1930 -
1945, thực sự bắt đầu với phong trào Thơ mới, cùng với sự thành lập củanhóm Tự lực văn đoàn và kết thúc khi cuộc Cách mạng tháng Tám 1945bùng nổ Từ đầu những năm 1930, khi văn học Việt Nam bắt đầu đi vào
Trang 20quỹ đạo của văn học thế giới hiện đại, phê bình văn học với tư cách là mộtthể loại riêng, đã bắt đầu được ý thức và được xác lập với những bài phê
bình của Thiếu Sơn trên báo Phụ nữ tân văn những năm 1931, 1932.
1.1.3 Hiện đại hoá phê bình văn học-một nhu cầu khách quan, tất yếu
Đầu thế kỷ xx, hiện đại hoá phê bình văn học được dần dần hiện rõ
trên Đông Dương tạp chí và Nam phong tạp chí với những bài giới thiệu về
sách mới, phân tích, đánh giá văn học Pháp, khảo cứu về văn minh họcthuật Đông -Tây… của Phan Kế Bính, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh…
Những bài điểm sách trên Đông Dương tạp chí hầu hết là do các nhà
cầm bút cựu học thực hiện Văn là sự tiếp nối cách bình phẩm của giaiđoạn trước, như khen lời hay ý đẹp, khen tác giả có kiến văn rộng rãi, đặcbiệt chú ý về khía cạnh đạo đức của tác phẩm Thanh Lãng cho rằng nhữngbài viết này còn quá chung chung: “Những lời bình luận về văn chương củacác cuấn sách mới xuất bản, thực ra, có thể đem áp dụng cho bất cứ mộtcuốn sách nào”
Năm 1917, Nam phong tạp chí ra số đầu tiên, có mục Văn bình luận.
Chính mục này là nơi tập dượt của những cây bút phê bình trong giai đoạn
ấy Các bài viết ở đây có phát triển hơn một bước về quan niệm và phương
pháp phê bình so với trên Đông Dương tạp chí Có thể nói, Phạm Quỳnh là
người giữ vai trò nòng cốt trong việc đẩy phê bình trở thành một sinh hoạtđều đặn, thường xuyên Cùng với những bài dịch nhằm giới thiệu về vănhoá, văn học Pháp, Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Quỳnh cùng một số trí thứckhách đã bắt đầu có ý thức vận dụng những kiến thức của phương Tây đểkhảo sát những vấn đề của văn hoá, văn học Việt Nam
Khi tập hợp những bài phê bình đã đăng báo cùng với những bài viết
mới để in thành cuốn Phê bình và cảo luận (1933), trong Lời tựa cuốn sách
này Thiếu Sơn đã đề nghị: “Vậy là nước ta còn thiếu những nhà chuyênmôn phê bình, và sự thiếu đó tưởng cũng thiệt thòi cho văn học ít nhiều”[60, 19]
Trang 21Có thể nói, bắt đầu cùng với Thiếu Sơn, hoạt động phê bình vănhọc Việt Nam đã thật sự đi vào một giai đoạn mới Dấu hiệu rõ nhất là
những mục Điểm sách, Đọc sách mới, Tin sách, Phê bình sách xuất hiện thường kỳ trên các báo như Phụ nữ tân văn (1929 - 1935), Phong hoá (1932 - 1936), Tiểu thuyết thứ bảy (1934 - 1943), Ngày nay (1935 - 1940),
Tao đàn (1939 - 1941)… Ở đây, đã nổ ra những cuộc tranh luận học thuật
lôi cuốn sự tham gia của nhiều cây bút lý luận, thu hút sự quan tâm của
người đọc như tranh luận về Truyện Kiều, về Quốc học, Thơ mới| Thơ cũ,
về Duy tâm hay Duy vật, về Nghệ thuật vị nghệ thuật hay Nghệ thuật vị
nhân sinh, về Dâm hay không dâm trong tác phẩm của Vũ Trọng Phụng.
Từ những cuộc tranh luận này đã xuất hiện những tác giả và tác phẩm tiêubiểu, ghi nhận bước phát triển, trưởng thành của tư duy lý luận văn họcnước nhà
Suốt từ năm 1930 - 1945, hiện đại hoá phê bình văn học được thựchiện ở từng tác giả: đổi mới tư duy, quan điểm thẩm mỹ, vận dụng phươngpháp và thao tác mới, tiếp thu tri thức Tây học… hình thành nên nhiềukhuynh hướng, những phong cách độc đáo, hiện rõ dấu ấn cá nhân vớinhững quan niệm nhân sinh, thẩm mỹ riêng ở nhiều công trình nghiên cứu
có giá trị như: Phê bình và cảo luận (1933) của Thiếu Sơn; Dưới mắt tôi (1939) của Trương Chính, Trông giòng sông Vị (1935) và Hàn Mạc Tử (1941) của Trần Thanh Mai; Thi nhân Việt Nam (1942) của Hoài Thanh và Hoài Chân; Nhà văn hiện đại (1942) của Vũ Ngọc Phan, Phê bình văn học (1942) của Kiều Thanh Quế, Việt Nam văn học sử yếu (1942) của Dương
Quảng Hàm… Hầu như những tác phẩm văn học xuất bản trong giai đoạnnày đều được điểm qua hoặc được phê bình Nhờ vậy mà không khí vănhọc trở nên sôi động, thu hút sự quan tâm của quần chúng rất nhiều, và kíchthích hoạt động sáng tác Sinh hoạt phê bình đã bắt đầu đi sâu vào các vấn
đề thuộc về chuyên môn, học thuật Theo đó, các tác phẩm phê bình đượctăng cường tính khoa học Các nhà phê bình đã vận dụng khá thuần thục
Trang 22các phương pháp để thâm nhập và xử lý những vấn đề của đời sống vănhọc.
1.1.3.1 Báo chí, xuất bản và sự hình thành tầng lớp trí thức hiện đại đầu thế kỷ XX
Không phải ngẫu nhiên, một nhà nghiên cứu phê bình Pháp đã nhấn
mạnh: “Lịch sử phê bình gắn với sự phát triển của báo chí và ngành đạihọc” Bởi, phê bình văn học với tư cách là người đại diện của ý thức củavăn học thời kỳ hiện đại, đã đòi hỏi những người làm phê bình nhất thiết cótrình độ học vấn, phải hiểu sâu, biết rộng, phải có khả năng phân tích tổnghợp, và có sự nhạy cảm nghệ thuật đặc biệt Do đó, phê bình chỉ có thểđược hình thành và phát triển trên một nền tảng văn hoá trực tiếp là: sự rađời của báo chí - một hình thức hoạt động văn hóa thuận tiện sôi nổi và sựxuất hiện của tầng lớp trí thức có học vấn tương đối cao
Cần phải khẳng định một điều: người Pháp đến Việt Nam cố nhiên
không phải để thiết lập một chế độ dân chủ Tuy nhiên, ở giai đoạn đầu tiên
của quá trình thực dân, với ý đồ xóa bỏ cơ tầng văn hóa bản địa để cấy vào
đó một mô hình văn hóa được sao chép từ chính quốc (mà Sài Gòn là mộtthử nghiệm) đã đưa lại một sự đồng dạng nhất định, chí ít là trên cơ sở củanhững thiết chế, giữa hai nền văn hóa Ở giai đoạn tiếp theo, khi những vănhóa bản địa được tôn trọng (nhằm lợi dụng từ trong truyền thống nhữngnhân tố hữu ích cho việc vận hành một cách ổn định bộ máy cai trị) thì vớinhững biến đổi về kinh tế sau hai cuộc khai thác thuộc địa đã kéo theo nónhững thay đổi căn bản trong cấu trúc xã hội Một minh chứng tiêu biểu: tạithời điểm này, người ta buộc phải ghi nhận sự xuất hiện của tầng lớp trunglưu ở thành thị với một số lượng và vai trò văn hóa ngày một chiếm một tỷ
lệ quan trọng Đặc điểm của tầng lớp này đã được Đào Duy Anh khái quát
một cách ngắn gọn: “Điều kiện sinh hoạt vật chất của họ dồi dào chừng nào
thì lòng hâm mộ của họ đối với văn hóa Tây phương càng nồng nàn chừng
ấy” [1, 140]. Cũng chính trong môi trường như thế, chỉ trong môi trường
Trang 23như thế (với sự trợ giúp đặc biệt của chữ Quốc ngữ, cho dù vẫn tồn tại mộtdòng báo chí bằng chữ Hán và đặc biệt là Pháp ngữ) mà báo chí xuất hiện.Nói chính xác hơn thì đây là một quan hệ tương hỗ: báo chí thúc đẩy tưtưởng dân chủ phát triển và ngược lại những yếu tố dân chủ trong xã hội đãkhiến báo chí phát triển nhanh chóng và có một vị trí đặc biệt trong đờisống tinh thần của xã hội.
Sự ra đời của báo chí, lẽ tự nhiên, làm xuất hiện một chân dung mới:
ký giả, hay nhà báo Những danh xưng này, trong ngôn ngữ đương đạithiên về ý nghĩa nghề nghiệp thuần túy nhưng ở vào thời điểm cuối thế kỷXIX đầu thế kỷ XX lại có nét nghĩa chỉ một nhóm có vai trò ưu đẳng trong
xã hội Với quốc dân, họ là đại diện cho luân lý và tri thức, có chức phậndẫn dắt, hướng đạo Trong một xã hội vốn có truyền thống trọng quan tước,
ký giả thậm chí được liệt vào tầng lớp “quan lại cao cấp”[90, 355]
Bên cạnh đó, tính từ năm 1929 trở về trước, nước ta đã có những luậtkhoa tiến sĩ, y khoa tiến sĩ, cử nhân văn chương, cử nhân sử địa, cử nhântriết học, cử nhân khoa học được đào tạo từ Pháp trở về Còn từ năm 1930trở về sau (đến năm 1945), số lượng các sinh viên, học sinh có bằng tú tài,tốt nghiệp cao đẳng hoặc đại học ở trong nước ngày càng đông đảo hơn.Điều đó chứng tỏ những người có trí thức có học vấn tương đối cao ở nước
ta trong giai đoạn lịch sử này không phải là hiếm Và một số khá đôngnhững người có trình độ học vấn đó đã đi vào con đường hoạt động vănchương, hoạt động phê bình văn học Như trường hợp các nhà văn, nhà phêbình: Lê Thước, Đặng Thai Mai, Hoàng Ngọc Phách (cử nhân Cao đẳng Sưphạm), Nhất Linh (cử nhân Khoa học), Phạm Huy Thông, Phạm Quỳnh (cửnhân Thông ngôn), Huy Cận (cử nhân Cao đẳng Canh nông) Thiếu Sơn,Hoài Thanh, Trương Chính, Vũ Ngọc Phan, Thạch Lam (đều qua bậc tútài và và tự nâng trình độ văn hoá của mình bằng con đường tự học ) Dotính đặc trưng của nghề nghiệp, các nhà phê bình cần có những yêu cầukhác so với những người làm công tác sáng tác Với người sáng tác, điều
Trang 24cơ bản không phải là ở trình độ học vấn, mà là năng khiếu Vì thế, có thể lýgiải trường hợp cùng một lúc xuất hiện một loạt các ngôi sao thơ ca bầutrời Việt Nam thời kỳ 1930 - 1945, hầu hết tuổi còn rất trẻ: Huy Cận, Chế LanViên, Huy Thông, Xuân Diệu Những Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, NguyênHồng tuy mới chỉ học qua bậc tiểu học, bậc thành chung - nhưng họ đãbồi dưỡng kiến thức bằng con đường tự học Nhưng trong phê bình, trình
độ học vấn lại là yếu tố đầu tiên, sau đó mới là khả năng cảm nhận và thẩmthấu văn chương Do đó, để có thể trở thành nhà phê bình có uy tín, các nhàphê bình đều phải được học hành cơ bản, có trình độ học vấn tương đốicao, có vốn sống nhất định, và tất nhiên phải có năng lực cảm thụ, phântích, khái quát trong việc đọc văn Hầu như các nhà phê bình nước ta thời
đó đều là những người có trình độ học vấn, họ hoặc đã tốt nghiệp hệ caođẳng, hoặc là giáo viên, hoặc đã qua bậc tú tài Và đặc biệt, ở họ là conđường tự học, khao khát hiểu biết, nên đã tự tạo cho mình một sức bậtmạnh mẽ trên con đường học vấn
Trong quá trình học tập ở các trường Tây, từ bậc tiểu học đến bậccao đẳng, đại học, họ đã tiếp thu một khối lượng kiến thức cơ bản về lịch
sử, văn hoá, văn học của các nước phương Tây, nhất là của Pháp, trong đó
có cả các nhà phê bình văn học Vì thế, trên phương diện lý thuyết, họ lànhững người chịu ảnh hưởng một cách rõ rệt những lý thuyết phê bình củaphương Tây hiện đại Rất dễ nhận thấy sự ảnh hưởng của các phương pháp
phê bình khoa học, phương pháp phê bình ấn tượng, phương pháp phê bình xã hội học, tiểu sử học trong những bài phê bình, những tác phẩm
phê bình của các nhà phê bình thời đó như Hoài Thanh, Thiếu Sơn, VũNgọc Phan, Hải Triều, Trương Chính, Trần Thanh Mại Do nhu cầu vănhoá, văn học ngày càng cao và phong phú của mọi tầng lớp công chúng độcgiả, báo chí cùng các phương tiện ấn loát, xuất bản cũng được hiện đại hoá
và phát triển nhanh chóng Có người khẳng định đây chính là một thời kỳbùng nổ của báo chí nước ta Như đã biết, báo chí chính là nơi đăng tải
Trang 25thường xuyên các tác phẩm nghệ thuật, là một phương tiện chuyển giaothuận tiện và nhanh nhất đến tay mọi đối tượng người đọc Đối với các nhàphê bình văn học, báo chí chính là nơi thử bút, nơi trình bày quan điểm, nơiphát biểu tư tưởng một cách thuận tiện, kịp thời nhất về các vấn đề vănhọc nghệ thuật nói chung, về các tác phẩm văn học cụ thể nói riêng Trướckhi có những cuốn sách phê bình thực sự ra đời, hầu hết các tác giả của nóđều đã được thử bút trên báo chí bằng các bài phê bình lẻ của mình và một
số cây bút phê bình có tên tuổi, sự nghiệp của họ gắn liền với một số tờ báo
nhất định Hoài Thanh gắn với tờ Tao đàn, Tiểu thuyết thứ bảy; Trương Tửu gắn với tờ báo Loa; Thạch Lam gắn với Phong hoá, Ngày nay; Hải Triều gắn với tờ: Đời mới, Dân tiến Đó còn chưa kể đến các cuộc tranh
luận nghệ thuật giữa các nhà phê bình, các trường phái phê bình với nhau
về một tác phẩm văn học, hoặc về quan điểm nghệ thuật, đã thường xuyênxẩy ra trên một số tờ báo đương thời Nói một cách khác, báo chí chính làmột môi trường thuận lợi nhất cho hoạt động phê bình văn học Thật khóhình dung, nếu không không có báo chí, hoạt động phê bình sẽ diễn ra nhưthế nào?
Do tính hiện đại và tính dân chủ của nền văn học nước nhà giai đoạnđầu thế kỷ đã dẫn đến việc tạo nên một đội ngũ công chúng độc giả ngàycàng thêm đông đảo và phức tạp Nhu cầu đọc sách báo, đọc văn chươngcủa độc giả đương thời đã ngày càng trở nên thường xuyên hơn, cấp thiếthơn Và, để đáp ứng cho nhu cầu văn hoá đó, nhiều nhà xuất bản (của cảnhà nước và tư nhân) đã lần lượt ra đời như: Thuỵ Kí, Tân Dân, Mai Lĩnh,Cộng Lực, Đời Mới, Tân Việt, Hàn Thuyên hàng năm đã in ấn hàng trămcuốn sách mới đưa đến tay người đọc, cùng hàng trăm tờ báo xuất hiện, đăngtải một khối lượng lớn các văn phẩm đủ thể loại của độc giả Ý nghĩa lớnnhất mà báo chí và xuất bản mang lại cho đời sống văn chương thế kỷ XX
có lẽ là ở chỗ, từ đây, sự sáng tạo vượt qua giai đoạn tự phát vất vưởng, đãtrở nên những sản phẩm ra đời tập trung, có ý thức Khi hình dung ra việc
Trang 26tác phẩm của mình sẽ xuất hiện trên mặt báo hoặc trở thành những cuốnsách bày bán khắp nơi cũng tức là lúc người viết hiểu rằng nó có hàng ngànhàng vạn công chúng Từ nay, việc cung cấp thứ thức ăn tinh thần này có
được một nếp sống công nghiệp mà thời trung đại không thể có.
Với việc được giới thiệu trên mặt báo rồi in ra thành cuốn sách riêng,mỗi tác phẩm văn chương in ra trong thế kỷ XX có một đặc điểm khác so
với cuốn truyện, bài thơ xuất hiện thời trung đại: nó có một cái khung thời
gian - không gian cụ thể Sách viết ra năm nào, in năm nào ở nhà xuất bản
nào, những chi tiết ấy tưởng là nhỏ nhặt không đáng kể, nhưng thật ra, vẫn
là những chỉ số giúp cho người ta xác định giá trị và thấu hiểu tác phẩm
Đứng về bản thân giới sáng tác mà xét, thì việc xuất hiện các tờ báo,các nhà xuất bản mang lại cho công việc của họ một sự kích thích cụ thể.Hơn nữa qua các toà soạn các ban biên tập họ có chỗ để cộng tác cùng làmviệc chung Trong các công trình nghiên cứu lịch sử văn học, tên của các tờbáo, các nhà xuất bản thường được dùng để chỉ nhóm phái được hình thànhkhi ngẫu nhiên khi tự giác chung quanh tờ báo (hay Nhà xuất bản) và đã sử
dụng tờ báo (hay Nhà xuất bản) này làm cơ quan ngôn luận: Nhóm Đông
Dương tạp chí, nhóm Nam phong, nhóm Thanh nghị, nhóm Tri tân, nhóm Hàn Thuyên v.v…
Với một khối lượng sách báo, tác phẩm văn học lớn như vậy cùngmột lúc được tung ra trong đời sống văn hoá, văn học nước nhà, đã đòi hỏiphải có sự ra đời của một đội ngũ những người đọc sách chuyên nghiệp,những “siêu độc giả” đọc hộ họ, nhằm chỉ dẫn cho họ “thấy cái nghĩa lýcủa câu chuyện, chỗ dụng ý của tác giả, cái nghệ thuật của người làm vàcác văn thể của cuốn sách” [60, 19] - đó chính là các nhà phê bình văn học.Nói khác đi, bằng sự định giá các giá trị văn chương qua việc giải mã tácphẩm văn học cụ thể, các nhà phê bình văn học đã giúp cho độc giả thưởngthức văn chương một cách tinh tế hơn, giúp họ lựa chọn những tác phẩmvăn học phù hợp với thị hiếu, với khẩu vị của mình Và vì thế phê bình văn
Trang 27học đã dần được hình thành và phát triển như là một đòi hỏi khách quancủa đời sống văn học trong quá trình hiện đại hoá.
Nói tóm lại, hoạt động phê bình văn học gắn bó chặt chẽ với đờisống báo chí đương thời Và sự bùng nổ của báo chí là một điều kiện thuậnlợi dẫn đến sự hình thành và phát triển của hoạt động phê bình văn học hơn
40 năm nửa đầu thế kỷ
1.1.3.2 Nền văn học được hiện đại hoá, phát triển mạnh mẽ đòi hỏi sự ra đời của phê bình văn học như là một hoạt động chuyên môn
Thông thường, thuật ngữ hiện đại hiện nay được hiểu với hai nghĩa.
Nghĩa thứ nhất, chỉ một giai đoạn phát triển trong lịch sử nhân loại, giaiđoạn phát triển công nghiệp đại quy mô, sự phát triển các đô thị gắn với
việc khẳng định, đề cao vai trò cá nhân Nghĩa thứ hai, hiện đại đồng nghĩa với đương đại, hiện thời, mới mẻ, chỉ trình độ phát triển cao nhất mà loài người đạt được, là mặt bằng văn hoá thế giới Như vậy, hiện đại luôn được
sử dụng như một thuật ngữ, một tiêu chí chỉ ra bước phát triển cao hơn củanền văn hoá, văn học sau đó Vào đầu thế kỷ XX, vấn đề hiện đại hoá vănhọc ở nước ta đã trở thành một yêu cầu khách quan của lịch sử Đó là một
bộ phận của công cuộc hiện đại văn hoá xã hội Việt Nam nói chung Như
đã biết, nền văn học nước nhà trong khoảng trong khoảng 40 năm đầu thế
kỷ XX là một nền văn học đã được hiện đại hoá một cách toàn diện Vấn đềcái tôi cá nhân đã trở thành một nội dung lớn của văn học thời kỳ này, nóthay cái ta sừng sững ngự trị trong văn học trung đại thời phong kiến hàngngàn năm Trên phương diện hình thức, văn học giai đoạn này được hiệnđại hoá trước hết là ở việc thay đổi chữ viết, sau đó là sự cách tân táo bạo
về nghệ thuật Từ việc sử dụng chữ Quốc ngữ, tới việc ra đời của báo chí
đã dẫn tới sự hình thành và phát triển của một nền văn chương quốc ngữvới các thể loại văn học hiện đại như: tiểu thuyết, thơ mới, kịch và phê bìnhvăn học Những trang văn xuôi Việt Nam đầu tiên với giọng điệu còn ngônghê, cách diễn đạt còn vụng về qua quá trình phát triển đã trở nên trong
Trang 28sáng, giàu hình ảnh với tiểu thuyết của Tự lực văn đoàn; đã vươn tới sựhàm súc, sắc sảo đầy chất trí tuệ với văn chương của các nhà văn hiện thựcphê phán Riêng trên lĩnh vực thơ ca, chỉ trong một khoảng thời gian ngắn,gần 15 năm, nó đã hoàn thành công cuộc hiện đại hoá và vươn tới nhữngthành tựu rực rỡ của một nền thơ ca hiện đại Nó từ bỏ về cơ bản hệ thốngthi pháp cổ điển với những quy phạm chặt chẽ đầy tính công thức và ướclệ để đi tới một thể thơ tự do về mặt câu chữ, bộc lộ một cách tự nhiênnhững xúc cảm phóng túng, những suy nghĩ rất cá nhân
Mặt khác, trong xã hội giai đoạn lịch sử này, nhu cầu về việc thưởngthức văn chương nghệ thuật của độc giả ngày càng cao, càng đa dạng vàphong phú Vì thế, đội ngũ các nhà văn chuyên nghiệp đã dần được hìnhthành và ngày càng thêm đông đảo, nhằm phục vụ một cách kịp thời nhữngnhu cầu đó của độc giả đương thời Viết văn - đã trở thành một nghề mới,một nghề kiếm sống thực sự của những người trẻ tuổi, có học, có năngkhiếu và có khát vọng theo đuổi mộng văn chương thời bấy giờ Sáng tácvăn chương không còn là một công việc sang trọng của một số ít người cóhọc vấn cao trong xã hội những khi “ trà dư tửu hậu” nữa, mà đã trở thànhmột công việc, một nghề có tính đặc trưng của đời sống văn hoá, văn họcthời kỳ hiện đại Công chúng độc giả được mở rộng, đội ngũ nhà vănchuyên nghiệp được trưởng thành, văn học phát triển theo xu hướng hiệnđại hoá - là những đặc điểm nổi bật của đời sống văn học giai đoạn saunhững năm đầu thế kỷ XX đến năm 1945 ở Việt Nam Chính những đặcđiểm của văn học ấy đã đòi hỏi sự hiện đại hoá của phê bình Bởi, với tưcách là một hoạt động chuyên môn có tính chất xã hội đặc thù, phê bìnhvăn học sẽ giúp cho công việc sáng tác của nhà văn, việc thưởng thức vănhọc của độc giả - qua việc đánh giá tác phẩm văn chương theo nhữngnguyên tắc thẩm mỹ mới, theo những quan điểm mới về nghệ thuật, hướngcho văn học phát triển mau lẹ theo xu hướng hiện đại Ví dụ, với những bàiphê bình sâu sắc, tài hoa, tinh tế và thuyết phục của Hoài Thanh, trong
Trang 29cuốn tuyển tập và phê bình thơ: Thi nhân Việt Nam, nhà phê bình này đã
dựa trên những nguyên tắc thẩm mỹ mới để ca ngợi, khẳng định nền Thơmới Việt Nam Ông ủng hộ tuyệt đối những cách tân táo bạo về nghệ thuật,
mang đầy chất hiện đại của các nhà Thơ mới trên cả hai phương diện thi
thể và thi tứ Hoài Thanh xứng đáng là người đại diện ý thức tiêu biểu của
khuynh hướng văn học lãng mạn Việt Nam (trên lĩnh vực thơ ca) nhữngnăm trước 1945 Đồng thời là người hướng dẫn tài tình cho người đọcđương thời đối với loại thơ mới mẻ, hiện đại này; là người động viên, khích
lệ dìu dắt hàng loạt các tác giả thơ trẻ tuổi đang chập chững bước vào
nghề Hoặc trên tờ báo Ngày nay, những cây bút giữ chuyên mục Đọc sách
và phê bình”(Thạch Lam và Thế Lữ) đã ra sức tuyên truyền giới thiệu,
khẳng định các giá trị của tác phẩm văn xuôi và Thơ mới đối với độc giả
đương thời Hoặc, khi trường phái thơ tượng trưng với những Thượng
thanh khí của Hàn Mặc Tử, Kinh cầu tự, Vũ trụ ca của Huy Cận, Xuân Thu nhã tập của nhiều tác giả ra đời, độc giả đương thời rất cần phải có
các “siêu độc giả”, “đọc giùm” và giải mã giúp cho họ hiểu Các nhà phêbình: Diệu Anh (Đinh Gia Trinh), Hoàng Trọng Miên và cả các nhà thơphê bình như Hàn Mặc Tử, Bích Khê… đã thực hiện trách nhiệm đó đốivới độc giả, thông qua các bài phê bình giới thiệu của mình trên báo chí,hoặc trong những lời đề tựa
Tuy nhiên, vấn đề hiện đại hoá văn học Việt Nam đầu thế kỷ XX đến
1945 không chỉ là câu chuyện hiện đại hoá về mặt hình thức, ở đây, còn làcuộc cách mạng lớn lao về quan điểm nghệ thuật Trong giai đoạn lịch sửnày, quá trình hiện đại hoá đó chính là quá trình làm cho văn chương nghệthuật (văn hình tượng, văn thẩm mĩ) tách ra khỏi hình thức văn học nghệthuật, văn học quan phương của nền văn học phong kiến trung đại, và ngàycàng được coi trọng trong đời sống văn học đương thời Cuộc tranh luận về
Truyện Kiều giữa hai nhà chí sĩ Ngô Đức Kế và Huỳnh Thúc Kháng với
các nhà tri thức Tây học thời đó (Phạm Quỳnh, Trần Trọng Kim, Vũ Đình
Trang 30Long) từ năm 1919 đến 1925, thực chất là cuộc giao tranh, đụng độ giữahai quan niệm khác nhau về nghệ thuật trong việc phê bình tác phẩm vănhọc Hai nhà chí sĩ đã đứng trên quan điểm luân lí đạo đức phong kiến để
phê phán Truyện Kiều, còn các nhà Tây học kia lại đứng trên quan điểm cái đẹp nghệ thuật để tán dương Truyện Kiều Đến những năm 30 trở đi, thứ
văn chương thẩm mỹ đã khẳng định vị trí xứng đáng của nó trong đời sốngvăn học đương thời Những đề tài ca ngợi đạo đức, luân lý theo nhữngnguyên tắc cổ điển của xã hội phong kiến đã vắng bóng hẳn trong sáng táccủa các nhà văn thời kỳ này Thậm chí, người ta còn dấy lên cả một phongtrào chống lễ giáo phong kiến, chống các hủ tục nặng nề của xã hội phongkiến lạc hậu, bảo thủ
Rõ ràng, thông qua việc phân tích, bình luận, khẳng định nhữngthành công, những sáng tạo mới mẻ trong các tác phẩm của nền văn họcnước nhà giai đoạn lịch sử này, phê bình đã đóng góp tích cực trong việchướng dẫn, giáo dục thẩm mỹ đối với người đọc, và giúp cho người sángtác vững bước trên con đường sáng tạo nghệ thuật theo xu hướng hiện đại
Nó vừa đóng vai trò của người đại diện ý thức, người phát ngôn tư tưởngtiêu biểu cho các khuynh hướng văn học mới, vừa là động lực thúc đẩy vănhọc phát triển mau chóng trên con đường hiện đại hoá một cách toàn diện
Và với tư cách là một thành phần cơ cấu quan trọng của quá trình văn học,
sự xuất hiện của phê bình là rất cần thiết là tất yếu khách quan không thểkhác được, đối với công cuộc hiện đại hoá văn học nước nhà những nămđầu thế kỷ XX đến năm 1945
1.1.3.3 Những thành tựu của quá trình hiện đại hoá văn học và vấn đề tổng kết văn học
Văn học Việt Nam khoảng hơn 40 năm đầu thế kỷ XX đã phát triểnvới một gia tốc chưa từng thấy trong quá trình hiện đại hoá Nhà phê bình
Hoài Thanh trong bài tổng kết: Một thời đại trong thi ca đã thốt lên kinh
ngạc trước tốc độ phát triển ấy của nền văn học nước nhà Ông so sánh:
Trang 31“Năm sáu mươi năm này” mà như “ năm sáu mươi thế kỷ vậy” Vũ Ngọc
Phan, tác giả cuốn sách Nhà văn hiện đại, cũng đã hơn hai lần nhấn mạnh:
“ở nước ta một năm có thể kể như 30 năm của người” Quả thật, chỉ trongvòng bấy nhiêu năm thôi, trong đời sống văn học nước nhà đã xẩy ra liêntiếp các cuộc cách tân nghệ thuật, theo xu hướng hiện đại trên cả haiphương diện nội dung và hình thức
Chuyển qua giai đoạn giao thời, đến những năm 30, 40 nền văn họcViệt Nam đã thực sự mang diện mạo của nền văn học hiện đại với tất cảnhững nét đặc trưng của nó Đó là sự phong phú và phức tạp của cáckhuynh hướng văn học, sự trưởng thành nhanh chóng của nền văn xuôi chữQuốc ngữ, sự phát triển mau lẹ của nền thơ ca hiện đại, sự xuất hiện củakịch và nếu chỉ tính trong vòng 15 năm (1930 -1945) thì những bộ phậnchủ yếu làm nên diện mạo của nền văn học này cũng đã kịp thời làm trònvai trò lịch sử của mình
Chính sự phát triển hết sức mau lẹ đó, chính tính chất phong phú vàphức tạp đó, cùng với những thành tựu rực rỡ của nền văn học nước nhàthời kỳ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 đã đòi hỏi sự xuất hiện của nền phêbình văn học Bởi trước hết phê bình văn học sẽ là người phát ngôn tưtưởng cho các trào lưu, các khuynh hướng văn học khác nhau trong đờisống văn học đương thời; là nhân tố tổ chức, định hướng cho các khuynhhướng văn học ấy phát triển Sau đó, nó thực hiện chức năng đánh giá,thẩm định những giá trị đích thực của nền văn học ấy thông qua các côngtrình tổng kết, đánh giá tình hình văn học trong suốt hơn 40 năm đầu thế kỷnày Xuất hiện một Hoài Thanh tổng kết, đánh giá cả phong trào Thơ mới,với những đỉnh cao mà nó đạt được, qua cuốn sách hợp tuyển và phê bình
thơ ưu tú nhất của thời kì văn học này - cuốn Thi nhân Việt Nam; một Vũ
Ngọc Phan đã dựng lại cả quá trình văn học trong khoảng 40 năm hồi đầuthế kỷ bằng việc khắc hoạ chân dung của bảy mươi chín nhà văn từ hồi đầu
có chữ Quốc ngữ tới 1942; một Kiều Thanh Quế nhìn nhận lại để đánh giá
Trang 32Cuộc tiến hoá của văn học Việt Nam; một Mộc Khuê kiểm điểm và tổng
kết Ba mươi năm văn học; một Nguyễn Bách Khoa Tính sổ mười năm văn
học… Tất cả những công trình phê bình, nghiên cứu đó đều muốn nói lên
một điều: nền văn học nước nhà trong quá trình hiện đại hoá của mình đòihỏi sự có mặt cũng như sự hoạt động tích cực của phê bình văn học Mộtmặt - coi nó là thành phần cơ cấu quan trọng của nền văn học thời hiện đại,mặt khác - nó ra đời để thực hiện nhiệm vụ tổng kết, đánh giá những thànhtựu của bản thân văn học - sau một quá trình vận động, phát triển và đạtđược những thành tích lớn lao, rất đáng được ghi nhận
1.1.4 Những chặng đường phát triển của phê bình văn học việt Nam nửa đầu thế kỷ XX
1.1.4.1 Thời kỳ 1900-1932
Ở giai đoạn đầu là bước khởi động có ý nghĩa khai phá, do hoàncảnh lịch sử và đặc thù về tư duy, trong quá khứ của nền văn hoá, văn nghệdân tộc, Việt Nam chưa có bề dày truyền thống trước tác, lập thuyết về mỹhọc, lý luận văn học nghệ thuật Trong mười thế kỷ văn học Việt Nam thờitrung đại, các văn nhân chí sỹ chỉ chú trọng sáng tác thơ văn bằng chữ Hán,chữ Nôm, thảng hoặc mới để tâm phát biểu quá khứ từ trao đổi, đề từ và lờidẫn tác phẩm, lời bình, lời bạt… thể hiện một số khía cạnh của tư tưởng,quan niệm nghệ thuật về nghề văn, thể loại văn chương…
Bước sang thế kỷ XX, những biến đổi xã hội ở các mặt kinh tế, vănhoá khoa học, kỹ thuật ở Việt Nam đã đưa đến những biến đổi về thế giớiquan và nhân sinh quan của dân tộc Văn hoá dân tộc tiếp bước cùng chungvới văn hoá khu vực Văn minh phương Tây, văn học Pháp tác động mạnhđến nền văn học Việt Nam
Thập niên mười của thế kỷ XX là thời điểm bản lề của quá trình vănhoá, văn học Việt Nam hoà vào dòng chung của văn hoá, văn học thế giới.Khi đó, dân tộc Việt Nam phải nâng mình lên trình độ về mọi mặt: khoa
học, triết học, văn học… Tờ Đông Dương tạp chí ra đời (1913) đã hưởng
Trang 33ứng cuộc vận động truyền bá chữ Quốc ngữ: “ Cổ vũ dân tộc An Nam aicũng dùng chữ Quốc ngữ mà thế vào cái lối khó khăn, học suốt đời màchẳng ai biết được lấy cách dùng chữ mà thôi, chứ đừng nói học nữa Đó là
việc tối yếu của bản báo” Mục Bình phẩm sách mới do các nhà Nho thực
hiện như Nguyễn Đỗ Mục, Phạm Duy Tốn, Phan Kế Binh, Nguyễn Bá Trạc
…một mặt họ giới thiệu và bình phẩm các tác phẩm văn học cổ điển Việt
Nam, mặt khác họ phiên dịch và giới thiệu các tác phẩm văn học Pháp
Năm 1917, tờ Nam phong tạp chí xuất hiện, đây là một tạp chí có
tính chất bách khoa, chủ xướng cho đăng các công trình dịch thuật, khảocứu về khoa học, triết học, các sáng tác văn chương, các bài nghiên cứu lýluận, phê bình văn học, ngoài ra còn công bố nhiều thư tịch cổ, in lại cácsách cũ, đăng các bài thuộc lĩnh vực như: chính trị, địa lý, giáo dục, y
học… Nam phong tạp chí thực sự là cuốn tạp chí bổ ích cho nhiều trí thức Nho học và Tây học lúc bấy giờ Mục Văn bình luận trên tạp chí đã thu hút
sự quan tâm của độc giả Với vai trò nòng cốt, Phạm Quỳnh là người đã có
nhiều bài viết phê bình trên Nam phong tạp chí tuyên bố mình là người
thực hành phương pháp nghiên cứu - phê bình của Pháp Dấu hiệu phânhoá thành các khuynh hướng khác nhau trong phê bình văn học ở nhữngnăm này thể hiện tương đối rõ
Thứ nhất là Khuynh hướng phê bình truyền thống của phần đông các
nhà Nho đầu thế kỷ còn chịu nhiều ảnh hưởng của quan niệm văn chươngthời kỳ trung đại Hoạt động “bình phẩm” văn chương thường bám sát cácsáng tác cụ thể và tập trung vào một vài phương diện nghệ thuật để nhậnxét như ý nghĩa của câu văn, câu thơ, tài năng sử dụng từ ngữ của nhà văn,nhà thơ, cá tính của người cầm bút Trong từng trường hợp cụ thể, phêbình truyền thống nhiều khi đã cho người đọc thấy được những năng lựccảm thụ văn chương sâu sắc của người bình văn và có ảnh hưởng tốt đếnđời sống văn học Giai đoạn đầu thế kỷ 20, lối phê bình truyền thống vẫnđược nhiều học giả thực hiện có hiệu quả nhất định trong các công trình
Trang 34biên khảo cũng như ở một số tờ báo đương thời Ví dụ như cuốn Việt Hán
văn khảo (1918) của Phan Kế Bính, đã nêu những nhận xét về văn chương
của các tác giả Việt Nam tiêu biểu trong từng triệu đại lịch sử Phan Khôi
với cuốn Nam âm thi thoại (1918), bình phẩm về thơ của phần đông các tác
giả trong văn chương trung đại trên nhiều tờ báo đương thời Nguyễn Văn
Ngọc với cuốn Nam thi hợp tuyển (1927) bình luận về kỹ xảo nghệ thuật của các nhà thơ tiêu biểu trong truyền thống Lê Thước với cuốn sách Sự
nghiệp và thi văn của Uy viễn Nguyễn Công Trứ (1928) bàn về cuộc đời và
ý nghĩa sáng tác của nhà thơ này, mặc dù với khuôn khổ khá hơn,nhưngvẫn theo quan điểm nghệ thuật của nhà Nho
Điểm nổi bật trong hoạt động phê bình văn học đầu thế kỷ 20, là sựquan tâm tới những tác giả và tác phẩm tiêu biểu cho truyền thống dân tộc.Phê bình các di sản quá khứ như là những phương tiện để nhắc nhở những
nhiệm vụ đấu tranh trước mắt Trong Việt Hán văn khảo, Phan Kế Bính đặc
biệt chú ý tới những tác giả và tác phẩm phản ánh tinh thần độc lập dân tộc
và tự hào dân tộc Nói tới văn thơ nhà Trần, tác giả viết: “Nay xem bài hịchcủa Hưng Đạo Vương truyền cho các tướng, nhời nhẽ rất kích thiết, baonhiêu lòng khảng khái trung nghĩa bày tỏ cả ra trên một mảnh giấy, làmcho lòng người cảm động mà giữ vững được giang sơn nhà Trần ”
Trong cuốn sách này, Phan Kế Bính xuất phát từ nhiều góc nhìn đểkhảo sát văn chương như nguồn gốc, tác dụng của văn chương, mối quan
hệ giữa văn chương Trung Hoa và Việt Nam: “Muốn biết văn chương của
ta thì trước hết lại nên tham khảo đến văn chương Tàu nữa Mà muốn biếtcho đến nơi đến chốn, cho tường tận thuỷ chung thì lại phải xét xem cănnguyên văn chương mà ra, thể cách văn chương thế nào, lý thú làm sao, kếtquả được những gì, trình độ mỗi thời biến đổi làm sao, có xét kỹ như thếmới biết được hết nguồn gốc văn chương” [77, 127] Là lối phê bình chẻnhỏ, dựa và những nét đặc trưng của từng tác phẩm, Phan Kế Bính thường
bàn tới những tinh hoa riêng của nhà văn, Khi bàn về Cung oán ngâm và
Trang 35Tần cung oán, tác giả viết: “Song mỗi chuyện hay riêng một cách; Chinh phụ ngâm thì tài về cách phiên dịch, thần hoá được câu nguyên văn chữ
Nho mà không thiếu ý nào, bút lực cứng cỏi mà giọng văn trôi chảy: Tần
cung oán thì hay về công đặt để, gọt từng chữ, chuốt từng lời, rực rỡ như
vẻ gấm màu hoa, réo rắt như cung đàn tiếng địch Song nhời văn khi nặng
nề khổ khắc, tưa nhự mỗi chữ là một khôi tâm huyết tỏ ra” [15, 90]
Trong cuốn sách Sự nghiệp thơ văn Nguyễn Công Trứ, tác giả Lê
Thước lại ca ngợi tinh thần lạc quan, chí khí mạnh mẽ của Nguyễn CôngTrứ trong hoàn cảnh ngặt nghèo: “Ta đọc đến lời văn ông, tự nhiên sinhlòng hăng hái, muốn đi, muốn chạy, muốn đem thân gánh vác việc dời, đểgiúp đời cho khỏi nỗi bi ai nên ông đã thổ lộ một áng văn chương có khílực hùng dũng, dù ai oán mà không làm cho bi sầu, dù mỉa mai mà khônglàm cho đau đớn”
Người phê bình đã nêu rõ tinh thần trách nhiệm đối với dân tộc củanhà văn trong việc bồi dưỡng nhiệt tình sống và hành động vì tương laiphía trước hoàn cảnh “bể dâu” của đất nước Lê Thước nhấn mạnh tới vaitrò quan trọng của “lối văn hùng tráng” là xuất phát từ ý thức truyền thốngcủa dân tộc và thực tiễn của hoàn cảnh lịch sử đương thời, qua việc phêbình một tác giả tiêu biểu trong thế kỷ đã qua để thấy được truyền thốngbất khuất, yêu tự do của một dân tộc
Phan Khôi cũng là một học giả có nhiệt tình quan tâm tới các danhnhân trong nền văn học truyền thống như Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ,Phan Văn Trị, Trần Cao Vân, Tùng Thiện Vương, Trần Tế Xương.v.v Phan Khôi đã dựa vào những nét tiêu biểu trong từng tác giả và tác phẩmchính để nhận xét Đối với Tú Xương, Phan Khôi cho rằng: “…Chẳngnhững là một tay có thi tài mà thôi, cũng lại là một người có chí khí, có tưtưởng nữa” Tác giả cho rằng Nguyễn Du đã dùng thơ để “trách thầm vuaGia Long, vì trước kia ngài vẫn nói tôn nhà Lê và sau lại lên ngôi Hoàngđế” Đối với Tùng Thiện Vương là người làm thơ tôn trọng sự thực, Phan
Trang 36Khôi nhận xét về bài Mại trúc dao: “Vì nhờ nó chúng ta biết được rằng cái
thói ăn hiếp dân ở nước ta”
Phê bình theo lối truyền thống còn thể hiện quan niệm của các tácgiả trong việc quan tâm tới các phạm trù về đạo đức, nhiều tác phẩm vănchương được nêu ra bình phẩm lại xen vào những vấn đề luân lý Tronghoạt động sáng tác, Đặng Trần Phất nhấn mạnh tới yéu tố đầu tiên là đạo
đức phong tục Trong Mấy nhời nói đầu của tác phẩm Cành hoa điểm tuyết,
tác giả nhận định “Một xã hội hay hay dở cũng bởi về đạo đức, phong tục.Phong tục dở, đạo đức nguy vong, là cái cơ một xã hội sắp đến lúc suy đổi
vậy” Tác giả cũng cho truyện “Kim Vân Kiều đã thành một cái cột vững
vàng chống giữ cái nhà Việt Nam này, làm cho người ta khi đọc dến, cáilòng cảm động như chứa chan giọt lệ, truyện sâu xa, cảm động như thế, cóảnh hưởng cho đường luân lý biết bao nhiêu” Sáng tác văn học được quanniệm là phải bám sát vào hoàn cảnh xã hội, giá trị của tác phẩm văn học làgiương cao những bài học luân lý của nhân dân Không phải ngẫu nhiêncác tác giả khi phê bình văn học lại đề cao phương diện đạo đức trong tácphẩm, mà việc làm trên là bắt nguồn từ thực trạng của hoàn cảnh xã hộiđương thời Chế độ thực dân đang từng ngày từng giờ cướp đi những thuầnphong mỹ tục của dân tộc Việt Nam Những người cầm bút có ý thức đấutranh chống lại nó để duy trì truyền thống Nhưng những tác giả chỉ chú ýkhai thác vai trò của đạo đức trong văn học theo quan niệm của lễ giáophong kiến, tất nhiên sẽ dẫn đến phiến diện, cực đoan, như trường hợp một
số nhà Nho phê bình về Truyện Kiều của Nguyễn Du.
Nhãn quan phong kiến là yếu tố chi phối toàn bộ sự bình phẩm vănchương và đánh giá người nghệ sĩ của nhà Nho Khi nhận định về hai nữthi sĩ trong lịch sử văn học, Phan Kế Bính viết: “Tựu trung thơ Bà ThanhQuan thì toàn giọng trang nghiêm, còn thơ cô Hồ thì phần nhiều là giọng lảlơi, thô bỉ, tài thì có tài, mà không có thể làm phép cho nhà thơ” Cho dù làbàn về cá tính sáng tạo của từng thi sĩ, lời bình phẩm tỏ ra súc tích, nhưng
Trang 37vẫn xen vào đó một thái dộ luân lý hà khắc của nhà nho đối với Hồ XuânHương – vốn là thi sĩ làm thơ ở ngoài vòng cương toả của giáo lý nhà nho.Chính là một nhà thơ có phong cách độc đáo, nên đến đầu thế kỷ 20, thơ
Hồ Xuân Hương trở thành giao điểm của nhiều luồng quan niệm
Tuy phê bình là sự cảm thụ mang tính cá nhân, nhưng phê bình theolối truyền thống vẫn chưa vượt ra ngoài giới hạn giáo lý của Nho giáo Phêbình theo lối truyền thống ở giai đoạn đầu thế kỷ 20 tuy có nhiều tiến bộhơn thời kỳ trung dại, nhưng càng ngày càng bộc lộ những nhược điểmnhư: giản đơn, nhàm chán Nền quốc văn ngày một phát triển, phê bìnhtheo lối truyền thống trên đây không thể đáp ứng nhu cầu tiếp nhận văn họcmới cho nên ý thức người phê bình cũng dần dần chuyển hoá, thay đổi lối
“phẩm bình” văn chương cũ, bằng một phương pháp phê bình mới mangtính hệ thống hơn, hoặc cũng có tác giả kế thừa những ưu điểm của lối phêbình cũ vào phê bình mới, làm cho hoạt động phê bình phong phú hơn
Khuynh hướng phê bình hiện đại hay phê bình mới (chữ dùng của
giáo sư Nguyễn Văn Trung) hiển nhiên không theo nghĩa “phê bình mới”hiện đại của phương Tây, mà chỉ là khuynh hướng phê bình văn học củamột bộ phận tầng lớp trí thức mới, được học tập trong các nhà trường củaPháp, tiếp thu những ảnh hưởng của văn hoá Pháp và học tập được phươngpháp phân tích, bình giá văn học theo lối phê bình của phương Tây cận đại
Rõ ràng lối phê bình mới này linh hoạt hơn và hệ thống hơn lối phê bìnhtruyền thống của các nhà Nho Chẳng hạn những bài phê bình về một số tác
phẩm văn học Pháp của Phạm Quỳnh trên Nam phong tạp chí từ năm 1917 trở đi như Chúa bể (1917) Thơ Baudelaire (1917); Cái nghĩa chết (1917);
Phục thù cho cha (1918, và những bài phê bình về Truyện Kiều trên Nam phong tạp chí của Phạm Quỳnh, Vũ Đình Long, Nguyễn Tường Tam,
Nguyễn Triệu Luật từ năm 1919 trở đi.v.v Những bài phê bình này bộc lộnhững quan niệm mới về đạo đức tư tưởng, tình cảm với văn phong đadạng, sinh động và linh hoạt
Trang 38Ngay từ năm 1917, trên Nam phong tạp chí đã có mục Văn bình luận
và Tạp trở dành cho những ý kiến phê bình văn học Trước nhất phải kể đến
những ý kiến phê bình về các tác phẩm văn học Pháp của học giả PhạmQuỳnh, nhất là những ý kiến phê bình về tiểu thuyết Khi phê bình các tácphẩm văn học Pháp, tác giả thể hiện rõ chủ trương như sau: Trước hết giớithiệu cho độc giả Việt Nam bằng cách vừa lược thuật vừa bình luận; mặt khácgiới thiệu lối viết văn của phương Tây; sau nữa là rút ra những bài học nhânsinh từ các tác phẩm văn học Pháp, liên hệ vào hoàn cảnh thực tiễn của Việt
Nam Khi bình luận về tiểu thuyết Chúa bể của nhà văn Eugène Melchior de
Vogue, tác giả vừa giới thiệu khái quát về nhà văn, vừa tiến hành lược thuậtkèm dịch thuật về tác phẩm; vừa trình bày về nội dung lại vừa chỉ dẫn về vănphong của lối văn tiểu thuyết, để độc giả Việt Nam làm quen với thể thức vănchương Pháp Lời bình rất cô đọng và hàm súc được nêu ra ở cuối bài: “Thế làchỉ một tay đàn bà mà hoà hợp được hai trượng phu cừu địch, dung hoà đượchai thế giới phản nhau’ Tác giả ca ngợi trí tuệ thông minh sắc sảo và tinh tếcủa người phụ nữ và lẽ sống cao thượng của những người biết đề cao danh dựđược thể hiện sinh động và tài tình qua ngọn bút của một nhà văn Pháp, qua
đó giúp mọi người thấy được phương pháp mô tả tâm lý, xây dựng tình huốngtrong tiểu thuyết và hành văn sinh động của phương Tây
So với lối phê bình truyền thống, thì cách phê bình trên toàn diện và
hệ thống hơn về một tác giả văn học, người đọc được mở mang tri thức vềmột nhà thơ với nhiều mối quan hệ phong phú, giữa thơ với nhà thơ, nhàthơ với thời đại, nhà thơ với dân tộc với thế giới.v.v Phê bình mới có tầmnhìn bao quát hơn Trong khi giới thiệu Bôđơle tác giả không quên liên hệ,
so sánh với thơ truyền thống Việt Nam để người đọc vừa nắm bắt được cáimới của thế giới và nắm rõ những ưu, nhược điểm của thơ dân tộc
Hay như từ những bài phê bình về Truyện Kiều năm 1919, Phạm
Quỳnh đã nêu chủ trương vận dụng phương pháp phê bình mới vào việckhám phá tác phẩm văn học lớn của Nguyễn Du: “Phải dùng phương pháp
Trang 39phê bình khảo cứu của văn học Thái Tây mới mong phát biểu được cái đặcsắc, bày tỏ được cái giá trị của một nền tuyệt tác trong Quốc văn Việt Namta” Ở đây, Phạm Quỳnh muốn thay đổi lối “phẩm bình” cũ về văn chươngbằng một lối phê bình toàn diện và hệ thống hơn với tác phẩm văn học, đểcho sản phẩm của phê bình khách quan hơn
Sau bài phê bình Truyện Kiều (1919) của học giả Phạm Quỳnh trở
đi, đến năm 1923 trên Nam phong tạp chí xuất hiện lần lượt các bài phê bình mới về Truyện Kiều của các tác giả Vũ Đình Long, Nguyễn Tường
Nam, Nguyễn Triệu Luật Vũ Đình Long đã viết một bài phê bình dài, in
liên tiếp trong gần mười số báo Nam phong (1924), với các tiêu đề: Nhân
vật Truyện Kiều, Triết lý và luân lý Truyện Kiều; Văn chương Truyện Kiều;
Nguyễn Tường Tam với bài Mấy lời bình luận về văn chương Truyện Kiều
(1924) Thao tác các bài phê bình của các tác giả trên đều có những nét
tương đồng với thao tác phê bình Truyện Kiều của học giả Phạm Quỳnh từ
năm 1919, nhưng các tác giả sau này có đào sâu, mở rộng khai thác thêmnội dung và hình thức tác phẩm, đặc biệt là họ đã tạo ra những cách diễnđạt sinh động và linh hoạt Văn phong càng về sau càng mới hơn
Phê bình mới tuy ra đời muộn, nhưng nó đã tỏ rõ tinh thần đổi mới
về quan niệm văn học và phát triển trong những năm hai mươi Sang đầunhững năm ba mươi, càng về giai đoạn sau càng có nhiều cây bút tham giasôi nổi Nhiều cây bút phê bình theo lối truyền thống đang dần dần chuyểnsang lối phê bình mới, để đáp ứng với sự phát triển của nền văn học ViệtNam theo hướng hiện đại
Phê bình văn học giai đoạn đầu thế kỷ XX phát triển mạnh mẽ về
số lượng và chất lượng hơn thời kỳ văn học trung đại Có thể nói, trongkhoảng 30 năm đầu thế kỷ, nước ta có một lực lượng đông đảo nhiều thế
hệ tác giả tham gia vào hoạt động phê bình văn học Quá nửa giai đoạnđầu thế kỷ, hoạt động phê bình chủ yếu do các nhà Nho thực hiện, họvẫn dựa vào những quan niệm văn chương truyền thống để bình giá các
Trang 40tác phẩm văn chương Các ý kiến phê bình thường được trình bày theocác sách biên khảo, hoặc trên báo chí, mang tính định hướng và tập trunghơn hoạt động phê bình của giai đoạn trước Phê bình một mặt khám phánhững cái hay cái đẹp của văn học dân tộc, nhưng mặt cơ bản là khẳngđịnh sức sống mãnh liệt của đời sống tinh thần dân tộc Việt Nam thểhiện trong văn học Một lực lượng nữa không kém phần hùng hậu, bêncạnh các nhà Nho là những cây bút trưởng thành trong nền văn học viếtbằng chữ Quốc ngữ cũng tham gia vào hoạt động phê bình văn học Cótác giả vẫn tiếp thu lối “phẩm bình” văn chương kiểu nhà Nho, nhưngmột số tác giả lại chủ động tiếp thu lối phê bình văn học của phươngTây, áp dụng vào phân tích các tác phẩm văn học Việt Nam, làm choquan niệm về văn học được mở rộng và từng bước thay đổi Phê bìnhmới cũng góp phần làm cho không khí hoạt động văn học thay đổi và cónhững ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sáng tác đương thời Dù là phêbình văn học theo lối truyền thống, hay theo hướng hiện đại, các “bậccựu học” cũng như những “nhà tân học” đều ý thức sâu sắc về truyềnthống dân tộc, và nhiều cây bút qua hoạt động phê bình đã mở hướngcách tân cho văn học Phê bình mới cũng biết kế thừa những thế mạnhcủa phê bình truyền thống và dần dần thay thế lối phê bình truyền thống,
để đáp ứng kịp thời sự phát triển của văn học
1.1.4.2 Thời kỳ 1932-1945
Trong thời kỳ 1932-1945, phê bình văn học có nhiều tiến bộ so với gianđoạn trước là do đối tượng phê bình được mở rộng Trên báo chí xuất hiện cácbài phê bình của các tác giả Việt Nam về tác giả và tác phẩm văn học củaphương Tây, chưa từng thấy ở Việt Nam như: Bôđơle (Baudelaire),Môpatxăng (Maupassant) VictoHuygô (VictorHugo), Lamactin(Lamartine), Henry Borđô (Henry Bordeaux), Pôn Buagiê (Paul Bourget) Hoạt động phê bình về các sáng tác phương Tây giúp cho độc giả mở rộngtầm nhìn ra nhân loại, hiểu được giá trị nghệ thuật của văn học thế giới, từ