1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đóng góp của nguyễn bính, thâm tâm và trần huyền trân đối với thơ mới ở thời kỳ cuối (1940 1945 )

76 779 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đóng góp của Nguyễn Bính, Thâm Tâm và Trần Huyền Trân đối với Thơ mới ở thời kỳ cuối (1940–1945)
Tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa
Người hướng dẫn TS - Đinh Trí Dũng
Trường học Trường đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2005
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 76
Dung lượng 217,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc chúng tôi đa ba nhà thơ Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Trần Huyền Trânvào nghiên cứu nh là một nhóm sẽ tạo ra lợi ích to lớn trong việc khảo sát mangtính tổng quát những đóng góp tích cực v

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh khoa ngữ văn

khoá Luận tốt nghiệp

Đề tài :

đối với Thơ mới thời kỳ cuối (1940 – 1945).

Trang 2

3 Giới hạn đề tài và đối tợng khảo sát 6

Chơng 1: Bức tranh chung của Thơ mới thời kỳ 1940 - 1945 8

1.1 Thơ mới đi dần vào bế tắc 8

1.2 Nguyên nhân đa Thơ mới đi dần vào bế tắc 17

Trang 3

Để hoàn thành khóa luận này ngoài sự cố gắng của bản thân, chúng tôi còn

đợc sự hớng dẫn nhiệt tình, chu đáo của thầy giáo Đinh Trí Dũng - cán bộ giảngdạy khoa Ngữ văn - Đại học Vinh, cùng với sự góp ý chân tình của các thầy côgiáo trong tổ Văn học Việt Nam hiện đại và sự động viên, giúp đỡ của bạn bè

Trang 4

phức tạp Cho đến nay, nó vẫn luôn là đề tài hấp dẫn để các nhà nghiên cứukhông ngừng tìm tòi, tranh luận Về việc phân loại Thơ mới, cũng có rất nhiều

quan điểm khác nhau Trong “Thi nhân Việt Nam", Hoài Thanh đã phân loại theo

từng dòng thơ Pháp, dòng thơ Đờng, dòng thơ Việt hoặc nhóm ngày nay, nhóm

Đông Dơng, nhóm Huế, nhóm Bình Định, nhóm Sông Thơng

ở trong Nam, Lý Danh Chơng lại chia Thơ mới thành hai khuynh hớng:

khuynh hớng “ớc lệ hoá” thi ca bao gồm Giọt sơng hoa của Phan Văn Hạnh và Xuân Thu nhã tập; khuynh hớng thứ hai là “hiện thực” nh Xuân Diệu, Vũ Hoàng

Chơng, Hàn Mặc Tử, Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Lu Trọng L, Vũ Đình Liên,

Đoàn Văn Cừ Trong đó lại phân chia thành những lớp nhỏ hơn Lối phân chia

nh vậy quả thực là rối rắm, mới nhìn qua có vẻ căn cứ vào nội dung nhng thựcchất cũng rơi vào hình thức chủ nghĩa Cũng có ngời muốn phân loại thơ mớitheo trờng phái Nhng trờng phái trong thơ mới ở nớc ta vốn là một cái gì hời hợt

và chuyển biến nhanh chóng Hơn một trăm năm của thơ Pháp với những trờngphái lãng mạn, Thi Sơn, tợng trng, siêu thực mà chỉ thu gọn vào có 13 năm củaphong trào Thơ mới Nh thế thì không thể sâu sắc đợc ? Vả lại trong những thời

kỳ bế tắc, khủng hoảng về tinh thần, ngời ta thờng thay đổi ý kiến một cách rấtmau chóng Nguyễn Xuân Sanh đang làm thơ lãng mạn bỗng chuyển nhanh sangtợng trng và làm những bài thơ kín mít Bích Khê thì ngợc lại, từ tợng trng (trong

Tinh huyết và Tinh hoa) chuyển về lãng mạn (Ngũ Hành Sơn).

Sự phân chia Thơ mới dựa vào nội dung, vào sự phát triển và phân hoá của

nó qua các thời kỳ tỏ ra hợp lý hơn cả Vì vậy, việc nghiên cứu Thơ mới theotừng thời kỳ có ý nghĩa khoa học rõ nét Điều đó giúp chúng ta hiểu đợc mộtcách cụ thể, chính xác và sâu sắc sự vận động, phát triển và cả sự bế tắc của Thơmới trải qua các quá trình thời gian

Thời kỳ thứ 3 (1940 – 1945) là thời kỳ bế tắc, suy thoái của Thơ mới.Hầu hết các nhà Thơ mới, thời kỳ này đều bộc lộ rõ sự khủng hoảng của cái tôicô đơn tiểu t sản Họ tìm mọi cách để trốn chạy khỏi cuộc đời trần thế Trong bầukhông khí chung ảm đạm và bế tắc của thơ mới vẫn có một số nhà thơ không savào sự bế tắc chung Tiếng thơ của họ cất lên trong sáng tác đầy tình yêu cuộcsống đồng thời thể hiện sự kín đáo tinh thần dân tộc Trong số các nhà thơ đó nổibật hơn cả là nhóm nhà thơ Nguyễn Bính, Thâm Tâm và Trần Huyền Trân Họ có

Trang 5

những đóng góp tích cực đói với Thơ mới, trong thời kỳ cuối không thể không đềcập đến ba nhà thơ trên.

1.2 Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân là những nhà Thơ mới nên họcũng mang những đặc điểm chung cuả phong trào Thơ mới Nguyễn Bính là mộtcây bút thiên tài viết về đề tài làng quê Việt Nam Thơ ông gần gũi với đời sốngvăn hoá và sinh hoạt truyền thống của ngời nông dân Khi đi sâu khảo sát,nghiên cứu thơ Nguyễn Bính, chúng ta lại có dịp liên hệ với một số nhà thơ mớikhác nh Bàng Bá Lân , Nguyễn Văn Cừ, Anh Thơ cũng là những nhà thơ sở tr-ờng về mảng đề tài quê hơng Từ đó càng hiểu rõ hơn về những nét riêng chunggiữa họ.Thâm Tâm, Trần Huyền Trân là những bài thơ có những nét đặc biệt Thơ

họ hay nói đến ra đi, nói đến chí lớn và quan tâm hơn cả là thực trạng đen tối củanhân dân ta trớc Cách mạng tháng Tám nhiều hơn là nói đến cái tôi cô đơn ích

kỷ, lạc loài nh ở một số nhà thơ khác Thêm vào đó qua một số bài Hành đặc sắc

nh “ Tống biệt hành”, "Độc hành ca" giúp chúng ta hiểu rõ hơn về những thành

công nghệ thuật của Thơ mới

Vì vậy việc đi sâu nghiên cứu đề tài này có ý nghĩa giúp chúng ta nắm bắt

đợc những vấn đề chung mang tính đặc trng của phong trào Thơ mới

1.3 Nh chúng ta đã biết, Thơ mới đợc chia thành ba thời kỳ 1932 – 1935,

1936 – 1939, 1940 – 1945 Thời kỳ thứ nhất và thứ hai, Thơ mới tràn đầy sinhlực Nó đạt đợc những thành tựu rực rỡ về nội dung và nghệ thuật Xuất hiệnnhiều tài năng lớn Cũng vì lí do đó, hầu hết các công trình nghiên cứu về Thơmới thờng tập trung vào hai thời kỳ ra đời và phát triển của nó Thơ mới ở thời kỳcuối trên thực tế cha đợc quan tâm đúng mức Các tác giả mới chỉ nhìn thấy mặt

bế tắc, tiêu cực của thời kỳ này mà cha nhận thấy những yếu tố có ý nghĩa tíchcực, tiến bộ Vì vậy, việc nghiên cứu vấn đề khoá luận đa ra sẽ mở ra một cáchnhìn mới, đầy đủ hơn, toàn diện hơn, thực trạng Thơ mới thời kỳ cuối

Bên cạnh đó, trong lịch sử nghiên cứu Thơ mới, Nguyễn Bính, Thâm Tâm,Trần Huyền Trân đợc biết đến với t cách là những cá nhân riêng lẻ Trong ba nhàthơ, Nguyễn Bính đợc đánh giá cao trên thi đàn Thơ mới Có rất nhiều công trình

nghiên cứu về ông Thâm Tâm chỉ đợc biết đến qua bài "Tống biệt hành", còn

Trần Huyền Trân hầu nh chúng ta chỉ bắt gặp trong một số bài viết lẻ tẻ Cha cómột công trình nghiên cứu nào đề cập đến họ với t cách là một nhóm nhà thơ

Trang 6

Việc chúng tôi đa ba nhà thơ Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Trần Huyền Trânvào nghiên cứu nh là một nhóm sẽ tạo ra lợi ích to lớn trong việc khảo sát mangtính tổng quát những đóng góp tích cực và sáng tạo của các nhà thơ đối với thời

kỳ cuối phong trào Thơ mới

1.4 Hiện nay, Nguyễn Bính, Thân Tâm là những nhà Thơ mới đợc đa vào giớithiệu và giảng dạy trong Nhà trờng phổ thông (lớp 11) Vì vậy việc nghiên cứu đềtài này mang ý nghĩa thiết thực hơn Điều đó cũng không nằm ngoài mục đíchphục vụ công việc dạy và học ngày càng tốt hơn

đặt ra của tiểu luận

Năm 1942, Hoài Thanh - Hoài Chân cho ra đời cuốn sách “ Thi nhân Việt

Nam” Cuốn sách đã góp phần tổng kết phong trào Thơ mới lãng mạn từ 1932

đến 1940, chọn lọc đợc những bài có giá trị, nêu lên những đóng góp về nghệthuật của Thơ mới, phát hiện một cách thực tế những nét phong cách độc đáo củamỗi thi sĩ Theo hai ông, Nguyễn Bính có đóng góp quan trọng Thơ ông đã kếthừa, phát huy nền thơ ca truyền thống hớng con ngời tìm về với cội nguồn dân

tộc Nét nổi bật trong thơ Nguyễn Bính là “ hồn xa đất nớc” và cái hay của thơ Nguyễn Bính là “ chân quê” là “ tính chất ca dao” Thâm Tâm cũng đợc các tác giả đánh giá cao về sáng tạo nghệ thuật độc đáo Trong “Thi nhân Việt Nam” Trần Huyền Trân là kẻ "suýt trễ tàu" nên cha giành đợc sự u tiên, u đãi Tuy

nhiên hai tác giả cũng nhận ra một nét riêng biệt trong thơ Trần Huyền Trân là sự

cố gắng tìm một con đờng riêng cho mình, khác với những con đờng đi vào ngõcụt của nhiều nhà Thơ mới khác

Nhìn chung, "Thi nhân Việt nam" vẫn cha có một cái nhìn toàn diện và sâu

sắc về đóng góp của nhóm nhà thơ này Đặc biệt trong phần giới thiệu về Thâm

Tâm chúng ta chỉ biết đến ông qua một bài thơ duy nhất “ Tống biệt hành” Nhà thơ Trần Huyền Trân xuất hiện trong "Thi Nhân Việt Nam" nh một “kẻ suýt trễ

tàu” nên hai ông không kịp nhìn đến bản sắc dân tộc của Trần Huyền Trân.

Trang 7

Trong tham luận "Tình yêu quê hơng đất nớc phong trào Thơ mới" tại Hội thảo Văn chơng Việt Nam giữa hai cuộc thế chiến tại Đại học Havard (Mỹ) tháng

6/1982 ( đã đăng trên tạp chí Khoa học xã hội số 9/1982 ) các tác giả cũng đã cócái nhìn mới mẻ và sâu sắc về Thâm Tâm, Trần Huyền Trân Họ cho rằng tìnhyêu quê hơng, đất nớc đến Thâm Tâm, Trần Huyền Trân đã không chỉ còn sự day

dứt, niềm mơ ớc, hy vọng trong lòng nữa mà là bằng hành động “ra đi” Đến đây thơ ca đã báo hiệu một thời kỳ hành động “tiếng thở dài não nuột phải nhờng chỗ

cho một lời hẹn ớc lên đờng".

Tác giả Nguyễn Tấn Long trong một bài viết của mình về Trần Huyền

Trân ở cuốn “Việt Nam thi nhân tiền chiến” ( NXB Sống mới) đã có những khám

phá rất mới mẻ về cuộc đời và nội dung t tởng thơ Trần Huyền Trân Cách nhìnnhận của tác giả về Trần Huyền Trân đã có những sắc thái khác biệt so với HoàiThanh – Hoài Chân trớc đây Thông qua bài viết này, Trần Huyền Trân đợc biết

đến một cách đầy đủ hơn Tác giả Nguyễn Tấn Long đã chỉ ra sự biến đổi trongquan điểm t tởng của nhà thơ theo hớng tích cực dần, ngày càng đi đến ánh sángCách mạng

Trong “Nhà văn hiện đại” và “Thơ một thời” của giáo s Hoàng Nh Mai

một lần nữa Trần Huyền Trân đợc giới nghiên cứu công nhận và khẳng định vềnhững đóng góp to lớn đối với thơ mới thời kỳ cuối Những bài thơ của Trần

Huyền Trân là “Tuyên ngôn của một thế hệ văn nghệ lãng mạn tuyên bố cáo

chung cho một thời kỳ sáng tác và mở ra một thời kỳ sáng tác Một thế hệ cây bút thức tỉnh quay lng lại với cái qúa khứ mơ mộng hão huyền âm u, lang thang không định hớng bên lề cuộc sống của đồng bào, của dân tộc và ngẩng đầu, tuy bớc chân còn run rẩy, hăng hái tiến lên về phía một phơng trời hứa hẹn nắng mới" ( G.S Hoàng Nh Mai).

Trong cuốn “Văn học lãng mạn Việt Nam (1930-1945), (xuất bản năm

1997) trong quá trình tổng kết về phong trào Thơ mới theo tiến trình phát triểncủa nó Giáo s Phan Cự Đệ cũng đã khẳng định Nguyễn Bính, Thâm Tâm, TrầnHuyền Trân là những nhà Thơ mới có một tiếng nói tích cực ở thời kỳ cuối Thơ

Nguyễn Bính thể hiện “ một lòng yêu cuộc sống”, một tâm hồn gần gũi với làng

quê Việt Nam truyền thống Giáo s Phan Cự Đệ đẫ nhìn nhận thơ Thâm Tâm,Trần Huyền Trân mang “một tâm sự yêu nớc, yêu dân tộc” Giáo s cũng khẳng

định về đóng góp của Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân về sáng tạo

Trang 8

nghệ thuật Đó là sự cách tân trên sự tiếp thu có lựa chọn cái hay, cái đẹp của cácthể thơ và hình ảnh thơ ca truyền thống.

Tạ Đức Hiền trong một bài viết về “Tống biệt hành” của Thâm Tâm đã

khẳng định thơ Thâm Tâm thể hiện kín đáo nỗi niềm của ngời cầm bút trong đêm

trớc Cách mạng Ông cũng cho rằng “Tống biệt hành” là một bài thơ hay của

phong trào Thơ mới Nghệ thuật sử dụng thanh điệu, hình ảnh thơ, ngôn từ thơ rất

“thần tình”, điêu luyện Thơ Thâm Tâm “ đặc biệt đã tạo nên một không khí

thiêng liêng, cổ kính, bi tráng để lại nhiều ám ảnh trong lòng ngời đọc"

Gần đây trong cuốn sáchThơ mới "Nguyễn Bính những lời bình" (Xuấtbản 1999) nhà biên soạn Vũ Thanh Việt đã tập hợp những bài nghiên cứu xuấtsắc của nhiều tác giả khác nhau Trong những bài viết này, các tác giả đã tìmhiểu khá tỉ mỉ và đầy đủ về những đóng góp của Nguyễn Bính trên thi đàn Thơmới Một số công trình nghiên cứu xuất sắc không thể không nhắc đến nh

“Nguyễn Bính Thi sĩ của đồng quê” của Hà Minh Đức, tác giả đã trình bàymột cách tỉ mỉ toàn diện về đóng góp của Nguyễn Bính tác giả khẳng định

Nguyễn Bính là thi sĩ của “hồn quê” “ cảnh quê” “tình quê” thơ Nguyễn Bính

đậm đà "chất dân gian” Hà Minh Đức nhận xét “Nguyễn Bính đã chọn đợc trong

thi pháp ca dao những đặc điểm, yếu tố thích hợp với thời hiện tại Đó là công việc có ý nghĩa cách tân, sáng tạo và hoàn toán không dễ dàng” Trong “Nguyễn Bính - Nhà thơ “ chân quê” Đoàn Thị Đặng Hơng tiếp tục khẳng định tài năng

sáng tác của Nguyễn Bính Tác giả viết “Thơ ông có một đời sống riêng, một vị

trí riêng trong một góc nhỏ sâu kín nhất của đời sống tâm linh ngời Việt Nam", “ Cái góc nhỏ mà chúa cũng không lấy đợc ấy - một cái góc nhỏ của hồn quê bình

dị thiết tha, sâu nặng ngọt ngào và cay đắng” Tác giả có những phát hiện quan

trọng trong thi pháp thơ Nguyễn Bính “Sáng tạo trong một cấu trúc có sẵn, một

mô hình truyền thống cố định là một điều khó khăn không kém sự sáng tạo ra những cấu trúc mới cho thơ”.

Trong bài viết “Thơ Nguyễn Bính và phong trào thơ mới” tác giả Đinh

Hùng dùng biện pháp so sánh đối chiếu và hệ thống để khẳng định vai trò vị trí

của Nguyễn Bính trên thi đàn thơ mới Tác giả nhận xét: “Trong bó hoa Thơ

mới , Nguyễn Bính là một bông hoa tiêu biểu, một tâm hồn thơ đậm đà màu sắc dân tộc, thơ ông xen lẫn giữa mạch thơ dân gian với thơ ca hiện đại” Đinh Hùng

Trang 9

đã tổng kết những đặc sắc của thơ Nguyễn Bính thể hiện qua đề tài, kết cấu, thểloại và ngôn ngữ.

Nh vậy, qua lịch sử nghiên cứu thơ Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Trần HuyềnTrân, chúng tôi thấy rằng ba nhà thơ đã đợc nhiều nhà nghiên cứu đào sâu khaithác cả về nội dung lẫn hình thức Song, trong phạm vi hiểu biết của mình và dựa

trên những công trình đã đợc công bố, chúng tôi thấy rằng vấn đề Đóng góp của

Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân đối với Thơ mới ở thời kỳ cuối (1940

- 1945)” mà khoá luận đề cập là một vấn đề cha đợc đi sâu nghiên cứu một cách

cụ thể và hệ thống Hầu nh cha có một công trình nào nghiên cứu ba nhà thơ trênvới t cách là một nhóm thơ có cùng chung tiếng nói và có những đóng góp chungtích cực đối với phong trào Thơ mới Các tác giả mới chỉ dừng lại ở việc khai thác

đặc điểm nội dung thơ ở từng nhà thơ riêng lẻ mà thôi

Bởi vậy với việc đa vào nghiên cứu đề tài đóng góp của nhóm nhà thơ trên đối vớithơ mới thời kỳ cuối, chúng tôi hy vọng mở ra một hớng khai thác mới, một ph-

ơng pháp nghiên cứu mang tính tổng hợp có khả năng to lớn trong việc đánh giá,tổng kết cả một thời kỳ lịch sử Thơ mới - đó là thời kỳ Thơ mới đi dần vào bế tắc

3 Giới hạn đề tài và đối tợng khảo sát.

Nh tên gọi đề tài đã xác định, phạm vi mà đề tài hớng tới là tìm hiểu vàchỉ ra những đóng góp của Nguyễn Bính, ThâmTâm, Trần Huyền Trân đối vớiThơ mới ở thời kỳ cuối (1940 – 1945) Đây là một đề tài mang tính chất kháiquát cao Nó không chỉ nghiên cứu một nhà thơ riêng lẻ mà đề cập đến nhómnhà thơ Vì vậy việc khảo sát đối tợng gặp rất nhiều khó khăn, đòi hỏi phải tìmhiểu một cách tỷ mỉ và phải có thời gian Do sự hạn chế về điều kiện thời gianhạn hẹp, về năng lực t duy cũng nh giới hạn tiểu luận, chúng tôi chỉ giới hạn tìmhiểu và nghiên cứu đóng góp của nhóm nhà thơ Nguyễn Bính, Thâm Tâm, TrầnHuyền Trân đối với thời kỳ cuối (1940 – 1945), dựa trên các tập thơ:

- Về Nguyễn Bình : Tâm hồn tôi (1940) Lỡ bớc sang ngang (1940), Hơng cố

nhân (1941); Mời hai bến nớc (1942), tập thơ Xuân tha hơng ( Sở VHTT Hà Nam Ninh, XN 1989)

Trang 10

4 Phơng pháp nghiên cứu

Với yêu cầu, nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi lựa chọn cho mình phơng phápnghiên cứu cơ bản là khảo sát, phân tích, tổng hợp trên nguyên tắc của phơngpháp phân tích tác giả và tác phẩm văn học

Bên cạnh đó, chúng tôi còn sử dụng phơng pháp hệ thống nhằm nghiêncứu Thơ mới trong sự vận động phát triển và trong một cái nhìn mang tính tổngthể

Ngoài ra, để giải quyết tốt mục đích yêu cầu của khoá luận, chúng tôi cũngvận dụng phơng pháp so sánh đối chiếu, đặc biệt là so sánh với một số nhà thơmới khác, so sánh với một số thể thơ truyền thống và thể cổ phong có nguồn gốcTrung Quốc trên cùng một đề tài để rút ra đóng góp tiêu biểu, mới mẻ về nộidung và nghệ thuật của nhóm nhà thơ Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Trần HuyềnTrân

phần nội dung

Chơng 1: bức tranh chung của thơ mới

thời kỳ 1940 - 1945 1.1 Thơ mới đi dần vào bế tắc:

Thơ mới ra đời vào năm 1932 và kết thúc vào năm 1945 Tuy lịch sử thơmới chỉ kéo dài không đến 15 năm, nhng trong vòng thời gian ấy, thơ mới đã đitrọn vẹn con đờng của mình Đấy là con đờng ra đời, phát triển, đi vào bế tắc của

Trang 11

cái tôi cá nhân tiểu t sản Có thể tạm thời chia thời gian tơng ứng với ba chặng ờng ấy là thời kỳ 1932 - 1935, thời kỳ 1936 - 1939 và thời kỳ 1940 - 1945.

đ-Trớc khi bớc chân vào khám phá thế giới Thơ mới ở thời kỳ khép lại "mộtthời đại trong thi ca" là công việc chính phải làm, chúng tôi thiết nghĩ bớc chânnày phải có điểm xuất phát từ những chặng đầu tiên của Thơ mới Có nh thếchúng ta mới nắm bắt đợc một cách tổng quát, toàn vẹn về Thơ mới , cũng nh sẽgiúp các bạn dễ dàng hơn trong việc tiếp cận với Thơ mới thời kỳ cuối, thời kỳThơ mới đi dần vào bế tắc

Thời kỳ 1932 - 1935, Thơ mới ra đời và nhanh chóng phát huy ảnh hởngcủa mình Dòng thơ ca công khai cùng với hệ t tởng phong kiến của nó gần nh đãmất hết sinh khí Nó không đủ sức để chống đỡ cơn gió Thơ mới ào ạt tràn đến.Trong thời kỳ đầu, Thơ mới còn bộc lộ nhiều yếu tố tiến bộ, tích cực nhất định.Chúng ta bắt gặp lòng yêu nớc, tinh thần dân tộc trong tiếng gầm gừ của con hổ ở

trong vờn bách thú (Nhớ rừng), hay văng vẳng đâu đây tiếng hát lên đờng của khách chinh phu (Tiếng gọi bên sông) Trong thơ Huy Thông còn vang lên tiếng

thét giận dữ, đau buồn của con voi già - hiện thân của ngời anh hùng dân tộcPhan Bội Châu Thiên nhiên ùa vào trong Thơ mới với vẻ đẹp thơ mộng, lãngmạn Tình yêu trong thơ Thế Lữ, Nguyễn Nhợc Pháp cũng thấm dần vẻ trongsáng, ý nhị Bên cạnh đó, thơ của Vũ Đình Liên, Thái Can là những biểu hiện

điển hình cho tinh thần nhân đạo sâu sắc

Bớc sang thời kỳ 1936 - 1939, Thơ mới phát triển đến đỉnh cao Cuộc tranhluận giữa Thơ mới và thơ cũ xem nh kết thúc Các nhà Thơ mới ra sức trau dồi vềnghệ thuật Thời kỳ này Thơ mới xuất hiện cả một lớp thi sĩ tài năng và đạt đến

độ chín nh Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Nguyễn Bính Thơmới ở chặng này phân hóa thành nhiều xu hớng khác nhau Đó là xu hớng đào

sâu vào cái tôi cá nhân mà tiêu biểu là nhà thơ Xuân Diệu với "Đây mùa thu tới",

"Nguyệt cầm", "Lời kỹ nữ" , xu hớng thứ hai là tìm về đồng quê, với cuộc sống

thôn dã Chúng ta không xa lạ gì với tên tuổi Nguyễn Bính, Anh Thơ, Bàng BáLân Họ đã đa vào thơ ca những giai điệu ngọt ngào, sâu lắng về vẻ đẹp mộcmạc, nhẹ nhàng và đợm buồn của thôn quê Bên cạnh đó, xu hớng trờng thơ điên,trờng thơ loạn cũng tràn ngập với một số nhà thơ tiêu biểu nh: Hàn Mặc Tử, ChếLan Viên, Bích Khê

Cái tôi Thơ mới ở chặng này không còn dè dặt nh trớc mà nó thẳng thắnphát biểu tất cả mọi khát vọng, dục vọng Nó không còn che dấu bằng cõi tiên,

Trang 12

cõi mộng Vì thế lòng yêu đời, ham sống đạt đến đỉnh điểm trong thơ Xuân Diệu.

Đồng thời, cũng vì đào sâu vào cái tôi cá nhân nên Thơ mới ở chặng này cũng đạt

đến đỉnh điểm của nỗi buồn và sự cô đơn Cuối thời kỳ thứ hai đã bắt đầu xuấthiện những dấu hiệu đi xuống của thời kỳ thứ ba Rõ nét nhất là trong tập thơ

"Đau thơng - 1937 - Hàn Mặc Tử", " Xác Thu - 1937 - Hoàng Hiệp", "Tinh Huyết - 1939 - Bích Khê", "Xuân Nh ý - 1939 - Hàn Mặc Tử".

Từ năm 1940 - 1945, Thơ mới nhìn chung rơi vào sự khủng hoảng, đi dầnvào bế tắc Các nhà thơ lớn nh Xuân Diệu, Huy Cận, Hàn Mặc Tử, Thế Lữ càng

ngày càng lún sâu vào những "tháp ngà nghệ thuật" Trong "Thi nhân Việt Nam",

Hoài Thanh đã nhận ra bản chất của cái tôi cá nhân tiểu t sản "mất bề rộng ta đitìm bề sâu, nhng càng đi sâu càng lạnh" Đúng vậy, nỗi cô đơn, sự tách biệtngày càng xa với cuộc đời đã tạo cho Thơ mới một không khí ảm đạm, lạnh lẽo

đến rợn ngời

Phong trào Thơ mới bắt đầu thời kỳ suy thoái của nó với tập " Thơ say

-1940" của Vũ Hoàng Chơng Tuy nhiên sự bế tắc xuất hiện với nhiều màu sắc

khác nhau Xu hớng đầu tiên là Thơ mới thời kỳ này mang màu sắc trụy lạc Đại

diện tiêu biểu của nó là nhà thơ Vũ Hoàng Chơng với tập "Thơ say - 1940", và tập thơ "Mây - 1943" đã đa vào thơ một giọng than yếu đuối, bạc nhợc, sớt mớt

bậc nhất trong Thơ mới Vũ Hoàng Chơng phủ nhận thực tại Ông tự cho mình là

kẻ đầu thai nhầm thế kỷ:

Lũ chúng ta lạc loài, dăm bảy đứa

Bị quê hơng ruồng bỏ, giống nòi khinh.

(Phơng xa )

Dờng nh cha thật sự thỏa mãn với những câu thơ trên, ở khổ thơ sau, ôngtiếp tục khẳng định lại với đời rằng:

Lũ chúng ta đầu thai nhầm thế kỷ Một đôi ngời u uất nỗi chơ vơ

Đời kiêu bạc không dung hồn giản dị Thuyền ơi thuyền! Xin ghé bến hoang sơ.

Với tâm trạng u uất, chán đời nh vậy, Vũ Hoàng Chơng đã sáng tác ranhững vần thơ ảo não, sớt mớt đến tê lòng:

Gió lùa căng gác xép

Đời tàn trong ngõ hẹp

Trang 13

Tình ta, ta tiếc, cuồng ta khóc

Tố của Hoàng, nay Tố của ai?

(Mời hai tháng sáu)

Tù hãm, bơ vơ, chốn trần thế này chẳng còn hứa hẹn một điều gì Phủ nhậnthực tai, Vũ Hoàng Chơng lại tìm về quá khứ - thời phong kiến suy tàn:

Võng anh đi trớc, võng nàng theo sau.

Nhng quá khứ ở đây lại là một thứ quá khứ lạc loài, không thể giúp nhà thơgiải thoát đợc thực tại Túng quẫn, điên loạn, ông lại quay trở lại, trốn chạy vàonhững thú vui trụy lạc Ông ngụp lặn, đắm chìm trong những cảm giác mê mancủa ngời say rợu, say thuốc phiện và cả say tình nữa Cái cảm giác say điêncuồng đó đã tạo ra những vần thơ chếnh choáng, lảo đảo và cả điên rồ nữa:

Say đi em! Say đi em!

Say cho lả lơi ánh đèn, Cho cung bậc ngả nghiêng, điên rồ xác thịt.

Rợu, rợu nữa và quên, quên hết!

Có nàng tiên má hồng nâu Giúp đôi cánh biếc nâng sầu lên khơi.

Có thể nói đến thời kỳ này, rợu, thuốc phiện, gái giang hồ đã trở thành một

đề tài của thi ca Xuân Diệu, Huy Cận đã gọi cái thời này là "một thời trơ trẽn"

Trang 14

trong văn chơng: "Cái ngọn đèn dầu lạc, cái móc, cái tiêm ngang nhiên nằmtrong thơ Nghệ sĩ lặn ngụp trong cái đê hèn, họ lại lõa lồ mà ca tụng nó, để

tạo cho bọn ngời khác cũng lây mà mất trong sạch Thì ra, nh lời Phật nói: "trên

cái bùn rác, ngời ta phủ gấm vóc lên trên Có thời nào trong văn học ta mà trơ trẽn, lõa lồ đến nh thế này hay không" (1)

Ngời ta đi vào trụy lạc để quên lãng một cách đầy tội lỗi, đồng thời cũng là

để tìm kiếm những cảm giác nồng cháy mới lạ Thúc Tề đã cho rằng nhờ "Phùdung nơng" mà cảm xúc đến ngoài cái vô tận của thời gian, ngoài cái vô biên của

không gian và ngoài cái vô cùng của tình ái "Ta khoái trá trong tê liệt của thể

phách và trong rung động của tâm linh, Ta bất giác nhìn vào chụp đèn nghêu ngao ngâm":

Đốt nữa đi em hỡi, đốt nữa đi!

Cho tim anh tan ra thành khói cả, Cho đêm nay suốt đời anh sa ngã, Gục bên đèn, chết lặng trong mê si!" (2)

Đơng thời bọn thực dân phong kiến cũng không mong gì ở thanh niênnhiều hơn thế lắm! Con đờng trụy lạc, con đờng tìm cảm giác nồng cháy, mới lạchính là con đờng tự hủy hoại, chết chóc Không phải ngẫu nhiên mà bài hát cuối

cùng của tập "Mây" lại là "bài hát cuồng":

Xác bỏ trống trơ hề, trí vào điên loạn, Say tới vô vi hề, ta đó ta ơi!

Từ con đờng ca ngợi trụy lạc, ca ngợi xác thịt của Vũ Hoàng Chơng đếncon đờng quay lng lại với cách mạng cũng không phải là xa lắm!

Phủ nhận thực tại, bế tắc trớc thời cuộc, một số nhà thơ có xu hớng muốnthoát ly, trốn chạy khỏi xã hội đơng thời Huy Cận, một nhà thơ của lòng

(1): Một thời trơ trẽn, báo Thanh Niên (Sài Gòn), số 19, ra ngày 08/01/1944

(2): "Phù Dung Nơng", báo Đông Dơng, số 20 - 10- 1938

yêu đời, ham sống mãnh liệt mà chúng ta bắt gặp trong tập thơ "Lửa thiêng" thì

đến thời kỳ này ông cũng bắt đầu bộc lộ sự bế tắc, khủng hoảng "Vũ trụ ca" và

"Kinh cầu tự" thể hiện sự nỗ lực của ông để tìm lối thoát cho thơ mình.

Tập văn xuôi triết lý "Kinh cầu tự" ghi lại nhiều ý nghĩ của Huy Cận về

cuộc đời và nghệ thuật Trong sự bối rối và bế tắc về nghệ thuật, Huy Cận tìm lốithoát vào vũ trụ, thiên nhiên, đa ra một triết lý cho niềm vui siêu thoát ấy Ông

kêu gọi hãy đến với tạo vật: "Có lẽ tạo vật đau thơng, đất trời vắng lạnh vì mỗi

lòng ta xa cách tạo vật đó thôi Ta hãy trở về, ta cùng nhập cuộc, có nhịp sống

Trang 15

đ-a nâng, có dòng đời xô đẩy, cái vui lớn, cái vui trọng đại dâng sóng tràn khắp cuộc đời".

Cái hớng thoát li vào thiên nhiên, vũ trụ đợc bộc lộ đầy đủ trong "Vũ trụ

ca", quả là con đờng tìm về hoà nhập vào thiên nhiên, vũ trụ tạo cho nhà thơ

những cảm xúc mới, khoáng đạt và mạnh mẽ hơn Say với thiên nhiên , cảm nhận

đợc vào cái rộng lớn vô hạn của đất trời, trăng sao, Huy Cận đã viết đợc những

câu thơ rực rỡ, có khi lộng lẫy, khoáng đạt (Lợng vui; Trời xanh sao lá biếc …).

Khi hoà đợc vào với cái trong sáng, non tơi của thiên nhiên mùa xuân, tâm hồnnhà thơ lấy lại đợc cái trong trẻo, hồ hởi:

Ta vận tấm xuân đi hớn hở Tâm t ngào ngạt hiến dâng đời Thân cùng hát lừng cao nhịp lửa Hoa thiên thu hẹn nở cùng môi

(áo xuân)

Nhng niềm vui của "Vũ trụ ca" vẫn có một vẻ đẹp chông chênh, lời thơ

nhiều khi rơi vào cờng điệu, cầu kỳ, hình ảnh đậm màu sắc tợng trng

Trớc kia, trong "Lửa thiêng", Huy Cận đau xót, quằn quại vì cuộc đời tù

hãm, Ông đã có lúc buông xuôi hai tay trớc Thợng đế:

Hỡi Thợng Đế! Tôi cúi đầu trả lại Linh hồn tôi là một kiếp đi hoang Sầu đã chín, xin ngời thôi hãy hái!

Nhận tôi đi dù địa ngục thiên đàng.

(Trình bày)

Nhng đến "Kinh cầu tự", "Vũ trụ ca" thì nhà thơ đã đi ra ngoài cuộc đời:

"ánh sáng! ánh sáng! ngơi dâng lên thôi, chở ta tột với, ta cởi hết da thịt, trút hết

vật chất, theo triều ngời lên!" (Kinh cầu tự).

Thi sĩ muốn "ngoảnh lng về thế sự", muốn "nguôi sầu nhân gian" để tìm

cái vui bình yên trong đạo, trong vũ trụ ("Xuân hành"; "Triều nhạc"; "Suối";

"Hát ngày"; "Hoa đăng") Thực ra, cái "vũ trụ" trìu tợng và siêu hình đó cũng chỉ

là một lối thoát vào thiên nhiên:

Ngồi xe Nhật Nguyệt cùng thiên nhiên, Làm bạn đi đờng về vô định…

Ta đi về đâu ta chẳng biết, Chỉ biết trời xanh là ta say.

(Xuân hành)

Trang 16

Trong tình hình xã hội đen tối và căng thẳng đơng thời, việc cố ý ngoảnh

l-ng lại với nhữl-ng vấn đề bức bách, nhức nhối của cuộc đời mà tìm đến nhữl-ngmiền xa xanh của vũ trụ, dẫu thế nào đi nữa cũng là một sự thoát li hiện thực,một sự tiêu dao, siêu thoát Bởi vậy, nhiều khi dù đã cố đắm mình vào thế giớitrăng sao, con ngời vẫn không thể quên hẳn những nỗi buồn đau của cuộc đời, lời

thơ lại trở về với cái mạch quen thuộc của "Lửa thiêng":

Hồn xa hỡi, ta từ trái đất Dây buồn thơng buộc uất tim đau

Đêm dài nhìn vội canh thâu Vui chung vũ trụ, nguôi sầu nhân gian

(Thánh Nữ Đồng Trinh Maria)

Còn Chế Lan Viên thì chắp tay cầu nguyện: "Thích Ca! Giê Su! Khổng

Khâu! Lão Tử! Tôi đều hành tâm cúi đầu trớc uy linh huyền diệu của các ngài"

(Vàng sao).

"Vàng sao" là tập bút ký triết học bằng văn xuôi của Chế Lan Viên T tởng của "Vàng sao" là một sự kế tiếp, phát huy t tởng của tập thơ "Điêu tàn" trớc đó.

Chúng nhất quán với nhau về quan điểm

Cũng nh nhiều nhà Thơ mới khác, "Điêu tàn" phủ định tuyệt đối hiện tại

Trang 17

Những u phiền đau khổ với buồn lo!

(Những sợi tơ lòng)

Vì thế, trong "Điêu tàn" dờng nh không có bóng dáng cuộc đời trần thế!

"Điêu tàn" hớng đến một thế giới của quá khứ, một thế giới của cõi âm Mợn bút

danh họ Chế, Chế Lan Viên đã dựng lên một thế giới Chiêm Thành với những bãitha ma, những ngọn tháp Chàm hoang tàn, bí mật, những nấm mồ hiện ra trongbóng đêm dày đặc hoặc ánh trăng lạnh lẽo Trên cái nền cảnh ấy hiện về những

hình ảnh dật dờ của những hồn ma "sờ soạng dắt nhau đi", của những con quỷ

hút những khúc xơng đẫm máu, và thấp thoáng bóng dáng h ảo của các Chiêmnữ

Rồi lấy ra một khớp xơng rợn trắng Hút bao dòng huyết đẫm khí tanh hôi Tìm những "miếng trần gian" trong tủy cạn, Rồi say sa vang cất tiếng reo cời.

Mặt khác, trí tởng tợng của nhà thơ cũng dựng lên những bức tranh rực rỡcủa nớc Chiêm Thành xa trong thời kỳ huy hoàng:

Đây điện các huy hoàng trong ánh nắng Những đền đài tuyệt mỹ dới trời xanh Những chiến thuyền nằm im trên sông lặng Bầy voi thiêng trầm mặc dạo bên thành.

(Trên đờng về)

Cảnh tợng rực rỡ của quá khứ càng làm nổi bật cảnh tàn tạ của hiện tại:

Đây những tháp gầy mòn vì mong đợi Những đền xa đổ nát dới thời gian, Những sông vắng lê mình trong bóng tối, Những tợng Chàm lở lói rỉ rên than.

(Trên đờng về)

Qua "Điêu tàn", Chế Lan Viên đã thể hiện thầm kín tấm lòng yêu đất nớc,

nhng nó còn mơ hồ, xa vời quá

"Điêu tàn" thể hiện t tởng phủ định lý trí, sự hoảng loạn của cái tôi trớc

cuộc đời Chế Lan Viên không khỏi tự đặt cho mình câu hỏi về chính bản thân,

về sự tồn tại và những liên hệ, từ ngọn nguồn tới cuộc sống mai sau Ông nhìn

Trang 18

thấy sự h vô trớc mắt Nhiều khi ông hốt hoảng vì nhận ra mình không còn làmình nữa:

- Hồn của ai trú ẩn ở đầu ta?

ý của ai trào lên trong đáy óc

Đến "Vàng sao", t tởng trong "Điêu tàn" lại càng cực đoan hơn nữa Nó

phủ định tuyệt đối thế giới trần gian, đòi hỏi nghệ thuật và ngời nghệ sĩ cắt đứtvới cuộc đời Nó xem ngời nghệ sĩ chỉ là kẻ diễn tả sự vô nghĩa của cái tôi và ở

đời, nếu có chân lý thì ngời nghệ sĩ chỉ có một chân lý duy nhất là chân lý của

"hạt lệ" Theo Chế Lan Viên, cái gốc của mọi trạng thái tinh thần chính là nỗi

đau trần thế, nỗi đau không tìm đợc sự giải thoát và không có tiếng kêu, nỗi đau

dẫn đến nghi ngờ, chán nản và h vô, "Phải chăng trong phút giây khốc liệt đó nh

hai nhánh của một dòng sông, hai dây của một cung đàn, đau nh phách với hồn, hai dòng lệ sẽ từ từ tuôn chảy" Chế Lan Viên suy nghĩ về hạt lệ, những giọt đau

tụ hội mọi niềm vui, nỗi khổ trong đời Lắm khi ông triết lý về giọt lệ:

" Hạt lệ! những cánh hoa cho vô tận hái

Hạt lệ! những ngọc trai mà bể tìm đau

Hạt lệ! những ngôi tinh lạc loài rơi từ một vòm trời hôm, khuya khoắt, là bầu mắt thẳm xuống trần gian mãi mãi gió sơng, là lòng đau bát ngát của con ngời.

Hạt lệ! đến từ sự sống nhng hớng về nẻo chết

Hạt lệ! rơi bằng xác thịt nhng khóc bởi linh hồn một con tim trong chớc hoá thân, đồ cống hiến để gieo hái giữa hai miền xa cách".

Nhiều khi Chế Lan Viên cố gắng đi tìm cho mình một niềm tin (Chiều tin

tởng) đối với cuộc đời nhng rồi giây phút ấy nhanh chóng qua đi và thay thế bằng

Trang 19

những suy nghĩ mệt nhọc trớc những hình ảnh của đời thực: "Tôi đã gặp những

trẻ thơ không còn gì là thơ trẻ, biết trớc cuộc đời mình rồi ngắn ngủi, chúng mang sẵn dấu vết của một chuỗi tháng năm cha sống Tôi đã gặp những ngời con gái, vừa xanh vừa ốm đen hình ma đến khủng khiếp cuộc đời…." Chế Lan Viên." Chế Lan Viên

đang đi về nẻo h vô và cuộc đời đang cố níu giữ lại Tác giả đang hình dung trongtâm linh những sức mạnh tinh thần quy tụ ở những đấng siêu nhiên: Phật Thích

ca, Chúa Jê - su; phải có trong lòng một đức tin để có thể sống giữa cõi trần thế

đầy gió bụi này Chế Lan Viên trong phần đầu của "Vàng Sao" đã thể hiện lòng

chân thành và tâm trạng đớn đau của một con ngời cầu khẩn lòng tin

"Thày ơi!

Cố tạo lấy lòng tin nh một ít ngọc vàng, chiều nay con sẽ đến chờ ơn trên trong bụi lớn Hãy thơng con, réo gọi lòng con dậy Nh cánh sao ở giữa rừng trời, tiếng nai ở trong quãng thẳm, giữa lòng cao xin cho thổn thức lòng con cho con nỗi khát của cành tre, nỗi đói của mình cây, cơn điên cuồng gió bụi".

Và tác giả nh đã sụp xuống trớc uy linh của những giá trị siêu nhân, huyềnbí:

"Thích ca, Jê - su, Khổng Khâu, Lão Tử tôi đều thành tâm cúi đầu trớc uy linh

huyền diệu của các ngài…." Chế Lan Viên." Tác giả rơi vào một trạng thái tinh thần nh hỗnloạn, không tự chủ động đợc, trông chờ ở bề cao, thất bại ở mặt bằng của trần thế

và thất vọng ở chốn thẳm sâu Dần dần, càng về sau, "Vàng sao" lại bộc rõ nét

trạng thái mất phơng hớng của tác giả Không tìm đợc phơng hớng, giữa đờng

dừng lại, Chế Lan Viên băn khoăn tự hỏi: "Bây giờ nên về đâu? Khi ấy một ngấn

điệu, một bóng cây cũng trở thành hớng dẫn Vu vơ ở trong thần bí, mờ mờ nhân

ảnh…" Đó là những suy nghĩ không có đích tới, không có điểm tựa của chân lý,

mơ hồ, lẫn lộn

Có thể nói Thơ mới thời kỳ cuối đã đi đến đỉnh điểm của sự bế tắc Cái tôicá nhân gần nh đã mất hết sinh khí Sự rạo rực, băn khoăn, yêu đời, ham sốngkhông còn nữa, mà thay vào đó, cái tôi ngày càng đào sâu vào bên trong, trở nênthần bí hoá, đến mức không thể nào hiểu nổi Đồng hành cùng với nó là sự xuấthiện của nhóm "Xuân Thu nhã tập" Họ chủ trơng sáng tạo một lối thơ hàm súc,tiềm thức đầy bí hiểm:

Trang 20

Quỳnh hoa chiều đọng nhạc trầm mi Hồn xanh ngát chở giấu xiêm y Rợu hát bầu vàng cung ớp hơng Ngón hờng say tóc nhạc trầm mi

(Buồn xa)

Họ cho rằng thơ chân chính phải gần với tôn giáo, phải thật khó hiểu, vàthi nhân là ngời diễn tả cái tôi âm u, huyền bí của mình

Lẵng xuân

Bờ giũ trái xuân xa

Đáy đĩa mùa đi nhịp hải hà Nhài đàn rót nguyệt vú đôi thơm

1.2 Nguyên nhân đa Thơ mới đi dần vào bế tắc.

Nh trên đã trình bày, Thơ mới thời kỳ 1940 - 1945 càng ngày càng tụt sâuxuống dốc Cái tôi cá nhân lúc này đã mất đi sự rạo rực, yêu đời ham sống mà rơivào chủ nghĩa cá nhân cực đoan Khoảng cách giữa thi sĩ và cuộc đời ngày càng

xa vời, không còn tìm thấy mối liên hệ Vậy, nguyên nhân nào dẫn đến tình trạngtrên?

Thơ mới xuất hiện vào khoảng những năm từ 1932 - 1945 Đây là thời kỳ

mà tình hình xã hội Việt Nam rối ren và đen tối nhất Đặc biệt là từ cuối năm

1939, chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, phát xít Nhật nhảy vào Đông Dơng.Nhật - Pháp câu kết với nhau cai trị đất nớc Nhân dân ta rên siết dới hai tầng ápbức, bóc lột Phong trào cách mạng bị đàn áp dữ dội, Đảng Cộng Sản Đông Dơngrút lui vào hoạt động bí mật Trong chiến tranh sinh hoạt lại rất đắt đỏ, đời sống

Trang 21

của tầng lớp tiểu t sản và trí thức thành thị sa vào cảnh khó khăn, túng quẫn Cónhững nhà thơ đã rơi vào cái cảnh nh: Tản Đà:

Có đàn con trẻ nheo nheo,

Đã có lần ốm không thuốc thang, Ngõ cùng đâu dễ gặp thầy lang.

Thân gầy, giấy rộng tay run bút,

Vợ quạt mong chồng chóng hết trang.

( Chợ Văn Chơng - Trần Huyền Trân).

Chính vì thế, tâm trạng chung của giai cấp t sản và tiểu t sản lúc này là nỗichán chờng, cô đơn nặng trĩu Họ nhìn cuộc đời với một gam màu xám Cuộc đờikhông còn gợi chút gì của sự tơi sáng, đẹp đẽ, niềm tin vào cuộc sống không còn,tơng lai thì mù mịt Chán nản, tù túng, bế tắc về lối thoát của cuộc đời, các nhàthơ mới ngày càng đi sâu vào bế tắc Không tìm thấy sự tự do ở hiện tại, họ đắm

chìm trong những "Tháp ngà nghệ thuật" để tìm tự do cho riêng mình Trong

"Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 - 1945)", giáo s Phan Cự Đệ đã viết: "Thơ

mới ngay từ lúc mới ra đời đã ngủ mê một giấc dài cho đến khi nghe tiếng sấm của Cách mạng mới bừng tỉnh dậy Những tiếng vang của phong trào mặt trận dân chủ và mặt trận Việt Minh vào "Thơ mới" rất yếu ớt Hoạ chăng những vang

động đó chỉ làm nó cựa mình nhè nhẹ rồi lại ngủ yên và càng về sáng giấc ngủ càng say hơn".

Ngay từ lúc mới ra đời, do những quan điểm nghệ thuật sai lầm, nên Thơ

mới đã lạc đờng và cứ thế, đến thời kỳ cuối nó càng "lạc sâu vào rừng rậm tối

nh bng" (Phan Cự Đệ) Vả lại, chính bản thân nó cũng không thấy đợc tất cả

những nguy hiểm của sự lạc đờng

Quan niệm chung của các nhà Thơ mới là quan điểm "nghệ thuật vị nghệ

thuật" Những nỗi đau khổ của quần chúng, những chuyện thất nghiệp đói cơm,

rách áo, những biến cố chính trị…." Chế Lan Viên nói chung không phải là đề tài thi ca của họ

Trang 22

Các nhà Thơ mới thờng tự chia mình ra làm hai: con ngời hành động và con ngờivăn chơng Con ngời hành động (nhà báo) có thể tham gia đấu tranh chính trị, cóthể bênh vực những ngời lao động nghèo khổ, chống áp bức, bóc lột Nhng conngời văn chơng (thi sĩ) thì vẫn cứ thu mình trong "tháp ngà ngệ thuật" mà chủ tr-

ơng rằng "ngoài cái nền văn chơng tranh đấu, văn chơng của một thời, còn có

một nền văn chơng đơng thời nó không có Đông không có Tây, và cũng không

có Kim, có Cổ" (Lu Trọng L, Tao đàn số 1/4/1939) Đến thời kỳ 1940 -1945,

quan điểm "nghệ thuật vị nghệ thuật" lại càng ngày càng trầm trọng hơn Trớckia, tuy Thế Lữ, Xuân Diệu chủ trơng "nghệ thuật vị nghệ thuật" nhng hai thi sĩ

đó còn có lúc chú ý tới những "cảnh cơ hàn nơi nớc đọng bùn lầy" hoặc những

"thân thể với môi tím, với nghèo vạc mặt " Càng về sau, các nhà Thơ mới càng

đa nghệ thuật đi xa cuộc sống hơn Chế Lan Viên cho rằng: "nếu vẫn cứ quốc

gia, đạo đức, xã hội luân thờng, bốn phần t nhân loại sẽ chết vì đau dạ dày, thế

kỷ XX cha xóa xong cánh cửa" (Vàng sao) Quan điểm của các nhà Thơ mới đến

Nguyễn Xuân Sanh, Phạm Văn Hạnh, Đoàn Phú Tứ thì càng ngày càng đi vàocon đờng bế tắc

Xuân Thu nhã tập đã gắn liền Thơ với Đạo, và cho "Đạo là một thức rung

động xa vời, vô t lợi, cảm thông với vô cùng, tuyệt đối" Hàn Mặc Tử thì chủ

tr-ơng ngời phê bình văn học "nên đặt lòng tự ái và đảng phái ra ngoài làm việc

là làm việc, văn chơng là văn chơng" Do quan điểm "Nghệ thuật vị nghệ thuật"

nên Hàn Mặc Tử đi đến kết luận rằng "những yếu tố của thơ ca chỉ là trăng, hoa,

nhạc, hơng" Xã hội và con ngời bị ông đẩy ra ngoài lĩnh vực của thi ca! Theo

ông, thi sĩ là ngời thoát ly cuộc sống hiện thực, luôn luôn mơ ớc vơn đến một cái

gì "trong sạch", "thanh tao", xa lạ với trần thế "Chị ơi! rồi ánh sáng đêm nay sẽ

tan đi, ta sẽ buồn thơng và nhớ tiếc Em muốn bay thẳng lên trời để tìm ánh sáng muôn màu thôi " (Chơi giữa mùa trăng).

Vũ Hoàng Chơng và một số nhà thơ trong "trờng thơ loạn" có xu hớng đitìm cái đẹp ở những bến bờ xa lạ của cảm giác, trên những khoái lạc bệnh tật ởnhững vùng đất cha đợc khám phá, hay tự tô vẽ, huyền hoặc, vùi quên trong menrợu, thuốc phiện và gái làng chơi Rõ ràng quan niệm "nghệ thuật vị nghệ thuật"của các nhà thơ mới ngày càng trở nên tiêu cực, vợt xa quan điểm của các nhàthơ lãng mạn ở họ xuất hiện những quan điểm thẩm mỹ suy đồi, bệnh tật:

Xin dốc hết nồng say cho đến cặn,

Trang 23

Uống cho mê và uống nữa cho điên.

Rồi dang tay theo chậm gót nàng men,

Về tắm ở suối Mơ, nguồn Tuyệt Đối.

(Lý tởng - Vũ Hoàng Chơng )

Chủ trơng nghệ thuật chỉ phản ánh thế giới chiêm bao và tiềm thức, HànMặc Tử, Chế Lan Viên, nhóm Xuân thu nhã tập đã đa thi ca vào lĩnh vực thần bí,

đi sâu vào con đờng phi luân lý, vào thế giới của sự điên cuồng, hỗn loạn

Chính quan điểm nghệ thuật sai lầm của các nhà Thơ mới đã khiến Thơmới ngày càng lạc xa vào ngõ cụt Đặc biệt, thời kỳ 1940 -1945, đất nớc đangquằn quại trong đau thơng, cuộc sống nhân dân cơ cực, tiếng sấm Cách mạng đãgầm vang, thì "nghệ thuật vị nghệ thuật" của các nhà Thơ mới đã trở nên lạclõng, không còn phù hợp với nguyện vọng của nhân dân Nó hoàn toàn xa lạ vớicuộc sống hiện tại Bên cạnh đó, phong trào thơ văn hiện thực phê phán cùng vớiquan điểm "nghệ thuật vị nhân sinh" đang có chiều hớng phát triển và chiếm uthế Khuynh hớng này là sự manh nha, là thời kỳ quá độ, thai nghén cho mộtkhuynh hớng văn học Cách mạng xã hội chủ nghĩa Vì lẽ đó, thời kỳ 1940 -1945,Thơ mới thật sự đi vào bế tắc, suy thoái cũng là một tất yếu xẩy ra khi sứ mệnh

đổi mới nội dung và nghệ thuật cho thơ ca của nó đã hết.

Thơ mới lãng mạn ra đời mang theo cái "Tôi" cá nhân "Ngày thứ nhất - ai

biết đích ngày nào - chữ tôi xuất hiện trên thi đàn Việt Nam, nó thực bỡ ngỡ Nó

nh lạc loài nơi đất khách Bởi nó mang theo một quan niệm cha từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân" (Hoài Thanh, Hoài Chân - Thi Nhân Việt Nam) Ngay

từ khi mới xuất hiện, cái tôi cá nhân đã mang những nét tiêu cực, buồn chán,thoát ly Tuy nhiên ở thời kỳ thứ nhất (1932 - 1935) và thời kỳ thứ hai (1935 -1939), Thơ mới vẫn có nhiều yếu tố tích cực, tiến bộ nhất định Đó là tiếng nói

thể hiện tinh thần dân tộc trong (Nhớ rừng - Thế Lữ), tinh thần nhân văn trong

(Ông đồ - Vũ Đình Liên), hay lòng yêu đời, ham sống, sự xúc động mãnh liệt

tr-ớc vẻ đẹp của thiên nhiên trong thơ Xuân Diệu, Huy Cận Btr-ớc sang giai đoạn

cuối, Thơ mới ngày càng đào sâu vào cái tôi cá nhân Hoài Thanh viết: "đời

chúng ta nằm trong vòng chữ "Tôi", mất bề rộng ta đi tìm bề sâu Nhng càng đi sâu càng thấy lạnh " (3). Từ việc đấu tranh cho quyền tự do của chủ thể sáng tạo,

Trang 24

cho quyền sống của cá nhân, cho cái tôi cá nhân tiểu t sản ngày càng đi sâu vào

cực đoan Nó cảm thấy cô đơn và cách biệt với đồng loại, "mỗi một ngời nh núi

đứng riêng tây" Mỗi cái "Tôi" tự tìm cho mình một lối thoát hòng chạy trốn khỏi

thực tại nó tìm về quá khứ, hoài vọng về tôn giáo, vùi sâu vào trụy lạc, thoát ly

vào thế giới siêu hình Thế Lữ với "Mấy vần thơ tập mới" đã sa vào khủng hoảng.

Xuân Diệu mê man trong tình yêu say đắm nhng rồi cũng rơi vào hoang mangtuyệt vọng Huy Cận tìm về thiên nhiên, vũ trụ nh một sự giải thoát và từ đó dấylên những tiếng thơ ảo não:

Không gian ơi! xin hẹp bớt mênh mông

ảo não quá trời một chiều tiễn biệt

Và ngời nữa, tiếng gió buồn thê thiết Xin lặng dùm cho nhẹ bớt cô đơn!

Cái tôi trong Thơ mới chạy trốn vào nhiều nẻo, thoát ly bằng nhiều con ờng, nhng ở cuối con đờng nào cũng là ngõ cụt tối om chạy trốn không nổi cácnhà thơ mới đâm ra hoảng loạn, bế tắc và Thơ mới cũng vì thế mà ngày càngxuống dốc nhanh chóng

đ-Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh Một vì sao trơ trọi cuối trời xa

Để nơi ấy tháng ngày tôi lẩn tránh Những u phiền đau khổ với buồn lo!

(Những sợi tơ lòng)

Vũ Hoàng Chơng trong tâm trạng hoảng loạn đã thốt lên những lời thơ yếu

đuối, bạc nhợc bậc nhất trong Thơ mới:

Nhổ neo rồi! Thuyền ơi xin mặc sóng, Xô về đông hay dạt tới phơng đoài

Xa mặt đất giữa vô cùng cao rộng, Lòng cô đơn cay đắng bạc dần vơi.

(Phơng xa)

(3): Hoài Thanh - Hoài Chân Thi Nhân Việt Nam, NXB Văn Học, 1998, tr46

Xuân Diệu có lúc ví cái tôi cô đơn nh ngọn Hy Mã Lạp Sơn đứng cao hơnhết thảy mọi ngời:

Trang 25

Ta là Một, là Riêng, là Thứ nhất, Không có chi bè bạn nổi cùng ta!

(Hy Mã Lạp Sơn)

Và cũng vì đứng cao quá nên xung quanh nó chỉ là những tuyết trăng lạnhlùng Nhng nó lại tự hào, kiêu hãnh vì nỗi cô đơn giá rét của mình:

Đời đã hết, chỉ riêng ta đứng mãi,

ở nơi đây không dấu vết loài ngời.

Mua sạch trong bằng nỗi rét ngàn đời, Làm kiêu hãnh giữa lặng im bất dịch.

"Thờng thờng những ngời cảm thấy cô đơn là những ngời đang còn ham

sống giữa cuộc đời Thi sĩ cảm thấy cô đơn lạnh lùng là vì còn tha thiết với cuộc

đời ấm cúng Cái nguy nhất là đến một lúc nào đó, nó cảm thấy dửng dng với hết thảy, cảm thấy không cần có một mối liên hệ nào giữa nó với cuộc đời Đó là lúc cái "Tôi" đã đi vào con đờng tự hủy diệt" (4) Năm 1944, chịu ảnh hởng của nhàtôn giáo ấn độ Khrisnamurti, cái "tôi" của Xuân Diệu đã đi vào con đờng đó: "Ta

đứng giữa cái "ta" nữa Ta nguyện thành một đợt sóng ở giữa Đại dơng, một hạtbụi trong bãi cát, một bánh xe khi trời chuyển pháp luân làm gì có cái "ta"! Đó

là ảo ảnh của tuổi trẻ, đó là nhầm lẫn của chúng sinh ham sống (Một đêm

họ hiện lên nh những vì sao lấp lánh, xua đi phần nào sự nặng nề, khủng hoảngcủa Thơ mới Tiếng nói của họ trong tình hình xã hội Việt Nam lúc bấy giờ đã cónhững đóng góp tích cực cả về nội dung lẫn nghệ thuật Trong số các nhà Thơmới đó, nhóm nhà thơ: Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân đã tỏ ra nổitrội và có sức sống hơn cả Họ không thoát lên tiên, không trốn vào Vũ trụ,không sa vào trụy lạc mà tìm về quá khứ, tìm về làng quê, về truyền thống dântộc nh một điểm dựa tinh thần để giải thoát nỗi cô đơn Thêm vào đó, thơ của họ

(4): Phan Cự Đệ Văn học lãng mạn Việt Nam, NXB Giáo dục, tr 110

phần nào phản ánh đợc nỗi niềm kín đáo của ngời cầm bút trong đêm trớc Cáchmạng

Trang 26

Sinh thời, Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân là những ngời bạnthâm giao Họ có rất nhiều điểm chung Cả ba nhà thơ đều có hoàn cảnh gia đìnhkhó khăn và gặp nhiều bất hạnh Nguyễn Bính từ khi cha đầy một tuổi đã mất

mẹ Cảnh gia đình đông anh em, túng thiếu triền miên Vì thế mới hơn mời tuổi,Nguyễn Bính đã phải rời nhà đi kiếm sống Trần Huyền Trân sinh ra trong mộtgia đình nghèo khổ và gia đình sống không có hạnh phúc Ngay từ nhỏ, ông đã bị

bỏ rơi:

Tôi từ khi chửa biết gì, Thân đi lu lạc, mẹ đi lấy chồng.

" Xã hội loài ngời đã vứt ra giữa dòng đời một đứa trẻ lạc loài từ tấm bé,

đã rứt bỏ một hòn máu để đi tìm sinh thú của bản thân" (Nguyễn Tấn Long).

Thằng bé cứ lớn dần lên nh cây cỏ và tự mình bơn chải với cuộc đời Thâm Tâmsinh ra trong một gia đình nhà nho nghèo, hết bậc tiểu học ông cũng bỏ học đilàm kiếm sống

Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân đều có dòng máu nghệ sĩgiang hồ Có dịp gặp nhau sau những ngày xa cách , họ thờng tụ họp tại nhà củaTrần Huyền Trân để trò chuyện và đàm đạo về thơ ca Dấu ấn của những ngày l ulạc giang hồ đã đợc lu lại rất rõ nét trong mảng thơ "tha hơng " của Nguyễn Bính

và trong một số bài thơ của Thâm Tâm, Trần Huyền Trân

Trong phong trào Thơ mới, nhóm nhà thơ Nguyễn Bính, Thâm Tâm, TrầnHuyền Trân, là những cái tôi cô đơn nhng không bế tắc Ngay từ năm 1943,Thâm Tâm và Trần Huyền Trân đã tiếp xúc với ánh sáng của Văn hóa cứu quốc

bí mật nên họ đã sớm giác ngộ chính trị Sau khi Cách mạng tháng Tám thànhcông, cả Thâm Tâm và Trần Huyền Trân đã tham gia phong trào văn nghệ mới,công tác ở Hội văn hóa cứu quốc Nguyễn Bính tham gia Cách mạng có muộnhơn, năm 1943, ông vào Sài Gòn, đến năm 1945, Cách mạng tháng Tám nổ ra,

ông tham gia kháng chiến (1946 - 1954) ở Nam bộ rồi tập kết ra Bắc

Nh vậy, nhóm nhà thơ Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân lànhững bông hoa đẹp trong vờn hoa Thơ mới Điều đáng trân trọng ở họ là đại bộphận nhà thơ, trong đó có một số ngời đợc đánh giá cao trong các thời kỳ trớc,

đến thời kỳ cuối đều rơi vào bế tắc, đi vào ngõ cụt thì nhóm nhà thơ này vẫn pháthuy đợc những mặt tích cực của Thơ mới Họ đã phần nào xua đi sự ảm đạm, yếu

đuối của Thơ mới Nhóm nhà thơ Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Trần Huyền Trânthực sự đã đóng góp cho thơ mới những giá trị tích cực nhất định

Trang 27

Ch ơng 2:

Đóng góp của Nguyễn Bính, Thâm Tâm, Trần Huyền Trân

đối với Thơ mới ở thời kỳ cuối nhìn trên

góc độ nội dung

2.1 Tìm về truyền thống dân tộc

Trong các nền văn học trên thế giới dù của đất nớc nào, dân tộc nào cũng

có những nhà thơ riêng trong đời sống tâm linh của đất nớc, dân tộc ấy, Nguyễn

Bính là một trong số đó Giữa một thời đại mà "sự đụng chạm phơng Tây đã làm

tan rã bao nhiêu bức tờng thành kiên cố", đại bộ phận các nhà Thơ mới tìm tòi,

khai thác cái hồn, cái dáng tân kỳ của thơ hiện đại Pháp, thì Nguyễn Bính - một

chàng thi sĩ "nhà quê" (chữ của Hoài Thanh) đã viết những câu thơ:

Hoa chanh nở giữa vờn chanh Thầy u mình với chúng mình chân quê

(Chân quê)

Những câu thơ ấy phải chăng cũng nên coi là một cách nghĩ, cách lựa chọnmột con đờng thơ Con đờng thơ ấy tất là nhọc nhằn, vất vả, cay đắng lắm Nhngcũng vì nét riêng biệt ấy của thơ ông mà Nguyễn Bính đã có một vị trí đặc biệttrên thi đàn Việt Nam Thơ ông có một đời sống riêng, một vị trí riêng trong mộtgóc nhỏ sâu lắng nhất của đời sống tâm linh ngời Việt - một cái góc nhỏ củacảnh quê, hồn quê bình dị, thiết tha, sâu nặng Đó cũng là đóng góp độc đáo củaNguyễn Bính trong phong trào Thơ mới

Quê hơng đã in đậm nét trong văn chơng suốt nhiều thế kỷ Nhiều nhà thơlớn nh Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hơng, Nguyễn Khuyến…." Chế Lan Viên đều

có thơ hay viết về làng quê Phong trào Thơ mới cũng không đi ra ngoài quy luật

ấy "Tràng Giang" của Huy Cận, "Đây Thôn Vĩ Dạ" và "Lời quê" của Hàn Mặc

Tử , "Quê hơng" của Tế Hanh, và nhiều bài thơ của Bàng Bá Lân, Anh Thơ, Đoàn

Văn Cừ, những tác giả chuyên chú về đề tài làng quê đã tạo nên một mảng thơquê hơng đậm đà bản sắc dân tộc Tuy nhiên, đó vẫn chỉ là vẻ bề ngoài của bứctranh quê, cha phải là cái nhìn và cách nghĩ của ngời nông dân chân lấm tay bùnthời đó Những bài thơ, những câu thơ thật đẹp nhng cũng vẫn là tiếng thơ củanhững tâm hồn ngoài đồng ruộng:

- Cổng làng rộng mở, ồn ào.

Trang 28

Nông dân lững thững đi vào nắng mai

(Hàn Mặc Tử)

Đó chẳng phải là lỗi của riêng một thi sĩ nào, đó là cái nhìn của một thờitrong văn chơng về nông thôn Việt Nam Nguyễn Bính thì khác hẳn, ông là thi sĩ

của đồng quê Trong "Thi Nhân Việt Nam", Hoài Thanh viết: "Thơ Nguyễn Bính

đã đánh thức ngời nhà quê vẫn ẩn náu trong lòng ta Ta bỗng thấy buồng cau, bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta, và những tính tình đơn giản của dân quê

là những tính tình căn bản của ta".

Cảnh sắc quê hơng Việt Nam trong thơ Nguyễn Bính hiện lên với một vẻ

đẹp dung dị, mộc mạc, đậm đà mùi vị làng quê truyền thống Cảnh quê mà trong

thơ, Nguyễn Bính thờng gọi một cách trìu mến là "quê mình", "xứ mình" rất gần

với cảnh sắc làng quê trong ca dao Đó là những hình ảnh con đò, bến nớc, con

đê, buồng cau, hay hoa chanh, hoa xoan, hoa bởi, giậu mùng tơi…." Chế Lan Viên

-Bữa ấy ma xuân phơi phới bay Hoa xoan lớp lớp rụng vơi đầy

(Ma Xuân)

- Nhà nàng ở cạnh nhà tôi Cách nhau cái dậu mồng tơi xanh rờn

(Ngời hàng xóm)

Những hình ảnh về cảnh quê, thôn quê bớc vào thơ Nguyễn Bính một cách

tự nhiên, sinh động nh chính ngoài đời vậy Đọc thơ ông, con ngời ta có cảm giácgần gũi, thân thuộc, gắn bó nh đang ở trong lòng quê vậy Chính điều này đã tạonên sức sống bền lâu và mãnh liệt cho thơ ông Đặc biệt, Nguyễn Bính còn kéocon ngời đến với lễ hội dân gian nh lễ chùa, hội chèo, hội làng, giới thiệu về vănhoá trang phục cũng nh văn hoá ứng xử của ngời nhà quê, thôn quê Trong bài

Trang 29

"Ma xuân", mùa xuân đến với "lớp lớp hoa xoan rụng vơi đầy" cũng là mùa của

lễ hội:

Hội chèo làng Đặng đi qua ngõ

Mẹ bảo thôn Đoài hát tối nay.

Ngời thôn quê thờng có tục lệ đi lễ chùa đầu năm vào dịp xuân về:

Trên đờng cát mịn một đôi cô

Yếm đỏ khăn thâm trẩy hội chùa, Gậy trúc dắt bà già tóc bạc Tay lần tràng hạt, miệng Nam mô

Cái khăn mỏ quạ, cái quần nái đen

(Chân quê)

Vào thời kỳ đó, khi những thiếu nữ thị thành chạy theo thời trang "model"Pháp với áo chẽn, quần tây, ô đen, giày cao gót, với son phấn lòe loẹt, thì hình

ảnh ngời thiếu nữ quê với trang phục truyền thống lại nh là một tiếng chuông báo

động trớc nguy cơ bị phá vỡ của văn hóa truyền thống Nó phần nào đã làm xaoxuyến lòng ngời, giúp con ngời giật mình nhận ra sự thay đổi và kéo họ về với

cội nguồn dân tộc Bài thơ "Chân quê" đợc xem là tuyên ngôn nghệ thuật thơ

Nguyễn Bính:

Van em, em hãy giữ nguyên quê mùa.

Trang 30

Lời thơ là tiếng nói khẩn thiết, gấp rút của Nguyễn Bính về sự giữ gìn, bảo

vệ văn hóa thôn dã Hoài Thanh rất đề cao t tởng này của Nguyễn Bính: "ở mỗi

chúng ta đều có một ngời nhà quê Nhng khôn hay dại - chúng ta ngày một lìa

xa nề nếp cũ để hòng đi tới chỗ mà ta gọi là văn minh Dầu sao, những tính tình

t tởng ta hấp thụ đợc ở học đờng cám dỗ ta, những cái phiền phức của cuộc đời mới lôi cuốn ta, nên ở mỗi chúng ta, ngời nhà quê kia vốn khiêm tốn và hiền lành

ít có dịp xuất đầu lộ diện Đến nỗi có lúc ta tởng chúng đã chết rồi Và nhà thơ Nguyễn Bính đã đánh thức ngời nhà quê ẩn náu trong lòng ta" (5)

Làng quê trong thơ Nguyễn Bính là làng quê của tình ngời, tình nghĩa vàcủa tình yêu lứa đôi Nguyễn Bính giỏi mô tả cảnh vật nhng ông không sa vào chitiết mà chỉ dựng cảnh, tạo không khí để tạo tình cảm:

Đèo cao cho suối ngập ngừng Nắng thoai thoải nắng, chiều lng lửng chiều

(Đờng rừng chiều)

Tình yêu đôi lứa ở làng quê chân thành, tha thiết nhng cũng dè dặt, ngạingùng Nguyễn Bính đã mợn khung cảnh thiên nhiên của làng quê để cho trai gáibày tỏ nỗi lòng Giậu mồng tơi ngăn cách nhng đã có cánh bớm trắng đi về làmdịu nỗi cô đơn Nguyễn Bính là ngời miêu tả cánh bớm đẹp nhất và cũng gợi cảmnhất trong Thơ mới:

Qua giậu tầm xuân thấy bớm nhiều Bớm vàng, vàng quá bớm yêu yêu

Em sang bắt bớm vờn anh mãi Quên cả làng Ngang động trống chèo.

(Hết bớm vàng)

Hơn thế nữa, những cánh bớm cũng biết chia sẻ và díu dan với chuyện tìnhduyên lứa đôi:

Tầm tầm trời cứ đổ ma, Hết hôm nay nữa là vừa bốn hôm!

Cô đơn buồn lại thêm buồn Tạnh ma bơm bớm biết còn sang chơi!?

(Ngời hàng xóm)

Thơ Nguyễn Bính không có nhiều những bức tranh quê cụ thể nh Anh Thơ,hoặc tỉ mỉ với cảnh, với ngời nh Đoàn Văn Cừ, nhng lại khơi gợi nhiều ở

Trang 31

(5):Hoài Thanh - Hoài Chân Thi Nhân Việt Nam (NXB Văn Học, 1988, tr 34).

thế giới nội tâm, ở tình đời, tình ngời: "Nguyễn Bính là ngời nhà quê hơn cả nên

chỉ a sống trong tình quê mà ít để ý đến cảnh quê" (6)

Nguyễn Bính đã miêu tả xúc động và chân tình những mối tình quê Hình

ảnh những cô gái quê trong thơ Nguyễn Bính gây nhiều ấn tợng đẹp với ngời đọc.Ngời con gái dệt cửi, cô lái đò, cô hái mơ…." Chế Lan Viên là những ngời lao động cần mẫn, có

cuộc sống giản dị, kín đáo và tế nhị trong đời sống tình cảm "Tình yêu nh một

sức mạnh thầm kín luôn đẩy nhân vật vào trạng thái yêu thơng xao xuyến, theo

đuổi những cuộc tình duyên nồng cháy cũng nhiều khi dang dở, đắng cay"

(7) Nguyễn Bính tỏ ra rất có biệt tài phát hiện những vận động cảm xúc tâm hồn

và những khao khát yêu thơng của ngời con gái cho dù suốt năm tháng họ chỉquanh quẩn với gia đình và công việc đồng áng Ngời con gái trong khung cửi ,với mẹ già sống trong khuôn khổ, nền nếp của gia đình và dờng nh còn xa lạ vớicuộc sống bên ngoài

Lòng trẻ còn nh cây lụa trắng

Mẹ già cha bán chợ làng xa

Nhng rồi tình yêu khi đã đợc nhen nhóm và thức dậy trong lòng thì cô gái

sẽ có một con đờng riêng, một cách riêng để đi đến với tình yêu:

là "hình nh", "có lẽ" Từ tâm trạng dẫn tới hành động, cô gái vợt lên tất cả, đờng

xa, gió lạnh, cơn ma bụi và cả sự rụt rè nữa để đi đến tình yêu Nguyễn Bính đãnhận ra nét chủ động trong suy nghĩ cũng nh trong hành động của họ, sẵn sàngvợt qua mọi thử thách để đến với nhau

Tình yêu đôi lứa trong thơ Nguyễn Bính đậm chất quê mùa nên nó mang ý

vị mộc mạc, hồn nhiên và tế nhị, kín đáo Nó cha nhiễm thứ tình cảm mang tínhnhục thể chốn thành thị Trong lời đối thoại giữa cô gái với ngời yêu, chúng tanhận ra sự e thẹn ngợng ngùng của cô gái khi nhắc đến chuyện tình cảm của họ:

(6) Hoài Thanh - Hoài Chân- Thi Nhân Việt Nam (NXB Văn Học, 1988, tr 173).

Trang 32

(7): Hà Minh Đức, Một thời đại trong thi ca, về phong trào Thơ mới 1932 - 1935 (NXB KHXH, HN, 1997, tr 190).

Em nghe họ nói mong manh Hình nh họ biết chúng mình với nhau!

(Chờ nhau)

Chàng trai quê phải nhờ đến cây đàn đứt dây để xa xôi bày tỏ tấm chântình của mình và ớm lời dò hỏi:

Đàn tôi đứt hết dây rồi!

Không ngời nối hộ, không ngời thay cho Rì rào những buổi gieo ma

Lòng đơn ngỡ tiếng quay tơ đằm đằm

Có cô lối xóm hàng năm Giồng dâu tốt lá, chăm tằm ơm tơ

Năm nay đợi đến bao giờ Dâu cô tới lứa, tằm cô chín vàng Tơ cô óng chuốt mịn màng

Sang xin mộ ít cho đàn có dây

(Đàn tôi)

Nguyễn Bính đã diễn tả trạng thái tơng t của trai gái quê rất chân thực,

"chân quê":

Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông Một ngời chín nhớ mời mong một ngời Gió ma là bệnh của giời

Tơng t là bệnh của tôi yêu nàng

(Tơng t)

Trong thơ Nguyễn Bính ít có các cuộc gặp gỡ của trai gái trong hạnh phúc

lứa đôi Đó thờng là những giấc mơ, trạng thái mong nhớ, tơng t, là "ớc gì", "giá

chừng", "mong sao"…." Chế Lan Viên Thơ Nguyễn Bính chất chứa một không gian đầy mong ớc

và thời gian của sự chờ đợi, và cuối cùng, nhiều khi là thời gian vô vọng

Những giây phút hạnh phúc của cô gái quê không nhiều Họ thờng bị phụtình sau những lời hò hẹn Cô gái bên khung cửi đã không quản ngại đờng xa, malạnh để đến với đêm hội chèo, với lời hò hẹn nhng chàng trai đã phụ tình:

Năm tao bảy tuyết anh hò hẹn

Trang 33

Để cả mùa xuân cũng ngỡ ngàng

(Ma xuân)

Tình yêu của những cô gái quê sau luỹ tre làng cũng mong manh nh thân

phận của họ vậy Xót xa hơn cả là tình cảnh "Lỡ bớc sang ngang" Hôn nhân

trong xã hội cũ chịu nhiều sự ràng buộc của địa vị xã hội, thành kiến và tập tục

cũ Bài thơ "Lỡ bớc sang ngang" là một lời dặn dò của ngời chị phải ra đi lấy

chồng với ngời em ở lại chăm sóc mẹ già:

Mẹ già một nắng hai sơng Chị đi một bớc trăm đờng xót xa Cậy em, em ở lại nhà

Vờn dâu em đốn, mẹ già em thơng

Hồn thơ Nguyễn Bính thờng hớng tới những cảnh ngộ éo le trong duyên

số Viết về tình yêu, ông hay viết về những tan vỡ Ngời con gái bớc chân đi lấychồng mà đầy từ biệt chia ly Tơng lai cuộc sống mới đầy đe doạ Câu kết của bàithơ đã thành một tiếng nấc tuyệt vọng:

Chị giờ sống cũng bằng không Coi nh chị đã sang sông đắm đò

(Lỡ bớc sang ngang)

Làng quê trong thơ Nguyễn Bính có cảnh đẹp, ngời dân quê chân chất, lạcquan nhng lại phải chịu đựng nhiều cảnh đời bi kịch, nhất là những cô gái quê.Hình ảnh làng quê đó đã tạo ra hai trạng thái tình cảm đẹp: Sự mến yêu tha thiếtcuộc sống thanh bình, trong trẻo ở làng quê và sự cảm thơng những cảnh đời bikịch

Nhà thơ Nguyễn Bính theo tiếng gọi của cuộc đời mà ra đi đến chốn kinh

kỳ xa lạ Khác với thói lãng quên thông thờng, chỉ ở hoàn cảnh nào, dù phiêu bạt

đến đâu nơi đất khách quê ngời, ông cũng vẫn mang theo hình ảnh của quê hơng.Làng quê, ngời thôn quê, tình quê nh đã trở thành một phần máu thịt của NguyễnBính không thể tách rời Không gian xa cách đã góp phần tạo nên một điểm nhìnnghệ thuật để Nguyễn Bính chiêm nghiệm về quê hơng Quê hơng ở chốn xa xôi

và cũng đang ở trong lòng ngời xa quê Quê hơng là áng mây trắng lãng đãngcuối trời xa:

Quê nhà xa lắc xa lơ đó Ngoảnh lại tha hồ mây trắng bay.

(Bài hành phơng nam)

Quê hơng là hình ảnh cha mẹ già, của vờn chè, cây lê đã in sâu vào lòng

đứa con đi xa:

Trang 34

Thầy ơi đừng bán vờn chè

Mẹ ơi đừng bán cây lê con trồng Nhớ thơng thầy mẹ khôn cùng Lạy thầy lạy mẹ thấu lòng cho con

(Th gửi thầy, mẹ)

Hình ảnh quê hơng trong xa cách đợc Nguyễn Bính kết lại bằng những kỷniệm của tuổi trẻ và nỗi nhớ quê Đó là tình cảm trội lên trong những năm "gianghồ" của tác giả Chính hình ảnh quê hơng đã góp phần giữ lại trong con ngời thi

sĩ nhiều phẩm chất tốt đẹp, bất chấp sự cuốn hút, huỷ hoại của môi trờng xã hội.Trong thời kỳ này thơ ca đề cập nhiều đến nỗi nhớ, nhng chủ yếu là nỗi nhớ trongtình yêu nh trong thơ Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử Nỗi nhớ quê là tình cảm lành

mạnh Hình ảnh làng quê, thầy mẹ vẫn nh "một điểm sáng trong tâm thức của

ng-ời con xa quê hơng" (8) :

Một chút công danh rất hão huyền

Và dang dở nửa cuộc tình duyên Thu sang, quán lẻ còn đăm đắm Rõi bóng quê nhà mắt lệ hoen.

(Bắt gặp mùa thu)

Không những ở Nguyễn Bính mà ta còn bắt gặp các nhà thơ cổ điển vìhoàn cảnh lu lạc cũng tìm đến quê hơng gửi gắm nỗi nhớ hay tâm sự tha hơng

nh Lý Bạch với "Tĩnh dạ t" , Thôi Hiệu với "Hoàng Hạc Lâu", ức Trai trong

"Côn sơn chu trung tác" Khác với thơ cổ, nỗi nhớ quê hơng của Nguyễn Bính

d-ờng nh còn là sự phản ứng chạy trốn thực tại để về với những gì thân thuộc nhất.Quê hơng là nơi trú ngụ an toàn nhất, không gì có thể xâm phạm đợc:

Sang năm tôi phải về nhà

Trang 35

Bính gọi tết thành thị là "tết ngời ta", bởi vậy mà mặc dù "Đêm ba mơi tết quê

ngời cũng - Tiếng pháo giao thừa dậy tứ phơng", nhng tâm hồn nhà thơ vẫn

(8): Hà Minh Đức - Nguyễn Bính, thi sĩ của đồng quê NXB Giáo dục, tr 141

"rộn tang thơng", "sầu phong tỏa", "buồn cô liêu" Từ trong sâu thẳm, ông vẫn

mơ đợc trở về với mùa xuân thôn dã Cái "nợ giang hồ" bắt ông phải lìa xa cha

mẹ, ngời thân và cả những ngời bạn chí cốt Những dòng tâm sự đầy ắp kỷ niệmdềnh lên một nỗi nhớ da diết, cho nên trở về quê hơng không còn là ớc mong màcòn là sự trải nghiệm qua những chặng đờng đời:

Anh về quê cũ Thôn Vân Sau khi đã biết phong trần ra sao

(Anh về quê cũ)

Có thể nói trong Thơ mới, Nguyễn Bính là ngời có công hơn cả trên mảngviết về làng quê Tìm về làng quê cũng chính là tìm về cội nguồn dân tộc Thôngqua những bài thơ viết về quê hơng ông đã khơi dậy ở mỗi ngời đọc tình cảm quêhơng Ông yêu mến và trân trọng giới thiệu những hình ảnh đẹp, tiêu biểu củalàng quê Việt Nam mà mỗi cảnh vật con ngời đều thắm đợm tình quê Đằng saumỗi hình ảnh quê hơng ẩn dấu một tiếng lòng mong muốn giữ gìn và bảo vệnhững giá trị tốt đẹp của nền văn hóa thôn dã - truyền thống Cùng với ThâmTâm, Trần Huyền Trân, Nguyễn Bính đã tạo cho Thơ mới thời kỳ cuối những sắcthái mới, giúp nó đứng vững trớc sự bế tắc và nguy cơ lụi tàn

2.2 Phản ánh nỗi niềm kín đáo của ngời cầm bút trong đêm trớc Cách mạng:

Truyền thống dân tộc, tinh thần yêu nớc từ xa đã là đề tài quen thuộc trongthơ văn Những nhà thơ lớn nh Lý Thờng Kiệt, Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát,Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du đã để lại cho đời những kiệt tác bất hủ viết vềmảng đề tài này Phong trào Thơ mới ra đời vào thời kỳ nớc ta đang rên siết dới

ách cai trị của thực dân Pháp Trong đó, một số bài thơ mới thể hiện tinh thần dântộc sâu sắc, ấp ủ niềm khao khát tự do

Thời kỳ đầu, tinh thần dân tộc đó chính là tiếng vọng lại xa xôi của phong

trào 1930 - 1931 Con hổ của Thế Lữ mang một "khối căm hờn trong cũi sắt",

luôn luôn mơ ớc trở lại quang đời tự do của mình trong rừng thẳm:

Ta sống mãi trong tình thơng nỗi nhớ Thuở tung hoành, hống hách những ngày xa

(Nhớ rừng)

Trang 36

Tình trạng "sa cơ, nhục nhằn, tù hãm" của con hổ trong vờn bách thú cũng

là tình trạng chung của cả một dân tộc Trong thơ Thế Lữ còn thấp thoáng hình

ảnh của khách chinh phu với một lý tởng đẹp, quyết tâm từ bỏ cuộc sống riêng ra

đi với chí lớn

Huy Thông lại thờng ngợi ca những anh hùng trong lịch sử Trung Quốc và

Việt Nam “Con voi già” chính là hình ảnh của ngời chiến sỹ cách mạng Phan Bội

Châu oai hùng nhng gặp nhiều thất bại Nhà thơ ca ngợi Kinh Kha, ngời tráng sĩmột sáng qua Sông Dịch, ra đi không hẹn ngày trở lại Đặc biệt, Huy Thông đãdành những lời hùng tráng, sảng khoái nhất để ca ngợi sự nghiệp anh hùng củaHạng Võ:

Ôi ! tấm gan biển chặt chẽ nh Thái Sơn Bao nhiêu thu cay đắng chẳng hề sớm !

Ôi ! những trận mạc khiến trời long đất lở ! Những chiến thắng tng bừng ! Những vinh quang rữ rỡ !

Tất cả họ đều là những anh hùng chiến bại Thông qua một số bài thơ, HuyThông muốn khơi dậy tinh thần dân tộc, mong muốn chúng ta sống mạnh mẽ,không chịu sự huỷ hoại một cách tầm thờng

Bớc sang thời kỳ thứ hai, thơ mới phát triển mạnh mẽ Cái tôi cá nhân lúcnày mạnh dạn, say sa bộc lộ tất cả những khát vọng, dục vọng của nó Nhng bêncạnh đó, cái tôi cá nhân cũng thể hiện đến đỉnh điểm sự cô đơn, bế tắc Nhữngnỗi niềm sâu kín về tinh thần dân tộc rất hiếm thấy, chỉ thấp thoáng trong một số

bài thơ trong tập “ Điêu tàn” (1936), Chế Lan Viên đã mợn chuyện dân tộc

Chiêm Thành để thổ lộ nỗi đau xót của một ngời dân Việt Nam mất nớc Vơngquốc Chiêm Thành huy hoàng, hùng mạnh và thanh bình trong quá khứ nay đã

đổ nát, hoang tàn nh bãi tha ma Tuy nhiên, tinh thân dân tộc trong thơ Chế Lan

Viên vẫn còn là “Một cái gì thầm kín, đôi khi nó lại mờ đi dới một làn sơng quá

khứ, lẫn với sự tiếc nuối một thời kỳ quá vãng xa xa” (9)

Đến thời kỳ cuối, thơ mới ngày càng đi dần vào bế tắc, suy thoái Hầu hếtcác nhà thơ mới đều bộc lộ cái tôi cô đơn, tuyệt vọng trớc thực tại Họ chạy trốnvào truỵ lạc nh Vũ Hoàng Chơng, siêu thoát tới những cõi h ảo nh Huy Cận, ChếLan Viên hoặc sa vào thần bí hoá

Tinh thần dân tộc trong thơ mới hẳn đi Một vài nhà thơ tính cách lãng

mạn hoá, hiện đại hoá những mối tình trong lịch sử ( Phạm Thái Quỳnh Nh

Trang 37

-nói đến tinh thần dân tộc thì lại là một thứ chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, thiệncận.Trong

(9): Phan C Đệ Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 - 1945) NXB Giáo dục , tr/ 27

tình hình bế tắc và suy thoái của thơ mới thời kỳ cuối, nhiều bài thơ của Thâm

Tâm (sau này đợc in trong tập thơ Thâm Tâm), Trần Huyền Trân (sau này đợc tin thành tập thơ Rau Tần) và một số bài thơ của Nguyễn Bính nh những đốm lửa

sáng của tinh thần dân tộc ấp ủ, kín đáo nhng đậm chất trầm hùng và có sức lay

động khá mạnh mẽ, giúp thơ mới bớt đi phần nào sự bi quan, tiêu cực

Trong thơ mình, Thâm Tâm và Trần Huyền Trân đã dựng lên thực trạng bithảm của nhân dân lao động nớc ta dới sự cai trị của bọn thực dân tham tàn

Đồng thời qua đó, họ cũng thể hiện sự đồng cảm, đau xót trớc cảnh đời tang tóc,

khốn cùng Trong bài thơ Đêm trừ tịch”, Huyền Trân đã “ rng rng” khi nhớ về

những hình ảnh đau thơng

Rng rng nhớ những ngàn sâu Những ai mái tóc trên đầu trắng tang Rng rng nhớ những đồi hoang

Bơ vơ xó chợ lang thang vỉa hè.

Đói khổ, chết chóc lan tràn khắp nơi trên đất nớc Quê hơng tơi đẹp giờ

Tráng phu năm trớc, tử thi buổi này

Đầu đờng, xó chợ, gốc cây Cách đêm gió hái xác gầy tàn hơi.

( Chân trời đã rạng)

Thâm Tâm mợn chuyện xa Trung Quốc về việc Tần Thuỷ Hoàng bắt bớdân đen xây dựng Vạn lý trờng thành - một công trình kiến trúc đợc xây bằngmáu của muôn dân để kín đáo nói tới nỗi thống khổ của nhân dân ta dới sự ápbức, bóc lột của bọn thực dân đế quốc:

Trang 38

Ma rửa nghìn đêm máu chửa phai Nghìn muôn trai tráng sống còn ai ? Trăm thân già héo, trăm chiêù xế Lặng kiếm hồn con xuất ải dài

(Vạn lý trờng thành)

Cuộc thế chiến thứ hai xô đẩy các nớc vào một cuộc tơng tàn thảm khốc.Việt Nam cũng quằn quại, giãy giụa trong cơn đau khủng khiếp của nhân loại:

Có nghe đỏ khé sông Hồng Sóng ngàn xa vẫn động lòng ngàn sau

Có nhìn bóng đá thâu thâu Non Lam nh kẻ gục đầu còn thơng Lại kia thóc giống vất vơng

Giếng khơi lấp mạch, cây vờn trụi hoa Lại kia trái rụng hơng sa

Cốt muôn trẻ đắp muôn già càng cao

Mồ hôi làm suối chiêm bao Nguồn sinh vô lợng đổ vào vô biên

( Độc hành ca)

Với những câu thơ trên, Huyền Trân đã cho ta thấy thực trạng bi thảm củanhân dân ta một cách chân thực Đoạn thơ đã nói về việc thu thóc tạ, phá lúa, phángô trồng đay, bắt phu phen phục dịch do bọn thực dân Pháp và phát xít Nhật chủtrơng Vì thế đã xảy ra nạn đói kinh khủng giết hại hơn hai triệu đồng bào, cộngvào đó còn không biết bao nhiêu ngời yêu nớc cách mạng bị tàn sát trong các nhà

tù trại giam Những hình tợng thơ xói vào tim gan: đỏ khé sông Hồng - Non Lam

nh kẻ gục đầu thóc giống vấn v ơng giếng khơi lấp mạch – ờn cây trụi v hoa cốt (hài cốt) muôn trẻ đắp muôn già càng cao nguồn sinh vô l ợng đổ vào vô biên “ Đó là những lời tố cáo, những tiếng nghiền răng căm hận, khác xa

với giọng than vãn sụt sùi của thơ đơng thời” (10)

Càng đau đớn, xót xa trớc hiện thực bi thơng của dân tộc, nhà thơ càngcăm thù, phẫn nộ bọn thực dân, đế quốc và những thế lực bạo tàn nhẫn tâm giàyxéo, chà đạp lên quyền sống, quyền tự do và hạnh phúc của nhân dân Giọng thơtrầm buồn, ai oán khi viết về nỗi thống khổ của nhân dân chuyển sang giọng thơ

đầy căm phẫn, nhịp thơ nhanh, lời thơ gắt Kẻ thù đã gây ra bao nhiêu tội ác tày

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Vũ Thanh Việt. Thơ Nguyễn Bính những lời bình. NXB Văn hóa - Thông tin. Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: NXB Văn hóa - Thông tin
Nhà XB: NXB Văn hóa - Thông tin. "Hà Nội
1. Hoài Thanh - Hoài Chân: Thi nhân Việt Nam. NXB Văn học, Hà Nội 1998 Khác
2. Hà Minh Đức. Một thời đại trong thi ca về phong trào Thơ mới. NXB Khoa học Xã hội. 1997 Khác
3. Lê Đình Ky. Thơ mới những bớc thăng trầm. NXB Tp. HCM. 1993 Khác
4. Nguyễn Bính về tác giả, tác phẩm. NXB Giáo dục. 2002 Khác
5. Vũ Quần Phơng. Nhìn nhận lại một số hiện tợng Văn học. Báo Giáo viên nhân dân, tháng 7. 1989 Khác
6. Đỗ Lai Thúy. Con mắt thơ. NXB Lao động. Hà Nội, 1993 Khác
8. Hoàng Xuân. Nguyễn Bính - thơ và đời. NXB Văn học, Hà Nội, 1994 Khác
9. Bùi Thị Mai. Cái tôi cô đơn trong thơ Nguyễn Bính trớc CM tháng 8. LVTN, 2002 Khác
10. Phan Cự Đệ. Văn học lãng mạn Việt Nam (1930 - 1945). NXB Giáo dục, 1997 Khác
11. Hà Minh Đức. Khảo luận văn chơng (Thể loại - tác giả). NXB KHXH, 1997 Khác
12. Huy Cận - Hà Minh Đức (chủ biên). Nhìn lại một cuộc cách mạng trong thi ca 60 năm phong trào Thơ mới. NXB Giáo dục, 1997 Khác
13. Tạ Đức Hiển. 99 bài văn. NXB Giáo dục, 1998 Khác
14. Nguyễn Tấn Long. Việt Nam thi nhân tiền chiến. NXB Sống mới, 1968 Khác
17. Thơ mới (1932 - 1945). Tác giả tác phẩm. NXB Hội nhà văn, Hà Nội 2001 Khác
18. Văn học dân gian Việt Nam. NXB Giáo dục, 1999 Khác
19. Thi pháp văn học dân gian. NXB Giáo dục, 2001 Khác
20. Tục ngữ - Ca dao Việt Nam. NXB Giáo dục, 1998 Khác
21. Văn học Việt Nam (1900 - 1945). NXB Giáo dục, 2000 Khác

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w