về cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm của ông đến nay chưa được giới khoa họcquan tâm đúng mức, có chăng cũng chỉ là sơ lược về tiểu sử.Có thể tìm thấy Nguyễn Mộng Tuân trong một số tài liệ
Trang 1MỞ ĐẦU 1
1.Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1
3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 3
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn 3
Chương 1 VỊ TRÍ CỦA NGUYỄN MỘNG TUÂN TRONG VĂN HỌC THỜI LÊ SƠ 1.1 Văn học thời Lê sơ (một vài tổng quan) 4
1.1.1 Thời Lê sơ 4
1.1.2 Bối cảnh sinh thành và tình hình chung của văn học thời Lê sơ 10
1.1.2.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội của văn học thời Lê sơ 10
1.1.2.2 Tình hình văn học thời Lê sơ 11
1.2 Vị trí Nguyễn Mộng Tuân trong văn học thời Lê sơ 14
1.2.1 Cuộc đời, con người và sự nghiệp thơ văn Nguyễn Mộng Tuân 14
1.2.1.1 Cuộc đời và con người 14
1.2.1.2 Sự nghiệp thơ văn 20
1.2.2 Vị trí Nguyễn Mộng Tuân trong văn học thời Lê sơ 21
1.2.2.1 Nguyễn Mộng Tuân - một gương mặt sáng giá của văn học thời Lê sơ 21
1.2.2.2 Một tác giả hàng đầu về thể loại phú 21
1.2.2.3 Một nhà thơ có vị trí đáng kể trong văn học thời Lê sơ 22
Trang 2Chương 2 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA NGUYỄN MỘNG TUÂN
CHO VĂN HỌC THỜI LÊ SƠ Ở THỂ LOẠI PHÚ 2.1 Thể phú và thành tựu của nó trong văn học trung đại Việt Nam 24
2.1.1 Phú - một thể loại cơ bản trong văn học trung đại Việt Nam 24
Trang 32.1.1.2 Quá trình phát triển của thể phú trong văn học trung đại Việt Nam 29
2.1.1.3 Thành tựu của phú thời Lê sơ 31
2.2 Giá trị của phú Nguyễn Mộng Tuân 34
2.2.1 Một khối lượng tác phẩm lớn với nhiều nội dung, tư tưởng mang tính thời đại sâu sắc 34
2.2.1.1 Ca ngợi sự nghiêp cứu nước của nhân dân - hiện thân sức mạnh của dân tộc 34
2.2.1.2 Ca ngợi địa linh nhân kiệt đất Việt, đề cao người anh hùng dân tộc biết dựa vào lòng dân 39
2.2.1.3 Biểu hiện sinh động tư tưởng yêu nước và lòng tự tôn dân tộc 46
2.2.2 Một bút pháp năng động, sáng tạo, tài hoa 51
2.2.2.1 Khả năng đưa các vấn đề thời sự vào thể phú 51
2.2.2.2 Nghệ thuật cấu tứ 57
2.2.2.3 Nghệ thuật miêu tả 58
Chương 3 NHỮNG ĐÓNG GÓP VỀ THƠ CỦA NGUYỄN MỘNG TUÂN 3.1 Một cái nhìn chung về thơ Nguyễn Mộng Tuân 60
3.1.1 Về hình thức và thể loại 60
3.1.2 Về đề tài và chủ đề 60
3.2 Những đặc sắc về tư tưởng, tình cảm trong thơ Nguyễn Mộng Tuân .60
3.2.1 Tư tưởng yêu nước và lòng tự hào dân tộc 60
3.2.2 Cảm nhận về con người thời đại với một niềm tin mãnh liệt, đặc biệt đối với Nguyễn Trãi 68
3.2.3 Một tình yêu thiên nhiên tha thiết 76
3.3 Nghệ thuật thơ Nguyễn Mộng Tuân 84
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 92
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Tìm hiểu, sưu tầm, giới thiệu và thai thác các giá trị văn hóa quákhứ, trong đó có văn học luôn luôn là việc làm hết sức cần thiết Chúng ta điđến hiện đại không thể không xuất phát từ truyền thống và tiếp thu giá trị củatruyền thống Nhiều tác giả, tác phẩm văn học trung đại đã được giới thiệu,nghiên cứu công phu đấy là những thành tựu đáng mừng Nhưng còn có biếtbao nhiêu hiện tượng văn hóa, văn học khác mà chúng cần được biết đến.Nguyễn Mộng Tuân dường như còn xa lạ với nhiều người
1.2 Bên cạnh Nguyễn Trãi, một tác giả lớn đã được nhiều nhà nghiêncứu và sưu tầm, dày công khai thác và công bố, thì tác giả cùng thời với ôngnhư Nguyễn Mộng Tuân cũng cần được quan tâm nghiên cứu Nguyễn MộngTuân là kẻ sĩ tham gia trong hàng ngũ nghĩa quân Lê Lợi trong cuộc khởinghĩa Lam Sơn chống giặc Minh xâm lược Cũng như các bạn đồng liêu(Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên…), Nguyễn Mộng Tuân đã đemhết trí lực phục vụ triều Lê còn non trẻ Ông không chỉ là nhà chính trị có tầmnhìn xa trông rộng, mà còn là nhà văn xuất sắc
1.3 Tác phẩm của Nguyễn Mộng Tuân được ghi chép tản mạn ở nhiều tư
liệu khác nhau, thậm chí bị thất truyền, như Cúc Pha tập Nguyễn Mộng Tuân từ
trước đến nay ít được các nhà nghiên cứu quan tâm giới thiệu, có chăng chỉ lànhững dòng sơ lược về tiểu sử và các tài liệu mang tính chất khảo cứu
1.4 Bản thân đang công tác và giảng dạy tại ngôi trường mang tênNguyễn Mộng Tuân (Trường THPT Nguyễn Mộng Tuân), mong muốn đề tàinghiên cứu này sẽ giúp đồng nghiệp và học sinh tiếp cận Nguyễn Mộng Tuânmột cách tốt hơn
2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Tên tuổi Nguyễn Mộng Tuân từ lâu đã được nhắc đến nhiều trong các
tư liệu lịch sử và văn chương trung đại Nhưng để tìm hiểu một cách hệ thống
Trang 5về cuộc đời, sự nghiệp và tác phẩm của ông đến nay chưa được giới khoa họcquan tâm đúng mức, có chăng cũng chỉ là sơ lược về tiểu sử.
Có thể tìm thấy Nguyễn Mộng Tuân trong một số tài liệu:
Trong Tổng tập văn học Việt Nam, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 2000,
tác giả Bùi Văn Nguyên có giới thiệu sơ lược về tiểu sử hành trạng củaNguyễn Mộng Tuân Tập 4 tác giả truyền dịch 8 bài thơ và 4 bài phú
Trong công trình Tên tự, tên hiệu của các tác giả Hán Nôm Việt Nam,
Trịnh Khắc Mạnh, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội, 2002, Trịnh Khắc Mạnhcũng cho biết sơ lược về tiểu sử của tác giả Nguyễn Mộng Tuân và có nhắc
tới Cúc Pha Tập, nhưng rất tiếc tập thơ đã bị thất truyền.
Trong Việt Nam sử lược, Nxb Đà Nẵng 2003, Trần Trọng Kim có nhắc đến
đóng góp của Nguyễn Mộng Tuân trong công cuộc kháng chiến chống quân Minh
Trong Văn chương Nguyễn Trãi, Nxb Đại học và trung học chuyên
nghiệp, Hà Nội 1984, Bùi Văn Nguyên nhắc đến công lao của Nguyễn MộngTuân trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn và một số nét tương đồng trong thơ văncủa Nguyễn Trãi và Nguyễn Mộng Tuân
Nguyễn Mộng Tuân được giới thiệu trong Từ điển văn học
Rất đáng chú ý là đã có một số luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ ítnhiều có đề cấp đến Nguyễn Mộng Tuân
Trong luận án Tiến sĩ của Phạm Tuấn Vũ (2001) và công trình nghiên
cứu Thể Phú trong Văn học trung đại Việt Nam, tác giả có nhắc đến đóng góp
của Nguyễn Mộng Tuân
Luận văn thạc sĩ Hán Nôm của Nguyễn Kim Măng (2001), bước đầu
khảo sát văn bản và tìm hiểu giá trị thơ chữ Hán của Nguyễn Mộng Tuân, tác
giả đã khảo sát một số lượng thơ đáng kể
Nguyễn Mộng Tuân là tác giả có đóng góp đáng kể cho văn học ViệtNam Trung đại và có vị trí tương đối quan trọng trong lịch sử Việt Nam cuốithế kỉ XIV, đầu thế kỉ XV
3 Đối tượng nghiên cứu và giới hạn của đề tài
Trang 63.1 Đối tượng nghiên cứu: Đóng góp của Nguyễn Mộng Tuân cho vănhọc thời Lê sơ.
3.2 Giới hạn của đề tài: Đề tài cố gắng bao quát sáng tác của NguyễnMộng Tuân còn để lại, tìm hiểu, xác định những đóng góp của ông
Văn bản tác phẩm Nguyễn Mộng Tuân, luận văn dựa vào các cuốn: Quần
hiền phú tập…, một số tác phẩm thơ còn được lưu giữ.
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đưa ra một cái nhìn khái quát về sáng tác của Nguyễn Mộng Tuântrong bối cảnh văn học thời Lê sơ
Phân tích, xác định những đóng góp của Nguyễn Mộng Tuân về thểloại phú
Phân tích, xác định những đóng góp của Nguyên Mộng Tuân về thơ.Cuối cùng rút ra những kết luận về vị trí đóng góp của Nguyễn MộngTuân cho văn học thời Lê sơ nói riêng và văn học trung đại Việt Nam nói chung
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó cócác phương pháp chính: Phương pháp thống kê - phân loại, phương pháp phântích - tổng hợp, phương pháp so sánh - đối chứng, phương pháp hệ thống
6 Đóng góp và cấu trúc của luận văn
6.2 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của
luận văn được triển khai trong 3 chương:
Chương 1 Vị trí của Nguyễn Mộng Tuân trong văn học thời Lê sơ
Trang 7Chương 2 Những đóng góp của Nguyễn Mộng Tuân cho văn học thời
Lê sơ ở thể loại phú
Chương 3 Những đóng góp về thơ của Nguyễn Mộng Tuân
Chương 1
VỊ TRÍ CỦA NGUYỄN MỘNG TUÂN TRONG VĂN HỌC THỜI LÊ SƠ
1.1 Văn học thời Lê sơ (một vài tổng quan)
1.1.1 Thời Lê sơ (1428 – 1527)
Giai đoạn này là thời kỳ xây dựng lại đất nước sau thời bị nhà Minh đô
hộ Sau khi lên ngôi, Lê Thái Tổ nhanh chóng bắt tay vào xây dựng đất nước
bị tàn phá qua nhiều năm chiến tranh
Sang thời Lê Thánh Tông, vua tiến hành một loạt cải cách đưa Đại Việtbước vào thời kỳ phát triển thịnh trị được coi là hoàng kim của chế độ phongkiến Việt Nam
Bộ máy chính quyền phong kiến được hoàn thiện dần và đến thời vua
Lê Thánh Tông thì được các nhà nghiên cứu đánh giá là hoàn chỉnh nhất.Đứng đầu triều đình là vua Để tập trung quyền lực vào nhà vua Lê ThánhTông bãi bỏ một số chức vụ cao cấp nhất như tướng quốc đại tổng quản đạihành khiển Vua trực tiếp nắm mọi quyền hành kể cả chức tổng chỉ huy quânđội Giúp việc cho vua có các quan đại thần
Dưới thời Lê Thánh Tông, các quan chỉ được làm việc tối đa đến tuổi
65 và ông bãi bỏ luật cha truyền con nối cho các gia đình có công - công thần.Ông tôn trọng việc chọn quan phải là người có tài và đức
Ngay sau khi giành được quyền lực, thành lập nhà Lê, trừ một số ítngười như Nguyễn Trãi, Nguyễn Chích, Nguyễn Xí, Lương Thế Vinh, ĐinhLiệt phần lớn các quan lại (nhất là các công thần) đều có biểu hiện tham ô
Trang 8Về chính trị: từ khi được giao chức tham mưu quân sự Hồ Quý Ly đã
đề nghị “chọn các quan viên, người nào có tài năng, luyện tập võ nghệ, thônghiểu thao lược thì không cứ là tôn thất đều cho làm tướng coi quân ”
Năm 1400, sau khi lên ngôi, Quý Ly đặt lệ cử quan ở Tam quán và Nộinhân đi về các lộ thăm hỏi cuộc sống của nhân dân về tình hình quan lại đểthăng, giáng Năm 1402, nhà Hồ xuất quân đánh Chămpa nhưng không có kếtquả gì, phải rút quân về Trong thời gian này, nhà Hồ đã có những chính sách:
Về kinh tế: Ban chiếu hạn nô và tiến hành điều tra dân số, nắm lại toàn
bộ số dân đinh trong nước, đánh thuế ruộng đất và đổi tiền giấy, thu hồi hếttiền đồng Đồng thời nhà Hồ cũng đặt chức thị giám, ban mẫu về cân thước,thủng đấu, định lại biểu thuế đinh và thuế ruộng
Về xã hội: 1401, nhà Hồ quy định các quan lại, quý tộc chiếu theophẩm cấp chỉ được nuôi một số nô tì, nông nô nhất định Số thừa ra sungcông Mỗi gia nô được nhà nước đền bù năm quan tiền , trừ loại mới nuôihoặc gia nô người nước ngoài, số gia nô còn lại phải ghi dấu hiệu ở trán theotước phẩm của chủ
Cùng năm đó, nhà Hồ cho các lộ làm lại sổ hộ, biên hết tên nhữngngười từ hai tuổi trở lên, những dân phiêu tán đều bị loại ra khỏi sổ; dân kinhthành trú ngụ ở các phiên trấn phải trở về quê quán Khi sổ làm xong, số dân
từ 15 đến 60 tuổi tăng lên gấp hai lần
Năm 1403, sau khi đánh chiếm được vùng đất từ Hoá Châu đến Cổ Luỹ(Bắc Quảng Ngãi) nhà Hồ đưa “những người có của mà không có ruộng” vàobiên làm quân ngũ, ở lại trấn giữ lâu dài, kêu gọi nhà giàu nạp trâu để đưa vàođây Năm 1405, nạn đói xảy ra, nhà Hồ đã lệnh cho các quan địa phương đikhám xét nhà giàu có thừa thóc, bắt phải bán cho dân đói theo thời giá Nhà
Hồ cũng đặt Quảng tế thự để chữa bệnh cho dân
Về văn hoá - Giáo dục: Hồ Quý Ly soạn sách Minh Đạo, phê phánKhổng Tử, chê trách các nhà Tống nho, đề cao Chu Công Sửa đổi chế độ thi
cử, cho xây kinh đô mới ở An Tôn (Vĩnh Lộc - Thanh Hoá), để lại cho thời
Trang 9sau một công trình kiến trúc lớn Đó là thành nhà Hồ Thành hình chữ nhật,chu vi khoảng 3 km, mặt sau được xây bằng những khối đá hình hộp mặt màinhẵn, phẳng dài từ 2 đến 4 mét, cao 1 mét, dày 0,70 mét Cổng xây rất côngphu, ghép đá hình vòm, cao 8m Trong thành có khu dinh thự, nay còn lạinhững con rồng đá chạy dọc bậc thềm.
Hồ Quý Ly còn bắt tất cả các nhà sư chưa đến 50 tuổi phải hoàn tục và
tổ chức thi về giáo lí nhà Phật, ai thông hiểu mới được ở lại làm sư Nhà Hồcũng ngăn cấm xử phạt những người làm nghề phương thuật Hồ Quý Ly chosửa đổi chế độ thi cử, đặt kì thi Hương ở địa phương và thi hội ở kinh thành.Những người đã thi hội phải làm một bài văn sách do vua ra đề để định thứbậc Trong bốn trường thi, Hồ Quý Ly bỏ trường thi ám tả cổ văn thay bằngkinh nghĩa Năm 1400, ông cho mở khoa thi đầu tiên, chọn đươc 20 người đỗthái học sinh Trong khoa thi này có những khuôn mặt tiêu biểu như NguyễnTrãi, Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên, Nguyễn Mộng Tuân…Mở rộng hệ thốngGiáo dục xuống các địa phương, đặc biệt coi trọng chữ Nôm, tự mình dịchthiên “Vô dật” trong sách thượng thư để dạy cho vua Trần Thuận Tông, dịchsách kinh thi để cho các nữ quan dạy phi tần,cung nữ Hồ Quý Ly cũng làmnhiều thơ Nôm (hầu hết bị mất) Hồ Quý Ly nổi bật trong bối cảnh suy thoáicủa nhà Trần Cụ thể, đó là cuộc cải cách toàn diện, từ chính trị đến kinh tế -tài chính, văn hoá, giáo dục, xã hội Tuy nhiên trong tình thế bị thúc bách vềnhiều mặt, một số việc làm của Hồ Quý Ly đã gây thêm những mâu thuẫn nội
bộ, ảnh hưởng sâu sắc đến ý thức đoàn kết, thống nhất của nhân dân khi xảy
ra nạn ngoại xâm Hồ Quý Ly là nhà cải cách lớn đầu tiên trong lịch sử nước
ta và cuộc cải cách của ông khiến người đời sau, các nhà nghiên cứu suy nghĩ,đánh giá Tóm lại, cuộc khủng hoảng xã hội ở nửa sau thế kỉ XIV đã phản ánhtình trạng suy thoái của nhà Trần cũng như tính chất lỗi thời của cấu trúc nhànước đương thời Nhân vật Hồ Quý Ly đã ra đời và nổi bật lên trong bối cảnh
đó Từng bước tiến lên nắm mọi quyền hành, Hồ Quý Ly đã mong muốn cứuvãn tình thế đặc biệt khó khăn và phức tạp đó và ông đã kiên quyết thực hiện
Trang 10cuộc cải cách Có thể thấy, đó là một cuộc cải cách toàn diện, từ chính trị đếnkinh tế - tài chính, văn hoá giáo dục, xã hội Thông qua các cải cách kinh tế -
xã hội, chính trị, Hồ Quý Ly dự định xoá bỏ đặc quyền và thế lực của tầng lớpquý tộc Trần, xây dựng một nhà nước quan liêu không đẳng cấp, quyền lựctập trung, để trực tiếp giải quyết những khó khăn trong nước và chống lại cácthế lực xâm lược từ bên ngoài Tuy nhiên, cuộc cải cách có chỗ quá mạnh sovới thời đó (chính sách hạn điền), có chỗ chưa thật triệt để (gia nô, nô tìkhông được giải phóng) Chính sách tiền tệ nhằm thu lại và hạn chế việc sửdụng đồng trong chi dùng hằng ngày, tập trung nguyên vật liệu phục vụ quốcphòng - một nhu cầu bức thiết Nhưng lưu hành tiền giấy là một vấn đề hoàntoàn mới mẻ đối với nước ta đương thời, không đáp ứng đúng thực tiễn pháttriển còn hạn chế của kinh tế hàng hoá cuối thế kỉ XIV Cải cách văn hoá,giáo dục có ý nghĩa tiến bộ đầy đủ hơn
Thế nhưng, ngày 18/11/1406, núp dưới danh nghĩa “phù Trần diệt Hồ”nhà Minh mang 40 vạn quân sang xâm lược nước ta Nhà Hồ trước sau chủtrương kiên quyết khởi nghĩa và rất tích cực chuẩn bị cho cuộc kháng chiến.Tuy nhiên, cuộc kháng chiến do nhà Hồ lãnh đạo đã bị thất bại nhanh chóng.Thực tế cuộc kháng chiến đã chứng tỏ rằng: Thất bại của cuộc kháng chiến cóphần do cách đánh nhưng chủ yếu do hậu quả của những năm trước đó Cuộckhủng hoảng cuối thời Trần đã làm suy yếu lực lượng tự vệ cùa triều đình lẫnnhân dân, đồng thời làm tăng mâu thuẫn giữa nhân dân và giai cấp thống trị
Hồ Quý Ly đã mạnh tay tiến hành cải cách, thậm chí dành lấy ngôi vua, lậptriều đại mới để cải cách Nhà Hồ đã làm được một số việc phù hơp với yêucầu chung của xã hội hồi ấy nhưng lại không xoa dịu được những mâu thuẫnvốn có: một nước dân nghèo nhưng cũng phải chịu sưu thuế nặng, binh dịchkhổ sở, bọn địa chủ phán hận nhà Hồ thi hành chính sách hạn điền, hạn nô.Tầng lớp tri thức nho sĩ bị phân hoá mạnh, một bộ phận lớn không ủng hộtriều đình Tôn thất nhà Trần thì căm giận nhà Hồ đã cướp ngôi vua
Trang 11Vào cuối tháng 6 -1407, đất nước rơi vào ách đô hộ của nhà Minh,chúng đổi nước ta thành quận Giao Chỉ, coi như địa phương quận huyện củaTrung Quốc Chúng lập quyền theo mô hình “chính quốc”, với sự thực hiệnchính sách đô hộ tàn bạo Với tư tưởng yêu nước, mỗi khi nước ta phản khánghay vùng lên khởi nghĩa thì lập tức chúng dùng vũ lực đàn áp khốc liệt vớinhiều thủ đoạn man rợ Quân giặc “đi đến đâu chém, giết thả cửa, hoặc chấtthây người làm núi, hoặc rút ruột người quấn vào cây, hoặc rán thịt người lấy
mỡ, hoặc làm nhục hình bào lạc để mua vui, thậm chí có người theo lệnh giặc,
mổ bụng người có thai, cắt tay của mẹ và con để dâng cho giặc” (Việt sửthông giám cương mục, tập VII, trang 113) Những người sống sót thì bị “bắtlàm nô tì và bị đem bán mà tan tác bốn phương” Những người yêu nước bịgiặc bắt, nếu không bị giết chết tàn bạo thì cũng bị đầy sang Trung Quốc vàkhông mấy ai được trở về
Trước tình hình đó, với truyền thống “yêu nước thương nòi” nhân dân
đã vùng lên tiến hành nhiều phong trào đấu tranh vũ trang rộng rãi Như cuộckhởi nghĩa Trần Ngỗi, Trần Quý Kháng… Hai cuộc khởi nghĩa này do một sốquý tộc tôn thất họ Trần cầm đầu nên ngoài mục tiêu chống Minh, dành lạiđộc lập, còn nhằm khôi phục vương triều Trần, nhưng hai cuộc khởi nghĩa ấy
do sự bất lực và mất đoàn kết của những người lãnh đạo nên chưa tập hợpđược lực lượng kháng chiến của nhân dân cả nước và trở thành phong tràoyêu nước có quy mô toàn quốc Nhưng dù thất bại, phong trào đấu tranh rộnglớn của nhân dân đã thể hiện quyết tâm chống xâm lược, dành độc lập chủquyền đất nước Đỉnh cao của các cuộc nổi dậy là khởi nghĩa Lam Sơn (1418
- 1427) do Lê Lợi lãnh đạo “tuy gặp thời loạn lớn mà chí càng bền, ẩn náutrong núi rừng, chăm nghề cày cấy Vì giận quân giặc tàn bạo lấn hiếp nêncàng chuyên tâm về sách thao lược, dốc hết nhà cửa, hậu đãi tân khánh” (BiaVĩnh Lăng đã ghi) Theo dõi cuộc khởi nghĩa Trần Ngôi, Trần Quý Kháng, LêLợi biết rõ thời thế, cho là tất không thành công, vì thế không dự và hết sức
Trang 12ẩn kín hình tích, không lộ tiếng tăm, Lê Lợi bí mật cho một cuộc khởi nghĩamới trang trại Lam Sơn cùng toàn bộ tài sản của mình để lo toan nghiệp lớn.
Lam Sơn (Thọ Xuân - Thanh Hoá) vốn là vùng đất đồi núi thấp xengiữa những dải rừng thưa và cánh đồng hẹp, trở thành quê hương của phongtrào yêu nước lớn đầu thế kỉ XV, đã được nêu cao trong sử sách và khắc sâutrong tâm trí của mỗi người dân Việt Sau hội thề Lũng Nhai, công việc chuẩn
bị khởi nghĩa được tiến hành khẩn trương Lam Sơn trở thành nơi tụ nghĩa củanhững anh hùng hào kiệt bốn phương, những người yêu nước từ khắp nơi tìm
về cùng mưu đồ sự nghiệp cứu nước Đó là những người dân của các bản làngxung quanh Lam Sơn và các châu huyện vùng Thanh Hoá, bao gồm cả miềnxuôi và ngược, dân tộc đa số và dân tộc thiểu số Đó là những người con mưutrí của dân tộc từ những nơi xa xôi, vượt qua nhiều trở ngại tìm đến tụ nghĩa.Tuy nhiên, khi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nổ ra, xã hội Việt Nam lúc đó thực
sự đang ở dưới đáy cùng của cuộc sống người dân manh lệ, không chỉ nhiềutầng lớp người dân nghèo phải xích lại gần nhau, nhận thêm một tầng lớp ápbức hết sức nặng nề của kẻ thù xâm lược ở một bình diện cao hơn, đám quanlại sĩ phu của nhà Trần ảo tưởng trước “thiên triều”, chạy theo chúng để tìm
sự phục Trần không tưởng Có vị trí thức nho sĩ nặng tư tưởng chính thống,quá phục điển lễ của nhà Đường nhà Hán đã ngộ nhận đi theo kẻ thù, cóngười tin và đi theo câu khẩu ngữ đã độc truyền miệng thời bấy giờ: “Dụchoạt ẩn sơn lâm, dục tử minh triều tố quan” (muốn sống hãy vảo rừng ở ẩn,còn muốn chết hãy ra làm quan cho giặc Minh) Ngoài một số kẻ cam tâm bánnước làm tay sai cho giặc, còn lại tầng lớp nho sĩ ai nấy đều tự chọn cho mìnhcon đường riêng Những người cực đoan thì muốn giữ trọn khí tiết, bất hợptác với giặc và đi ở ẩn như Bùi Ưng Đẩu, Lý Tử Cấu… Còn những ngườikhông theo sẽ bị nhà Hồ và giặc Minh tìm cách hãm hại như tiến sĩ Bùi Bá
Kì, Lê Cảnh Tuân…Khác với các bậc tiền bối, lớp tiến sĩ sau này xuất thân từkhoa Quang Thái thời Trần Thuận đế như Phan Phu Tiên, Trình Thuấn Du…
dù họ tham gia cuộc khởi nghĩa muộn nhưng vẫn cầu tiến Đặc biệt tiến sĩ
Trang 13xuất thân từ khoa Thánh Nguyên thứ nhất (1400) họ đã giác ngộ và đi theotiếng gọi ngay buổi đầu của cuộc khởi nghĩa Đến với Lam Sơn động chủkhông chỉ có những người giỏi võ như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo,Nguyễn Chích… mà còn có những nhà nho tri thức như Nguyễn Trãi, Lý TửTấn, Nguyễn Mộng Tuân Thời ấy ba ông được ví như tùng - trúc - maitrong bức tranh “đông thiên tam hữu” Bởi họ có những điểm chung như thi
đỗ cùng khoa, làm quan một triều, cùng chung chí hướng, lí tưởng muốn gópsức mình cùng chủ tướng Lê Lợi đuổi kẻ thù chung - giặc Minh Mặc dù đếnvới Lam Sơn và Lê Lợi là phải “nếm mật nằm gai” nhưng họ vẫn vui vẻ camlòng Trong tâm khảm của mỗi người dân đất Việt luôn in dấu ấn cuộc khởinghĩa Lam Sơn mãi gắn liền với tên tuổi bất tử của Lê Lợi, Nguyễn Trãi vànhững người anh hùng trên đất Lam Sơn
Trong lịch sử dân tộc ta, có thể nói thời Lê sơ là một thời kì xán lạn.Sau 5 thập kỉ độc lập và văn hiến nhờ những tướng tài, nhà Hồ có tội để mấtnước vào tay nhà Minh Nhưng rồi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn bùng nổ (1418)đưa tới những chiến thắng vang dội khiến quan quân Minh phải rút về Tàu,nền độc lập dân tộc được khôi phục, một triều đại mới được thành lập Ánhsáng của tự chủ tự do đươc trở về với đất Việt, với kinh đô cũ Thăng Longđược triều Lê sơ cho một tên gọi mới để phân biệt với Lam Kinh ở ThanhHoá còn gọi là Tây Đô hay Tây Kinh Ánh sáng bùng lên khi Lam Sơn dấynghĩa rồi toả chiếu trên toàn cõi đất nước, cũng là ánh sáng của 100 năm vănhiến nhờ sự nghiệp của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Lương Thế Vinh, PhanPhu Tiên…, nhờ những thành tựu văn hoá đẹp đẽ như hội Tao Đàn, bản đồHồng Đức, luật Hồng Đức
Nhưng phải nói thêm, rất đáng buồn là vào thời Lê sơ, một hình phạtthuộc loại man rợ nhất mà con người có thể nghĩ ra, gọi là “tru di tam tộc” từbên Tàu “nhập” vào nước ta như vết nhơ khó rửa Một số vua Lê sơ hẹplượng vô nghì, bạc nghĩa, đã sát hại người công thần khai quốc, tiêu biểu là
Trang 14Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Sát Nguyễn Mộng Tuân dù làm quannhiều đời vua nhưng cuối cùng cũng không tránh khỏi đại hoạ đó.
1.1.2 Bối cảnh sinh thành và tình hình chung của văn học thời Lê
sơ
1.1.2.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội của văn học thời Lê sơ
Về thời kỳ lúc đó, nền đô hộ của nhà Minh không những kìm hãm sựphát triển tự nhiên của xã hội mà còn đe doạ nghiêm trọng vận mệnh cả dântộc và mọi phẩm giá của con người Việt Nam Đất nước đứng trước một thửthách hiểm nghèo “giặc Minh ngang ngược muốn đòi đất phong, giả nhân diệtnước, giết hại làm càn, nhân dân Việt Nam gan óc dày đất, con thơ cháu bémắc phải thảm hoạ giáo mác ngang thây, làng mạc bỏ hoang, xã tắc thành gò,hoặc để thỏ chui, hoặc cho hươu ở, làm bãi cho chim đỗ, làm rừng cho báonấp” nhà viết sử Ngô Sỹ Liên đã nhận xét như vậy
Tuy nhiên, luận văn chỉ tìm hiểu một số sự kiện chính xảy ra trong giaiđoạn cuối thế kỉ XIV đầu thế kỉ XV, ít nhiều có tác động đến cuộc đờiNguyễn Mộng Tuân Vào những năm cuối thế kỉ XIV lịch sử chế độ phongkiến Việt Nam diễn ra bước ngoặt lớn: Đầu năm 1400 Hồ Quý Ly truất ngôivua Trần, tự lập làm vua, đặt niên hiệu là Thánh Nguyên, đổi sang họ Hồ vàlấy quốc hiệu là Đại Ngu Nhà Hồ được thành lập
Núp dưới danh nghĩa “Phù Trần diệt Hồ”, nhà Minh phát động 40 vạnquân sang xâm lược nước ta Với bộ máy chính sách đàn áp vô cùng dã man,tàn khốc đã khiến đời sống của nhân dân ta vô cùng khổ cực, lầm tha Truyềnthống yêu nước đã được phát huy mạnh mẽ Không chỉ có những người giỏ
võ như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo…mà còn có cả những nhà Nho tríthức như Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lí Tử Tấn
Tình hình xã hội và sự phát triển của giai đoạn đã góp phần quan trọngtạo nên sự phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc cho văn học thời Lê sơ.Đáng tiếc là hiện nay số thơ văn đương thời còn lại rất ít
1.1.2.2 Tình hình văn học thời Lê sơ
Trang 15Văn học thế kỉ XV đã xuất phát từ truyền thống văn hiến ấy Trong sốhơn 80 tác gia mà chúng ta được biết thì nổi bật lên trên hết là Nguyễn Trãi.
Các tác gia có tên tuổi khác là Lý Tử Tấn với Chuyết Am thi tập, Pháp Vân
Cổ tự kí và nhiều bài phú, Vũ Mộng Nguyên với Vi Khê thi tập, Lý Tử Cấu
với Hạ Trai thi tập, Nguyễn Trực với Hu Liêu tập Ngoài ra Phan Phu Tiên,
Trần Thuấn Du, Thân Nhân Trung, Lương Thế Vinh cũng để lại nhiều thơvăn Văn học thời kì này phản ánh sự trưởng thành của tinh thần dân tộc vàvai trò hàng đầu của trí thức dân tộc Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lý
Tử Cấu đã sử dụng văn học như một vũ khí chiến đấu cho tư tưởng nhânnghĩa, cho chính sách huệ dân Lê Thánh Tông, Thân Nhân Trung, Đỗ Nhuận,Bùi Xương Trạch cũng sử dụng văn học như một công cụ xây dựng chế độ,
đề cao vương quyền Cuối thế kỉ XV, Lê Thánh Tông đã tập hợp các văn thầnlập ra Hội Tao đàn mà nhà vua tự xưng là Chánh nguyên súy Việc sáng táctiến hành dưới sự chỉ đạo trực tiếp của nhà vua thể hiện quan điểm chínhthống của Nhà nước Và chưa bao giờ văn học cung đình lại thịnh hơn dướitriều Lê Thánh Tông
Xét tình hình văn học thế kỉ XV, phải thấy ý thức bảo vệ các di sản vănhọc dân tộc thể hiện việc làm đáng quý của các nhà tri thức dân tộc từNguyễn Trãi đến Vũ Cán Nguyễn Trãi có sưu tập văn thơ chữ Hán và chữNôm đời Trần, đời Hồ Phan Phu Tiên và Chu Xa tập hợp thơ đời Trần và đầu
đời Lê trong Việt âm thi tập Dương Đức Nhan tập hợp thơ cuối đời Trần, đời
Hồ và đầu đời Lê trong Cổ kim thi gia tinh tuyển Hoàng Đức Lương tập hợp
thơ đời Trần và đầu đời Lê trong Trích diễm thi tập, Hoàng Tụy Phu biên
soạn Quần hiền phú tập: các sách này tập hợp chiếu, biểu, phú các đời trước
và đầu đời Lê Việc ghi chép và biên soạn những truyện kí như Lam Sơn thựclục của Nguyễn Trãi, Lĩnh Nam chích quái của Vũ Quỳnh và Kiều Phú đãgóp phần nâng cao ý thức về cốt cách dân tộc ta và khả năng của nhân dân ta
Âm điệu chủ đạo của thời đại đã vang lên của những người đã tham gia phongtrào Lam Sơn và đã góp phần chiến thắng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng
Trang 16Tuân, Lý Tử Cấu, v.v Âm điệu ấy cũng vang lên trong tác phẩm của nhữngngười đã kế tiếp nhau trong suốt thế kỉ XV góp phần xây dựng đất nước nhưNguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân, Lý Tử Cấu, Phan Phu Tiên, Trình Thuấn
Du, Lương Thế Vinh, Bùi Xương Trạch, v.v…
Có thể chia văn học thế kỉ XV làm hai thời kì Văn học nửa đầu thế kỉnói chung đầy khí thế lạc quan Đây là văn học của thời kì chiến đấu đuổi giặccứu nước Âm điệu anh hùng đã vang dội trong nhiều tác phẩm mà tiêu biểunhất là những tác phẩm của Nguyễn Trãi Nửa thứ hai của thế kỉ là thời kì mànhà Lê củng cố chế độ phong kiến trên cơ sở xây dựng lại đất nước Văn họcviết bằng chữ Hán và chữ Nôm nói chung chịu sự chỉ huy chặt chẽ của nhànước, đứng đầu là Lê Thánh Tông, và được sử dụng về mục đích trên Tínhchất gọi là chính thống của văn học đã hạn chế nội dung và gò bó hình thứcvăn học Tuy nhiên, văn học nửa thứ hai của thế kỉ, gắn với sự nghiệp xâydựng đất nước giàu mạnh, vẫn có những tác phẩm không ít giá trị
Các thể loại văn học chính trong thời kì này gồm thư, phú, chiếu, vănbia, truyện kí Lực lượng sáng tác thời Lê sơ khá hùng hậu và thành tựu sángtác cũng rất lớn, để lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử văn học thời phong kiếnViệt Nam Nội dung văn học thời kì này khá phong phú, phản ánh đa dạngđời sống chính trị, xã hội Văn học chữ Hán tiếp tục chiếm ưu thế, có hàngloạt tập văn thơ nổi tiếng đặc biệt là của Nguyễn Trãi Văn học thời Lê sơ cónội dung yêu nước sâu sắc, thể hiện niềm tự hào dân tộc khí phách anh hùng
và tinh thần bất khuất của dân tộc Tuy nhiên ở văn học thời Lê sơ có một bộphận thơ văn mang đậm tính chất cung đình, chỉ tập trung ca ngợi nhà vua.Phần lớn loại tác phẩm này được viết với lời lẽ trau chuốt, ý tứ cầu kì và tìnhcảm mang tính chất giả tạo
Nguyễn Trãi được xem là tác gia quan trọng hàng đầu của văn học thời
Lê sơ với nhiều tác phẩm nổi tiếng như Bình Ngô đại cáo, Quân trung từ
mệnh tập, Ức Trai thi tập, Quốc âm thi tập…
Trang 17Nguyễn Mộng Tuân cũng là một ngôi sao sáng đương thời với nhiều
tác phẩm thơ và phú có giá trị Tác phẩm tiêu biểu của ông có Hạ thừa chỉ Ức
Trai tân cư, Chí Linh sơn phú…
Lý Tử Tấn có tập thơ Chuyết Am, trong đó nổi tiếng nhất là Đề Ức Trai
bích Ngoài ra còn có các tên tuổi như Vũ Mộng Nguyên, Phan Phu Tiên,
Nguyễn Trực, Hoàng Trình Thanh…
Sang nửa sau thời Lê sơ, dưới triều Lê Thánh Tông, văn học Đại Việt
có bước phát triển mới Chính vua Lê Thánh Tông là đại diện tiêu biểu nhấtcủa giai đoạn này
Ở giai đoạn cuối thế kỉ XIII, thơ văn để lại chủ yếu là sáng tác của cácnhà sư, đậm đà màu sắc Phật giáo Tiêu biểu là các tác giả Lã Định Thương,
Sư Hải Thiền, Sư Mãn Giác…
Chúng ta còn được đọc lời Chiếu dời đô đậm đà niềm tin vào sự tự cường của dân tộc hay bài thơ thần Nam Quốc Sơn Hà vốn được xem là bản
tuyên ngôn độc lập đầu tiên
Ở giai đoạn XIII -XIV, tuy văn học Phật giáo còn tiếp tục phát triển với
nhiều tác phẩm như tập Khoá hư lục của Trần Thái Tông, các bài ngũ lục của
Trần Nhân Tông, Tuệ trung thượng sĩ… nhưng cùng với sự phát triển của giaiđoạn, dòng văn học thế tục, yêu nước đã nổi lên làm rạng rỡ cho văn học một
thời không thể không nhắc đến bản “hùng văn” Hịch Tướng sĩ của Trần Quốc
Tuấn, Trần Quang Khải, Trần Nhân Tông, Phạm Ngũ Lão, Phạm Sư Mạnh,Phú của Trương Hán Siêu …
Vào nửa sau thế kỉ XIV, cùng với sự suy thoái của nhà Trần, xuất hiệnnhững nhà thơ Trần Nguyên Đán, Chu An, Nguyễn Phi Khanh…với nhữngbài thấm đượm tình thương yêu nhân dân, thông cảm với cuộc sống khổ cựccủa nhân dân Thời Lý - Trần cũng để lại nhiều văn bia dài, nhiều bài phú lưu
loát, đẹp đẽ như Đông Hồ bút, Trảm xà kiếm, Ngọc tỉnh liên, Thiên Hưng
trấn Với ý thức dân tộc sâu sắc, nhân dân Đại Việt đã xây dựng được một
nền văn học phong phú
Trang 181.2 Vị trí Nguyễn Mộng Tuân trong văn học thời Lê sơ
1.2.1 Cuộc đời, con người và sự nghiệp thơ văn Nguyễn Mộng Tuân
1.2.1.1 Cuộc đời và con người
Về tác giả Nguyễn Mộng Tuân có nhiều nguồn tư liệu ghi chép khác nhau
Theo Đăng khoa lục thì Vũ Mộng Nguyên là tên gọi khác của Nguyễn Mộng Tuân sau khi ông thi đỗ Trong Đại Việt lịch triều đăng khoa lục, phần
phụ chép đời Hồ Quý Ly ghi rõ: "Vũ Mộng Nguyên người làng Viên Khê,năm 21 tuổi sau khi thi đỗ liền đổi tên thành Nguyễn Mộng Tuân Ông làmquan bản triều (triều Lê) đến chức Thượng khinh xa úy, Tả Nạp ngôn, Trungthư lệnh, hiệu Cúc Pha, đương thời hiệu là Minh Phủ."
cũng cho rằng: "Nguyễn Mộng Tuân là một tên khác của Vũ Mộng Nguyên.Ông người làng Viên Khê, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa, đậu Thái họcsinh niên hiệu Thánh Nguyên Canh Thìn (1400) cùng Nguyễn Trãi Ông cótên hiệu là Cúc Pha, làm quan dưới triều Lê"
Một số tài liệu khác chép Nguyễn Mộng Tuân và Vũ Mộng Nguyên là
2 người khác nhau Toàn Việt thi lục của Lê Quý Đôn chép Nguyễn Mộng
Tuân tự là Văn Nhược, hiệu là Cúc Pha, người làng Đông Sơn xứ Thanh Hoá
Hoàng Việt thi tuyển của Bùi Huy Bích ghi Nguyễn Mộng Tuân, tự là Văn
Nhược, người làng Phủ Lí, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa (nay là xã ThiệuTrung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa) và ghi Vũ Mộng Nguyên tên tự là
Vi Khê, hiệu là Lạn Kha, người Đông Sơn, huyện Tiên Du, đậu thái học sinhkhoa Thánh Nguyên nguyên niên Thế nhưng tìm hiểu kĩ về thơ văn của hai
ông có thấy thơ của hai ông xướng hoạ với nhau (Tặng tế tửu Vũ công chí
sỹ) Có thể tài liệu Đăng khoa lục đã chép tiểu sử của hai ông có sự nhầm lẫn.
Bởi có những điểm tương đồng ở hai ông đó là cùng sống một thời đại, cùngthi đỗ Thái học sinh một khoa Thánh Nguyên thứ nhất, và quê quán của họđều có hai chữ Đông Sơn Thật ra Nguyễn Mộng Tuân người Đông Sơn-Thanh Hoá, còn Vũ Mộng Nguyên người làng Đông Sơn, huyện Tiên Sơn,
Trang 19tỉnh Bắc Ninh (Nhà thờ của Vũ Mộng Nguyên hiện nay vẫn còn ở Tiên Du,Bắc Ninh).
Theo gia phả dòng họ, ông sinh năm 1380, đỗ Thái học sinh năm CanhThìn, niên hiệu Thánh Nguyên thứ nhất (1400) vừa mới lên ngôi, công việctriều đình còn rất phức tạp nhưng việc đầu tiên Hồ Quý Ly làm là cho mởkhoa thi Thái học sinh, lấy đỗ 26 người Khoa thi này rất nổi tiếng và đượccác bậc danh nho đương thời dự thi khá đông, biểu hiện sự chấp nhận triều đạinhà Hồ của tầng lớp tri thức Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Nguyễn Mộng Tuân…
và các vị thái học sinh khác là những nhà đại nho trụ cột cho triều đình đươngđại và các triều đại sau
Như vậy theo nhiều nguồn tài liệu khác nhau, ta có thể khẳng địnhNguyễn Mộng Tuân và Vũ Mộng Nguyên là hai tác giả khác nhau NguyễnMộng Tuân, tự Văn Nhược, hiệu Cúc Pha, không rõ năm sinh năm mất, quê ởxóm Chằm, làng Viên Khê, xã Đông Anh, huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa.Ông đỗ Thái học sinh kỳ thi năm Canh Thìn (1400), tháng 8 mùa thu, đời nhà
Hồ, với đầu đề bài thi là “Linh Kim Tàng Phú” hỏi về chuyện Hán Cao tổ
(Lưu Bang bên Trung Quốc) có cái kho chứa gươm Khi khởi nghĩa Lam Sơn,ông tìm đến Lê Lợi và được Lê Lợi tin dùng Sau đại thắng quân Minh ngày
15 tháng 4 năm 1428, Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế Nguyễn Mộng Tuân đượcphong tước Á Hầu giữ chức Khu Mật Đại Sử Đến thời Lê Thái Tông (1434-1442), ông giữ chức Trung thư lệnh và Đô úy Sang đời Lê Nhân Tông (1442-1459), ông giữ chức Tả nạp ngôn, Thượng Khinh Xa Đô Úy, Tri quân dânBắc đạo, Nguyễn Mộng Tuân cùng với Lê Thụ đi đánh Chiêm Thành, thắnglợi trở về được ban tước Vinh Lộc đại phu
Nguyễn Mộng Tuân tham gia giám khảo các kỳ thi Tiến sĩ khoa NhâmTuất (1442), Nguyễn Mộng Tuân từng tiếp các đoàn sứ bộ của các nước, đặcbiệt ông còn được mời vào dạy vua học ở tòa Kinh Diên, và từng giữ chức TếTửu (hiệu trưởng) Quốc Tử Giám, được vua trọng ban cho lễ ưu đãi tuổi già.Nguyễn Mộng Tuân vừa là danh nho, vừa là một võ tướng, vừa là nhà chính
Trang 20trị có tầm nhìn xa, trông rộng Ông đã từng mạnh dạn ngỏ ý khuyên với vuarằng chỗ dựa vững chắc nhất chính là dân (lấy dân làm gốc), bởi vậy ông khắc
họa hình ảnh: Quân chu (vua là thuyền), Dân thủy (dân là nước) để nhắc bậc
quân vương “Chở lật mới hay cốt ở dân Thuyền to ắt cậy đến hiền thần”.Một trung quân ái quốc, một đại thần trong suốt ba đời vua từ Lê Thái Tổ, LêThái Tông, Lê Nhân Tông Đây là một trong những trường hợp ít thấy đối vớimột khai quốc công thần đời Lê Nguyễn Mộng Tuân là người cương trực,khẳng khái vì lợi ích của nhân dân và quốc gia đại sự Nhưng cuối đờiNguyễn Mộng Tuân vẫn không tránh được hậu họa Cuối đời Nguyễn MộngTuân bị hậu hoạ do sự kiện thanh trừng của nhà Lê “thỏ chết, cung treo” nêndòng họ Nguyễn Mộng Tuân đã chạy từ làng Viên Khê, xã Đông Anh, huyệnĐông Sơn đền Phủ Lí, nay là xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hoá, tỉnh ThanhHoá Hiện nay nhà thờ Nguyễn Mộng Tuân ở nơi đây
Là nhà nho xuất thân bằng con đường cử nghiệp, ông còn là người giàulòng yêu nước Đỗ cao và được trọng dụng dưới vương triều Hồ chưa đượcbao lâu thì giặc Minh đã đem quân xâm lược Dưới ách cai trị tàn bạo hà khắccủa giặc Minh, với tấm lòng đầy nghĩa khí ông không thể ngồi yên nhìn nỗithống khổ của người dân Sau khi được tin Lê Lợi phất cờ khởi nghĩa đánhđuổi giặc Minh cứu nước, ông tìm đến vùng đất Lam Sơn xin tham gia khởinghĩa và là một trong những người có mặt từ thuở ban đầu của nghĩa quânLam Sơn được Lê Lợi tin dùng Ông là người tích cực ủng hộ chủ trương vàquan điểm tâm công của Nguyễn Trãi và minh chủ Lê Lợi Suốt mười nămkháng chiến chống quân Minh, Nguyễn Mộng Tuân là một văn thần luônđược trọng dụng, nhiều năm nằm trong bộ tham mưu của Lê Lợi
Năm Canh Tuất (1430), Năm thứ ba sau hoà bình, Lê Lợi rất lo lắng vềviệc bảo vệ khôi phục đất nước sau 20 năm bị chiến tranh tàn phá Tháng 6năm 1430 nhà vua sai Nguyễn Trãi soạn chiếu tuyên cho trăm quan khôngđược làm lễ nghi khánh hạ Tháng 10 soạn chiếu cấm các quan Đại thần, tổngquân cũng như các quan ở viện, sảnh, cục tham ô lười biếng, kết bè đảng làm
Trang 21hại dân chúng Chiếu lệnh được ban ra, nhiều đại thần, tướng lĩnh bàn tán chorằng nhà vua quá tin Nguyễn Trãi mà nghi ngờ họ chây lười và không trongsạch Thế là bọn Đinh Bang Bản, Lê Quốc Khí, Trình Hoành Bá… nhân đógây bè cánh nịnh hót xúc xiểm đặt điều với nhà vua vu oan cho Nguyễn Trãicấu kết với thái uý Phạm Văn Xảo có âm mưu làm phản Vua tin theo lời bọn
ấy, bởi thế mà Nguyễn Trãi bị hạ ngục tống giam Nghe tin Nguyễn Trãi bị
hạ ngục nhiều người bàng hoàng, riêng giới nhân sĩ rất xúc động Lúc nàyNguyễn Mộng Tuân cùng Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên, Nguyễn QuangMinh… tâu với vua xin đến thăm Nguyễn Trãi nhưng bị chối từ, chỉ cóNguyễn Mộng Tuân là người duy nhất được gặp Nguyễn Trãi Hai người bạn
đã nhiều năm đồng cam cộng khổ, vào sinh ra tử rất mừng khi gặp nhau
Nguyễn Trãi đọc cho Nguyễn Mộng Tuân nghe bài thơ “Ngục trung tác” mà
ông mới sáng tác, bày tỏ tâm sự, oán than thân phận thời thế cay nghiệt Ít lâusau Nguyễn Mộng Tuân đến bàn với Lê Văn Linh và Bùi Quốc Hưng nên tâulên nhà vua, xin tha cho Nguyễn Trãi bởi quả tình oan ức Hơn nữa tha choNguyễn Trãi cũng là làm yên lòng giới văn sĩ vừa hăm hở ra giúp tân triềutheo “Chiếu cầu hiền tài” mới ban bố chưa được bao lâu Lê Lợi nghe lời tâucho là phải nên truyền tha cho Nguyễn Trãi Khi Lê Thái Tổ băng hà thì Thái
tử Nguyên Long lên nối ngôi Đời Lê Thái Tông, Nguyễn Mộng Tuân vẫnđược trọng dụng, ông được giao giữ chức Trung thư lệnh và đô uý, đời LêNhân Tông giữ chức Tả nạp ngôn, thượng chính xa Đô uý Mậu Thìn (TháiHoà) năm thứ 6 (1448) vua sai tư khấu Lê Khắc Phục, Tả hữu nạp ngônNguyễn Mộng Tuân, Nguyễn Văn Phú, Hữu ti thị lang Đào Công Soạn Trungthừa Hà Lật cùng bọn Tây đạo Tham tri, Đồng tri Nguyễn Thúc Huệ, NguyễnLan, Bùi Cầm Hồ, Trình dục, Thẩm hình viện phó sứ Trịnh Mân Nội mậtviện thảm ti Lê Văn đi hội khám biên giới miền đông Từ đời vua Lê Thái Tổđến Lê Nhân Tông, Nguyễn Mộng Tuân cùng Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, TrịnhKhắc Phục làm giám khảo nhiều khoa thi thời Lê
Trang 22Nguyễn Mộng Tuân không chỉ là một nhà quân sự ông còn là nhà văn,nhà thơ nổi tiếng trên văn đàn đầu thế kỉ XV Đặc biệt thơ văn ông trong thời
Lê sơ rất rực rỡ phản ánh khí thế anh hùng, quật khởi của nghĩa quân và chủtướng Lê Lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh Những áng văn thơcủa ông mang âm hưởng hào hùng sôi sục của thời đại, chứa đựng sự lạcquan, tin tưởng vào sự vững bền của triều đại mới Phải là người thực sự chịuđựng khó khăn, gian khổ của cuộc chiến đấu, hoà nhịp cùng cuộc sống hàohùng của nghĩa quân thì mới có cái khí văn (mà rõ nét nhất là ở thể phú)mang đượm hồn thiêng sông núi như vậy
Mùa thu tháng 7/1449 sứ Chiêm Thành là bọn Bô Sa Phá Tham Tốtcùng đi với Nguyễn Hữu Quang sang nước ta Vua sai tư khấu Lê Khắc Phục,Nạp ngôn Nguyễn Mộng Tuân vặn hỏi sứ Chiêm Thành về tội giết vua SứChiêm Thành không trả lời được chỉ lạy tạ mà thôi
Trải qua ba đời vua Thái Tổ, Thái Tông, Nhân Tông, Nguyễn MộngTuân vừa là một võ tướng, một văn thần nổi danh làm tới chức Trung thư lệnh
và Đô uý dưới triều Lê Thái Tông Sau những vụ sát hại các công thần dướitriều Lê Thái Tông, ở triều Nhân Tông lúc nhà vua lên ngôi khi còn nhỏ tuổi,Thái hậu Nguyễn Thị Anh buông rèm nhiếp chính thì thói nịnh hót, bè đảngtrong triều lại càng loạn hơn Số phận của Nguyễn Mộng Tuân cũng không
thoát khỏi vòng đại hoạ Bài Trung hưng kí năm Quang Thuận viết: “Nhân
Tông mới hai tuổi đã sớm nối ngôi Thái hậu Nguyễn Thị là gà mái gáy sớm
Đô đốc Lê Khuyến như thỏ khôn giữ miệng Vua đàn bà mắt quáng buôngrèm ngồi chốn thâm khê, bọn họ ngoại lòng tham khoác lác hoành hành khắpcõi, kẻ thân yêu nắm quyền vị, nạn hối lộ được công khai, việc văn giáo lặng
lẽ như băng hàn, người hiền tài phải bó cánh Bậc hương thần như Trịnh Khả,Khắc Phục thì kèn cựa mà giết đi, người tài sĩ như Nguyễn Mộng Tuân thìđẩy vào vòng tai hoạ Oan uổng không thể kêu xin, mọi việc thảy đều đổ nát”
Cuộc đời và sự nghiệp Nguyễn Mộng Tuân cũng như bao văn thần, võtướng khác ở từng thời điểm lịch sử cụ thể có lúc bị phủ nhận, vùi dập, nhưng
Trang 23qua trường kì lịch sử những đóng góp to lớn của ông trong cuộc kháng chiếnchông giặc Minh và xây dựng đất nước thì vẫn chẳng lu mờ Hậu thế đã từngbước minh oan ghi nhận những đóng góp của ông trong lịch sử: Hiện nay đềnthờ chính ông đã được con cháu đời sau đưa về Thiệu Trung, Thiệu Hoá,Thanh Hoá, đồng thời để tưởng nhớ công lao của ông, UBND tỉnh ThanhHoá, Sở giáo dục và đào tạo Thanh Hoá, UBND huyện Đông Sơn quyết địnhđặt tên một trường THPT bán công là trường THPT Nguyễn Mộng Tuân Têncủa Nguyễn Mộng Tuân cũng đã được đặt cho một số đường phố ở thành phốThanh Hoá và thành phố Đà Nẵng.
1.2.1.2 Sự nghiệp thơ văn
Nguyễn Mộng Tuân để lại Cúc Pha tập - là tập thơ chữ Hán do ông
sáng tác trong nhiều năm, phần lớn theo thể thất ngôn cận thể, nhưng tiếc rằng
tập thơ đã bị thất truyền Những bài thơ trong Cúc Pha tập phần lớn được chép lại trong Toàn Việt thi lục, và thơ chữ Hán của Nguyễn Mộng Tuân còn được truyền trong một số sách như: Tinh tuyển chư gia luật thi, Tinh tuyển
chư gia thi tập, Hoàng Việt thi tuyển, Hoàng Việt tùng vịnh
Lê Quý Đôn nhận xét: thơ văn của Nguyễn Mộng Tuân bình dị, không
có chất buồn Sở từ, được nhiều người ham chuộng Trong dung lượng hạnhẹp của thể thơ, ông đã khéo tài vận dụng nhiều thủ pháp nghệ thật để tăngtính hiệu quả cho từng bài mà không phá vỡ khuôm khổ chật hẹp của thơĐường Nguyễn Mộng Tuân cũng là người sử dụng khá nhiều điển cố, điểntích nhưng khi ta đọc vẫn cảm nhận được từng lời thơ thật hàm súc mà dễhiểu, ý thơ trong sáng mà sâu lắng Trong thơ chữ Hán, Nguyễn Mộng Tuân
đã thể hiện sở trường “thi trung hữu hoạ, ý tại ngôn ngoại” mà không phải bất
cứ nhà thơ nào cũng thể hiện được như thế Quả là thơ của Cúc Pha “như côgái chơi xuân có vẻ đẹp mềm mại”
Nguyễn Mộng Tuân cũng là kiện tướng về làm phú chữ Hán, hiện có
41 bài chép trong Quần hiền phú tập, đó là con số ít thấy ở các tác giả Hán
Nôm Trong đó có nhiều bài thể hiện chan chứa tình cảm yêu thương đất
Trang 24nước, không khí chiến thắng vang dội một thời với nhiều bài hay như: Lam
Sơn giai khí phú, Xuân đài phú…
Về văn, ông soạn Thái uý từ đường chi bi - bia viết về Thái uý Trịnh
Khả (hiện nay tấm bia đặt ở từ đường Trịnh Khả thuộc xã Vĩnh Hoà, huyệnVĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hoá, tình trạng bia khá mờ), và có một bài trong sách
Thanh Trì, Quang Liệt Chu thị di thư Nguyễn Mộng Tuân là con người đa
tài, văn võ kiêm toàn, đã giỏi thơ phú lại am tường quân sự
1.2.2 Vị trí Nguyễn Mộng Tuân trong văn học thời Lê sơ
1.2.2.1 Nguyễn Mộng Tuân - một gương mặt sáng giá của văn học thời Lê sơ
Tình hình xã hội và sự phát triển của thời kỳ Lê sơ đã góp phần quantrọng tạo nên sự phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc Có nhiều tên tuổi củacác tác giả đã đi cùng năm tháng như: Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Vũ MộngNguyên Văn học thời kỳ này phản ánh sự trưởng thành của tinh thần dân tộc
và vai trò hàng đầu của trí thức dân tộc Nguyễn Mộng Tuân đã sử dụng vănhọc như một vũ khí chiến đấu cho tư tưởng nhân nghĩa, thể hiện tấm lòngmình trước thiên nhiên, đất nước
Âm điệu chủ đạo của thời đại đã vang lên của những người đã từngtham gia và đã góp phần chiến thắng của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, trong đó
có Nguyễn Mộng Tuân Với 143 bài thơ cận thể nhưng khi đọc lên ta không
hề thấy gò bó, khuôn phép như thơ Đường luật Đọc những bài thơ cảm táctrước thiên nhiên (Hỗ gía du Thanh Hư động, Phong Châu tức sự, Lan, Maihoa, Hồng mai, Ba tiêu) ta mới thấy được một tâm hồn thật tinh tế và nhạycảm trước thiên nhiên tạo vật Không những thế, thơ Nguyễn Mộng Tuânmang nội dung yêu nước sâu sắc với niềm tự hào dân tộc, khí phách anh hùng
và tinh thần bất khuất của dân tộc Với cương vị trọng trách được Lê Lợi tiêndùng trong cuộc khởi nghĩa chống giặc Minh, Nguyễn Mộng Tuân đã đem hếtsức mình với triều đại Là người trực tiếp sống trong không khí sôi động của
Trang 25cuộc chiến, gắn bó mật thiết và chứng kiến những hành động anh hùng,những chiến công oanh liệt của nghĩa quân Lam Sơn Sự dồi dào của vốn hiểubiết cuộc sống và con người thời kháng chiến đã thôi thúc ông viết lên nhữngtrang thơ mang không khí thời đại, góp phần tạo nên sự phong phú của nềnvăn học thời Lê sơ nói riêng và văn học trung đại Việt nam nói chung.
1.2.2.2 Một tác giả hàng đầu về thể loại phú
Thời Lê sơ là thời kỳ hưng thịnh nhất của phú chữ Hán Trong số nhiềutác giả để lại những tác phẩm có giá trị như: Nguyễn Trãi, Trương Hán SiêuNguyễn Mộng Tuân là kiện tướng của thể loại này (41 bài/108 bài trong
Quần hiền phú tập) Phải kể đến những tác phẩm phú như: Lam sơn phú, Kỳ nghĩa phú, Chí linh sơn phú, Tẩy binh phú…Tựu trung đều mang đề tài ngợi
ca nhà vua, ngợi ca địa linh nhân kiệt, tự hào với những võ công mong mỏichủ trương đức trị đất nước trong hoà bình Với đề tài ngợi ca địa danh lịch sửLam Sơn (Cùng Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Lê Thánh Tông) thì bài Lam Sơnphú của Nguyễn Mộng Tuân mang nét đặc sắc và độc đáo riêng
Dưới ngòi bút hiện thực già dặn và điêu luyện, những bài phú củaNguyễn Mộng Tuân đã dựng được bức tranh có ý nghĩa xã hội rộng lớn, táihiện hình ảnh anh hùng dân tộc trong cuộc chiến tranh chống giặc Minh cứunước Hơn ai hết, Nguyễn Mộng Tuân là người tham gia và ủng hộ tích cựccuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi nên người đọc càng rõ hơn những cảmxúc hào hùng, những chiến công vang dội của dân tộc Phải là người thực sựchịu đựng những khó khăn, gian khổ của cuộ chiến đấu, hoà nhịp cùng cuộcsống hào hùng của dân tộc, của nghĩa quân thì cái khí văn mới mang đượmhồn thiêng sông núi như vậy
1.2.2.3 Một nhà thơ có vị trí đáng kể trong văn học thời Lê sơ
Tình hình xã hội và sự phát triển của giai đoạn, đã góp phần tạo nên sựphong phú và đậm đà bản sắc cho văn học thời Lê sơ Trong số những tác gia
mà chúng ta được biết nổi bật lên trên hết là Nguyễn Trãi Các tác gia có tên
Trang 26tuổi khác như: Lý Tử Tấn với Chuyết Am thi tập, Vũ Mộng Nguyên với Vi
Khê thi tập…Nguyễn Mộng Tuân cũng có những vị trí đáng kể trong văn học
thời Lê sơ Cúc Pha tập với 143 bài thơ chữ Hán rất có giá trị, nhưng tiếc
rằng tập thơ đã bị thất truyền, hiện nay chỉ còn ghi chép tản mạn ở những tư
liệu khác nhau Hoàng Việt thi tuyển, Toàn Việt thi lục, Tinh tuyển chư gia
luật thi.
Nguyễn Mộng Tuân không chỉ là một nhà quân sự, ông còn là nhà văn,nhà thơ nổi tiếng trên văn đàn đầu thế kỷ XV Nội dung thơ phản ánh khí thếanh hùng, quật khởi của nghĩa quân và chủ tướng Lê Lợi trong cuộc khángchiến chống quân Minh, mang âm hưởng hào hùng của thời đại Đồng thờichứa đựng sự lạc quan, tin tưởng vào sự bền bỉ của triều đại mới Trong dunglượng hạn hẹp của thể thơ, ông đã khéo tài vận dụng nhiều thủ pháp nghệthuật để tăng tính hiệu quả cho từng bài mà không phá vỡ khuôn khổ chật hẹpcủa thơ Đường Thơ Nguyễn Mộng Tuân có khá nhiều điển cố, điển tíchnhưng khi đọc vẫn cảm nhận được từng lời thơ thật hàm xúc, dễ hiểu, sâulắng trong lòng độc giả
Trang 27Chương 2 NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA NGUYỄN MỘNG TUÂN
CHO VĂN HỌC THỜI LÊ SƠ Ở THỂ LOẠI PHÚ
2.1 Thể phú và thành tựu của nó trong văn học trung đại việt nam
2.1.1 Phú - một thể loại cơ bản trong văn học trung đại Việt Nam
2.1.1.1 Khái niệm và nguồn gốc của thể phú trong văn học Trung đại
Việt Nam
Phú là thể loại rất cơ bản (chỉ xếp sau thơ về số lượng tác phẩm) trongvăn học Trung đại Việt Nam Đây là thể loại ngoại nhập chúng ta vay mượn
từ Trung Quốc Trước hết xin nói vài nét về khái niệm thể loại này: Theo
Khái niệm và thuật ngữ lý luận văn học Trung Quốc tên thể loại phú xuất hiện
lần đầu tiên trong “Phú thiên” của Tuân Huống thời Chiến Quốc Đến đời Hán thì hình thành thể chế cố định gọi là “Tân thể phú” hoặc “Hán đại phú”.
Sau lại có các loại như “Bài phú” “luật phú” “Văn phú” “Phú” chú trọngmiêu tả, từ ngữ hoa lệ, vần điệu tiết tấu hài hòa [14 ,158]
Trong văn học trung đại Việt Nam, thể loại phú đã góp phần vào việcgiải quyết một vài vấn đề của thể loại văn học hiện đại Nghiên cứu về thểphú ở nhiều phương diện sẽ có ý nghĩa tiếp cận nguồn gốc của thơ văn xuôiViệt Nam Đồng thời, mỗi thể loại văn học là một loại giá trị tinh thần, khôngtồn tại tự thân mà trong sự tương tác với các thể loại khác Vì vậy, tìm hiểuthể phú cũng góp phần nhận thức đời sống văn chương Việt Nam trung đại
Phú du nhập vào Việt Nam từ rất sớm sử dụng trong văn chương cử tử
Cổ sử cho biết ở nước ta phú được dùng từ đời Lý, tuy nhiên hiện tại nhữngbài phú sớm nhất trong số hiện còn thuộc đời Trần là phú Nôm Thời xưa, phú
là thể thức mà sĩ tử phải dốc lòng luyện bút để thoả nguyện “cá vượt Vũ môn”
và để rạng danh với đời Phú là một trong những thể tài văn học được hìnhthành và có lịch sử tồn tại lâu dài trong đời sống văn học Trung Quốc Hình
Trang 28thức của thể phú cở bản vẫn tuân thủ những phép tắc chung của thể phú (riêngphú Nôm có nhiều cách tân) Tuy nhiên, phú trung đại Việt Nam đã phản ánhđặc thù đời sống, con người và lịch sử Việt Nam Tồn tại và phát triển trongnền văn học nước nhà khoảng tám thế kỉ, phú Việt Nam có những lúc “thăng”lúc “trầm” nhưng vẫn đứng ở “thế bình quân” với các thể tài văn chương kháccủa Việt Nam.
Về mặt hình thức có nhiều kết quả phân loại thể phú, vì có nhiều tiêu
chí khác nhau Từ Sư Tăng (đời Minh) chia phú thành 4 loại mà về sau đượcnhiều người chấp nhận, đó là: cổ phú, bài phú, luật phú, văn phú
Cổ phú chủ yếu chỉ phú ra đời Lưỡng Hán Tên gọi đã cho thấy sự rađời sớm của thể loại phú này Những tác giả hậu thế mô phỏng phú đờiLưỡng Hán, không chú trọng đối tượng, thanh luật cũng được gọi là cổ phú
Cổ phú còn được gọi tên khác là Từ phú Đời Hán là đời thịnh đạt nhất củathể phú Cổ phú có thể chia làm ba loại: phú tản văn, phú tao thể và tiểu phú.Loại phú thịnh hành đời Hán có văn vần và tản văn đan xen nhưng nặng vềtản văn nên được gọi là phú tản văn Có thể kể: Tử Hư phú, Thượng Lâm phúcủa Tư Mã Tương Như, Trường dương phú của Dương Hùng Phú văn xuôi(phú tản văn) thường dài, quy mô lớn nên gọi là tán thể đại phú hoặc đại Hánphú Đại Hán phú văn vẻ hoa lệ, từ ngữ trau chuốt Phú tao thể chỉ những tácphẩm phú mô phỏng nhiều yếu tố của sở từ tối đa (Điếu Khuất Nguyên phú -Giả Nghị) Tiểu phú là những bài phú ngắn, thường không đi theo lối hỏi -đáp, văn vần và văn xuôi xen kẽ của đại phú Loại này dùng vần thông (thông
vận) Câu văn có khi bốn chữ: Bình phong phú (Dương Thắng), hoặc bốn chữ làm chính, kết hợp với ba chữ, sáu chữ, bảy chữ: Kỷ phú (Dương Châu), Liễu
phú (Mai Thặng) Tiểu phú còn có thể chia thành tiểu phú trữ tình (Quy Điền phú của Trương Hành), và tiểu phú vịnh vật (Bình phong phú).
Bài phú còn gọi là biền phú là thể phú mới, được biến đổi và phát triểntrên cơ sở cổ phú Bài phú có từ thời Nguỵ - Tấn và thịnh hành thời Nam -Bắc triều Bài tức là bài ngẫu, biền tức là biền ngẫu, đều có nghĩa là câu chữ
Trang 29đối nhau Đặc điểm chủ yếu của bài phú là cân đối về câu chữ, hài hoà về âmthanh Điều này có liên quan đến phong trào biền lệ đương thời Phú thời lụctriều chỉ giống phú thời Hán ở chỗ có gieo vần, khác ở chỗ hay dùng điển cố
và câu văn biền ngẫu Biền phú thực tế là loại biền ngẫu có gieo vần Phú thờinày ít dùng các cặp đối nhau, mà thường dùng nhiều câu liên tiếp và có hiệntượng đối cùng chữ Phú thời này nói chung đối xứng chỉnh tề, từ ngữ hoa lệ,mới mẻ, tiêu biểu Đối xứng chỉnh tề là chỗ khác hẳn của bài phú với cổ phúthường ngắn gọn, thiên về trữ tình và có xu hướng thi ca hoá
Luật phú (Phú cận thể) là một biến thể của biền phú Luật phú thường rấtchú trọng âm vận Luật phú đặt theo luật lệ quy định chặt chẽ nhằm thích ứngchế độ khoa cử đời Đường - Tống Vần trong luật phú được gieo theo nhiều lốikhác nhau như: độc vần (một vần từ đầu đến cuối), hoặc 5,6,7,8 vần, tuỳ sự hạnvận (tức là một câu làm giới hạn bắt buộc gieo vần theo thứ thự các chữ trongcâu) hoặc phòng vận (gieo vần tự do, phóng túng) Phú cận thể bao giờ cũngđặt câu gồm hai vế đối nhau, vần nằm ở cuối vế dưới Có các loại câu như: câu
tứ tự, câu bát tự, câu song quan (hai cửa, mỗi vế năm đến chín chữ), câu cách
cú (mỗi vế gồm hai đoạn, một đoạn ngắn, một đoạn dài), câu gối hạc hay tấthạc (mỗi vế có ba đoạn trở lên, đoạn giữa thường ngắn như đầu gối của châncon hạc) Bố cục của bài lục phú thường có bố cục như sau:
1- Lung khởi (mở đầu, nói một ý bao quát toàn bài)
2- Biện nguyên (nói gốc tích, ý nghĩa của đầu bài)
3- Thích thực (giải thích, phân tích ý nghĩa của đầu bài)
4- Phu diễn (trình bày, dẫn chứng, minh hoạ làm rõ phần giải thích,phân tích)
5- Nghị luận (bình luận, nhận xét ý nghĩa của đầu bài)
6- Kết (thắt lại, kết thúc)
Luật phú yêu cầu đối phải chặt chẽ hơn cả biền phú Ngoài ra luật phúcòn lấy hạn vận làm một đặc điểm cơ bản Mục đích của điều này là thêmnhững điều ràng buộc để chủ khảo dễ phân định bài thi cao thấp Về luật bằng
Trang 30trắc, đến đời Trang Tông (Vãn Đường) có thêm bốn bằng bốn trắc Luật phúcũng hạn định về số chữ, thường là không quá bốn trăm chữ
Văn phú ra đời do ảnh hưởng của phong trào cổ văn đời Đường - Tống.Đặc điểm chủ yếu của văn phú là chống lại sự hạn chế của biền ngẫu, vầnđiệu… Văn phú tiếp thu dương pháp và khí thế của cổ văn đương thời Hìnhthức của nó khác xa với phú Lạc Triều và gần với phú đời Hán Văn phúkhông chạy theo sự hoa lệ mà vần của nó tương đối tự do Văn phú mang đậmphong cách của văn xuôi, khi nói về hình thức của phú, có thể lấy tác phẩmphú Trung Quốc, phú chữ Hán Việt Nam để làm dẫn chứng Có nghĩa làngười ta cho rằng hình thức văn thể, phú Việt Nam tuân thủ những phép tắcchung của thể phú Tất nhiên có những tiểu loại chúng ta sử dụng nhiều hơnkhi sáng tác (phú Đường luật tức luật phú hay phú cận thể) Nhìn vào đại diệntiêu biểu của văn phú thì không thể giống như Từ Sư Tăng rằng “phú dĩthượng lí nhi thất vu từ” (coi trọng lí lẽ mà làm mất vẻ đẹp ngôn từ) So với
cổ phú thời Hán, Văn phú đã khắc phục được nhược điểm dùng nhiều từ khóhiểu và dung lượng quá lớn Về nội dung khác xa so với loại phú ca tụng côngđức của vương triều hoặc chỉ biết “dĩ phúng dụ vi tôn”
Tóm lại, về hình thức ở phú diễn ra nhều lần thay đổi lớn do nhữngnguyên nhân văn học và nguyên nhân phi văn học Nhưng dù biến đổi thế nàocũng không làm mất những đặc tính của thể loại mà nổi bật nhất là đặc tínhnửa văn xuôi nửa thơ ca
Về mặt nội dung, có rất nhiều các tài liệu trước nay nghiên cứu về phú
thường chú trọng tới mô tả hình thức bề ngoài mà ít chú ý đến đặc trưng nộidung và cấu trúc bên trong của nó Tính nội dung của thể phú thể hiện ở cách
sử dụng Tính chất chung của phú là ca ngợi Xét theo chức năng, có hai loại:phú phúng gián và phú tỏ chí Phú phúng gián là thể loại viết cho vua, ngợi cacuộc sống vương giả, để ngụ ý khen chê kín đáo Ca tụng tài đức của thiên tử
và sự hùng hậu của đất nước và chức năng mà thể phú có thể đảm nhận mộtcách thuận lợi, hữu hiệu Nhà mĩ học Trung Quốc Lưu Trạch Hậu khái quát:
Trang 31“Đối tượng miêu tả của phú là: sơn, thuỷ, cây rừng, chim, thú, thành thị, cungkhuyết, mỹ nữ, y phục, bách nghệ” Phú với hình thức tao nhã, ngôn từ lộng lẫykhoa trương, hình tượng phi thường, hết sức phù hợp để tụng ca Bản chất củaHán phú là văn học cung đình, nên chức năng tụng ca càng nổi bật Tuy nhiêncũng khó tìm thấy những sáng tác để tụng ca mà có tính nghệ thuật thực sự.
Phúng gián (dùng lối nói bóng để khuyên can) là một trong những chứcnăng của phú đã được khẳng định từ xưa Dương Hùng - một người làm phúnổi tiếng đời Hán khẳng định dứt khoát: “Hùng này cho rằng phú phải hướngtới phong” (Hùng dĩ vi phú giả, tương dĩ phong chi) Ông cho rằng “phong” làđặc tính tất yếu của phú và lấy làm buồn vì phú thời ông chưa đáp ứng điềunày Trong số những bài phú “dĩ phúng dụ vi tôn” người ta thường kể đến
Phong phú của Tống Ngọc Tác giả miêu tả gió hùng của nhà vua và gió thư
của thứ dân, ẩn ý so sánh cuộc sống xa hoa của nhà vua và cuộc sống bi thảm
của bách tính Bài phú nhằm công kích Sở vương Thất phát của Mai Thặng
thể hiện thật sinh động đời sống cung đình gởi gắm với ngụ ý rằng tư tưởngtrụy lạc sẽ làm cho cách sống trụy lạc
Phú tỏ chí với chức năng ngôn chí trữ tình xuất hiện vào thời NgụyTấn, khi tư tưởng “đại nhất thống” Trung Hoa suy tàn, kẻ sĩ thương xót thân
phận Trong Văn tâm điêu long, bộ sách chuyên ngành đầu tiên trong lịch sử
lí luận phê bình Trung Quốc, Lưu Hiệp viết: “phú (…) tả chí dã” Sự kháiquát này dựa trên thực tiễn sáng tác rất phong phú đã có Ngay trong cả nhữngbài phú miêu tả đời sống sinh hoạt của đế vương, sự phồn thịnh của đế quốc,các tác giả bộc lộ ý tưởng chính trị của mình Có thể nói các bài phú nhằmphúng gián cũng là một dạng ngôn chí trữ tình đặc biệt Đặc biệt ở chỗ hướng
về đối tượng đặc biệt (thiên tử) và nhằm vào những vấn đề liên quan đến vậnmệnh của đế quốc “Nói phú là phô bày nhưng trước hết là thuật: khách cókẻ… rồi tả, kể một cách khách quan để người nghe tự nhận xét, là tưởngtượng nhân vật hư cấu, cuộc đối đáp giữa chủ và khách, sau đó mới dùng lờivăn khoa trương cực độ cho người nghe loá mắt, choáng tai, phục tài khéo
Trang 32nói” Chính vì điều này mà phú lại phù hợp với tư tưởng cao cả, trang trọng,phù hợp với việc “tỏ chí” của kẻ sĩ.
Trên đây là những đặc trưng cơ bản về nội dung của thể phú Tất nhiênkhi du nhập vào Việt Nam nó sẽ không đồ lại cấu trúc chức năng của phúTrung Quốc mà nó sẽ phản ánh đặc thù đời sống con người và lịch sử ViệtNam Một số tác phẩm chữ Nôm theo xu hướng tả thực đã miêu tả sát hợp vớithực tiễn đất nước, làm cho màu sắc dân tộc ở thể phú thêm đậm đà Điều nàyGiáo sư Trần Đình Sử đã khái quát: “Trong quá trình Việt Nam hoá, phú đã từthể loại ngợi ca tụng tán vua chúa dần dần chuyển hoá và phân hoá thành phú
tỏ chí, phú giáo huấn, phú phong cảnh, phú ẩn cư, phú tuyên truyền và phú tựtrào, châm, phê phán”
2.1.1.2 Quá trình phát triển của thể phú trong văn học trung đại Việt Nam
Phú chữ Hán Việt Nam đã có từ thế kỉ X Thời Trần để lại cho hậu thế
số lượng phú chữ Hán không lớn (16 bài) nhưng nhiều ý nghĩa Thời Lê sơ làthời kì hưng thịnh nhất của phú chữ Hán, mặc dù văn học chữ Nôm có nhữngbước tiến vượt bậc, đây cũng là thời kì xuất hiện lượng tác gia đông đảo với
số lượng tác phẩm phú lớn Thế nhưng số lượng tác phẩm phú Nôm thời kì
này trong Tổng tập văn học cũng như các tuyển tập đều thấy vắng bóng Có
thể giải thích: khi kháng chiến thành công, nhà Lê được thiết lập, Lê Lợi banchiếu cầu hiền tài, đã tạo nên một cuộc bút chiến rầm rộ bằng thể phú giữanhững người hợp tác và những người bất hợp tác với tân triều Bày tỏ tìnhcảm trước võ công của dân tộc bằng tác phẩm chữ Hán là thuận tiện và sangtrọng hơn Vì vậy mà số lượng tác phẩm chữ Hán thời kì này nhiều đến thế.Nguyễn Mộng Tuân là người đã để lại số lượng tác phẩm nhiều nhất (41 bài /
108 bài trong Quần hiền phú tập) Có những bài phú có quy mô lớn như Lê Thánh Tông còn có bài phú Lam Sơn Lương thuỷ phú - 2130 chữ Phú thời kì
này số lượng lớn nhưng đề tài và chủ đề lại rất tập trung, hình thức thể loại
khá thuần nhất Nếu như đời Trần chỉ có Bạch Đằng Giang phú viết về chiến
công giữ nước thì thời Lê sơ có nhiều bài trong đó một chùm bài ca ngợi địa
Trang 33danh lịch sử Lam Sơn (các bài phú của Nguyễn Mộng Tuân, Nguyễn Trãi, Lý
Tử Tấn, Lê Thánh Tông…) Các bài phú đều ca ngợi nhà vua, ngợi ca địa linhnhân kiệt, càng tự hào với võ công càng mong mỏi chủ trương đức trị tronghoà bình Sau khi kháng chiến thành công, các bài phú tập trung vào hai chủ
đề lớn: hoặc hăm hở hưởng ứng chiếu cầu hiền tài của Lê Lợi, hoặc bất hợptác, đề cao triết lí “thủ thân vi đại” Phú chữ Hán thời Lê sơ chiếm ưu thếtuyệt đối so với phú Nôm Sự phồn vinh của phú chữ Hán thời kì này là dotổng hợp nhiều nhân tố Về tác giả, ngay trong kháng chiến, Lê Lợi đã tậphợp được nhiều trí thức lớn, có tài năng văn chương thực sự Về sau, khi hoàbình lập lại, nhất là dưới thời Lê Thánh Tông (1460 - 1497) sự nghiệp giáodục phát triển chưa từng thấy Thời trung đại ở nước ta, trí thức đồng nghĩavới văn nhân, thi sĩ Thể phú có những đặc tính tương thích với thời kì này.Thể phú rất thích hợp để tụng ca và lúc này có những đối tượng rất xứngđáng, đó là đất nước, là nhân dân, bộ chỉ huy khởi nghĩa Phú còn được dùng
để luận chiến, điều này đã làm cho nghệ thuật viết phú sắc sảo hơn Phú dướithời Lê sơ đến cuối thời Lê sơ (triều đại Lê Thái Tông, Lê Thánh Tông) có sự
chuyển đổi đề tài Trừ Lam Sơn lương Thuỷ phú như là sự liền mạch với phú
đầu thế kỉ ngợi ca võ công chống quân Minh xâm lược, còn phần lớn các bài
phú khác chuyển sang lấy đề tài trong sử sách Trung Quốc: Bác Lãng chuỳ
phú, Phượng chư phú, Tùng bách hậu điêu phú…
Phú chữ Hán thời Lê - Mạc (thế kỉ XVI - XVII) và thời Lê mạt (thế kỉXVIII) không hưng thịnh như phú chữ Hán thế kỉ XV, nhưng cũng không quá
ít ỏi Có những tác giả như Nguyễn Bá Lân, vừa có phú Nôm vừa có nhữngbài phú chữ Hán được đánh giá cao Những bài phú của anh em họ Ngô Thì làtập hợp phú rất có giá trị Nhất là tác giả Ngô Thì Nhậm, để lại 17 bài phú
chép trong bộ Ngô gia văn phái, được nhiều nhà nghiên cứu đánh giá rất cao.
Những bài phú trữ tình không chú trọng đến lí tưởng chính trị - xã hội nhưphú thế kỉ XV, mà biểu hiện tình cảm riêng Có nhiều bài miêu tả phong cảnh,
danh lam đất nước như Kỳ Giang kiều phú, Đăng Ải Vân sơn phú, Tây Hồ
Trang 34phong cảnh phú, ở đó các tác giả chỉ ca ngợi vẻ đẹp thiên nhiên, không giống
như phú thời Lê sơ ca ngợi thiên nhiên gắn liền với ca ngợi chiến công giữnước Từ thế kỉ thứ XVI trở đi, thành tựu phú không lớn như phú các thế kỉtrước, bởi phú Nôm chiếm ưu thế của phú chữ Hán nói riêng và văn học chữNôm nói chung Các tác giả văn học sau này dùng chữ Nôm có thuận lợi hơnnhiều Phú chữ Hán không có những tác phẩm đặc sắc, có chăng chỉ là những
bài về vấn đề triết học, Nghĩa trủng phú giàu giá trị hiện thực, giàu cảm xúc
nhưng giống bài thơ trường thiên cổ thể hơn là bài phú
Phú chữ Hán có hơn tám thế kỉ tồn tại không bị gián đoạn Tuy nhiên,càng về sau, phú chữ Hán càng ít thành tựu nổi bật bởi sự lấn át của phú Nôm
và nhiều thể loại khác phát triển và đảm nhiệm cũng như thể phú Phú là mộtthể tài văn chương hình tượng được hình thành rất sớm trong lịch sử văn họcTrung Quốc Ba ngọn nguồn sáng tạo thành thể phú là Kinh thi, Sở từ, vănxuôi Tiên Tần Mặc dù ở phú diễn ra nhiều lần thay đổi về hình thức cũngnhư đặc tính của thơ ca, nửa văn xuôi của thể phú cũng không hề bị mất đi
2.1.1.3 Thành tựu của phú thời Lê sơ
Trong văn học cổ Việt Nam, về mặt thể loại, một điều đáng chú ý làphú bắt đầu phát triển ở thời Trần và phát triển mạnh ở thời Lê Những thànhtựu nổi bật của thể tài này cũng nằm trong hai thời đại đó Nếu như ở thờiTrần, phú đã giữ một vị trí xứng đáng trong nền văn học dân tộc với những
“khôi kì, hùng vĩ” của những tác giả nổi tiếng như Trương Hán Siêu, Nguyễn
Bá Thông, Mạc Đĩnh Chi,… thì ở thời Lê, phú càng nở rộ dưới ngòi bút củamột đội ngũ đông đảo các nhà thơ giàu nhiệt tình công dân và say mê tronglao động nghệ thuật
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta có những mốc lịch
sử, những chặng đường vang dội chiến công, nhưng suốt trong thời phongkiến dễ chưa có cái mốc lịch sử văn học được khắc họa điểm tô với nhiều tác
phẩm xuất sắc như thắng lợi của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn Ngoài Bình Ngô
đại cáo (thể cáo) - áng “thiên cổ hùng văn” của Nguyễn Trãi Sách Quần hiền
Trang 35phú tập của Hoàng Tuỵ Phu và Nguyễn Trù tập hợp được nhiều bài phú phản
ánh kịp thời sức mạnh, khí thế và phẩm chất của dân tộc ta trong cuộc chiếntranh giải phóng và chiến tranh giữ nước vĩ đại này Nếu như ở đời Trần, phảimột thời gian khá lâu sau khi cuộc kháng chiến chống Nguyên Mông thắnglợi, dấu ấn thời đại mới được ghi lại qua hồi ức của một vài tác giả, thì ở thời
Lê, ngay sau khi bọn xâm lược Minh vừa rút khỏi nước ta, nhiều nhà thơ đãkịp thời dựng lại quang cảnh hào hùng của cuộc chiến đấu Hầu hết nhữngnhà thơ, nhà văn này đều là người trong cuộc Dù là ở trong bộ tham mưu củanghĩa quân như Nguyễn Trãi hay tham gia vào các ban văn võ như Lý TửTấn, Nguyễn Mộng Tuân… họ đều được sống trong không khí sôi động củacuộc chiến, cũng đều gắn bó mật thiết và chứng kiến những hành động anhhùng, những chiến công oanh liệt của nghĩa quân Sự dồi dào của vốn hiểubiết cuộc sống và con người trong kháng chiến đã thôi thúc các nhà thơ -trong khi chưa có tiểu thuyết - tìm đến thể phú là một thể tài ưu tú hơn thơ trữtình trong việc bao quát đề tài rộng lớn, chứa đựng những sự kiện có tầmquan trọng lịch sử và mang ý nghĩa toàn dân
Ở thời Lê, nhất là ở thế kỉ XV, phú phát triển rất rực rỡ Về nội dunghiện thực có phần phong phú hơn thơ trữ tình, mặc dù thơ trữ tình vẫn chiếm
ưu thế về số lượng Nhiều kiện tướng về phú xuất hiện như Nguyễn MộngTuân, Lý Tử Tấn Có thể nói rằng, với tất cả những ưu thế về thể tài (không bịhạn chế về dung lượng, có thể kết hợp rộng rãi các thể văn tự sự, trữ tình vànghị luận) dưới ngòi bút già dặn và điêu luyện của các nhà thơ, nhiều bài phúthời Lê đã dựng lên được những bức tranh có ý nghĩa xã hội rộng lớn, tái hiệnhình ảnh anh hùng của dân tộc trong cuộc chiến tranh cứu nước do Lê Lợi lãnhđạo Đó là đặc điểm đáng lưu ý của nội dung phú thời Lê Mặc dù ngày nay ta có
thể bổ sung vào Quần hiền phú tập nhiều bài phú của thời Lê mà trước đây
Hoàng Tuỵ Phu và Nguyễn Trù chưa sưu tầm hết, nhưng với con số ngót 100bài, hai soạn giả đã giữ lại cho chúng ta ngày nay nhiều bài phú có giá trị Ởnhững bài phú này dù tập trung phản ánh cuộc khởi nghĩa Lam Sơn như trong
bài Phú núi Chí Linh, phú khí đẹp Lam Sơn, phú cờ nghĩa của Nguyễn Mộng
Trang 36Tuân, Phú Xương giang của Lí Tử Tấn…hay ít nhiều đề cập đến cuộc khởi
nghĩa thông qua những liên tưởng như trong phú Phì thuỷ của Trần văn Huy,phú dự tiệc Hồng môn của Lương Như Hộc …của dân tộc thông qua những hìnhtượng kì vĩ và nhạc điệu hùng tráng mang màu sắc anh hùng ca
Trước đây, ở thế kỉ XIII, Trương Hán Siêu trong Bạch Đằng Giang
Phú đã đứng trên tư thế hiên ngang đường bệ của dân tộc vừa toàn thắng để
mỉa mai sự thất bại nhục nhã của quân xâm lược nhà Nguyên:
Đến nay nước sông tuy chảy hoài,
Mà nhục quân thù khôn rửa nổi
Đến thời Lê, sau chiến thắng giặc Minh, tư thế của dân tộc ta được tôncao thêm một bậc Đứng trên tư thế đó, các nhà thơ đã nhìn được toàn cụccuộc chiến, thấy được đầy đủ sức mạnh của dân tộc và thể hiện bằng nhữnglời văn sôi nổi, hào hùng và dạt dào khí thế:
Tro bay Tốt Động, Giặc Minh quăng gươm giáo khắp đồng.
Trúc chẻ Xương Giang,
Rợ Hồ đổ máu tuôn thành suối.
Nhờ ở oai thần trăm trận thắng, Quét tan hơi giặc tám phương trời.
(Phì Thuỷ phú)
Cũng nhờ đứng trên tư thế đó mà mặc dù đã có bài phú nổi tiếng củaTrương Hán Siêu, Nguyễn Mộng Tuân vẫn thêm được bài phú về sông BạchĐằng với một chủ đề mới, trong đó hào khí của cuộc kháng Minh đã thấm sâuvào lời văn, phản ánh sức mạnh của quân dân đời Trần:
Ngắm sông dài coi như hào trời Nhớ đến oai phong của Hưng đạo vương
Đó là sông Bạch đằng đã làm hùng trángmột rẻo hải đông…
…Khiến quân xâm lăng phía bắc phải kinh hồn bạt vía.
(Bài phú viết sau về sông Bạch đằng)
Trang 37Tuy không tránh khỏi một số hạn chế về nội dung và nghệ thuật, (như
có những bài phú lan man trong việc trình bày sự kiện trong lịch sử TrungQuốc, dùng những điển cố không phổ biến, có khi phải qua nhiều tầng suyluận mới hiểu được) nhiều bài phú thời Lê, nhất là những bài thời kì Lam Sơnkhởi nghĩa, xứng đáng là những tác phẩm tiêu biểu cho dòng phú chữ Hántrong suốt mấy trăm năm phát triển của thể tài này Ở những mức độ khácnhau, những bài phú đó đã để lại cho chúng ta nhiều bài học quý giá về kinhnghiệm phát huy sức mạnh và phẩm chất của dân tộc trong sự nghiệp dựngnước và giữ nước
2.2 Giá trị của phú Nguyễn Mộng Tuân
2.2.1 Một khối lượng tác phẩm lớn với nhiều nội dung, tư tưởng
mang tính thời đại sâu sắc
2.2.1.1 Ca ngợi sự nghiêp cứu nước của nhân dân - hiện thân sức
mạnh của dân tộc
Thông thường khi nói đến Nguyễn Trãi, chúng ta hay nhắc đến NguyễnMộng Tuân và Lí Tử Tấn, ba người bạn đồng niên, đồng khoa, đồng chí, đồngtriều…giống như Tùng, Trúc, Mai trong bức tranh Đông thiên tam hữu (Bangười bạn trời đông) đầy đủ đức tính kiên cường, liêm khiết, cống hiến cảcuộc đời mình cho sự nghiệp giữ nước và dựng nước Có thể nói, bên cạnhNguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân là một người có tài kiêm cả văn võ, nhưngvẫn nghiêng về văn hơn là võ Nhà thơ Cúc Pha còn để lại hàng trăm bài thơ
và 41 bài phú (hiện nay đa phần còn nguyên, chữ Hán), nhưng rất tiếc làkhông có bài thơ Quốc âm nào Riêng về phú, có nhiều bài xuất sắc, hoặc
mang đề tài ca ngợi về cuộc kháng Minh xâm lược như các bài: Chí linh sơn
phú, Lam sơn phú, Lam sơn giai khí phú, Nghĩa kì phú, Tẩy binh vũ phú; hoặc
mang đề tài cổ vũ việc xây dựng đất nước trong hoà bình như các bài: Xuân
đài phú (phú đài xuân), Kim giám lục phú (phú tên ghi gương sáng), Quân chu phú (Phú khuyên vua)…Cũng như Nguyễn Trãi, cuộc đời Nguyễn Mộng Tuân
Trang 38chan chứa lòng yêu nước, thương dân, chan chứa lòng nhân đạo, yêu hoà bình,ghét chiến tranh xâm lược, căm thù sâu sắc mưu đồ bành trướng nước lớn củabọn giặc Minh Các cụ phụ lão ở làng Viên Khê, quê hương của Nguyễn MộngTuân cho biết làng của ông ở ngày xưa bị giặc triệt phá và giờ đây đã thànhđồng ruộng Vì vậy cùng với mối thù chung thì mối thù riêng của ông, của giađình ông đối với giặc minh xâm lược là mối thù không đội trời chung Giốngnhư Nguyễn Trãi, con đường ông chọn là con đường đi theo cờ nghĩa do LêLợi phất cao từ đỉnh Lam sơn để trừ diệt kẻ thù của dân tộc:
Bóng quân Ngô đen ngòm khắp chốn, Mùi uế khí bay thấu tầng không.
Vĩ đại thay, vua ta chuộng nghĩa:
Dốc một lòng rửa nhục trừ hung!
(Nghĩa kì phú)
Qua các bài phú phản ánh cuộc kháng chiến thần kì chống Minh cứunước, Nguyễn Mộng Tuân cùng với nhân sĩ đương thời khai thác chủ đề địalinh (đất thiêng) và nhân kiệt (người hùng) để ca ngợi căn cứ địa kháng chiếnLam sơn, Chí linh sơn, ca ngợi lãnh tụ Lê Lợi, và qua đó, ca ngợi truyềnthống anh hùng, đấu tranh bất khuất của nhân dân ta trước nguy cơ đồng hoá,nguy cơ thôn tính của quân Minh đầy tham vọng bành trướng và xâm lược.Tác giả so sánh căn cứ Chí linh sơn như căn cứ Mang, Đãng, nơi Lưu Bang
đã dấy nghiệp, thắng được Hạng Vũ, lập nên nhà Tây Hán, hay căn cứ BạchThuỷ, đất Nam Dương, nơi cháu chín đời Lưu Bang là Lưu Tú (Hán QuangVũ), đã khôi phục được cơ nghiệp nhà Hán và sau cuộc nổi dậy của VươngMãng, để dựng lên nhà Đông Hán:
… Núi cao trời đặt,
Tự đất phật hoàng.
Tổ tiên phát tích, Điểm ứng đế vương.
Trang 39Đất trời phù hộ, Lửa vượng cháy lừng.
Ẩn bóng vùng Mang Đãng, Hán Cao xưa khởi lên từ Phong Bái; Giấu hình nơi Bạch Thuỷ, Quang Vũ nọ vùng dậy đất Nam Dương Ruổi trong trăm trận,
Nên nghiệp trung hưng…
Núi Mang, Đãng rợp bóng mây…
…So với Cối kê dấy quân Câu Tiễn, Mang, Đãng mở nghiệp Bái công.
Thì quả núi này:
Thành được cái chí vua ta giệt giặc, Đời dẫu khác, mà việc vãn đồng…
ca ngợi cảnh trí tốt đẹp và hiểm trở nơi đó, ca ngợi Lê Lợi, vị lãnh tụ của cuộckhởi nghĩa Lam Sơn, con người “thấm được đạo lớn”, “có tầm cao giữ thếnước, đứng trên Thái Sơn, Bàn Thạch” Nguyễn Mộng Tuân so sánh Lam Sơnvới Kỳ Sơn, nơi phát tích của nhà Chu, với tấm lòng mong ước cho nhà Lê trịnước được lâu dài Đó cũng là điều tâm niệm của tác giả và cũng là tâm niệm
Trang 40chung của mọi người Nhà vua, người đại diện quốc gia, làm thế nào để thoảmãn tâm niệm chính đáng đó của muôn dân? Nguyễn Mộng Tuân đã nói rõcái bí quyết để thực hiện sứ mệnh thiêng liêng đó như sau:
Có thấm được đạo lớn mới thu được người tài muôn nẻo,
Có nắm được lòng người mới thoả được đạo lớn trăm đường…
Nhà vua thấm nhuần đức lớn như vậy, mới thu phục được lòng dân cả
nước Cái đức lớn đó toát lên từ Khí đẹp núi Lam, cho nên dù:
Khí độc giặc Minh phun mù mịt, Khói lửa giặc Minh đốt bời bời.
nhưng khi:
Cờ nghĩa đã kéo, Lệnh đến mọi người.
thì:
Kẻ hào kiệt ùa theo như mây khói, Bạn đồng tâm ước hẹn tỏ niềm vui.
và:
Lòng người khấp khởi muôn nơi…
(Lam Sơn giai khí phú)
Cũng như Nguyễn Trãi, Nguyễn Mộng Tuân đã ví Lê Lợi như bậcThần vũ tức vị thần làm chủ việc vô bị, tuy có uy quyền, nắm vận mệnh sốngchết của mọi người nhưng: