Qua từng trang sáchhiện lên bức tranh về đời sống xã hội trải dài trong non một thế kỷ với chândung phong phú các loại người xuất hiện trong mối quan hệ với tác giảhoặc trong sự quan sát
Trang 1Trờng đại học vinh
Khoa ngữ văn
khoá luận tốt nghiệp
DóNG GóP CủA MA VĂN KHáNG CHO THể LOạI HồI Ký QUA TáC PHẩM NĂM THáNG NHọC NHằN NĂM THáNG NHớ THƯƠNG
Trang 2MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Ma Văn Kháng là cây bút văn xuôi sung sức của nền văn họcViệt Nam đương đại Gần 50 năm cầm bút, Ma Văn Kháng sở hữu một giatài khá đồ sộ và có giá trị: hơn 10 cuốn tiểu thuyết, hàng trăm truyện ngắn,trong đó có những tác phẩm được trao giải từ quốc gia cho đến khu vực.Những nhà văn lớn luôn được trông đợi công bố hồi ký Và thực sự cuốnhồi ký mới xuất bản của nhà ông đã thu hút được đông đảo sự quan tâm của
dư luận cũng như trong giới văn học
1.2 Ma Văn Kháng đã có tác phẩm được đưa vào giảng dạy trongchương trình Ngữ văn ở trường phổ thông Việc tìm hiểu về hồi ký của MaVăn Kháng sẽ tạo được một cái nhìn toàn diện về cuộc đời cũng như hànhtrình đến với văn chương của một nhà văn tài danh Qua đó, có sự hiểu biếtsâu sắc hơn về những tác phẩm được đưa vào trong chương trình dạy họccủa ông
1.3 Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương là một cuốn hồi ký
có giá trị, cả giá trị hiện thực và giá trị văn học Tuy nhiên qua khảo sát chothấy vì đây là cuốn sách mới xuất bản nên chưa có được sự quan tâmnghiên cứu một cách toàn diện, sâu sắc Có chăng mới chỉ dừng lại ởnhững trích đoạn trên tạp chí văn học, những bài viết giới thiệu khái quát…
Vì vậy vấn đề nghiên cứu về hồi ký Ma Văn Kháng cần được tiếp tục
2 Lịch sử vấn đề
Ma Văn Kháng là nhà văn thành công trên cả hai lĩnh vực truyệnngắn và tiểu thuyết với rất nhiều tác phẩm có giá trị, một số đã đượcchuyển thể thành phim truyện Vì vậy ông luôn luôn thu hút được sự quan
tâm của dư luận Và cuốn hồi ký mới công bố gần đây, Năm tháng nhọc
nhằn năm tháng nhớ thương đã thực sự gây được sự chú ý của đông đảo
bạn đọc và giới văn học Trên các tạp chí, trang web đã xuất hiện nhiều bài
Trang 3viết giới thiệu và các bài nghiên cứu về hồi ký của ông Trong đó đáng kểnhất là bài viết của PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện, đã được đăng trên báo
Văn nghệ Theo Nguyễn Ngọc Thiện thì Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương là một cuốn hồi ký - tự truyện chứ không phải là hồi ký như đã
được ghi trên bìa sách xác định thể loại của nó Bởi vì, như ông nhận địnhthì “cuốn sách không chỉ giới hạn trong sự kể lại một cách trung thực, mắtthấy tai nghe và nhớ lại theo cách viết và yêu cầu của hồi ký, mà hơn thế nócòn miêu tả, dựng lại một cách tạo hình, sống động với ngôn từ, bút pháp,phong cách của một cây bút văn xuôi tài hoa, lão thực Qua từng trang sáchhiện lên bức tranh về đời sống xã hội trải dài trong non một thế kỷ với chândung phong phú các loại người xuất hiện trong mối quan hệ với tác giảhoặc trong sự quan sát chăm chú của ông theo góc nhìn của nhà viếtvăn…”
Hồ Anh Thái trong bài viết Con đường - hồi ức đã nhận xét về hồi ký
của Ma Văn Kháng: “Khá đầy đủ trong ấy một cuộc đời nhiều sự kiện,nhiều nếm trải Từ số phận một cá thể, soi chiếu qua lịch sử, người đọc cóthể hình dung ra một thời đại Những trang hồi ký về Tây Bắc thật gợi,khiến người đọc dễ liên tưởng và nhớ lại những trang văn tiểu thuyết biênniên của ông Đặc biệt khi ôn lại những kỷ niệm với học trò vùng biên, vớiđòng nghiệp ngành giáo dục và đồng nghiệp viết văn, với bạn bè Ông hối
hả liệt kê ra những cái tên tác giả, nhiều và hơi tham như sợ bỏ sót, như sợ
bị trách bỏ quên người này người khác”
Trong bài viết Cùng hồi tưởng về Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng
nhớ thương, tác giả Bùi Bình Thi đưa ra nhận định: “Đây là cuốn hồi ký
chất ngất đới sống và nhuyễn chất trữ tình(…) Đọc Năm tháng nhọc nhằn
năm tháng nhớ thương, tôi lại không thể nào không liên tưởng đến cuộc đời
của các nhà văn cự phách tầm hoàn cầu như Giăc Lơnđơn, Platođiop, LepTonxtoi, hay Đôtxtoiepky v.v.”
Trang 4Còn tác giả Đinh Hương Bình trong bài Đọc hồi ký Ma Văn Kháng
thấy bóng văn nhân thì có ý kiến cho rằng: “Ma Văn Kháng không chọn
hình thức thể hiện kiểu cách cầu kỳ, ông viết như vừa tâm sự, vừa kểchuyện Ông viết là để giãi bày chứ không phải để câu khách như một vàicuốn hồi ký khác Ông viết mà như là chỉ sắp xếp một cách có trật tự nhữngcuốn sổ ghi chép ông đã lưu lại trong nhiều năm qua Nhưng người đọc vẫncần mẫn đi theo từng trang sách của ông Và có lẽ điều thú vị của cuốnsách là cảm giác khám phá khi tìm thấy được bóng dáng của văn nhân đằngsau trang sách”
Nhìn chung các bài viết đều đánh giá cao giá trị tư liệu nhiều mặt của
hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương, cả về phương diện
nội dung và phương diện nghệ thuật, tức là chất hiện thực và chất vănchương của tác phẩm Tuy vậy, xét một cách tổng thể, các bài viết trên mớichỉ dừng lại ở mức độ “điểm danh”, “tra cứu”, chưa thực sự xem nó là đốitượng nghiên cứu mà chỉ là đối tượng để vận dụng, liên hệ, vì thế lượngthông tin khoa học về đề tài ở mảng này vẫn chưa cao, chưa có hệ thống vàchưa được nghiên cứu sâu sắc Kế thừa kinh nghiệm và kết quả của nhữngngười đi trước, chúng tôi thực hiện đề tài này với mong muốn làm rõ hơn
những đặc điểm, giá trị cũng như là những đóng góp của tác phẩm Năm tháng
nhọc nhằn năm tháng nhớ thương cho thể loại hồi ký Việt Nam hiện đại.
3 Đối tượng nghiên cứu
Hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương của Ma Văn
Kháng
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn tìm hiểu:
4.1 Hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương trong sự
phát triển của thể tài hồi ký Việt Nam hiện đại
4.2 Một số vấn đề về hiện thực và văn học qua cái nhìn của Ma VănKháng
Trang 54.3 Giọng điệu hồi ký Ma Văn Kháng.
5 Phạm vi tư liệu khảo sát
- Hồi ký Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương
- Ngoài ra luận văn còn khảo sát thêm một số tiểu thuyết, truyệnngắn nổi bật của Ma Văn Kháng
6 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp thống kê, phân loại
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
- Phương pháp so sánh, đối chiếu
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được triển
khai trong 3 chương:
Chương 1 Hồi ký của Ma Văn Kháng trong sự phát triển của thể tài
hồi ký Việt Nam hiện đại
Chương 2 Một số vấn đề về hiện thực và văn học qua cái nhìn của
Ma Văn Kháng trong hồi ký Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương
Chương 3 Giọng điệu hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương
Trang 6Chương 1
HỒI KÝ MA VĂN KHÁNG TRONG SỰ PHÁT TRIỂN CỦA THỂ TÀI HỒI KÝ VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
1.1 Khái niệm hồi ký
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, hồi ký là một thể loại thuộc loại
hình ký, kể lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là ngườitham dự hoặc chứng kiến Về phạm vi thể loại, hồi ký rất gần với nhật ký ởhình thức giãi bày, không dùng các thủ pháp cốt truyện, cách kể theo thứ tựthời gian, chú ý đến các sự kiện mang tính chất tiểu sử Hồi ký cũng là mộthình thức văn học riêng tư, một dạng tự truyện của tác giả Hồi ký cung cấpnhững tư liệu của quá khứ mà đương thời chưa có điều kiện nói được
Về mặt chất liệu, về tính xác thực, không có yếu tố hư cấu thì hồi kýrất gần với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học, ký sự tư liệu lịch sử Tuynhiên, khác với sử gia và các nhà nghiên cứu tiểu sử, người viết hồi ký chỉtiếp nhận và ghi chép phần hiện thực mà tác giả nhìn rõ hơn cả dựa trên cơ
sở những ấn tượng và hồi ức riêng trực tiếp của mình Hơn nữa, bản thânngười viết hồi ký luôn luôn được mô tả trình bày ở phương diện thứ nhất
Vì vậy trong toàn bộ tác phẩm có sự nổi trội của bản thân người viết hoặccái nhìn của bản thân người viết vào tất cả những gì được kể lại, miêu tảlại
Hồi ký mang đậm tính chủ quan, khó tránh khỏi tính phiến diện.Hơn nữa, do thời gian lùi xa, nhiều sự kiện nhớ không chính xác, nhớ nhầmhoặc tưởng tượng thêm mà không tự biết Đó là chưa kể dùng hồi ký đểtung những thông tin bịa đặt, có hại cho người khác Đặc điểm này chothấy hồi ký chỉ thực sự có giá trị khi người viết tuyệt đối trung thực vớichính mình và có trách nhiệm với xã hội Hồi ký thực sự có giá trị khi tácgiả là người có địa vị xã hội, được nhiều người quan tâm, có thái độ trung
Trang 7thực, không tô vẽ cho mình và thêm thắt cho người khác Chẳng hạn, hồi
ký của các nhà văn hoá và các nhà cách mạng Tuy nhiên, sự thiếu hụtthông tin hay sự phiến diện về đối tượng miêu tả trong hồi ký lại được bùđắp bởi văn phong sinh động, cảm tưởng trực tiếp của cá nhân tác giả Giống như các thể loại văn xuôi nghệ thuật khác, các kiểu hồi ký rất
đa dạng Thể loại hồi ký ra đời rất sớm, từ thời cổ Hy Lạp Hồi ức của nô-phôn và Xô-cơ-rat và những ghi chép của ông về các cuộc hành quâncủa người Hy Lạp (thế kỉ 5 tr.CN) thường được coi là những tác phẩm hồi
Kxê-kí cổ xưa nhất Ở nước ta có nhiều tập hồi Kxê-kí cách mạng có giá trị như:
Ngục Kon Tum của Lê Văn Hiến, Những năm tháng không thể nào quên
của Võ Nguyên Giáp,…
Trong loại hinh ký, hồi ký văn học có nhiều điểm tương đồng, gầngũi với nhật ký hơn cả Đây là những thể văn xung kích bám sát hiện thực
Từ sự thôi thúc của đời sống, các tác giả, qua những trang viết giãi bày, thổ
lộ những nhu cầu của bản thân Từ những góc nhìn của cá nhân, chân dungcon người thời đại được khơi dậy, sinh động, mang những hình vẻ vừakhách quan, chân thực nhưng cũng rất riêng Để can dự trực tiếp vào tiếntrình đời sống, người viết ký chẳng những vừa nhập cuộc mà nhiều khiphải dấn thân với tinh thần chiến đấu cao và tính khuynh hướng rõ ràng.Giá trị của những trang hồi ký vì thế nhiều khi không nặng ở tính chất vănchương (theo quan niệm truyền thống) mà ở sức hấp dẫn của những thôngtin, sự thực
Xét về nội dung thông tin sự thực được phản ánh, hồi ký thuộc loại
ký thế sự, quan tâm nhiều đến sự phong hoá của đạo đức, các vấn đề nhânsinh đến số phận, đời tư của cá nhân, sự thực của những quan niệm, tưtưởng,…Khi những dòng chữ ghi việc của hồi ký được nhuần nhuyễn,được bện chặt bằng những sợi tơ lòng của người viết, đều có thể phát triểnthành tác phẩm văn chương Để tạo ra những tác phẩm có khả năng tácđộng mạnh mẽ, người viết thường sử dụng một số thủ pháp cơ bản: dựa vào
Trang 8cái đơn nhất, xác thực để xây dựng hình tượng; tôn trọng trật tự biên niên.Tác giả lần lượt ghi lại những người, những cảnh mình được chứng kiếnhay tham gia theo trật tự thời gian Cách ghi chép này có tác dụng lớn trongviệc thể hiện tính chân thực của sự việc, tác động trực tiếp đến người đọc.Người viết hồi ký có thể kết hợp một cách linh hoạt các phương thức tự sự,trữ tình, nghị luận… Trong tác phẩm này, hình tượng tác giả đặc biệt quantrọng và nổi bật, là người trực tiếp tham gia vào thế giới hình tượng nghệthuật của tác phẩm, phát huy khả năng liên tưởng, nối kết các chi tiết, sựkiện, trực tiếp trình bày các tư tưởng, tình cảm của mình để hướng ngườiđọc cảm nhận cuộc sống theo một hướng nào đó Mỗi người một tiếng nóiriêng, một gương mặt riêng…Chân dung con người đầy bản sắc trên nhữngtrang viết có lửa, tài hoa ấy chính là nguyên nhân sâu xa tạo nên sức sốngcho tác phẩm Nói như nhà thơ Huy Cận: “ viết hồi ký là sống lại một lầnnữa cuộc đời mình, thân phận mình và phần nào những trải nghiệm dọc đời
đã sống” Người viết hồi ký có thể lấy chất liệu của mình làm đối tượng
khai thác như Bất khuất (Nguyễn Đức Thuận), Bốn mươi năm nói láo (Vũ Bằng), Cát bụi chân ai, Chiều chiều (Tô Hoài),… và trở thành nhân vật
trung tâm của tác phẩm Cũng có nhiều trường hợp, người viết hồi ký nhớ
lại những việc đó qua kể cho người khác ghi, ví dụ như Điện Biên Phủ,
điểm hẹn lịch sử của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Hữu Mai thể hiện Hoặc
như hồi ký của các tướng lĩnh khác: Vương Thừa Vũ, Đồng Sỹ Nguyên,…
1.2 Sự phát triển của thể tài hồi ký những năm cuối thế kỉ 20, thập niên đầu thế kỉ 21
Ở châu Âu hồi ký ra đời từ rất sớm, từ thời cổ đại Hy Lạp Hồi ứccủa Kxê-nô-phôn và Xô-crat cùng những ghi chép của ông về các cuộchành quân của người Hy Lạp được coi là những tác phẩm hồi kí cổ xưanhất Từ đó, thể loại hồi ký được kế tục và phát triển qua các thời kỳ Ngày
nay người ta hay nhắc đến cuốn Hồi ký của công tước Saint-Simon (nhà văn Pháp, kể về giai đoạn lịch sử 1694-1723 của nước Pháp); cuốn Hồi ký
Trang 9từ bên kia nấm mồ của tử tước Chateaubriand (nhà văn Pháp, xuất bản sau
khi ông mất, 1849-1850); các cuốn hồi ký về cuộc Chiến tranh Thế giớiThứ Hai của D Eisenhower (tổng thống Mỹ), của tử tước thống chếMontgomery xứ Alamein (Anh Quốc), và của Charles de Gaulle (tổngthống Pháp)
Ở Việt Nam, hồi ký xuất hiện muộn Điều này xuất phát từ nhiềunguyên nhân Trước hết là ở tâm lý sáng tạo Trong truyền thống của ngườiViệt, viết lách, làm văn là một hành động nghiêm chỉnh, nghiêm túc Ngườixưa hết sức đề cao chức năng xã hội của văn học Làm thơ, làm văn, đầutiên, bao giờ cũng với mục đích tối thượng: tỏ chí, tải đạo, răn đời Vì thếmới có sự phân biệt rất rõ thứ văn chương thù tạc vịnh cảnh và văn cứu đời,giúp nước Cái tinh thần thờ phụng “văn chương chuyên chú ở con người”
có ảnh hưởng sâu sắc đến văn hoá đọc, viết của người Việt Người ta chỉviết khi nào thật cần thiết Tính mục đích được đề cao, mỗi lần cầm bút làmột lần tự hỏi: viết để làm gì? Với những ý đồ gì? Cả người đọc cũng chịuảnh hưởng lây: mỗi lần cầm sách là một lần tự hỏi: tác giả nhắn tới cái gì?với những ý đồ gì? “Tinh thần thực dụng lên ngôi, trở thành một yếu tốthống trị từ ý thức thẩm mĩ của người Việt Nam xưa nay Hậu quả đầu tiên
và lâu dài là chúng ta không viết những gì quá riêng tư và không có lợi”(Nguyễn Hưng Quốc)
Hơn nữa, sống trong một môi trường mà ảnh hưởng của chế độ quânchủ chuyên chế kéo dài hàng nghìn năm, ý thức cá nhân, tinh thần dân chủcủa người Việt Nam phần nào bị hạn chế Người Việt, nhìn chung rất ngạinói về mình, nhất là phô bày biểu lộ những gì thuộc về riêng tư thầm kín.Trong ứng xử chọn cách hô tôn xưng nghiêm, lấy “đóng cửa bảo nhau” làmphương châm xử thế và điều chỉnh quan hệ Vì thế, dư luận nói chungkhông mấy ủng hộ với những cách, những sự biểu hiện cá thể cá nhân quá
rõ ràng hay nổi bật Còn một lý do nữa cũng ảnh hưởng đến thói quen, ýthức viết hồi ký, nhật ký của các nhà văn Việt Nam là tâm lý nể, sợ Trong
Trang 10bài Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ, nhà văn
Nguyễn Minh Châu viết: “có người cầm bút sắp sang thế giới bên kia vẫnchưa dám nói lên một câu nói thật tự đáy lòng, không dám viết hồi kí thực,
vì sợ để liên hệ đến con cái” Nhiều nhà nghiên cứu phê bình như HoàiThanh, từng tham gia lãnh đạo công tác văn nghệ, biết rất nhiều chuyệntrong và ngoài văn nghệ, hay như nhà thơ Lê Đạt, một thành viên của nhómNhân văn- Giai phẩm, người đã từng phải chịu nhiều cay đắng trong suốtmấy chục năm qua vì “án oan” văn nghệ… cũng đã từ chối không viết hồi
ký vì cho rằng “những chuyện ấy dễ đến giữa thế kỉ 21chưa biết đã có thể
in ra chưa?” Và cũng không muốn vì chuyện ấy mà bị anh em, bạn bè,đồng nghiệp, người quen cũ ngoảnh mặt trách cứ “sao nỡ viết như thế?”… Đầu thế kỉ 20, xã hội Việt Nam có nhiều biến động lớn về nhiều mặtkinh tế, chính trị, văn hoá Đây cũng là thời kì văn học Việt Nam chuyểnmình, hiện đại hoá mạnh mẽ Cùng với tư tưởng đổi mới nhất quán trên mọilĩnh vực của đời sống xã hội, những năm 1986 trở đi cũng là thời kỳ nhìnnhận, định vị lại nhiều giá trị văn hóa, văn chương Không phải ngẫu nhiênvào những năm cuối thập niên 90 thế kỷ 20 đầu thế kỷ 21, trên văn đàn xuất
hiện nhiều tác phẩm hồi ký của văn nghệ sĩ, chủ yếu là các nhà văn đã tạo nên
một mảng sinh động của đời sống văn học mà có thể nói ngay rằng trước đó
là chưa thể có Nhiều sự kiện văn học quá khứ, nhiều số phận văn chươngcùng nhiều vấn đề phức tạp của quá khứ gần, xa… đã được tái dựng theo mộtcách nhìn mới, không đơn giản, một chiều mà khoan dung, thấu tình đạt lýhơn Những chuyển động ban đầu báo hiệu tầm ảnh hưởng sâu rộng của hồi
ký đối với đời sống đương đại có thể kể đến Đời viết văn của tôi của Nguyễn Công Hoan, Đặng Thai Mai hồi ký, Từ bến sông Thương của Anh Thơ và tiếp
đó là những tác phẩm thu hút sự quan tâm, tạo được ấn tượng mạnh đối với
độc giả như Cát bụi chân ai, Chiều chiều của Tô Hoài, Hồi ký song đôi của Huy Cận, Nhớ lại một thời của Tố Hữu, Nhớ lại của Đào Xuân Quý, Bốn
mươi năm nói láo của Vũ Bằng… Thể bút ký “pha” hồi ký cũng đã nhanh
Trang 11chóng tìm đến mối giao lưu, giao cảm, khẳng định được vị thế của mình trước
văn hóa đọc: Chân dung và đối thoại của Trần Đăng Khoa, Vị giáo sư và ẩn
sĩ đường, Ba lần đến nước Mỹ, Tản mạn đầu ô, Đi một ngày đàng của Hà
Minh Đức, Tản mạn trước đèn của Đỗ Chu, Ai đã đặt tên cho dòng sông,
Trịnh Công Sơn và cây đàn lia của hoàng tử bé của Hoàng Phủ Ngọc Tường,
… Trong số đó có những tác phẩm gây được tiếng vang làm xôn xao dư luận
và nhờ sự hâm nóng của báo chí, những tác phẩm của Trần Đăng Khoa, TôHoài được coi là những hiện tượng mới và trở thành những cuốn sách bánchạy nhất hàng năm Một trong những phương diện được quan tâm sâu sắctrong các tác phẩm hồi ký, bút ký ra đời trong thời kỳ Đổi mới - bên cạnh bứctranh muôn màu muôn sắc của cuộc sống đương đại - vẫn là chân dung hiệnthực của đất nước, của dân tộc qua chiều dài thế kỷ, đặc biệt qua hai cuộcchiến tranh cứu quốc vĩ đại (1945-1975) Nghĩa là những vấn đề tưởng như đãthuộc về “một thời quá khứ” vẫn luôn là mối ưu ái đặc biệt của các tác phẩm
ký hiện đại, đặc biệt là các tác phẩm hồi ký
Hồi ký Đặng Thai Mai có chiều hướng nhìn lại lịch sử đất nước nửa đầuthế kỷ từ phía lịch sử tư tưởng của một thế hệ thanh niên trí thức Việt Namđầy hoài bão, trăn trở trước vận mệnh dân tộc (thông qua những trải nghiệm
cá nhân của tác giả - một mẫu “trí thức” điển hình của thời đại ấy) Xuất phát
từ nền tảng giáo dục Nho học với những giá trị và lý tưởng riêng bền vững,trải qua rất nhiều những biến cố dữ dội của gia đình, của quê hương đất nước,chứng kiến vô vàn cảnh đau khổ lầm than của nhân dân và tiếp thu nhiềuluồng tư tưởng mới mẻ tiến bộ từ thế giới bên ngoài, người thanh niên trí thức
đã dần dần “phân biệt được cái thực học với cái hư danh” Đó là khởi điểm để
họ biết gắn liền vận mệnh đất nước quê hương với những bước đi của cuộcđời mình Và đó cũng là con đường tất yếu dẫn họ đến với chủ nghĩa Mác -Lênin: từ lúc còn đầy ngỡ ngàng ở mức độ “có cảm tình” song vẫn chưa “tintưởng hoàn toàn” cho đến lúc “thực sự xây dựng cho mình một đức tin” vàkhao khát hành động: một người tự nghĩ mình là mác xít trước hết phải nghĩ
Trang 12đến mục đích cuối cùng là làm thế nào để áp dụng cái mà mình tin là chân lývào thực tế của nước mình, vào dân tộc mình
Như một sự tiếp nối lịch sử mấy mươi năm đầu thế kỷ trong hồi ức của
giáo sư Đặng Thai Mai, hai cuốn hồi ký Cát bụi chân ai và Chiều chiều của
nhà văn Tô Hoài lại là những cuốn phim tư liệu dài ghi lại hai cuộc khángchiến trường kỳ chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của nhân dân ta (1945-1975) Đứng ở điểm nhìn cuối đời và cũng là cuối thế kỷ, tác phẩm của TôHoài thông qua những mảng hiện thực phong phú của cuộc sống đời thường
đã tái hiện sinh động, sâu sắc bức tranh về một chặng đường lịch sử chất đầynhững biến cố lớn lao của dân tộc Tô Hoài không đi vào diện rộng như mộtnhà sử học, những cái ông nắm bắt được là những vấn đề mà ông cho là điểnhình, là mang tính biểu trưng hoặc gây ấn tượng đặc biệt với ông
Cùng với việc tái hiện bức tranh hào hùng một thuở của hai cuộc chiếntranh vệ quốc, các tác giả thời kỳ này cũng đặc biệt lưu tâm đến công cuộcxây dựng xã hội chủ nghĩa trên miền Bắc khi ấy, với những sự kiện và biến cố
để lại nhiều ngẫm suy cho người đọc Trong Chiều chiều, Tô Hoài đưa chúng
ta về một làng quê ở Thái Bình với câu chuyện cải cách ruộng đất và “sửa
sai” liên quan đến số phận của bao con người, nơi những cảm xúc buồn vui,
những hiện tượng trớ trêu ngang trái, những tình tiết dở khóc dở cười… hiệnlên chân thực không hề giấu giếm
Một chủ đề rất thú vị khác được các tác giả hồi ký ưa thích là mảng ký ứchay sự kiện về các biến động trên thế giới, những vùng văn hoá đa dạng trên
toàn cầu… Tô Hoài trong Chiều chiều, và sau này, Hà Minh Đức trong Ba
lần đến nước Mỹ, Tản mạn đầu ô,… đã dành một góc lớn trong tác phẩm của
mình để ghi lại những ấn tượng, cảm xúc về các chuyến đi ra ngoài Việt Nam,hoặc ra ngoài phương Đông của họ Với Tô Hoài, đó một vùng kỉ niệm ăm
ắp, tươi nguyên về những đất nước nằm trong khối xã hội chủ nghĩa (cũ):cảnh rừng Taiga mênh mông rầu rĩ ở xứ Xibêri, cảnh cởi trần tắm hơi ở
Trang 13Udơbêkixtan, cảnh nhảy sàn khoả thân ở Lahabana, cảnh luyện thép ở BắcKinh… và đặc biệt đẹp đẽ, thân thương là nước Nga của tuyết trắng, củanhững con người đôn hậu và cách mạng tháng Mười còn mãi toả bóng xuốnglịch sử… Còn với Hà Minh Đức, đó lại là một thế giới rộng lớn của nhiều nền
văn hoá giữa thời đại giao lưu, mở cửa đón gió bốn phương: Ba lần đến nước
Mỹ, Mùa hạ Toronto, Trên đất nước chùa Tháp, Những ngày đầu tháng năm trên đất nước Liên Xô…
Bên cạnh việc khai thác những chủ đề - đề tài mang tầm “vĩ mô”, tầm đấtnước - dân tộc, các tác phẩm ký thời kỳ này cũng luôn bám sát cuộc sống “vimô” với muôn mặt đời thường của nhân tình thế thái, của những số phận vàchân dung con người… Những thập niên cuối thế kỷ, đúng hơn là từ sau Đổimới 1986, con người sống trong một cơ chế mới, với những cách tư duy,những tư tưởng mới về hiện thực và cuộc sống, do đó bản thân các nhà văn vàhình ảnh con người xuất hiện trong tác phẩm của họ cũng trở nên thật sự mới
mẻ và khác lạ so với trước đây Cuộc sống thời bình (kinh tế thị trường, xã hội
“mở cửa”) với biết bao ngổn ngang, bề bộn, xô bồ không tránh khỏi là một
thực tế mà họ phải đối mặt, như những gì tác giả Tản mạn đầu ô đã cảm nhận
về một vùng không gian vốn từng là cảm hứng dào dạt của các thi sĩ: “…không có những áng mây đầu ô lang thang mà chủ yếu là cảnh đầu ô đang đổithay trong những vất vả, nhọc nhằn (…) Ở đấy đã cho chào đời nhiều số phậnvất vả đắng cay và liệu hôm nay có thể sinh ra những tài năng?” Song đâu đóvẫn là những “vùng miền ấm áp”, những “khoảng trời xanh trong” được cáccây bút đầy tâm huyết ghi lại, gom nhặt, gìn giữ và trân trọng như “những hạtbụi vàng” (theo cách nói của Pauxtopxki) Cái đời thường và con người bìnhthường (chính xác hơn là phương diện đời thường của con người) có một sức
cuốn hút riêng với các tác giả viết ký Vị giáo sư và ẩn sĩ đường, Ba lần đến
nước Mỹ, Tản mạn đầu ô… của Hà Minh Đức, Nhớ lại một thời của Tố Hữu, Tản mạn trước đèn của Đỗ Chu… là những tác phẩm hồi ký, bút ký tập trung
vào mảng hiện thực không kém phần phong phú và hấp dẫn này
Trang 14“Nhân vật chính” trong các trang ký đó là những con người khác nhau vớinhững tính cách và số phận mang tính cá thể Họ đến và đi qua một vài trangviết, nhưng ấn tượng và dư vị cảm xúc họ để lại cho người đọc thì thật sự
thấm thía, dài lâu (lão Ngải nông dân trong Chiều chiều, “người muôn năm cũ” Bùi Văn Nguyên trong Tản mạn đầu ô, chiến sĩ biên phòng Hứa Trung
Bộ trong Ai đã đặt tên cho dòng sông…) Những dòng chữ “chân thực đến
đáy” nhưng vẫn đầy trân trọng, yêu thương của các tác giả viết ký đã để lạicho người đọc niềm xúc cảm sâu xa về từng con người cụ thể, từng cảnh ngộ
cụ thể với từng tâm hồn và số phận riêng tây Họ là những nhân vật chính củamột cảm hứng thế sự đời tư đang ngập tràn trong văn chương thời kỳ Đổi mới(thay thế cho cảm hứng sử thi - lãng mạn của những năm chiến tranh)
Trong các tác phẩm ký thời kỳ Đổi mới, song song với dòng chảy lịch sử
mà các tác giả, với tư cách là những nhân chứng của nó, đã tái hiện khá toànvẹn, chân thực là “dòng chảy văn chương” mà họ, với tư cách là những thànhviên tích cực, cũng đã nỗ lực đưa đến một cái nhìn cận cảnh, chính xác.Thông qua sự phát triển song song của cả hai mạch nguồn cảm hứng này,chúng ta có thể nhận thấy sự tác động mạnh mẽ của lịch sử đối với văn họcnghệ thuật, với mỗi cá nhân nghệ sĩ trong ngôi nhà chung của văn học ViệtNam
Điều đầu tiên hiện diện rõ nét trên các trang ký là công cuộc “nhậnđường” và “lên đường” đầy khó khăn thử thách của các nhà văn, nhà thơ thời
kỳ đầu kháng chiến Đúng như Tô Hoài nhận định: “Mỗi một cuộc đời, mộttrường hợp đến với cách mạng không giống nhau”, nhưng dù khác nhau vềcách đi, các nghệ sĩ đều đã tìm thấy một chân lý: “… sáng tác là gì nếu khônglăn lộn, phản ánh được chiến đấu” Từ đó, rất nhiều gương mặt quen thuộccủa văn học hiện đại Việt Nam như Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Nguyễn HuyTưởng, Nam Cao… đã thực sự nhập cuộc và tìm ra được cảm hứng sáng tạomới từ “hiện thực lao động và chiến đấu vĩ đại” của nhân dân
Trang 15Tác giả của Chiều chiều và Cát bụi chân ai, với một cái nhìn tỉnh táo
điềm đạm, đã nhìn nhận lại “Nhân văn - Giai phẩm” và những vấn đề vănchương phức tạp một thời với tất cả tính thời sự và cả tính bi kịch của nó.Bằng sức mạnh của hồi tưởng, nhà văn đã mạnh dạn, thẳng thắn nói ra những
“chuyện buồn quá khứ” và những “ấu trĩ trong quan niệm văn học và chính trịmột thời”, giúp người đọc có được một hình dung và nhận thức “tường minh”hơn về lịch sử văn học nước nhà những năm tháng đầy biến động…
Bước vào Đổi mới, nền văn học của nước ta lại chuyển động mạnh mẽ vềnhiều mặt Cùng với sự cởi mở hơn về quan niệm văn chương, sự tự do dânchủ hơn trong không khí sáng tác và tiếp nhận, đời sống văn học đã phát triểntrên cả bề rộng lẫn chiều sâu Lúc này nhà văn có thể nói lên tất cả những gìthuộc về con người, đi đến tận cùng giới hạn của tâm hồn và số phận nhân vậtvới rất nhiều phong cách, bút pháp nghệ thuật khác nhau
Nổi bật lên những trang bút ký, hồi ký thời kỳ Đổi mới là những chândung và số phận văn chương trong qua khứ cũng như trong hiện tại, là nhữngtrải nghiệm thấm thía và những suy tư sâu lắng về nghiệp, về nghề…
Trên trang viết của Hoàng Phủ Ngọc Tường, người đọc thường gặpnhững nghệ sĩ tài tử, tài hoa, mang nhiều uẩn khúc trong tâm tưởng hoặctrong cuộc đời và đôi khi có những nét “tương đồng, tương liên” với tác giả
Đó là Nguyễn Trãi, Cao Bá Quát, Ưng Bình Thúc Giạ Thị, Trịnh Công Sơn,Văn Cao, Đinh Cường, Bùi Giáng, Phùng Quán, Điềm Phùng Thị… một dãylấp lánh những khuôn mặt ẩn hiện trong dòng lịch sử Họ có thể là “người củathời xưa” hay “người của thời nay”, song tác giả luôn viết về họ với một niềmyêu kính thiêng liêng như viết về những người của cõi bất tử - “người củamuôn thời”! Suy nghĩ về cuộc chiến đấu bền bỉ vì “nhân nghĩa” của NguyễnTrãi, ông khẳng định: “sự lựa chọn đó là quá trình tự phá vỡ bản thân và rốtcuộc sự có mặt của ông vẫn mới mẻ cho đến ngày sau, làm cho ông trở thànhmột con người mạnh hơn cái chết” Viết về Văn Cao, người nghệ sĩ đa tài mà
Trang 16ông đặc biệt dành tình cảm, câu chữ của Hoàng Phủ Ngọc Tường cũng như
“hát” lên bằng những thanh âm diệu vợi thanh thoát và “cùng tông” với Suối
mơ, Thiên Thai…: “cây Aleo dichotoma trên đỉnh núi đá Vọng Phu ở LạngSơn, cứ tự chia hai đến cùng trong hành động sống, hay nói cách khác, trongquá trình từ thể hiện bản thân mình nhằm đạt tới những chiều hướng khácnhau giữa những giới hạn vốn dĩ chật chội như một đời người và ở khắp mọinơi của hiện hữu Văn Cao là một con người luôn tìm cách phá vỡ giớihạn”.
Khác với Hoàng Phủ Ngọc Tường thường dựng chân dung các “tri âm trikỷ” bằng “sương mờ cảm xúc và quãng ngưng tưởng vọng”, Tô Hoài lại khắchoạ hình ảnh những người bạn văn chương của mình bằng những “nét bút tảthực sống động trên một hậu cảnh sáng rõ của hồi ức” Tô Hoài viết vềNguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Xuân Diệu, Nguyễn Bính, Hoàng Trung Thông,Nguyễn Huy Tưởng… những tên tuổi lớn của nền văn học hiện đại Việt Nam,giống như để nhớ đến vùng kỷ niệm khó mờ phai về một thời đoạn thăng trầmcủa nền văn học ấy, nơi chính ông đã gắn bó phần lớn văn nghiệp của mình
Đi vào những “ngõ ngách” của đời sống văn chương và những “khúc đoạn”gập ghềnh của các số phận nghệ sĩ, Tô Hoài đã tạo được trong hồi ký của ôngnhững bức chân dung đầy sắc cạnh, đầy dấu ấn song cũng vô cùng gần gũi,chân thực Tô Hoài đã khiến cho bạn đọc không chỉ yêu mến các tác phẩmvăn chương của họ mà ông còn giúp bạn đọc hiểu được cuộc sống, sự nghiệp,phong cách và cá tính của mỗi người Tất cả những con người, những số phậnvăn chương ấy, qua cái nhìn ấm áp chân tình của tác giả hồi ký, đã gieo vàongười đọc một niềm cảm thương, chia xẻ mênh mang Tô Hoài không hề “lạhoá” bất cứ chân dung văn chương nào Trong hồi ký của ông, họ là những tàinăng nghệ thuật, song họ cũng là những con người của cuộc sống đời thường,của vô vàn những “tuế toái”, chi li, phiền phức, những yêu ghét, buồn vui,thăng trầm, được mất… của một kiếp người Sau này, chúng ta còn bắt gặptinh thần xây dựng chân dung nhiều chiều, phong phú và ấm áp nhân tình này
Trang 17ở một tác giả viết ký tài hoa khác: Hà Minh Đức Chỉ cần lướt qua các tiêu đề
bài viết: Anh đã sống hết mình cho cuộc sống và cho thơ; Huy Cận, đường
thơ đến với đích xa; Tô Hoài, một đời văn sáng tạo; Giáo sư N.I Niculin nhà nghiên cứu uyên bác, người bạn thân thiết của giới nghiên cứu văn học Việt Nam… (Tản mạn đầu ô), người đọc dễ dàng nhận ra quan niệm chung của
người viết, đúng như ông từng tâm sự: “Viết về họ tôi có ý thức phải làm saotạo dựng được bức chân dung tổng hợp cả phần đời lẫn phần đạo (…) tôi kínhtrọng nhất là tài năng và nhân cách Tôi chấp nhận nhiều màu vẻ của cá tính
và sở thích riêng” Khác với văn phong điềm tĩnh, sâu lắng, trầm tư của cáccây bút “tiền bối” trên đây, Trần Đăng Khoa lại mang đến cho đời sống phêbình một “luồng gió lạ” bằng những cuộc “đối thoại” dài hơi, bạo dạn, sôi nổivới các “chân dung” văn chương nước nhà Bằng một lối tiếp cận chủ yếutheo kiểu dựng chân dung phương Tây: áp sát, trực diện, đôi khi ngẫu hứng và
thường mang đậm tính chủ quan, cuốn sách Chân dung và đối thoại (1998)
gần như đã phác hoạ nên một Xuân Diệu, một Tố Hữu, một Lê Lựu, mộtNguyễn Khắc Trường… theo cách của Trần Đăng Khoa, “kiểu Trần ĐăngKhoa” Những bức chân dung ấy chưa hẳn đã ăn nhập với sự mong đợi vàhình dung của công chúng, càng chưa hẳn là những phác thảo toàn vẹn về cảcon người đời sống lẫn con người văn chương, song tất cả đều để lại một ấntượng đặc biệt nào đó trong người đọc: hoặc sự bất ngờ, hoặc nỗi ám ảnh,hoặc cảm giác “bị khiêu khích” và muốn được tranh luận (như cách xâydựng chân dung Nguyễn Tuân là một ví dụ tiêu biểu) Mặc dù tính ngẫu hứng
và tính chủ quan đôi khi đã đẩy ngòi bút tác giả đi quá đà, song không thể phủnhận rằng: Lối viết dí dỏm, thoải mái, tự nhiên và luôn tạo cảm giác muốn đốithoại đó của Trần Đăng Khoa đã phần nào khuấy động lên cái không khí phêbình bằng lặng, bình yên những năm cuối thập kỷ 90; và cũng mở rộng thêmđường biên cho thể loại bút ký
Cùng với những suy tư về “người văn”, chúng ta bắt gặp thường xuyêntrong hồi ký - bút ký thời kỳ Đổi mới những chiêm nghiệm về nghề văn, về
Trang 18nghiệp văn… Trong Tản mạn trước đèn (2005) của Đỗ Chu, người đọc có thể
cảm nhận sâu sắc nỗi ưu tư lớn của tác giả về con đường mà chính ông cũngđang là “người bộ hành” can đảm và cô độc Chứng kiến những đổi thay dữdội của một thời kỳ sáng tác mới (nơi các giá trị còn lẫn lộn và chưa kịp địnhhình), Đỗ Chu muốn “đặt lại và tái khẳng định vấn đề trách nhiệm của nhàvăn đối với vận mệnh đất nước, bản lĩnh văn hoá của người viết, sự cô đơncủa nghệ sĩ trên hành trình đi tìm cái đẹp, sự tỉnh táo cần thiết của một nhàvăn giữa muôn nẻo đường sáng tạo để làm sao thoát khỏi mê lầm” Đi đến tậncùng tâm thức của nhà văn vẫn là nỗi đau đáu về “đạo” của người cầm bútnhư một thứ “thập tự giá” mà họ phải và được mang trong cuộc đời: “Để cónhững trang sách hay là cả một cuộc lên đường đầy gian nan, có khi vấtvưởng suốt đời mà tay trắng vẫn hoàn tay trắng Người xưa xem văn là mộtthứ đạo cũng bởi lẽ đó”
Với tất cả sự phong phú của nội dung, sự đột phá trong cảm quan về hiệnthực, thể loại bút ký - hồi ký thời kỳ Đổi mới cũng đã mang đến những cáchtân đáng ghi nhận trong nghệ thuật thể hiện và thi pháp thể loại
Những năm cuối thế kỷ 20, hồi ký nở rộ trong đời sống văn học ngàycàng thu hút sự quan tâm của độc giả hiện đại Bởi hồi ký cũng là một cáchthể hiện nhu cầu khám phá đời sống Các tác giả không chỉ xây dựng đượcdiện mạo của người cùng thời mà qua chuyện của mình phác hoạ được gương
mặt của thời đại Sức hấp dẫn của tác phẩm hồi ký chính là sự tường minh của hồi ức và sự liền mạch của hồi ức ấy Trong các tác phẩm Đặng Thai Mai hồi
ký (Đặng Thai Mai), Cát bụi chân ai, Chiều chiều (Tô Hoài)… người đọc có
thể nhận thấy rất rõ đặc điểm này Những kỉ niệm chung - riêng, xa - gầnkhông rời rạc tản mát mà hòa chảy thành một dòng sông cuồn cuộn đổ về biển
cả cảm xúc Trong văn Tô Hoài, đó là sự đan xen, tiếp nối của những mảnghồi ức khác nhau về nghề nghiệp, về bạn bè, bởi không gian và thời gian đềugắn liền với cuộc đời riêng của tác giả Vì lẽ ấy, đằng sau cái “lộ trình” của
Trang 19hoài niệm có vẻ lan man và thường xuyên bị ngắt quãng, ở Cát bụi chân ai và
Chiều chiều vẫn có được sự liền mạch, nhất quán trong cảm hứng và trong
mạch truyện Biết bao nhiêu số phận, tính cách, nỗi niềm… đều được tác giảkhéo léo đan chéo trên một cái nền lịch sử chung sôi động Những văn nghệ sĩnổi tiếng như Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Xuân Diệu, Phùng Quán, v.v…hay cả những người dân bình thường, chẳng ai giống ai trong cuộc đời hay sựnghiệp nhưng cũng chẳng ai khác ai trong bối cảnh thời đại mà họ đang sống.Những biến động riêng trong cuộc đời mỗi người lại hoà nhịp vào những biếnđộng chung của số phận dân tộc, đất nước, của dòng lịch sử
Một điểm độc đáo là, mặc dù minh bạch, thông suốt về nội dung, sáng tỏ,nhất quán về kết cấu, song hồi ký thời kỳ này lại khá đa dạng về giọng điệu.Mặc dù giọng điệu thể loại chủ đạo của hồi ký là thuật kể khách quan những
sự kiện đã qua, nhưng do sự cởi mở, phong phú về mặt phong cách và cá tínhsáng tạo từ sau Đổi mới, mỗi tác giả lại mang đến cho thể loại một giọng điệuriêng của mình Ví như, người ta có thể nói đến một kiểu hồi ký mang phong
vị Tô Hoài: “thâm hậu mà dung dị, thì thầm mà không đơn điệu nhàm chán,lan man tý chút nhưng không kẻ cả vô vị, không chút u mặc với cái giọngkhơi khơi mà nói, anh muốn nghe thì nghe, không bắt buộc nghe rồi hiểu,
đừng cật vấn… Và vì thế, sức hấp dẫn chủ yếu là sự chân thật” Cát bụi chân
ai và Chiều chiều hấp dẫn bạn đọc bởi sự linh hoạt trong cách kể chuyện,
bằng giọng điệu dí dỏm, khôi hài pha chút bông đùa nhưng cũng vô cùngnghiêm trang, thâm thuý Ví như đoạn ông viết về Phan Khôi: “Mình đọcPhan Khôi nhiều đến thế từ thuở bé, ông phải khoái lắm chứ Thế mà ông ấyđốp một câu: Tôi chưa xem bài nào của anh Chẳng biết anh viết ra cái gì.Nghe có người nói anh viết truyện con giun, con dế”, hay về Nguyễn Tuân:
“Cứ cái kiểu ấy, một đời còn biết bao gian truân” Giọng điệu của Đặng ThaiMai trong hồi ký của ông lại nhẹ nhàng, trầm tư, sâu lắng và thường hay nhấnnhá vào những “điểm sâu” trong tiềm thức Giọng của tác giả Anh Thơ trong
hồi ký Từ bến sông Thương là giọng đầy “nữ tính”, ấm áp, uyển chuyển…
Trang 20Sự phong phú của giọng điệu ấy đã góp phần quan trọng trong sự
“phục sinh” hồi ức và đa dạng hoá cái “kết cấu hồi ức” mà các tác giả xây dựng cho tác phẩm của mình Đặng Thai Mai hồi ký thể hiện rất rõ sự lựa
chọn lối hồi tưởng theo tuyến tính thời gian của tác giả: ông như muốn đi
từ điểm xa nhất về đến điểm gần nhất để ngầm nói về cái quá trình, mộtcon đường “có đầu có cuối” để đào luyện nên một Đặng Thai Mai nhưngày hôm nay Chính ông cũng đã tâm sự một cách hài hước và chân thành,ngay từ đầu cuốn sách về lựa chọn kết cấu của mình: “Viết hồi ký nên bắtđầu từ đâu? Mình thì có cái tật “cổ điển” là kể từ đầu kể đi “Đầu đi đuôi
lọt” là lời dạy của của tục ngữ phương ngôn” Khác với Đặng Thai Mai, Tô
Hoài lại thường xuyên sử dụng phép đồng hiện giữa quá khứ và hiện tại,giữa quá khứ gần và quá khứ xa trong mạch chuyện kể Nhà văn luôn tìmcách phá vỡ trình tự thời gian và không gian, hay nói cách khác, đảongược, xen kẽ không gian, thời gian trong thế giới hoài niệm của mình.Thay vì sắp xếp chúng theo trật tự biên niên như từ gần tới xa, từ hẹp sangrộng, ông lại xáo trộn chúng bằng một dòng ý thức miên man, với hìnhthức nhiều khi phi logic, hay đứt đoạn, chia nhỏ…
Như vậy, điểm lại thành tựu của thể loại hồi ký Việt Nam từ đầu thế
kỷ 20 mới nhận thấy đây là thể loại còn non trẻ, mới nở rộ trong vài thập
niên gần đây Hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương của Ma
văn Kháng là một đóng góp không nhỏ cho thể tài hồi ký cũng như cho nềnvăn học nước nhà
1.3 Hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương của Ma
Trang 21tháng do anh cả nhà văn đặt ra, khi định xin cho ông vào học trường Trunghọc Hùng Vương, tỉnh Phú Thọ, năm 1948, khi ấy giấy khai sinh đã thấtlạc) Quê gốc: phường Kim Liên, quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, làđảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam 1974.
Từ tuổi thiếu niên Ma Văn Kháng đã tham gia quân đội và được đi học ởKhu học xá Trung Quốc Sau khi về nước, ông tình nguyện lên làm việc ởLào Cai Năm 1960, ông vào Đại học Sư phạm Hà Nội Tốt nghiệp ông lạitrở về Lào Cai dạy học Ông từng là giáo viên cấp II, Hiệu trưởng trườngTrung học phổ thông Về sau ông được điều về làm thư ký cho Bí thư tỉnh
uỷ, rồi làm phóng viên, Phó Tổng biên tập báo của Đảng bộ tỉnh Bút danh
Ma Văn Kháng đã nói lên sự gắn bó và tình yêu của ông với miền đất ông
đã từng hoạt động trên 20 năm, nơi ông coi như quê hương thứ hai củamình Sau khi đất nước thống nhất, từ năm 1976 đến nay, ông về công táctại Hà Nội, từng làm Tổng biên tập, Phó Giám đốc Nhà xuất bản Laođộng.Từ tháng 3/1995 ông là uỷ viên Ban Chấp hành, uỷ viên Đảng Đoàn
Hội Nhà văn khoá V, Tổng biên tập Tạp chí Văn học nước ngoài của Hội
Kể từ truyện ngắn đầu tay Phố cụt (3/3/1961) cho đến nay, sau hơn
50 năm cầm bút, nhà văn Ma Văn Kháng đã có một gia tài văn học với hơn
10 cuốn tiểu thuyết và trên 200 truyện ngắn: Đồng bạc trắng hoa xoè (tiểu thuyết, 1979); Vùng biên ải(tiểu thuyết, 1983), Trăng non( tiểu thuyết, 1984); Mưa mùa hạ (tiểu thuyết, 1982); Mùa lá rụng trong vườn (tiểu thuyết, 1985); Côi cút giữa cảnh đời (tiểu thuyết, 1989); Đám cưới không
có giấy giá thú (tiểu thuyết, 1989); Chó Bi, đời lưu lạc (tiểu thuyết, 1992); Ngày đẹp trời (truyện ngắn, 1986); Vệ sĩ của Quan Châu (truyện ngắn,
1988); Trái chín mùa thu (truyện ngắn, 1988); Heo may gió lộng (truyện ngắn, 1992); Trăng soi sân nhỏ (truyện ngắn, 1994); Ngoại thành (truyện ngắn, 1996); Truyện ngắn Ma Văn Kháng (tuyển tập, 1996); Vòng quay cổ
điển, (truyện ngắn, 1997); Đầm sen (1997); Một chiều giông gió (1998); Ngược dòng nước lũ (tiểu thuyết, 1999); Gặp gỡ ở La Pan Tẩn (tiểu thuyết,
Trang 222001); Một mình một ngựa (2009); Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ
thương (hồi ký, 2009).
Ma Văn Kháng đã khẳng định được tên tuổi, tài năng, uy tín, sự
nghiệp của mình bằng các giải thưởng văn học: Truyện ngắn Xa phủ được
trao giải nhì (không có giải nhất) ở cuộc thi truyện ngắn 1967-1968 của
báo Văn nghệ Tập truyện ngắn Móng vuốt thời gian và tiểu thuyết Gặp
gỡ ở La Pan Tẩn được giải thưởng của Hội Văn học nghệ thuật các dân
tộc thiểu số năm 2001và 2003 Tiểu thuyết Mưa mùa hạ được Giải thưởng
văn học công nhân lần thứ 2 (1985) do Tổng Liên đoàn và Hội Nhà văn tổ
chức Giải B của Hội Nhà văn Việt Nam 1986 cho tiểu thuyết Mùa lá
rụng trong vườn.
Tặng thưởng của Hội đồng Văn xuôi Hội Nhà văn Việt Nam, 1995,
cho tập truyện ngắn Trăng soi sân nhỏ, Giải thưởng Văn học Đông Nam Á
1998, Giải thưởng của Hội Nhà văn Hà Nội 2009 cho tiểu thuyết Một mình
một ngựa…
Ma Văn Kháng được đề cử vào Ban Chấp hành của Hội Nhà văn,làm trưởng Ban sáng tác của Hội Hè năm 2004, ông được mời tham giachấm chung khảo cuộc thi viết truyện ngắn cho học sinh, sinh viên thanhniên của Nhà xuất bản Giáo dục… Ông đã gây được rất nhiều sự chú ý,quan tâm của dư luận và người hâm mộ, được mời tham dự các buổi giaolưu văn học nghệ thuật trên thế giới Mùa hè năm 1977 ông tham dự traođổi văn hóa với Hội Nhà văn Mông cổ Tháng 4 năm 1988, ông tham dựtrao đổi văn hoá với Hội Nhà văn Liên Xô, với Hội Nhà văn Udơbekitan.Tháng 11 năm 1990, ông đi Nhật Bản giao lưu với bạn đọc nhân xuất bản
tiểu thuyết Mưa mùa hạ dịch ra tiếng Nhật theo lời mời của Quỹ Giao lưu
quốc tế - Trung tâm Văn hoá Châu Á - Nhật Bản Tháng 8 năm 1992, ôngtham dự Hội nghị quốc tế chuyên đề về trào lưu văn học Tự lực văn đoàn ởCopenhaghen, Đan Mạch Tháng 5 năm 1996, ông làm trưởng đoàn nhàvăn Việt Nam đi trao đổi văn hoá với Hội Nhà văn Trung Quốc Tháng 10
Trang 23năm 1996, ông sang làm việc và thăm Lào theo lời mời của Hội Nhà vănLào Tháng 4 năm 1997, ông đi Hoa Kỳ dự hội thảo triển vọng Châu Á.Tháng 9 năm 1998 đi Băng Cốc, Thái Lan nhận giải thưởng Văn họcASEAN…
1.3.2 Hồi ký “Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương” trong sự nghiệp văn học của Ma Văn Kháng
Ma Văn Kháng là nhà văn sung sức Ông viết một cách chuyênnghiệp và tưởng như ông viết mãi vẫn chưa cạn cái kho vốn sống, vốn từngữ lúc nào cũng ngồn ngộn của ông Và, cuối cùng, ở tuổi “thất thập cổ laihy”, nhà văn tài danh đã đáp ứng sự chờ đợi và mong mỏi của đông đảo
bạn đọc cùng văn hữu với sự ra mắt cuốn Hồi ký Năm tháng nhọc nhằn,
năm tháng nhớ thương Đặt trong văn nghiệp của ông thì cuốn hồi ký mới
xuất bản gần đây chiếm một vị trí không nhỏ, và thực sự đã thu hút được sựquan tâm của dư luận và đông đảo bạn đọc Nhà văn Hồ Anh Thái kể lại :
Mười mấy năm trước khi đọc hồi ký Chiều chiều của nhà văn Tô Hoài, tôi
có nói ra mong ước có ngày được đọc hồi ký của một số nhà văn lớp trước.Lúc ấy, Ma Văn Kháng bảo: “viết hồi ký cũng phải có một giọng riêng”.Nghe như một lời thoái thác Việc viết tiểu thuyết đã quá bận rộn, hoạtđộng xã hội cũng lấy mất nhiều thời gian, rồi sưc khoẻ không phải lúc nào
cũng đảm bảo để ngồi viết…Ông tâm sự với báo chí: “cuốn tiểu thuyết Một
mình một ngựa và hồi ký Năm tháng nhọc nhằn năm tháng nhớ thương tôi
viết từ trước lúc ốm Từ lúc mang bệnh, tôi chỉ viết lách nhì nhằng thôi.Tuổi cao rồi, ham hố sao được Mà ham hố làm gì, chả bõ để người ta cườicho” Là nói vậy nhưng cứ nghĩ rằng ở tuổi 73, trong khi lại đau ốm vì mổnong tim, và liên tục phải đi viện như thế thì ông sẽ tự cho phép mình nghỉngơi, vậy mà không Bạn bè ông bảo, trong ngăn kéo của ông lúc nào cũng
có truyện, có cái là ông có thích công bố hay không thôi Nhưng rồi cuốicùng thì Ma Văn Kháng cũng đã viết và công bố hồi ký đời mình, cũngchẳng phải tìm giọng, vẫn là cái giọng văn đặc sắc mà bạn đọc từng biết
Trang 24Ngoại trừ khoảng hơn mười chỗ bị lược bớt (trong bản in đã đưa các
ký hiệu (…) vào những chỗ đó để người đọc nhận ra, chấp nhận sự hẫnghụt, đứt đoạn khi đang bị cuốn hút bởi mạch văn trôi chảy), phần chínhyếu, căn cốt trong bố cục 26 chương của sách vẫn được tôn trọng Nhưng
“thà có (hoặc muộn) còn hơn không”, “chớ tham bát bỏ mâm”, nhà văn đãkhông phàn nàn điều gì về tình trạng như hiện thời của cuốn sách mà ôngviết chật vật, kỳ thu với bao tâm huyết, sửa chữa, bổ sung và hoàn thiệntrong 4 năm ròng (từ năm 2005) Hy vọng vài năm tới, trong một tình thếkhác, khi tái bản theo yêu cầu của bạn đọc, cuốn sách sẽ lại được hiện diệnvới sự đầy đủ, hoàn chỉnh của nó như bản thảo gốc lần đầu?
Lần theo cuốn sách từ những chương đầu, dần dần mở ra trước mắtngười đọc: nguồn gốc xuất thân, tính cách, phẩm chất tinh thần, nhân cách
và bản lĩnh của nhà giáo, nhà báo, nhà văn Đinh Trọng Đoàn - Ma VănKháng Con đường mà Đinh Trọng Đoàn từ một chàng trai đầy nhiệt huyết,nuôi dưỡng hoài bão lớn trong lập thân, lập nghiệp, qua cương vị nhà giáotrẻ tận tâm, tận lực với nghề dạy văn ở bậc phổ thông và có đôi chút năngkhiếu văn chương đến sự khẳng định tài năng của cây bút trẻ Ma VănKháng vào những năm 60,70 - thật không dễ dàng chút nào! Bằng nhữngmẩu chuyện sinh động, nhà văn xới lật trở lại cội nguồn, gốc rễ hình thànhtính cách tự lập, tự trọng của người con trai họ Đinh thuộc vùng quê ĐồngLầm - Kim Liên, nghị lực rèn luyện, tu thân, tích luỹ tri thức văn hóa trongthời gian học ở khu học xá (Trung Quốc) trong con ngươi nhà giáo tươnglai
Cùng với niềm đam mê viết như là sự phân thân, để trình bày chínhkiến, quan điểm trước những vấn đề của xã hội và con người trong nhữngnăm tháng đầy biến động của đất nước đêm trước cao trào đổi mới, tác
phẩm Hồi ký của Ma Văn Kháng - như tên gọi của nó Năm tháng nhọc
nhằn, năm tháng nhớ thương - qua những tư liệu đời sống về gia đình và
những người cùng thời, đã khắc họa một cách ám ảnh một thời kỳ của đời
Trang 25sống xã hội đang trên bờ vực thẳm, tất yếu phải đổi mới để tồn tại và pháttriển
Những số phận con người bất hạnh, không phải lúc nào cũng suôn
sẻ, những chân dung biếm họa về loại người lưu manh, hãnh tiến, táng tậnlương tâm, sẵn sàng vì tư lợi chà đạp lên nhân phẩm của người khác bấtchấp công lý… xuất hiện trong những truyện ngắn, tiểu thuyết mới củaông Cùng với nó những chủ đề mới vang lên trong sáng tạo Ma VănKháng: sự vong thân của con người trước những cạm bẫy khôn lường; sự
hy sinh, dấn thân vì tiến bộ xã hội của những nhân cách cao thượng có vănhóa; sự suy thoái của xã hội khi để cho đồng tiền, thói phi luân và hạngngười phi nhân thao túng; khi người ta quên lãng chăm lo gìn giữ nền tảnggia đình với gia phong và kỷ cương tốt đẹp cùng sự quan tâm lẫn nhau mộtcách vô tư, chân tình
Bạn bè gắn bó thân thiết trên những bước đường đời và những bạnvăn mới cũ thuộc nhiều thế hệ được ông nêu tên trong cuốn sách có dễ đếnhàng trăm người có dư Người được ông dành nhiều trang, người thì dăm
ba dòng - đó là những giáo viên, nhà báo, nhà khoa học, nhà văn, nhữngcán bộ lãnh đạo, quản lý của Đảng và Nhà nước - những bậc trí thức củamột thời không quên Mỗi người một vẻ, một tạng tính cách, khẩu khí, cửchỉ khác nhau, con đường đời và số phận với những lối rẽ, kết cục không aigiống ai Nhưng từ những trang viết về họ, nhà văn như đã chạm nổi họtrên trang sách, bởi họ đã kết tinh sự muôn hình muôn trạng về nhân tìnhthế thái của một thời chiến tranh khốc liệt kéo dài, tư duy một chiều và cóphần xơ cứng, tiếp đến là những năm đầu hậu chiến, khủng hoảng và bĩcực Phải đợi đến khi biết “tự cởi trói, tự cứu lấy mình trước khi Trời cứu”,những nghệ sĩ và trí thức mới hoàn nguyên bản thể đích thực và thiênlương của mình Nhà văn Ma Văn Kháng đặc biệt dành sự cảm thông,ngậm ngùi chia sẻ với những số phận bẽ bàng, cô độc và không may mắn -những con người có vẻ lạc thời, một mình độc thiện kỳ thân không hòa
Trang 26nhập được với tập thể với người đời xung quanh mình Họ bảo lưu sự khácbiệt của họ với những tâm niệm bất di bất dịch và ôm ấp cái gọi là khí
phách thanh cao của kẻ sĩ Và cả những người “một mình một ngựa”, có
đức, có tài và nhiều hoài bão, ưu thời mẫn thế, nhưng chịu cô đơn trong đờithường Song ngòi bút của Ma Văn Kháng cũng không kìm được sự phẫn
nộ trước sự thoái hóa biến chất, thói quan liêu thờ ơ trước nỗi đau, khốnkhó của người khác Chúng tiềm ẩn như một con bệnh trầm kha trong một
bộ phận cán bộ, công chức quan liêu, cửa quyền, quen thói hạch sách,nhũng nhiễu những người dân lương thiện - những “thảo dân”
Hồi ký của Ma Văn Kháng là một nỗi niềm tự bạch của một nhà văntâm huyết với cuộc đời, với văn chương và với bạn bè trong cõi nhân thế.Duy trì một tâm thế lắng đọng, một bút pháp tôn trọng sự trung thực vớibản chất các sự kiện, tính cách con người, tác phẩm ông cho thấy một chútu-mua hóm hỉnh tự trào của nhà văn, nhẹ nhàng nhắc nhở người khác, việcnày việc nọ, để đạt tới sự hoàn thiện và cái đẹp của nhân cách, của vănchương Không phải ngẫu nhiên nhà văn Ma Văn Kháng chọn mấy câu thơcủa Tú Xương làm đề từ cho cuốn sách “Những là thương cả cho đời bạc/Nào có căm đâu đến kẻ thù”, cũng như ở những dòng cuối sách ông chorằng mình viết sách này chỉ để “ghi chép những câu chuyện đã qua của đờimình đó là việc nên làm và không có tham vọng gì, chỉ là một cuộc tròchuyện với chính mình, một cuộc độc thoại hoặc mở rộng ra đôi chút là đểtâm tình cùng người thân và bạn bè thân thiết mà thôi”
“Ôn cố tri tân”, cuốn sách khép lại một giai đoạn đã qua của đờisống văn học đất nước mà ông và những bạn bè, đồng nghiệp đã can dự, đãlàm việc hết mình vì nó
Trang 27Chương 2.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ HIỆN THỰC VÀ VĂN HỌC QUA CÁI NHÌN
CỦA MA VĂN KHÁNG TRONG HỒI KÝ NĂM THÁNG NHỌC
NHẰN NĂM THÁNG NHỚ THƯƠNG
Hiện thực là chất liệu để xây dựng nên tác phẩm, đó là nguyên lýsáng tạo nghệ thuật đã được thừa nhận từ rất lâu nay Nhưng khi đi vào tácphẩm thì sự phản ánh của nhà văn về hiện thực phải đạt đến độ chân thực
và cao hơn nữa phải trở thành một chuẩn mực, kết tinh không chỉ cái đẹpcủa tự nhiên, của con người mà còn phản ánh cái đẹp của tâm hồn tìnhcảm, thái độ ứng xử của người viết trước hiện thực đó Từ số phận cá thể,soi chiếu qua lịch sử, người đọc có thể hình dung ra một thời đại Sức hấpdẫn của những thông tin về đời sống trong hồi ký là ở chỗ, xuất phát từđiểm nhìn của cá nhân, của một người trong cuộc biết sâu,biết rõ về nhữngđiều mình viết, tác giả các cuốn hồi ký đã làm sống lại chân dung thời đại,con người đã qua một cách sống động, chân thực Với khả năng quan sáttinh nhạy, khả năng nhận biết thâu tóm vấn đề nhanh chóng Đặc biệt làmột tấm lòng ưu tư trước cuộc đời, một lối sống có trách nhiệm với chínhbản thân mình, với xã hội, tác giả các cuốn hồi ký nói trên đã cho ngườiđọc những bức tranh mới phác thảo về cuộc sống và con người Việt Namtrong một chặng đường lịch sử đầy biến thiên Tiếp nhận hồi ký của họ,loại trừ những nhận xét đánh giá chủ quan, người đọc sẽ có cái thú vị khiđược trở về với sự thực chưa pha cất, chưng lọc, một sự thực nguyên khối
mà sự đánh giá về nó trên thực tế có thể khác nhau và trái chiều Các tácgiả hồi ký còn cung cấp cho ta một điểm nhìn, để hiểu thêm những trăn trởcủa họ về những vấn đề xã hội, nhân sinh…
Hồi ký Ma Văn Kháng, 552 trang viết thâu tóm hành trình một đờivăn với biết bao chuyện đời, chuyện người Trong lớp lớp những câuchuyện ấy là gương mặt đất nước một thời vừa nhọc nhằn, buồn bã nhưng
Trang 28cũng đầy chia sẻ và yêu quý… Trong quá trình khảo sát vấn đề đặt ra ởchương 2 này, chắc chắn sẽ có nhiều chỗ không tránh khỏi những thao tácphân tích, xử lý thông tin mang tính xã hội học Song, thiết nghĩ đó là điềukhó tránh với đặc trưng của đối tượng khảo sát là hồi ký.
2.1 Hồi ký Ma Văn Kháng với dấu ấn lịch sử, quê hương, thời cuộc
2.1.1 Lịch sử phường Kim Liên - Hà Nội, quê sinh của Ma Văn Kháng
Hơn 500 trang hành trình một đời văn được mở đầu bằng buổi lễ VuLan, sống động từ ngọn bạch lạp cháy dựng hình búp đa đến những khuônmặt người thân như cô Quỳ chít khăn mỏ quạ, lưng còng tay chống gậytrúc, với những ông Cát râu quai nón đen rậm, đầu hói bóng, tráng kiện,nghênh ngang, với những chị Nứa nồng hậu đảm đang… Buổi lễ Vu Lanvới bao hồi tưởng quá vãng ấy đã rất dịu dàng “buộc” người đọc theo vềnhững chuyện trong hồi ký với tâm thế hoài niệm, đồng cảm
Nhà văn tâm sự: “Tôi nhận ra, con người ta đến một độ tuổi nào đó,sau những trải nghiệm sâu xa của cuộc đời mới biết yêu thương, tình quêvới tôi chỉ trở nên thắm thiết, khi tôi lớn lên trưởng thành, khi tôi nhận ra
sụ gắn bó máu thịt với tổ tiên ông bà, ba mẹ tôi Khi đến một lúc nào đó,như trong cái lễ Vu Lan tôi được tham dự, trong hồi tưởng chan hoà, saubao thăng trầm biến đổi giữa cuộc đời, tôi bồi hồi trở về với cộng đồng giatộc như một phương cách để chống lại mặc cảm cô đơn; và mối liên hệ củatôi với phả hệ gia đình về cơ bản đã biến thành mối liên hệ huyết mạch ở
độ sâu tâm linh vô cùng thiêng liêng”
Trong nỗi niềm hoài cổ, nhà văn đã đưa ta về với làng Kim Liên xưa,vốn là một làng cổ, với những ngành nghề truyền thống, những câu chuyện gắnliền với những giai thoại đặc sắc Làng nằm ở trục đường quốc lộ số 1, sát kềcửa ô Đồng Lầm mở ở phía Nam, một trong năm cửa ô của thủ đô Hà Nội
Kim Liên trước gọi la Kim Hoa, xa xưa nữa có tên là Đồng Lầm.Tên Đồng Lầm cớ lẽ được đặt ra từ thời Lý Đến thời Hậu Lê, Lê ThânTông niên hiệu Vĩnh Tộ, thì tên làng từ Đồng Lầm được đổi là Kim Hoa
Trang 29Kim Hoa, theo chữ Hán, dịch ra là bông hoa bằng vàng Đến đời vuaNguyễn Hiền Tổ (1841) năm Tân Sửu, niên hiệu Thiệu Trị, làng lại đổi tênmột lần nữa là làng Kim Liên, vẫn thuộc vùng ven đô Hà Nội Với nhà văn,
ba cái tên: Đồng Lầm- Kim Hoa- Kim Liên, tên nào cũng đẹp đẽ và có ýnghĩa cao quý
Xưa kia làng ở thế đất rất đẹp Từ trên gò cao nhìn xuống, thấy cóđồng ruộng, hồ nước, gò thấp gò cao, cây cối um tùm, luỹ tre xanh tươi baobọc Chùa làng là một ngôi chùa cổ rất đẹp Di tích lịch sử còn lại đến ngàynay đáng kể nhất là ngôi đền thờ thần Cao Sơn Đại Vương, một vị thần cónhiệm vụ trấn thủ ở cửa ngõ phía Nam, cùng với đền Voi Phục thờ thầntrấn phía Tây, đền Quán Thánh thờ thần trấn phía Bắc, đền Bạch Mã thờthần trấn phía Đông, hợp thành tứ trấn của kinh thành Thăng Long
Kim Liên không phải làng khoa bảng Đây là làng của dân lao động.Người làng ở đây làm nhiều nghề trước hết là nghề thả rau muống, chănthả và buôn bán cá Có lẽ vì quanh làng có nhiều hồ ao Rau muống thả trên
hồ ăn rất ngon, được gọi là “thịt trâu Đồng Lầm” Cùng với rau muống đặcsản nổi tiếng, làng còn có nghề nhuộm vải Chung quanh các hồ đầm cónhiều bãi cỏ rộng dùng để phơi vải Vải phơi sau khi đã dấn bùn lấy từ lòng
hồ Đồng Lầm lên, kết lại thành một thứ màu nâu sậm như cánh dán rất săn
se và bền chắc Vải dấn bùn hồ Đồng Lầm, nên có tên là vải Đồng Lầm
Làng còn có nghề cắt tóc Nhà văn hồi tưởng: “tôi còn nhỏ đã thấynhững ông thợ cắt tóc rong Sớm, mỗi ông xách một cái hòm đựng tông-đơ,dao kéo và một cái ghế vải gấp đi lên phố Tối mịt mới trở về, sau mộtngày đi rong “vít đầu vít cổ” từ người lớn cho đến trẻ em” Cắt tóc là mộtnghề thủ công truyền thống của làng Kim Liên Từ đây trai làng tung đibốn phương lập nghiệp Có người nói:“Cứ thấy hiệu cắt tóc nào lớn và cótính cha truyền con nối ở bất cứ một thành phố nào, dù là các tỉnh phía Bắchay Sài Gòn hoặc Đà Nẵng cũng vậy, khi hỏi thì dứt khoát ông chủ đó làngười làng Kim Liên”
Trang 30Bây giờ thì tất cả đều đã khác xưa, tên làng cũng không còn; dânlàng tan hoà vào đám người tứ xứ thành một lớp cư dân mới… Nhưng, vớinhà văn “nơi đây, đất này vẫn là gốc tích xuất xứ của tôi, là quê hương bảnquán của tôi, gắn bó với cội nguồn tình cảm, in dấu trong tâm linh tôi, mỗilúc một trở nên da diết hơn trong sự hiểu biết của tôi về quê hương mình”.
2.1.2 Thiên nhiên và con người Lào Cai, quê hương thứ hai của
Ma Văn Kháng
Hai mươi hai năm sống và làm việc tại vùng đất Lào Cai biên viễn,nơi đây đã gắn bó máu thịt với nhà văn, trở thành quê hương thứ hai củaông Hai mươi hai năm với một đời người! Nơi đây ghi dấu cuộc đời ông,
từ anh giáo trẻ Đinh Trọng Đoàn hăm hở lên miền núi dạy học đến khithành danh với bút hiệu Ma Văn Kháng
Từ năm 1952 đến tháng 12 năm 1954, Ma Văn Kháng là giáo sinhcủa khoa Xã hội trường Sư phạm trung cấp đóng tại khu học xá Nam Ninh,Quảng Tây, Trung Quốc Sau khi tốt nghiệp về nước, trong khi đa số cácbạn về quê hương hoặc các thành phố thì Ma Văn Kháng lại xung phong điTây Bắc Ông viết trong hồi ký: “Có một lời vẫy gọi tha thiết ở nơi xa ấy,
có một khát khao tìm kiếm ở vùng đất lạ ấy? Có một tình yêu man mác vàquấn quyến ở cảnh sắc, con người miền đất ấy? Chưa phải là thời kỳ của
Ba sẵn sàng Cũng không có chủ trương vận động Nhưng đã có một thôithúc vừa da diết vừa mơ hồ trong tôi Nó cho tôi cái cảm giác rằng ở nơi đótôi sẽ sống thoải mái và làm được một việc gì có ích Dạo đó tôi đã đọc và
mê Truyện Tây Bắc của Tô Hoài”.
Thiên nhiên và con người Lào Cai đã để lại dấu ấn trong rất nhiềusáng tác của ông, cùng với đề tài về đô thị, trở thành đề tài chính trong sựnghiệp văn chương Ma Văn Kháng
Ngày ấy, từ Lào Cai đi Yên Bái không có đường ô tô, đường sông thìgập ghềnh hiểm trở, chỉ có con đường sắt đã bị bóc ray từ thời tiêu thổ
Trang 31kháng chiến Thế là chàng trai Đinh Trọng Đoàn cùng nhóm trai trẻ đãquyết định đi bộ đoạn đường 150km, dù cho hôm đó đã là 29 tết!
Qua ngòi bút nhà văn, thiên nhiên Tây Băc hiện lên thật nên thơ.Hoa lau nở trắng mỗi chặng đường, líu lo tiếng chào mào buổi sớm Trênnhững thảm rừng xanh hoa giềng dại như giấy trắng xé tung rải từng vệtdài “Lào Cai, thị trấn địa đầu Tổ quốc, cửa khẩu thông thương sầm uất có
từ thế kỷ 19, nơi ngã ba hợp lưu của con sông Hồng đỏ lợ phù sa và sôngĐầm Thi xanh trong leo lẻo Lào Cai trong cái nhìn ngờ ngợ của tôi giữachiều xuân rét mướt này, bỗng gần gụi thân thương khác thường, dẫu tôichưa một lần chạm mặt” Lào Cai như “bảo tàng sống của mọi cuộc đời”với những cao lâu, tửu điếm, những cửa hàng thuốc bắc, những ngõ nhỏ liuriu cháy ngọn lửa nhỏ đun nồi “sủi dìn” bánh trôi nhân ngọt ngâm trongnước gừng thơm cay… Nơi đây đã từng được coi là hòn ngọc viễn đôngbởi có sòng bạc lớn thu hút mọi hạng người, từ nhà điền chủ tận Nam Kỳđến những kẻ khố rách áo ôm lo ăn từng bữa Tuy vậy, khí hậu ở đây rấtđộc Sốt rét rên hừ hừ, để cái chăn bông sáu cân lên người mà vẫn không ănthua Đàn ông có hình dạng đặc biệt mà nơi khác không có, đó là cái bụngbáng to bằng cái thúng và đôi tai bẹp vì nằm hút thuốc phiện…
Năm học 1955- 1956 là năm đầu tiên tỉnh Lào Cai mở trường cấp 2.Đây được coi như thành tựu lớn lao của cách mạng Trường tiểu học cũtrước đây bị bỏ hoang, biến thành tràn ngựa, giờ đem khôi phục lại Ngàykhai trường thực sự là một ngày hội lớn, cả thị xã tưng bừng nô nức Anhthanh niên Đinh Trọng Đoàn ngày ấy mới 19 tuổi đã đảm nhiệm chức vụHiệu trưởng một trường có tới hơn chục giáo viên và ba bốn trăm học sinh.Đồng lương ít ỏi cộng với tiền phụ cấp chỉ đủ tiền thức ăn, cắt tóc, mua xàphòng và quà sáng “Vậy mà ngày đêm chỉ một khát khao, một mong muốntruyền tới học sinh các kiến thức mới mẻ với tất cả sức nóng ấm của ngọnlửa nhiệt tình lý tưởng và tình yêu cuộc đời Vậy mà vẫn say mê tràn đầy,
xả thân tháo sức ra mà làm việc”
Trang 32Thời kỳ này dạy học đi liền với xây dựng trường sở Thầy trò có khiphải dành cả tuần để lên rừng đốn gỗ, chặt tre, đánh gianh, thả bè về xâydựng trường lớp Học sinh rất siêng năng và quý trọng thầy Tuy vậy, nhàtrường có thể đóng cửa nghỉ học bất cứ lúc nào Giáo viên cũng có thể đìnhchỉ việc giảng dạy bất cứ lúc nào để tham gia vào các công việc cấp thiếtcủa tỉnh nhà, thậm chí là đi bắt sâu hại mùa màng, đi chống hạn cứu lúacứu ngô…
Những ngày hè đi làm công tác thuế nông nghiệp, Ma Văn Kháng đãđược tiếp xúc nhiều với bà con dân tộc thiêu số nơi đây, những con ngườithật thà, chất phác, lúc nào cũng nhiệt tình xởi lởi đón tiếp cán bộ Quanhững trang hồi ký của ông, người đọc sẽ được biết thêm rất nhiều về lốisống cũng như phong tục tập quán của đồng bào nơi đây, đặc biệt là ngườiGiáy
Người Giáy hút thuốc lào cả nam lẫn nữ Khách đến, việc đầu tiên làchủ nhà đưa điếu đã nạp sẵn mồi thuốc với nõ và que đóm ngâm cháy bén.Ống điếu thuốc lào người Giáy to lút miệng, nõ điếu dài Thuốc là thuốcmộc, nhẹ hơn các loại thuốc khác Chính nhà văn đã nghiện thuốc lào từnhững ngày làm thuế ở đây, để tới mãi hai mươi năm sau, sau một trận ốmkéo dài 6 tháng mới hoàn toàn dứt bỏ được
Người Giáy nấu cơm như đồ xôi, cơm ăn tuy hơi nhạt nhưng lúc nàocũng có nước gạo để chan cơm, để uống cả ngày và để nuôi lợn Một điểmđáng quý là người Giáy rất hiếu khách Khách ở bản khác sang, nữ thì ngủ ởbuồng trong, nam thì ngủ ở gian giữa, dù nghèo đến mấy cũng thắp đèn suốtđêm Còn bữa ăn thế nào cũng có thịt lợn, kém hơn cũng có thịt gà thịt vịt
Đặc biệt ấn tượng với nhà văn là những điệu hát Giáy Vươn Giáy,
Hát Giáy là đặc sản văn hoá của người Giáy ở Lào Cai Cuộc hát có lớp
lang, bài bản, tuần tự Thoạt đầu là hát chào, hát mời nước, mời thuốc, rồilan sang các địa hạt khác dưới hình thức thách đố và trả lời Bên khách, bênchủ, hát bài nào thì có bài đối đáp tương ứng Mỗi bên đều có người cầm