Với việc cho xuất hiện nhiều lần trong thơ của mình những giấc chiêm baohay những hình ảnh biểu hiện ớc mơ về cuộc sống hạnh phúc , tốt đẹp ở một thếgiới khác lạ, các nhà thơ mới đã tạo
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Lời nói đầu
Thơ mới là thơ của thời đại cái tôi cá nhân, đã đi sâu khám phá thế giới bêntrong, thế giới tâm linh của con ngời Việt Nam trong hoàn cảnh bấy giờ Vớiviệc nhiều lần nói tới giấc chiêm bao hay những hình ảnh biểu hiện ớc mơ vềcuộc sống ở một thế giới khác lạ, các nhà thơ mới đã tạo dựng đợc một "thế giớimộng" thực sự hấp dẫn, xứng đáng là đối tợng của một sự nghiên cứu chuyênsâu có hệ thống
Trang 2Thế giới mộng trong thơ mới chính là thế giới của cái đẹp của thơ đối lậpvới thế giới thực tại đầy giả dối thô lậu Mộng là một hiện tợng thẩm mỹ cầnchú ý tìm hiểu vì qua đó ta thấy đợc nhiều vấn đề nội dung và nghệ thuật củathơ mới Có nhiều cách nhận diện các xu hớng tìm tòi phát triển của thơ mới Tìm hiểu vấn đề thông qua khảo sát thế giới mộng là một cách, càng đi sâu vào
đối tợng này, ta càng có điều kiện thấy rõ: thế giới nghệ thuật của thơ mới nóichung, là một thế giới đợc cấu trúc hoá chặt chẽ, đụng đến một thành tố bộphận bất kỳ nào cũng là đựng đến toàn bộ tổ chức của nó
Đề tài: " Thế giới mộng trong thơ của các nhà thơ mới 1932 - 1945 " là một
đề tài mới Chúng tôi mong muốn qua đề tài này đóng góp công sức nhỏ bé củamình vào việc nhìn nhận khẳng định giá trị nhiều mặt của thơ mới trong lịch sửthi ca dân tộc Với khuôn khổ của một luận văn, đây là một việc làm rất khókhăn Với sự giúp đỡ của thầy cô, gia đình, bạn bè, và đồng nghiệp luận văn đã
đợc hoàn thành đúng thời gian quy định
Đặc biệt tôi xin chân thành cảm ơn thầy giáo Phan Huy Dũng đã tận tình vàchu đáo hớng dẫn tôi hoàn thành luận văn Ngoài ra tôi xin cảm ơn em NguyễnHơng Giang đã cung cấp cho tôi một số t liệu quý, phục vụ cho việc hoàn thànhluận văn
Vinh, ngày 15 tháng 12 năm 2002
Trang 3Mở Đầu
1 Lý do chọn đề tài
Phong trào Thơ mới là hiện tợng thơ lớn nhất trong nửa đầu thế kỷ XX, đã
đa thơ ca Việt Nam buớc vào thời kỳ hiện đại, tạo nên ảnh hởng sâu rộng đốivới sự phát triển thơ ca dân tộc
Thơ mới là thơ của thời đại cái tôi cá nhân Chịu ảnh hởng của nền văn họcnghệ thuật thế giới thế kỷ XX vốn đề cao vai trò của các yếu tố tâm linh, vôthức, thơ mới Việt Nam đã đi sâu khám phá thế giới bên trong, thế giới tâm linhcủa con ngời Việt Nam trong hoàn cảnh bấy giờ
Với việc cho xuất hiện nhiều lần trong thơ của mình những giấc chiêm baohay những hình ảnh biểu hiện ớc mơ về cuộc sống hạnh phúc , tốt đẹp ở một thếgiới khác lạ, các nhà thơ mới đã tạo dựng đợc một thế giới " mộng" thực sự hấpdẫn, đáng là đối tợng của một sự nghiên cứu chuyên sâu có hệ thống
Cho đến nay những giá trị phong phú của thơ mới về nghệ thuật và nội dung đã
đợc khám phá và khẳng định Vấn đề thế giới mộng trong sáng tác của các nhà thơmới cũng đã đợc một số nhà nghiên cứu bàn tạt qua khi nghiên cứu về những nộidung khác của thơ mới Đây cũng là vấn đề dẫn đến một số cách nhìn nhận cha thoả
đáng cho thơ mới là tiêu cực, là thoát ly, có hại cho dân tộc, cho cách mạng
Trong thời kỳ đổi mới hiện nay, nhìn nhận đánh giá một cách khách quan,khoa học, có hệ thống về thế giới mộng trong thơ của các nhà thơ mới là điều cầnthiết để khám phá tìm hiểu thêm về giá trị của thơ mới - một di sản văn hoá vănhọc quý báu của dân tộc
Đi sâu vào nghiên cứu đề tài này chúng tôi hy vọng khám phá cấu trúccủa một thế giới mà các nhà thơ mới đã sáng tạo nên, nó khác lạ đối lập vớithực tế xã hội đen tối lúc bấy giờ Trong thế giới mộng ấy có không gian thờigian, có nhân vật có âm thanh, màu sắc, có hoạt động …thể hiện niềm khátthể hiện niềm khátkhao cuộc sống toàn mỹ Chúng tôi mong muốn qua đề tài này đóng gópcông sức nhỏ bé của mình vào việc nhìn nhận, khẳng định giá trị nhiều mặtcủa thơ mới trong lịch sử thi ca dân tộc Đặc biệt với nó chúng tôi sẽ có cơhội hiểu rõ vấn đề " mộng" không phải bao giờ cũng là một cái gì viển vông,vô bổ mà nhiều khi nó trở thành một yếu tố then chốt nâng những sự phản
ánh hiện thực tầm thờng lên thành nghệ thuật
2 Lịch sử vấn đề
Ra đời từ đầu những năm 30 của thế kỷ XX, chịu sự ảnh hởng to lớn củavăn hoá phơng Tây, …thể hiện niềm khát Thơ mới đã là đối tợng trung tâm của cuộc tranh cãi ồn
ào và kéo dài đến bốn năm năm sau
Thơ mới là thơ của thời đại cái tôi , thời đại khẳng định cái tôi nh một bản lĩnhtích cực trong cuộc sống và nh một chủ thể sáng tạo độc đáo trong nghệ thuật Lần
đầu tiên có một cái tôi cá thể hoá trong cách cảm thụ thế giới và thiên nhiên để tạonên một sự đa phong cách trong nghệ thuật Cái thế giới bên trong, thế giới tâm linh
Trang 4vô thức, với những tình cảm, khát vọng ớc mơ, cách nhìn cuộc sống thời đại của mỗicá nhân đợc bộc lộ đa dạng phong phú và phức tạp trong thơ mới
Trong lịch sử nghiên cứu thơ mới ta thấy vấn đề giá trị nội dung giá trị nghệthuật …thể hiện niềm khát của thơ mới đã đợc quan tâm nghiên cứu từ rất sớm Nhng ở từng thời
kỳ, từng giai đoạn, thơ mới lại đợc nhìn nhận đánh giá khác nhau Một trongnhững nguyên nhân tạo nên cách đánh giá không thống nhất về thơ mới là diễnbiến phức tạp đa dạng của thế giới tâm linh, của con ngời Trớc cách mạng, saucách mạng cho đến những năm 80, thơ mới đã trải qua những cuộc chìm nổi kháthăng trầm Điều đó là do hạn chế của lịch sử vì cách nhìn nhận đánh giá giá trịtác phẩm văn học ở mỗi ngời, mỗi thời kỳ có những điểm khác nhau Âu đócũng là định mệnh của những cái mới thuở chúng ra đời
Từ khi ra đời đến 1945
Trớc cách mạng Tháng Tám các nghiên cứu về thơ mới thờng diễn ra ở cấp
độ khái quát Hoài Thanh, Hoài Chân trong " Thi nhân Việt Nam " đã để tâm
đến vấn đề đặc điểm phong cách của từng thi nhân trong thơ mới : " Đời chúng
ta nằm trong vòng chữ tôi, mất bề rộng ta đi tìm bề sâu Nhng càng đi sâu càng lạnh, ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lu trong trờng tình cùng Lu Trọng L,
ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu …" " " " Mộng mới thực là quê hơng của L." Vấn đề mộng của từng tác giả phần nào đã đ-
ợc tác giả " Thi nhân Việt Nam " định danh, gọi tên bằng đặc điểm riêng, khái
quát trong đặc điểm phong cách chung
Trên các bài viết trên, báo chí, tạp chí, thơ mới bị tấn công từ nhiều phía.Những nẻo thoát ly của các thi sĩ trong thơ mới bị một số nhà phê bình theoquan điểm vô sản phê phán mạnh mẽ, coi là phản động là tiêu cực, có lợi cho
sự bức bối tối tăm của họ , không mấy ai để ý đến" (Tiểu thuyết thứ bảy, số 62,
tháng 8 - 1935)
Các chiến sĩ xã hội phê phán phái " nghệ thuật vị nghệ thuật" ( dĩ nhiên trong
đó bao gồm thơ mới) là chỉ phục vụ cho một số thiểu số giàu có đủ ăn đủ mặc, thừa
d rãnh rỗi, nó không đợc đám bình dân thởng thức Đó là những chuyện mơ mộng,vẩn vơ, không liên quan gì đến cuộc sống tối tăm lầm than của họ
Nhìn chung trớc cáng mạng Tháng Tám, những đặc điểm của thế giới mộngtrong thơ mới có đợc nhắc đến trong các bài viết của Hoài Thanh hoặc một vàitác giả khác trên báo chí nhng chỉ mới chung chung chứ cha đợc nghiên cứu táchbiệt nh một vấn đề nổi bật mang tính nghệ thuật của thơ mới
Trang 5Từ 1945 đến thời kỳ đổi mới
Cách mạng tháng Tám là một cuộc đổi đời, một sự xáo trộn toàn diện
Trong không khí cách mạng nhiều ngời nói đến vấn đề "nhận đờng", "lột xác" để đi theo một nền nghệ thuật mới Trong bối cảnh đó thơ mới bị đem ra
xem xét
Hoài Thanh ngời trớc cách mạng đã từng xem "thơ mới là cái vui duy nhất
" đã nói trong " Nói chuyện thơ kháng chiến" ( 1951): " Xét về phơng diện khách quan thì ngày trớc hay bây giờ những câu thơ buồn nản hay mơ mộng vẩn vơ cũng đều là đồng minh của giặc" Quan điểm của Hoài Thanh về căn bản
không thay đổi cho đến những năm chống Mỹ cứu nớc
Điều đặc biệt là ngay một số nhà thơ mới cũng muốn phủ nhận những gìmình đã viết ra trớc cách mạng tháng Tám: Xuân Diệu, Tế Hanh và tiêu biểunhất kịch liệt nhất là Chế Lan Viên Ông đã làm thơ phản tỉnh một cách sâu
sắc, tự kiểm điểm, tự nhìn lại thế hệ mình : " Lũ chúng ta ngủ trong giờng chiếu hẹp - Giấc mơ con đè nát cuộc đời con " ( Ngời đi tìm hình của nớc -
Chế Lan Viên )
Do không khí chính trị, do sự bất cập về phơng pháp nghiên cứu, do quan
điểm xã hội dung tục…thể hiện niềm khát một số nhà nghiên cứu kết án thơ mới một cách nặng
nề, nhất là thế giới tâm hồn, những cõi mộng mơ, tình yêu đôi lứa
Giáo trình Văn học Việt Nam ( Tập 5) của trờng Đại học s phạm Hà
Nội viết : " không thể không nói rằng về căn bản thơ mới là tiêu cực, nếu đặt
nó trong thời đại của nó mà xét …" " lẽ sống thoát ly của nó khá nguy hiểm …" "
nó muốn giữ thái độ phi chính trị , làm lợi cho Đế quốc, có hại cho cách mạng " [ Dẫn theo 23, 10- 30 ]
Giáo trình Văn học Việt Nam 1930 - 1945 của Trờng đại học tổng hợp Hà
Nội đánh giá : " khuynh hớng cơ bản của văn học lãng mạn là tiêu cực …" " ớc hết tr
là nội dung cá nhân chủ nghĩa …" " sau đến t tởng hoài nghi bi quan".[ Dẫn theo 23,
Tóm lại ở thời kỳ này do sự hạn chế của các phơng pháp nghiên cứu,
đồng thời do hoàn cảnh xã hội Việt Nam trong chiến tranh và sau chiến
Trang 6tranh, một vấn đề nghệ thuật, văn học thờng bị ngời ta xem xét nặng nề về ttởng, nội dung Thế giới mộng trong thơ mới, luôn bị coi là đồi truỵ đáng lên
án Nó đợc quan tâm nhng chỉ ở phơng diện nội dung bên ngoài và là đối ợng lên án
Từ những năm đổi mới đến nay
Trong không khí đổi mới, thơ mới đợc nhìn nhận lại một cách kháchquan Tiếp tục đi sâu khẳng định những đóng góp về phơng diện nội dung và
nghệ thuật trớc đây cho thơ mới " căn bản là tiêu cực" thì bây giờ thơ mới
đ-ợc đánh giá " căn bản là tích cực" Mặt tích cực ấy đđ-ợc chỉ ra ở nhiều điểm
khác nhau: Tinh thần dân tộc, giá trị nhân bản; tiếng nói cá nhân, cá thể,tình yêu thiên nhiên…thể hiện niềm khát
Một số nhà nghiên cứu văn học có tên tuổi đã đứng từ chỗ đứng của ngày hômnay để minh oan cho thơ mới nh: Hà Minh Đức, Lê Đình Kỵ, Trần Đình Sử, .Thế nhng vấn đề thế giới mộng trong thơ của các nhà thơ mới vẫn cha đợc tách rariêng biệt nh một vấn đề mỹ học của nghệ thuật văn học để nghiên cứu một cách
cụ thể hệ thống
Nói nh vậy không phải là phủ nhận sự đóng góp của một số tác giả đã bàn
về vấn đề này Trong "Thơ mới, những bớc thăng trầm", Lê Đình Kỵ đã đặt vấn
đề về mộng trong thơ mới Ông đã khái quát: "Nét bao trùm chủ nghĩa lãng mạn nói chung là đặt u tiên vào mộng mơ" , nh vậy là ông đã thấy đợc xu hớng
sáng tạo chung của các nhà thơ mới là hớng vào một thế giới trong tởng tợng đểthoát khỏi hiện thực xã hội đen tối
Lê Đình Kỵ cũng đã lý giải phần nào nguyên nhân dẫn đến việc chữ "mộng" xuất hiện nhiều trong thơ của một số tác giả thơ mới nh Thế Lữ, LuTrọng L…thể hiện niềm khát Ông đã chỉ ra nội dung của những cái mộng một cách khái quát: Đó
là cái mộng "đi" đi vì không muốn ngoan ngoãn nh con cừu non dại, đi miễn làthoát khỏi cảnh chật chội tù hãm của cuộc sống chung quanh, trớc hết là thoátkhỏi cảnh ràng buộc gia đình, đặt lý tởng thẩm mỹ vào những gì vợt ra khỏikhuôn phép
Theo Lê Đình Kỵ, vốn bất hoà với thực tại, các nhà thơ mới bèn tìm lốithoát ở quá khứ, không phải quá khứ đúng nh đã xảy ra trong lịch sử mà thờng
đợc thi vị hoá tô vẽ bằng tởng tợng để nhớ tiếc, để ớc mơ Nhng hoài niệm gọidậy quá khứ cũng là để đối lập với cái hiện thực nhàm chán, vô vọng đơng thời
Với bài viết " Có một thế giới cổ tích trong thơ mới", Nguyễn Quốc Tuý đã chỉ
rõ một cách khái quát cổ tích trong thơ Xuân Diệu, Nguyễn Bính Trong thếgiới cổ tích ấy có ngời trần, có tiên, chim phợng, có hạc, có trăng, có quantrạng, có vờn, có nhà…thể hiện niềm khát Phải chăng đó cũng là một thế giới nghệ thuật phongphú của thơ mới
Vấn đề "mộng" với những cảnh bồng lai tiên giới, rồi thế giới ma quái kháclạ, không phải đến thơ mới mới xuất hiện mà nó đã tồn tại có mặt trong truyền
Trang 7thống thơ văn phơng Đông: trong thơ Đờng, trong Liêu trai chí dị, trong LĩnhNam Chí Quái, thơ Tản Đà Nhng trong thơ mới nó xuất hiện đa dạng, phongphú hơn Thế giới ấy có nhân vật, thời gian không gian, có âm thanh, sắc màuhành động…thể hiện niềm khátNó là thế giới tâm linh, là niềm khao khát sống, là quan niệm nghệthuật thẩm mỹ của thời thơ mới, nó có giá trị nhất định với văn học dân tộc , thìcòn cha đợc nghiên cứu chuyên sâu.
Từ thời kỳ đổi mới đến nay, các nhà nghiên cứu văn học trên chỗ đứng củangày hôm nay, đã có cái nhìn cởi mở hơn với hiện tợng " mộng" trong thơ mới.Bằng nhiều phơng pháp nghiên cứu mới Họ đã có sự quan tâm đến giả trị củathế giới mộng trong thơ mới Bằng nhiều phơng pháp nghiên cứu mới họ đãthấy " mộng" là một phơng tiện nghệ thuật để các nhà thơ có điều kiện đi sâukhám phá thế giới bên trong đầy phức tạp của cái tôi cá nhân Nó là thớc đophẩm chất thơ của thơ mới Song vẫn đề này vẫn cha đợc tách ra để nghiên cứumột cách chuyên biệt
Đến với đề tài này chúng tôi không có tham vọng sẽ làm đợc tất cả, khảosát tìm hiểu đợc hết giá trị cũng nh các biểu hiện phong phú đa dạng của thếgiới mộng trong toàn bộ tác phẩm thơ của các nhà thơ mới Mặc dù hầu nh tácgiả nào cũng có thế giới mộng riêng của mình trong thơ mới Với khuôn khổcủa một luận văn chúng tôi chỉ cố gắng tìm hiểu, khảo sát phân tích tổng hợp,
đối sánh thế giới mộng trong thơ của một số tác giả quen thuộc, tiêu biểu: LuTrọng L, Huy Cận, Hàn Mặc Tử Ba tác giả tiêu biểu này có thể giúp chúng tôinhìn nhận đợc phần nào sự ảnh hởng của các xu hớng sáng tác từ phơng Tây: xuhớng lãng mạn, xu hớng tợng trng, xu hớng siêu thực, trong tiến trình phát triểnthơ mới Việt Nam 1932 - 1945
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Tìm hiểu những tiền đề xã hội, những tiền đề mỹ học cuả cảm hứngsáng tạo hớng về cõi mộng của các nhà thơ mới 1932 - 1945, đồng thời làmsáng tỏ vấn đề thế giới mộng trong thơ của các nhà thơ mới 1932 - 1945 là mộtthế giới khác lạ, đợc tạo nên bởi nghệ thuật, đợc các nhà thơ mới dùng để đốilập với thế giới thực tại
3.2 Khảo sát Thế giới mộng của một số nhà thơ mới tiêu biểu: Lu Trọng L,Huy Cận, Hàn Mặc Tử và chỉ ra những đặc điểm riêng của thế giới mộng ở từngtác giả, tìm ra những nét tơng đồng và dị biệt của chúng
3.3 Qua khảo sát, tìm hiểu đặc điểm của thế giới mộng trong sáng tác củamột số tác giả thơ mới tiêu biểu, nhận diện đợc các xu hớng lãng mạn, xu hớngtợng trng, xu hớng siêu thực trong sự phát triển của thơ mới Việt Nam thời kỳ
Trang 8phiếu thống kê, phân loại và khái quát những kiểu dạng biểu hiện khác nhaucủa" mộng".
Trên cơ sở so sánh, phân tích, chúng tôi tổng hợp lại rồi đi đến khái quát
đặc điểm riêng của từng thế giới mộng từ đó thấy đợc các xu hớng sáng táctrong thơ mới Khi cần thiết chúng tôi có thể kết hợp các phơng pháp trên đểtiến hành nghiên cứu đề tài
5 Cái mới của luận văn
Lần đầu tiên vấn đề thế giới mộng đợc nghiên cứu một cách có hệ thốngkhoa học Đó là một thế giới khác lạ đa dạng, có cấu trúc riêng, có không gian,thời gian riêng …thể hiện niềm khát ẩn chứa niềm khát khao mong ớc của các thi sĩ, trớc kia bịxem nhẹ bị phê phán, giờ đã đợc khám phá và khẳng định
Luận văn đi sâu vào nghiên cứu thế giới mộng của một số nhà thơ mới tiêubiểu: Lu Trọng L , Huy Cận, Hàn Mặc Tử, giải mã sự xuất hiện với tần số caocủa chữ " mộng" trong thơ mới, tìm hiểu cấu trúc thế giới mộng của từng tậpthơ, từng tác giả ( Có sự đối sánh thế giới mộng của các nhà thơ với nhau đểphát hiện ra những điểm tơng đồng và dị biệt), trên cơ sở đó nhận diện các xuhớng phát triển chính của thơ mới 1932 - 1945: xu hớng lãng mạn; xu hớng t-ợng trng; xu hớng siêu thực
6 Cấu trúc của luận văn
Tơng ứng với nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra, ngoài phần mở đầu và phầnkết luận, nội dung luận văn đợc triển khai trong 3 chơng
Chơng 1 Những tiền đề xã hội - thẩm mỹ của cảm hứng sáng tạo hớng về cõi
mộng trong thơ của các nhà thơ mới 1932 - 1945
Chơng 2 Đặc điểm của thế giới mộng trong thơ của một số nhà thơ tiêu biểu:
Lu Trọng L; Huy Cận; Hàn Mặc Tử
Chơng 3 Nhận diện các xu hớng tìm tòi - phát triển của thơ mới 1932 - 1945 qua
khảo sát đặc điểm thế giới mộng trong sáng tác của một số tác giả tiêu biểu
Trang 9Ch ơng 1
Những tiền đề xã hội - thẩm mỹ của cảm hứng sáng tạo
hớng về cõi mộng trong thơ của các nhà thơ mới
1932-1945
1.1 Về khái niệm thế giới mộng
"Mộng" là khái niệm đợc sử dụng tơng đối rộng rãi trong đời sống và trongvăn chơng với các nghĩa rộng hẹp khác nhau nhng tơng đối thống nhất Theo từ
điển Tiếng Việt chữ “ mộng" có nhiều nghĩa, một trong những nghĩa của chữ "mộng" là:
+ Hiện tợng thấy ngời hay sự việc hiện ra nh thực trong giấc ngủ
+ Điều luôn luôn đợc hình dung tởng tợng tới và mong muốn trở thành sựthật
ở từ điển Hán Việt " mộng" cũng là cái mà ngời ta thờng cảm giác trong khingủ ( Cảnh trong mộng không thật, nh cái bọt cái bóng " mộng ảo bào ảnh " Rấtgần với " mộng" nội hàm của từ "mơ", theo từ điển tiếng Việt cũng có nội dung t-
Theo quan niệm của những ngời duy tâm thì ''mộng'' và '' chiêm bao'' làmột hiện tợng báo trớc những điều sẽ xảy ra ở tơng lai trong đời sống con ngời
và con ngời sẽ hành động theo những chỉ dẫn trong '' mộng'', ''chiêm bao''.Trong thực tế đã có biết bao công trình văn hoá nổi tiếng là dấu ấn, là sản phẩm
Trang 10của những cơn mộng, giấc chiêm bao Ví dụ : “Chùa Một Cột”, tên thủ đô xa''Thăng Long ''
Còn khái niệm '' mộng '' theo ý nghĩa từ điển đợc hiểu nh một trạng thái tâm
lý của con ngời Nhìn từ mối quan hệ với hiện thực ( cái tồn tại thực tế ) mộng làcái không giống nh, thậm chí trái ngợc với thực Mặc dù vẫn có mối quan hệ vớicái thực Nói khác đi ''mộng'' có thể hiểu là một '' hiện thực ảo'' là thế giới của t-ởng tợng mơ ớc là nơi đến của chiêm bao Xét đến cùng, cái thực và cái ảo vốnnằm sẵn trong bản thân con ngời, là những chiều kích khác nhau trong con ngời
"Mộng" cũng là một phần của đời sống con ngời nghĩa là một phần của thực tạicho nên " mộng" từ bao đời vẫn là nơi đi về của những tâm hồn đa cảm tinh tế,nơi chung ở của sự diệu huyền, nơi gửi gắm những ớc ao khát khao những gì tốt
đẹp của cuộc sống con ngời
Trên cơ sở đó ta có thể hiểu thế giới mộng là thế giới khác thế giới thựctại, nó là thế giới trong tâm linh, trong tởng tợng, nó có thể rất viển vông xa lạ,nhng cũng có thể rất gần với đời sống con ngời Nó có thể xuất hiện cả khi thức
và có thể trong lúc say hay ngay trong lúc tỉnh, xuất hiện khi đau khổ và khihạnh phúc có khi từ ý thức cũng có khi từ vô thức ở mỗi con ngời, mỗi cuộc đờivới lòng mong mỏi khát vọng những điều đó trở thành hiện thực
Thế giới tởng tợng ấy đa sắc màu, phong phú vô ngần nhng cốt lõi nó đềucấu trúc nh một thế giới sống động, có nhân vật, có thời gian và không gian, có
âm thanh màu sắc với những trạng thái hoạt động cùng tất cả sự phức tạp vàphong phú của đời sống xã hội Nó có thể là một thế giới đầy sắc hơng thanhsạch đẹp đẽ, thanh tịnh, cũng có khi đầy sầu đau, buồn khổ, nhng lại có thể làngập tràn hạnh phúc Thế giới mộng ở đây có khi là giấc mơ về cuộc sốngkhông có thực của quá khứ, hiện tại, tơng lai Nó là một thế giới viển vông, là “mộng” là “ ảo” nhng không phải là giả Bởi trong thế giới mộng đó có ẩn chứa,lẫn khuất cái thực
Mộng luôn tồn tại trong đời sống con ngời, trong sinh hoạt, trong lao động
và nghệ thuật từ bao đời Phải chăng chính vì điều đó mà Baudelaire có quanniệm "Nghệ thuật trong mộng mơ và mộng mơ trong nghệ thuật " Với ý nghĩarộng nhất của nó, thời gian nghệ thuật chính là thế giới của mộng mơ và mộngmơ là trạng thái của sáng tạo và thởng thức nghệ thuật
Thế giới mộng trong thơ mới là một nét đặc sắc của thế giới nghệ thuậtcủa các nhà thơ mới Nó là một thế giới nghệ thuật mà các thi sĩ sáng tạo nên,
đa dạng, sinh động, mang đậm tính thời đại " thời đại cái tôi" Các nhà thơ mới
xây dựng một thế giới có cấu trúc riêng, có nhân vật, cảnh vật, có thời gian,không gian, có hình khối, màu sắc, có âm thanh, hành động, có sự phong phúphức tạp của cuộc đời, có hạnh phúc tình yêu, có khổ đau tan vỡ, có lo âu trăntrở và đôi lúc đã đợc gọi là ''mộng'', dùng để đối lập với xã hội thực tại đentối lúc bấy giờ Mộng ở đây không đồng nhất với cái chủ quan nói chung trong
Trang 11thơ, mặc dù nó là sản phẩm của cái chủ quan ấy không mâu thuẫn với chủ quan.Cảnh vật trong thế giới mộng có thể hoàn toàn khác lạ, kỳ dị chỉ có trong tởngtợng, trong mộng nhng cũng có thể rất gần gũi quen thuộc với đời sống con ng-
ời trong mọi phơng diện, cung bậc của tâm hồn
Thế giới mộng trong thơ mới là một hớng tìm tòi của các nhà thơ mớinhằm tạo nên sắc thái thẩm mỹ riêng cho thơ của mình Hoài Thanh đã tả lạicảm xúc chung của mình, sau khi để hồn mình trôi chảy theo các thi nhân lãng
mạn:''Cả trời thực, trời mộng đều nao nao theo hồn ta'' Đó là dòng cảm xúc
còn lại nhng nó cũng chính là nhận xét tinh tế và chính xác về thơ mới lãngmạn Trong thơ mới lãng mạn đâu đâu cũng bàng bạc một trời mộng trời thựchài hoà Bất kỳ nhà thơ mới nào cũng mộng, chỉ có điều lộ hay ẩn, ít hay nhiều,cũng nh mộng cái gì mà thôi Trong cái nhìn chập chờn của mộng và say, mộtthế giới nghệ thuật của những '' mộng'' vô tình mở ra có bề sâu bề rộng với sứclan toả vô ngần
Thế giới thực và thế giới mộng có lúc đối lập nhau, cách xa nhau nhngcũng có lúc đan xen ràng rịt trong nhau khó phân biệt Hai thế giới này tởng nhtách biệt nhau nhng từ tầng sâu giữa chúng có sự nối kết Từ thực tế khổ đaungời ta mơ ớc, khát khao, mong mỏi, kiếm tìm một cuộc sống lý tởng tốt đẹpkhác biệt, trong mơ mộng và những mơ tởng nh chỉ là viễn vông ấy lại có ýnghĩa tích cực, khích lệ sự cố gắng phấn đấu của con ngời vơn tới cuộc sống
hiện thực đẹp đẽ nh trong mộng ớc '' Nếu không có mơ ớc làm sao ta có thể phấn đấu " Nó chính là niềm hi vọng sống của con ngời ở cuộc đời ấy.
Thế giới mộng dùng để cắt nghĩa nguyên tắc tổ chức lại thế giới hiện thựcbằng nghệ thuật, bằng sức mạnh của cái chủ quan mà các nhà thơ mới đã vậndụng Trong thơ mới, thế giới mộng ấy là bồng lai tiên cảnh hay địa ngục, ở cõi
âm, cõi trần hay cõi tiên, ở quá khứ hay tơng lai của thi sĩ này hay thi sĩ khácthì nó đều là thế giới của tởng tợng, của tâm linh mà các tác giả thơ mới sángtạo nên để đối lập với thế giới thực tại nh một sự giải thoát, một giải pháp Thếgiới mộng đợc dùng để khẳng định mối liên hệ giữa sự phát triển của phongtrào thơ mới với hoàn cảnh xã hội Việt Nam thời thuộc Pháp
Việc tìm hiểu thế giới mộng trong thơ của các nhà thơ mới thống nhất
nh-ng khônh-ng đồnh-ng nhất với việc khẳnh-ng định phẩm chất nh-nghệ thuật, phẩm chất thẩm
mỹ của thơ mới nói chung Đành rằng thơ nào mà chả “ mộng ", đành rằng thếgiới nghệ thuật không trùng khít với thế giới hiện thực và do vậy mà có suynghĩ đánh đồng “ mộng " với nghệ thuật, với văn chơng, nhng khái niệm “mộng” ( Thế giới mộng ) ở đây có ý nghĩa khu biệt hẹp hơn Nó xác định thựcchất của cái khoảng trời (không gian) mà các nhà thơ mới vẫn thờng nói tới, vẫnthờng tởng vọng nh thể tởng vọng vào một cái gì có thật, có thể giúp ngời taquên đi những điều muốn quên để đợc sống thật nhất với cái tôi của chính
Trang 12mình Thế giới mộng do vậy là thế giới đối lập với thế giới thực tại, đợc dựnglên một cách có điều kiện khi ngời ta có đợc sự hỗ trợ của đôi cánh tởng tợng
mà thi ca cấp cho Một điều đáng nói khác là khi sử dụng khái niệm “ thế giớimộng " ta giả định những gì mà các nhà thơ mới hớng về đợc sắp xếp, tổ chứclại theo một trật tự chặt chẽ, có không gian, thời gian riêng Có những đối tợng,nhân vật riêng, có những tơng quan riêng phù hợp với lý tởng xã hội, lý tởngthẩm mỹ của ngời sáng tạo Tất nhiên, khi dùng khái niệm này, ngời viết cònmuốn giới hạn phạm vi đối tợng khảo sát vào những bài thơ mà ở đó các thinhân nói nhiều đến chữ " mộng" và gần nh ý thức đợc những điều mình nói tới
là thuộc về một thế giới khác với thế giới thực tại mà cả độc giả lẫn nhà thơ biếtrõ
Với ngời thơ, cõi mộng rất gần với cõi thơ, nó là một phơng thức biểu hiện
sự đa dạng phong phú trong tâm hồn của một thế hệ thi sĩ, của những cái tôi vàcái ta của thời kỳ văn học mới Suy cho đến cùng thì thế giới mộng trong thơmới chính là thế giới khát vọng của những tâm hồn khao khát sống hạnh phúcthực sự giữa cõi đời Nó là mái nhà của một tâm hồn, của một con ngời nhngcũng là của muôn ngời Nó chứa đầy những điều huyền diệu kỳ ảo, cao đẹp, xalạ viễn vông và gần gũi ấm áp thân quen, sởi ấm tâm hồn con ngời nó là một thếgiới đầy hấp dẫn đối với những ai quan tâm đến thơ mới
1.2 Những tiền đề xã hội của cảm hứng sáng tạo hớng về cõi mộng của các nhà thơ trong thơ mới 1932 - 1945
Lịch sử xã hội Việt Nam thời kỳ đầu thế kỷ XX đến năm 1945 rất phức tạp.Một xã hội tồn tại song song hai '' kiểu '' thống trị, một của nhà nớc phong kiến
đã vào hồi cáo chung và một của thực dân Pháp Các t tởng Tây-Tàu, mới cũ lẫnlộn đã ảnh hởng đến tinh thần của nhiều tầng lớp ngời Việt Nam Tất cả những sựkiện lịch sử, chính trị, xã hội, văn hoá đều ảnh hởng trực tiếp hoặc gián tiếp tớisáng tác văn học của thời kỳ này, ảnh hởng đến thế giới quan và khuynh hớngsáng tác của các nhà văn, nhà thơ lớn của Việt Nam, cho dù họ ở khuynh hớnglãng mạn, hiện thực hay là văn học cách mạng
Tăng cờng khai thác tài nguyên ở Việt Nam, thực dân Pháp đã làm biến đổinhanh chóng bộ mặt của xã hội Việt Nam Từ một xã hội phong kiến với sảnxuất nông nghiệp thuần tuý, xã hội Việt Nam trở thành xã hội thực dân nửaphong kiến Một số đô thị lớn hình thành và phát triển Hà Nội, Nam Định, HảiPhòng , Huế , Sài Gòn Những trung tâm công nghiệp với nếp sống đô thị thuhút dân nghèo ở nông thôn ra kiếm việc làm Từ đó, thành phần giai cấp trongxã hội Việt Nam cũng thay đổi Bên cạnh giai cấp nông dân vẫn tiếp tục canhtác theo lề lối cổ xa để nộp su thuế cho chế độ bảo hộ Pháp và chính quyềnphong kiến triều Nguyễn, giai cấp công nhân cũng đang hình thành và lớn
Trang 13mạnh song song với tầng lớp dân nghèo thành thị, trí thức tiểu t sản và giai cấp
t sản dân tộc
Thực dân Pháp ra sức tuyên truyền cho việc '' khai phá văn minh'' của mẫuquốc Đại Pháp Các trờng Pháp Việt đợc thành lập từ năm 1896 Pháp xoá bỏchế độ thi cử bằng chữ Hán tại Nam Kỳ, năm 1918 tại Trung Kỳ, các sách báokhoa học kỹ thuật, văn học, triết học của Pháp và của phơng Tây đợc dịch sang
chữ quốc ngữ và đăng tải trên các báo " Đông Dơng tạp chí ", " Nam Phong ", " Phụ Nữ Tân Văn ", " Phong Hoá " một tầng lớp trí thức Tây học hình thành
với những cây bút có tên tuổi : Trơng Vĩnh Ký , Nguyễn Trọng Quản ( trớc
1900 ), Phạm Duy Tốn, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Hoàng Ngọc Phách,Nguyễn Trờng Tam ( từ khoảng 1920 đến 1945 )
Kể từ đây, xã hội Việt Nam có những thay đổi đến chóng mặt Hàng ngànnăm dới chế độ phong kiến ngời Việt Nam coi nền văn học Trung Quốc với Đ-ờng Thi, Tống Thi là mẫu mực và lấy đó làm thớc đo tri thức để lựa chọn tàinăng Ngời Việt Nam coi Khổng Tử là một thánh nhân vĩ đại và lễ giáo của đạoKhổng là một nguyên tắc, là khuôn phép mà bất kỳ ngời nho sĩ nào muốn thành
đạt cũng phải nghiêng mình tôn kính
Đến thời kì này, tầm mắt của ngời Việt Nam đợc mở rộng Họ có thể tiếptục học hỏi ở Khổng giáo và Phật giáo nhng đồng thời cũng có thể học hỏinhững quan điểm triết học của các nhà khai sáng nh Monterquieu, Điderot,Voltaire, Rousseau Về văn học ngời Việt Nam vẫn có thể học hỏi những bàithơ Đờng nổi tiếng nh các nho sĩ từ thế kỷ trớc, nhng đồng thời họ cũng tiếp thunhững t tởng nhân văn của các nhà văn nhà thơ lớn của nớc Pháp nh : Hugo,Musset, Balzac, Baudelaire, Rimbaud, Verlaire,
Do sự tiếp xúc với văn hoá Pháp, đặc biệt là văn học lãng mạn Pháp mà sinhhoạt của một số tầng lớp nhân dân đã có sự thay đổi Những kiểu sinh hoạt trụy lạc
đua đòi đã đợc thực dân khuyến khích nhà thổ, bàn đèn mọc lên nhan nhản Sinhhoạt của t sản và tiểu t sản thành thị cũng thể hiện ngay trong cách ăn mặc củanam nữ thanh niên ( Quần lính áo the, khăn mỏ quạ, răng đen đợc thay bằngnhững âu phục, váy đầm giày mõm nhái, đánh ten nít ) Cuộc sống sinh hoạtvới những nhu cầu thị hiếu, thẩm mỹ, suy nghĩ, tình cảm của ngời dân Việt Nam
đã có sự thay đổi Đặc biệt từ năm 1915 thực dân Pháp và triều đình phong kiếnbắt buộc phải bỏ thi hơng ở Bắc Kỳ, chấm dứt chế độ khoa cử nặng nề thối nát.Trong các trờng học sinh viên, học sinh, thanh niên bắt đầu say sa với văn họcPháp Những hoạt động văn hoá mới lạ, lần đầu bỡ ngỡ xuất hiện trong đời sốngvăn hoá ở Việt Nam Năm 1920 vở kịch nói " Ngời bệnh tởng " đợc trình diễn tạinhà hát lớn Hà Nội, rạp chiếu bóng chiếu phim, trờng mỹ thuật Đông Dơng đợcthành lập Hàng ngàn học sinh Việt Nam đi du học tại Pháp và học tại trờng cao
đẳng mỹ thuật Đông Dơng
Trang 14Tất cả những đổi thay trong cuộc sống sinh hoạt, văn hoá làm lung lay nếpnghĩ của giới trí thực đội khăn the Đồng thời nó tạo ra một nếp cảm, nếp nghĩ,một lối sống, một cách nhìn cho thế hệ trẻ, một thế hệ mà sau này sẽ sinh ramột nền văn học hiện đại với những t tởng tri thức mà họ học đợc ở ghế nhà tr-ờng, trong báo chí và trong đời sống sôi động.
Chính sự tác động của hoà cảnh xã hội mà những đổi mới trong sinh hoạt t ởng và tiếp xúc với văn học lãng mạn Pháp đã dần dần đem đến cho tầng lớpthanh niên tiểu t sản thành thị những rung động mới Họ yêu đơng, mơ mộng, vui
t-buồn đã khác các cụ ngày trớc : " Các cụ ta a những màu đỏ choét, ta lại a màu xanh nhạt, các cụ bâng khuâng vì tiếng côn trùng đêm khuya, ta lại nao nao vì tiếng gà đúng ngọ Nhìn một cô gái xinh xắn ngây thơ, các cụ coi nh đã làm một
điều tội lỗi, ta thì cho là mát mẻ nh đứng trớc một cánh đồng xanh Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhng đối với ta thì trăm hình muôn trạng, cái tình say đắm, cái tình thoáng qua, cái tình gần gũi, cái tình xa xôi, cái tình trong giây lát, cái tình ngàn thu " ( Lời phát biểu của nhà thơ Lu Trọng L tại nhà hội
học Quy Nhơn tháng 6 năm 1934 )
Giai cấp t sản Việt Nam từ lúc mới ra đời đã tỏ ra rất yếu hèn Những nhà
t sản dân tộc mới nhóm lên đã bị đế quốc chèn ép làm cho phá sản Đời sốngcủa tiểu t sản thành thị đã trở nên khó thở và rất bấp bênh dới chính sách bóclột của đế quốc Pháp ( từ những năm 1924 - 1930 ) Thực dân Pháp đã nuôimột đạo quân viên chức ngời Pháp, chèn ép bạc đãi các tầng lớp viên chức tiểu
t sản trí thức Việt Nam Đã có những thanh niên trí thức nhảy xuống hồ tự tử
vì thất nghiệp, còn những trí thức cao cấp tốt nghiệp ở Pháp về thì " bị đa đến một cuộc sống không có triển vọng, không sử dụng đợc kiến thức và tài năng của mình " Giai cấp tiểu t sản Việt Nam sẵn có một tinh thần bất mãn với
thực dân Tiếp thu đợc những ảnh hởng t tởng tiến bộ từ cách mạng tháng mờiNga nên họ khá giàu tinh thần cách mạng Tình hình chính trị xã hội ViệtNam có nhiều biến động phức tạp Việt Nam quốc dân Đảng do một bộ phậntiểu t sản lớp trên thành lập, Đảng cộng sản Việt Nam ra đời Các phong tràocách mạng nổ ra khắp nơi, đỉnh cao là Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh 1930 -
1931 Thực dân Pháp ra sức đàp áp chém giết đe doạ khủng bố các phong trào.Phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bị dìm trong biển máu, những vụ xử án xảy raliên tục, Nguyễn Thái Học lãnh tụ Việt Nam Quốc Dân Đảng lên đoạn đầu đàitại Yên Bái năm 1930 Phan Bội Châu bị bắt giam và đa về an trí tại Huế,những đoàn tù chính trị bị bắt giải đến các nhà lao ngày càng đông Kéo theo
là nạn khủng hoảng kinh tế đe dọa nghiêm trọng Đời sống của giai cấp tiểu tsản trở nên rất bấp bênh
Trớc tình hình đó thực dân Pháp đã đa ra nhiều chủ trơng lừa bịp mị dân.Những chủ trơng thâm độc ấy đã đa một số thanh niên vào con đờng sa ngã,trụy lạc, đầu hàng và thoả hiệp Giai cấp t sản dân tộc lúc này tỏ ra hoang mang
Trang 15dao động thoả hiệp với đế quốc Còn giai cấp tiểu t sản thì " xìu " hẳn đi saucuộc khởi nghĩa Yên Bái bị thất bại và bị khủng bố Đại bộ phận tiểu t sản( nhất là tiểu t sản trí thức ) nhụt mất nhuệ khí cách mạng hoang mang, buồnbã.
Giữa cái không khí bi quan, giao động của thời kì 1932, phong trào thơ mới
và văn chơng Tự lực văn đoàn ra đời Nó là sản phẩm tất yếu của hoàn cảnh lịch
sử, là nhu cầu của xã hội Cái tôi cá nhân với t cách vừa là sản phẩm, vừa là chủthể của nền văn hoá mới xuất hiện Nhân cách và cá tính cao của con ngời tài tử
là yếu tố nội sinh cần thiết để cái tôi cá nhân ra đời khi gặp điều kiện thuận lợi từbên ngoài đa vào Mặt khác cái tôi cá nhân này là có sự khác biệt về chất, ra đờitrên cơ sở một xã hội đang có những biến động về cấu trúc Nh vậy cái tôi cánhân ( " 1930 - 1945 " ) không phải là một kẻ vong bản, một thứ hàng ngoạinhập, mà là một sự phát triển tơng ứng [ 47, 13- 14 ] Cái tôi thị dân Việt Namtrong điều kiện lịch sử lúc ấy có những dấu ấn riêng và nhanh chóng phân hoá.Sau cơn khủng bố trắng 1930 - 1931, một sự buồn rầu u uất tràn ngập tâmhồn nhân dân Việt Nam Những thanh niên trí thức, bộ phận tiểu t sản trí thứcvới tâm trạng chung ấy tìm đợc lối thoát vào chốn văn thơ, con đờng văn thơ lúcbấy giờ đối với một số tiểu t sản trí thức là một lối thoát ly trong sạch, là mộtnơi có thể gửi gắm nỗi niềm tâm sự Là nơi cái tôi cá nhân đợc thành thật vớimình Không đánh Pháp, không đi theo cách mạng, họ vẫn có thể làm văn ch-
ơng Các nhà thơ đem những ý tởng mới, những tình cảm mới thay vào chonhững ý tởng cũ, những tình cảm cũ và theo họ làm văn chơng có lẽ cũng làmột cách để tỏ rõ lòng yêu nớc
Sự giao lu văn hoá Đông Tây, với những đổi thay về t tởng tình cảm thẩm
mỹ đã thúc đẩy thơ mới lãng mạn ra đời Đó là tiếng nói thầm kín của cái tôi cánhân, bế tắc trớc hiện thực, cô đơn buồn chán của những thanh niên đầy nhiệthuyết, nhạy cảm Họ chỉ biết gửi tấm lòng mình vào cõi thơ Hoặc hớng mình
về quá khứ, hoặc đắm mình trong cảm xúc yêu đơng, hoặc mơ mộng về mộtmiền đất lạ Họ đòi hỏi tự do, đòi hỏi đợc thoát khỏi những ràng buộc xuấtphát từ bất kỳ thế lực nào, cả trong cuộc đời lẫn trong nghệ thuật Cái tôi trongthơ mới nh một chỗ dựa căn bản để tổ chức lại thế giới nghệ thuật thơ Chính vìvậy nó đã làm nên một cuộc cách tân quan trọng về thi pháp đa thơ trữ tình hiện
đại phát triển lên một bớc mới và kéo nó ra khỏi vòng chi phối của hệ thống thipháp trung đại
Nền văn hoá phơng Đông hoà quện với phong Tây đem đến, khơi rộng tìnhcảm cá nhân con ngời, họ muốn vơn tới, muốn khẳng định, muốn bứt phá khỏithực tế xã hội đen tối, mờ mịt Là con ngời của một dân tộc bị mất nớc, buồn chán,thất vọng muốn thoát khỏi xã hội đó, các nhà thơ mới có xu thế phủ nhận hiệnthực bằng cách xây dựng một thế giới riêng để đắm đuối vào đó, tìm nguồn vui, hyvọng sống, khẳng định khát vọng cái tôi cá nhân ở miền đất riêng ấy cái tôi tự do
Trang 16đợc tâm sự bộc lộ lý tởng tình cảm, cách nhìn cuộc sống của mình Đó chính là thếgiới mộng, là cõi mơ ớc, là thế giới nghệ thuật đặc sắc của thơ mới Đấy là cõilòng của những con ngời tâm huyết yêu nớc nhng phải dấu kín dới nhiều hình thứckhác Thật đúng nh Trờng Chinh đã nhận định: " Các tầng lớp t sản dân tộc và tiểu
t sản trí thức Việt Nam tìm thấy trong chủ nghĩa lãng mạn một tiếng thở dài chốngchế độ thuộc địa [7 , 18, 25 ]
1.3 Những tiền đề thẩm mỹ của cảm hứng sáng tạo hớng về cõi mộng trong Thơ mới 1932 - 1945
Thơ mới Việt Nam 1932 - 1945 là một bớc ngoặt lớn trong lịch sử thơ cadân tộc Trên nền mỹ học của ca dao dân gian, văn hoá dân gian và ảnh hởngvăn hoá phơng Đông, thơ Đờng, thơ Việt Nam trung đại cùng với những cáimới của văn hoá Pháp, văn học Pháp, thơ mới Việt Nam ra đời Nó mở ra mộthớng đi mới cho nghệ thuật thi ca dân tộc Sự phát triển một quan niệm, mộtcách nhìn, cách suy ngẫm chiêm nghiệm về cuộc sống xã hội thời đại mới, thời
đại mỹ học của ý thức cái tôi trỗi dậy mãnh liệt đợc các nhà văn nhà thơ chútrọng quan tâm
ý thức về cái tôi bùng lên mạnh mẽ, nó muốn đợc thành thật với lòng mình,với những t tởng, tình cảm khác trớc, thực tế lại không cho phép thoả mãn nhucầu ấy, cái tôi phải tìm đến một lối thoát, một xu hớng mới Đó là hớng vào mộtthế giới khác thế giới hiện hữu , thế giới mộng, tụng ca cái đẹp mà nó mang đếncho con ngời, giải thoát con ngời
Nh vậy hoàn cảnh xã hội lịch sử tất nhiên có ảnh hởng lớn đến nguồn cảmhứng sáng tạo hớng về cõi mộng, nhng chính quan niệm nghệ thuật mới là cáitrực tiếp chi phối hoạt động sáng tạo nhằm đảm bảo cho sáng tạo có đợc sự nhấtquán và có đợc tính nghệ thuật Chính vì vậy, việc tìm hiểu các tiền đề thẩm mỹ
có ý nghĩa cực kỳ quan trọng
Tiếp thu quan điểm mỹ học của phơng Đông và phơng Tây, chịu ảnh hởng củagần 100 năm thơ Pháp, ảnh hởng t tởng phái lãng mạn đầu thế kỷ XIX đến nhómThi Sơn, qua Baudelaire đến trờng phái tợng trng ( Verlaine) và đến các trờng pháisuy đồi khác thơ mới 1932 - 1945 Việt Nam khá phức tạp
Quan điểm mỹ học của các nhà lãng mạn nớc ta thực ra cũng chẳng có gì
mới so với các nhà lãng mạn phơng Tây với quan điểm " nghệ thuật vị nghệ thuật " " Chân lý nằm trong cái đẹp " những nhà thơ lãng mạn bị nhóm nghệ
thuật vị nhân sinh ( Hải Triều, Hải Thanh, Hải Nam ) phê phán kịch liệt Saunày khi nhìn lại cuộc tranh luận về nghệ thuật hồi 1935 - 1936 Hoài Thanh đã
nói lên tâm trạng của mình và của các nhà thơ mới lúc đó : " Hồi ấy chúng tôi
đã bị lay dữ Nói cho phải thì chúng tôi không phải không dụi mắt một ít, nhng rồi chúng tôi lại nhắm nghiền lại, một phần vì tự ái, nhng phần chính là vì tâm trí hãy còn mê Càng về sau chúng tôi càng chìm vào các thứ mộng mị " Những
Trang 17thứ quan điểm đó đã biến thành những cảm xúc, những rung động thẩm mỹthuần tuý Chế Lan Viên kêu gọi các thi sĩ " Hãy thoát lên trên tất cả nhu cầu thoát tục ở trên cõi tục " Hãy lánh xa những " phiền hà sâu bọ của cuộc đời :bữa cơm không ngon, đôi dày sắp thủng " Đến Nguyễn Xuân Sanh, PhạmVăn Hạnh, Đoàn Phú Tứ thì những tìm tòi theo những hớng này ngày càng đ-
ợc đẩy xa hơn nữa
Xuân Thu Nhã Tập gắn liền thơ với đạo và cho " Đẹp là một thứ rung động
xa vời, vô t lợi, cảm thông với cái vô cùng tuyệt đối " Theo quan niệm của Hàn
Mặc Tử thì thi sĩ là ngời thoát ly cuộc sống thực, luôn luôn mơ ớc vuơn đến mộtcái gì " trong sạch " " thanh tao ", " xa lạ " với trần thế Hàn Mặc Tử, Vũ HoàngChơng, Bích Khê cũng ảnh hởng khá nhiều từ Baudelaide Trong bài tựa tập "
Tinh huyết của Bích Khê, Hàn Mặc Tử có viết : " Thi sĩ khát khao hoài vọng cái mới, cái đẹp , cái gì rung cảm hồn phách chàng đến tê liệt, dại khờ, dù cái
đẹp ấy cao cả hay đê tiện, tinh khiết hay nhơ bẩn, miễn là có tính chất gây nên
đê mê, khoái lạc Tới đây, ta nhận thấy văn thơ của Bích Khê nhuốm đầy máu huyết của Baudelaide, tác giả tập thơ " Những bông hoa tội lỗi " Thơ lúc ấy sẽ ham thích hết sức những cái gì thanh cao nh hơng thơm, nhân đức của các vị á thánh, hay say mê điên dại cái gì hết sức tội lỗi mà ngời thế gian cha từng phạm tới ( Bích Khê - Thi sĩ thần linh ).
Trờng thơ " loạn " bắt đầu đi tìm cái đẹp ở những bến bờ xa lạ của cảmgiác, tìm những khoái lạc bệnh tật ở những vùng đất hoang dại cha đợc khaiphá Quan niệm này đã chi phối hàng loạt bài thơ của Bích Khê, Chế Lan Viên,
Đinh Hùng với ( sọ ngời, xác thịt , ngời say rợu, sơng khô, máu, lời của mộkhông ) Đúng nh Hàn Mặc Tử đã nhận định một số bài thơ của Bích Khê,
Vũ Hoàng Chơng " Nhuốm đầy máu huyết " xoá nhoà giữa cái đẹp và cái ghêtởm ( Cái Thây Ma ) ca ngợi xác thịt và những câu thơ nặng về nhục cảm Cácnhà thơ cho rằng cái đẹp có thể tới từ bất cứ nơi nào, từ thiên đờng cũng nh địangục Trong mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống các nhà thơ lãng mạnViệt Nam đã chịu ảnh hởng khá sâu sắc những quan điểm thẩm mỹ của các nhàlãng mạn và tợng trng phơng Tây Đặc biệt là cách thể hiện hình tợng thế giớimộng trong các nhà thơ mới
Các nhà lãng mạn Đức coi " Thiên Tài " là một cái gì cao cả, linh diệu
đứng hẳn lên trên quần chúng Các nhà lãng mạn Việt Nam cũng xem thi sĩ
nh là một thứ châu báu thiêng liêng là thiên tài là tinh hoa đặc biệt kỳ diệu củanhân loại Coi thiên tài nh là sự thể hiện của " thiên khải " Chính việc coi nhàthơ là đấng tối cao mặc sức vẫy vùng, sáng tạo mà thế giới mộng trong thơmới đợc hình thành khá đa dạng và phong phú Thi sĩ đã xây cất nên một thếgiới trong sạch, thanh khiết ở đó con ngời đợc tự do yêu đơng, hạnh phúc, đợcthoả mãn với mọi ớc nguyện cá nhân Đó là những chốn Đào Nguyên tiêngiới, là nơi Đức Chúa Trời ban thởng là chốn nớc non thanh tú không vớng bụi
Trang 18trần…thể hiện niềm khát Quan niệm về thi sĩ, xem họ là thiên tài, là tinh hoa đặc biệt của nhân
loại Hàn Mặc Tử đã trình bày quan niệm đó nhng dới màu sắc tôn giáo: " Đức Chúa Trời tạo ra trăng, hoa, nhạc, hơng là để cho ngời đời hởng thụ, nhng ngời
đời u mê nhiều không biết tận hởng một cách say sa và nhân đây chiêm nghiệm
lẽ mầu nhiệm, phép tắc của đấng chí tôn Vì thế trừ hai loài ngời trọng vọng là " Thiên thần và loài ngời " Đức Chúa Trời phải cho ra đời một loài thứ ba nữa: loài thi sĩ Loài này là những bông hoa rất quý và rất hiếm, sinh ra ở đời với một
sứ mạng rất thiêng liêng: Phải biết tận hởng những công trình châu báu của Đức Chúa Trời …" " và trút vào linh hồn ng ời ta những nguồn khoái lạc đê mê, nhng rất thơm tho thanh sạch [ dẫn theo [ 7, 63 ] Thế Lữ khi giới thiệu Xuân Diệu : " Từ
đây chúng ta đã có Xuân Diệu, loài ngời hãy hiểu con ngời ấy " Rồi lời tựa cho "
Điêu Tàn " của Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử cũng trình bày quan niệm đó nhng
d-ới màu sắc tôn giáo Theo Hàn Mặc Tử cũng nh một số nhà thơ lãng mạn, thi sĩ
rớt xuống cõi đời bơ vơ, ngỡ ngàng, không ai hiểu, đó là " con nai ngơ ngác" trong rừng thu, là "một kẻ bộ hành ngơ ngác", là kẻ " đầu thai nhầm thế kỷ " Cho nên " Thơ là tiếng kêu rên thảm thiết của một linh hồn thơng nhớ ớc ao trở lại Trời là nơi đã sống những ngày kiếp vô thuỷ, vô chung với những hạnh phúc bất tuyệt " ( Chơi giữa mùa trăng) Những ý kiến của Hàn Mặc Tử, Vũ Hoàng
Chơng rất giống với những lời giải thích mang đầy tính chất tôn giáo của các nhàlãng mạn phơng Tây về thi ca Baudelaide cũng nh các nhà lãng mạn đầu thế kỷXIX quan niệm thi sĩ nh một ngời khách lạ ngơ ngác trên trần thế, không bạn bèthân thích sống cô đơn sầu tủi ( Ngời khách lạ ) Ngời thi sĩ sống u uất bơ vơ
nh thế cho nên chỉ với thợng đế thi sĩ mới có thể dốc hết tâm sự kể lể mọi niềm
đau thơng Thơ ca đối với các nhà lãng mạn, đã trở thành một tiếng kêu của
nghệ sĩ hớng đến vô cùng, vĩnh viễn, thợng đế Theo Hàn Mặc Tử " Tất cả thi sĩ
ở trong đời phải qui tụ, phải đi khơi mạch thơ " ở Đức Chúa Trời " " Phải biết
đem tài năng ra ca ngợi đấng chí tôn " " dâng cho ngời những bài thơ sáng
láng anh hoa " ( Chơi giữa mùa trăng) Điều quan trọng là Hàn Mặc Tử và các
nhà thơ lãng mạn Việt Nam khác các nhà lãng mạn Tây Âu không thừa nhận cái
đẹp từ địa ngục, từ quỷ xa tăng mà nó chỉ ở thiên đàng, và thợng đế mới có thểhiểu và chia sẻ tâm sự với nhà thơ Ông cho rằng tất cả các thi sĩ ở trong đời phảiquy tụ, phải đi khơi mạch thơ của Đức Chúa Trời
Các giáo đoàn vào truyền đạo ở Việt Nam thời Trịnh Nguyễn phân tranh cho tới
đầu thế kỷ XX đạo Thiên Chúa đã có hàng vạn tín đồ và hàng chục giáo phận nhngtrong suốt nhiều thế kỷ, thơ ca Việt Nam hầu nh cha phản ánh về một bộ phận ngờiViệt Nam theo đạo đức chúa lời Phải chăng Hàn Mặc Tử là thi sĩ đầu tiên truyềntụng cho những lý thuyết của nhà thờ ở nớc ta Tất nhiên thơ của Hàn Mặc Tửkhông chỉ có ảnh hởng đạo thiên chúa mà ta còn thấy ảnh hởng đạo Phật, đạoKhổng, đạo Lão và giữa chất đạo và chất đời, chất đời vẫn là chủ yếu
Trang 19Hàn Mặc Tử cũng gạt lý trí ra khỏi quá trình sáng tạo của nghệ sĩ Ông chorằng khi thi sĩ sáng tác tức là anh ta ở trạng thái mê sảng, chiêm bao…thể hiện niềm khát " Tôi làm thơ tức là tôi mất trí, tôi phát điên.'' ( Tựa Thơ điên 1939) Hàn Mặc Tử, Bích
Khê, nhóm Xuân Thu Nhã Tập đã đa thi ca vào lĩnh vực thần bí, chỉ phản ánh thếgiới chiêm bao, và tiềm thức, đã mở đờng cho các trờng phái tợng trng và hiện
đại chủ nghĩa
Tiếp thu ảnh hởng quan điểm mỹ học Tây Âu, thơ mới Việt Nam còn chịu
ảnh hởng sâu sắc quan điểm triết học, mỹ học duy tâm " nghệ thuật thuần tuý, nghệ thuật vị nghệ thuật " Khá đông các nhà thơ mới nớc ta lại lớn lên
trong các trờng của đế quốc và bị bao vây bởi nền văn hoá t sản của phơng
Tây Thi nhân Việt Nam đã viết : " Chỉ có Nguyễn Bính và Anh Thơ là ít học tại trờng học của ngời Pháp, số còn lại đợc học hành chu đáo trong các trờng Pháp Việt, Huy Cận, Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Huy Thông, Chế Lan Viên, Thế Lữ và nhiều nhà thơ khác" Thơ mới lãng mạn chủ yếu là tiếng nói của các nhà
Tây học phần nào thoát ly đấu tranh chính trị, nhng vẫn còn ấp ủ một tinh thầndân tộc Không tìm đợc tự do ngoài đời họ lánh vào nghệ thuật Không làmcách mạng trong cuộc đời thì làm cách mạng trong văn chơng Trong mốiquan hệ giữa nghệ thuật và đời sống các nhà thơ mới Việt Nam luôn đặt mìnhtrong hoàn cảnh thực tại là con ngời trong một dân tộc bị nô lệ, áp bức Do sự
xuất hiện trong những điều kiện lịch sử xã hội khác nhau nên chủ nghĩa "nghệ thuật vị nghệ thuật" ở mỗi nớc lại có những đặc điểm riêng Những nhà lý luận " nghệ thuật vị nghệ thuật " Việt Nam khác với những nhà lý luận của
nhóm Thi Sơn là họ không có thái độ thù địch với những vấn đề xã hội chính
trị, không ca ngợi " cái đẹp phản xã hội" Họ cũng không chủ trơng theo Phile
Gautier là cần vô tình trớc cảnh vật và chỉ nên đi tìm một cái đẹp tạo hình, mộtcái đẹp hoàn toàn hình thức chủ nghĩa Họ không nói chuyện chính trị, chuyện
đấu tranh giai cấp nhng họ không phủ nhận nội dung của thi ca Xuân Diệu,Huy Cận, Chế Lan Viên, Tế Hanh…thể hiện niềm khát vẫn nói đến nỗi đau xót quằn quại của
con ngời, dẫu đó là con ngời trừu tợng, siêu hình Nguyễn Vĩ trong cơn say "
bí tỷ" để lại cho đời bài thơ " Trơng tửu" vẫn ao ớc về những ngày xa, về giấc mộng kê vàng của ngời nho sĩ phong kiến " Bao giờ chúng mình thật ngất ng- ởng/ Tôi làm trạng nguyên anh tể tớng" Vũ Hoàng Chơng chối bỏ thực tại đến
với rợu, gái và thuốc phiện nh Bôđơle nhng từ trong tâm khảm, nhà thơ vẫn
mơ ớc: "Cờ biển nhịp mơ màng / Thềm hoa son phấn đợi, áo gấm về xênh xang "…thể hiện niềm khát Huy Thông tìm về những giấc mộng anh hùng trong lịch sử với "
Tiếng địch sông Ô" " Kinh Kha" Chế Lan Viên nhớ tiếc một dân tộc đã điêu tàn, đổ nát với bài " Chiến tợng" " Trên đờng về" Vũ Đình Liên tìm về một chút hơi ấm trong hồn xa dân tộc, " Lòng ta là những thành quách cũ/ Tự ngàn năm bỗng vẳng tiếng loa xa" Bài thơ " Ông đồ " của ông là " Di tích tiều tuỵ
đáng thơng của một thời tàn " Tiếp theo " những ngời muôn năm cũ/ Hồn ở
Trang 20đâu bây giờ", ông tiếc nuối xót xa và nh muốn bòn mót lại những nét đẹp văn
hoá một thời của dân tộc Nguyễn Nhợc Pháp, Đoàn Văn Cừ thoát ly thực tại
bằng cách tìm về những nét đẹp của dân tộc: " Chợ tết, Đám cới mùa xuân, Chùa Hơng "
Trong xã hội phong kiến á Đông, cái tôi cá nhân hầu nh bị cấm đoán trong
đời sống xã hội và đời sống văn học Cá thể bị nhấn chìm trong cái khung,
trong cộng đồng, ngời ta chỉ biết đến " Tam cơng ngũ thờng " " Tam tòng tứ
đức", bị kiềm chế, bị kìm nén đôi khi nó tìm cách khẳng định tâm sự, nó đã bắt đầu thấp thoáng đó đây cái tôi mang màu sắc á Đông trong thơ nôm : "
ức trai thi tập" của Nguyễn Trãi, " Bạch vân am tập" của Nguyễn Bỉnh Khiêm
và tiếp nối bằng thơ văn Nguyễn Khuyến, Tú Xơng…thể hiện niềm khát Trên cái nền ấy khi gặp gỡ
t tởng phơng Tây nó nh bùng cháy và cùng nổi loạn Cái tôi tự ý thức trong vănhọc Pháp đã hội nhập vào thời điểm chín mồi của văn học Việt Nam để phát triểnlên một tầm cao mới
Thơ Trung đại Việt Nam cha coi việc biểu hiện cái tôi trữ tình nh là một
ph-ơng thức biểu hiện trữ tình nay các nhà thơ mới đã có ý thức biểu hiện và biểuhiện tốt cái tôi trữ tình, xem nó là một cái đẹp riêng nhất ở mỗi tâm hồn thi sĩ.Cái tôi chính là một phơng thức biểu hiện cái đẹp riêng thanh khiết trong sáng tựthân nh vốn có ở mỗi cá thể Nếu trớc kia ở thơ Việt Nam trung đại, chỉ có một
số ít nhà thơ thiên tài cất lên tiếng hát của cái tôi trữ tình đặc sắc và độc đáo thì ởthời thơ mới hầu nh nhà thơ mới danh tiếng nào cũng hát lên tiếng hát của cái tôitrữ tình Nền thơ mới là một dàn hợp xớng cái tôi trữ tình của các nhà thơ hiện
đại Việt Nam ở thế hệ đầu tiên
Trong cách nhìn thế giới ngời xa coi mình chỉ là một bộ phận, một tiểu vũtrụ, nên dùng thiên nhiên nh một tấm gơng để soi gắm mình và chiêm nghiệm
các định luật của vũ trụ, thiên nhiên luôn là trung tâm của vẻ đẹp " mặt hoa da phấn" " lông mày lá liễu"…thể hiện niềm khát Thì nay dới con mắt của ngời thị dân đã cảm thấymình là trung tâm của thế giới, vẻ đẹp con ngời là chuẩn mực cho thiên nhiên: "
Lá liễu dài nh một nét mi", " Mây đa tình nh thi sĩ xa "…thể hiện niềm khát Đặc biệt khi cảnh xãhội đen tối những tâm hồn nhạy cảm buồn chán thực tại, đến với thiên nhiên,xem nó là một đối tợng phải chinh phục, là khách thể để chia xẻ, tâm sự, bầubạn Thiên nhiên tơi sáng, trong mát, lộng lẫy, dữ dằn nh nó vốn có ngoài đời, nó
nh thủ thỉ, nh tâm sự nh cùng buồn vui với mỗi số phận con ngời Đinh Hùng lấy
mình ra mà cảm nhận thiên nhiên: " Thời gian qua trên một nét mi dài/ Núi mùa thu gợi sóng đôi vai." Hoặc thấy mình là trung tâm mà vạn vật thời gian nh phụ thuộc vào nó " Chúng ta đến mùa xuân thay sắc diện" Các nhà hiện thực phê
phán tìm cảm hứng trong cuộc đấu tranh giai cấp, trong những vấn đề xã hội, cácnhà lãng mạn tìm cái đẹp trong thiên nhiên Thiên nhiên là một nơi ẩn náu yênbình và đầy quyến rũ của họ đó là một thiên nhiên đầy cảm xúc, một thiên nhiên
đợc cảm thụ qua cái tôi cá thể hoá, một thiên nhiên mang đầy màu sắc hội hoạvới những đờng nét, ánh sáng màu sắc hài hoà Nhng thiên nhiên chỉ là nền là
Trang 21yếu tố phụ họa để vẻ đẹp con ngời nổi bật, con ngời là trung tâm của vẻ đẹp vũtrụ Lấy con ngời làm " thớc đo" của mọi vẻ đẹp là nguyên tắc mỹ học mới, làmột cách nhìn nhân văn, một cách tân nghệ thuật Văn học cổ điển không xem
thiên nhiên nh một tiểu vũ trụ, tồn tại nh một thế giới có quy luật riêng Thơ mới
đã khắc phục đợc những khiếm khuyết của văn học cổ điển Thơ mới đi sâu vàokhai thác thế giới thiên nhiên, coi nó nh là một thế giới bình yên, thanh sạch Vìvậy họ luôn " mộng" đợc thăng hoa lên sống trong vũ trụ ấy
Thơ mới với ý thức sâu sắc về cái tôi cá nhân trớc thực tế tối tăm mù mịt,không thấy tơng lai, không có lối thoát ở đâu nó cũng buồn, chán nản, và cô đơn.Vậy là cái buồn trong cuộc đời thực đã biến thành những dòng lệ trong văn ch-
ơng Phải chăng " buồn" là một nét đẹp của thơ mới trong hoàn cảnh thực dânnửa phong kiến
Trong văn học cổ phong kiến chúng ta cũng chứng kiến nỗi cô đơn sầumuộn của nhiều nhà thơ lớn Việt Nam , Nguyễn Trãi cô đơn trớc cảnh quan tr-
ờng " vào luồn ra cúi" nên viết : " Côn sơn ca" tìm lối thoát trong màu xanh cây lá của thiên nhiên vĩnh hằng, Nguyễn Bỉnh Khiêm trốn đời nên viết " Bạch vân am tập" Nguyễn Khuyến đau đời, Tú Xơng buồn chán …thể hiện niềm khát nhng sự cô đơn ấy là nhữngbuồn chán đau xót của họ trớc thế sự theo kiểu Nho phong Thấy đời loạn thì họlui về ở ẩn Chứ cái buồn của cái tôi cá nhân ý thức, cái tôi nồng nàn mê say theoquan điểm nhân văn t sản hầu nh cha xuất hiện trên đất này Từ sách dịch, sáchgiáo khoa dới mái trờng Pháp Việt, những thanh niên trí thức mới biết đợc nỗi cô
đơn nỗi buồn vô cớ, hắt hiu trong bài " Ma rơi trong tim tôi" của Pônvéclen, nhà thơ Huy Cận cũng nghe ma và cũng buồn " Buồn đêm ma", Vũ Hoàng Chơng nghe ma rơi buồn suốt cả cuộc đời: " Ma lùa gian gác xép/ Ngày trắng theo nhau qua/ Lá rơi đầy ngõ hẹp/ Đời hiu hiu xế tà …" " ".
Trong 13 năm, thơ ca lãng mạn cho ra đời nhiều bài thơ buồn da diết,buồn thấm lạnh đến cả cõi lòng Nỗi buồn lan toả trong không gian vũ trụ và
tê tái hơn, cay đắng hơn trong lòng ngời thi sĩ Phải chăng đó là nỗi buồn củamột thế hệ thanh niên tủi nhục vì làm ngời dân mất nớc cay đắng vì không tìmthấy tơng lai trong một xã hội kim tiền ô trọc Họ mang một tâm trạng cô đơnkiêu hãnh vì họ thấy trong nỗi buồn của mình có một cái gì đó trong sáng mà
đẹp, cái buồn đồng nhất với cái đẹp trong quan niệm mỹ học của thơ ca lãng
mạn, chính vì vậy mà " Thơ mới vừa cất tiếng chào đời đã buồn ngay trong bản chất" [ dẫn theo 7 , 30 - 45].
Sự thức tỉnh của cái tôi cá nhân đem đến cho nhà thơ cách nhìn mới về thếgiới Những quan điểm những tuyên ngôn mỹ học về cái tôi vừa là vấn đề xã hộivừa là vấn đề nghệ thuật, các nhà văn nhà thơ có điều kiện đi sâu vào sự bí ẩn,thấy đợc những chiều kích khác nhau của con ngời Cái tôi đợc đề cao khám phá,thế giới bên trong của con ngời là cảm hứng tìm tòi sáng tạo thi ca, song trongquá trình khám phá tìm hiểu cuộc sống xã hội con ngời các nhà sáng tạo vấp phải
Trang 22hiện thực tầm thờng đầy giả dối bất công Sự va chạm giữa lý tởng và thực tại dẫn
đến việc hình thành một khối mâu thuẫn lớn trong tâm thức chủ thể Thơ lãngmãn là bài ca bi ai của một trái tim đã bị rạn vỡ, con ngời tự cảm thấy mình lànhững cá nhân lạc lõng cô đơn trong cuộc đời Bị tách ra khỏi những quan hệ xãhội cố định thời trung đại, ngời thi nhân cũng cha tìm thấy mình trong hiện tại,
họ buồn rầu cô độc, khắc khoải khi thấy mình chỉ là ảo ảnh của hiện tại, trong họ
đã xuất hiện giấc mộng ra đi Mộng "đi giang hồ" vì không muốn "ngoan ngoãn
nh con cừu non dại " đi miễn là thoát khỏi cảnh chật chội tù hãm của cuộc sống
chung quanh Đem đối lập cảnh sống yên ổn phẳng lặng ở gia đình với kiếpgiang hồ trôi nổi, thơ lãng mạn đặt lý tởng thẩm mỹ vào những gì vợt ra mọikhuôn phép , lề thói Ra đi không về, ra đi không vớng bận gì, ra đi vì nghĩa lớncủa các tráng sĩ kiểu nh " Kinh Kha" ngày xa Những giấc " mộng đi" vừa nh cónguồn gốc từ phơng Đông, thơ Đờng, thơ trung đại, lại vừa mang hơi thở của thờihiện đại, thấp thoáng bóng dáng của các chiến sĩ cách mạng ra đi vì nghĩa lớncứu nớc Những thi phẩm của Thâm Tâm, Thế Lữ, Lu Trọng L, Nguyễn Bính,Trần Huyền Trân…thể hiện niềm khát đầy chính khí, tráng khí và chất thơ bi tráng bi hùng
Ra đi vì bất bình và phản kháng cuộc đời nô lệ, xã hội bất công, ra đi mộtmình đơn độc…thể hiện niềm khát hình tợng này nh là một phơng tiện nghệ thuật để các nhà thơmới biểu hiện cái tôi trữ tình của mình Cảm xúc này nh muốn bộc lộ muốn tâm
sự với con ngời đơng thời những băn khoăn, thao thức có tác dụng thức tỉnh cõitâm linh tâm thức, ngời dân nô lệ hớng về những trang anh hùng nghĩa liệt,những trang sử anh hùng cứu quốc
Truyền thống thơ ca dân tộc, thơ ca á Đông cùng với tinh hoa nhiều thế
kỷ của thơ ca nớc ngoài, thơ Đờng và thơ ca Pháp cùng một lúc hợp bồi phù
sa cho phong trào thơ mới Thơ mới Việt Nam 1932 - 1945 ra đời là một v ờnhoa đẹp rực rỡ, trong sự hoà quyện của nền văn hoá Đông Tây cùng nhữngquan niệm mỹ học truyền thống và hiện đại để cái tôi cá nhân đ ợc khẳng
định, đợc khai phá nhiều chiều, đợc thành thực với cảm xúc, suy nghĩ, tìnhcảm của mình và tự do mơ ớc Thế giới mộng trong thơ mới là một phơngthức biểu hiện của cái tôi trữ tình, đợc xây dựng trên nền mỹ học truyềnthống và hiện đại
1.4 Nhìn chung về cảm hứng sáng tạo hớng về cõi mộng của các nhà thơ mới
Thế giới mộng tồn tại nh một phơng thức biểu hiện của cái tôi trữ tình củathơ mới Nó là thớc đo chất thơ của các thi phẩm Dù ẩn hay hiện, dù ít dù nhiều,
dù cụ thể hay trừu tợng, mơ màng, êm dịu hay mạnh mẽ điên cuồng, ồn ào náonhiệt hay âm thầm lặng lẽ thì các nhà thơ mới đều tìm đến với " mộng" Nó làcõi thơ, cõi hồn, nơi cái tôi có thể tự vấn, trở trăn chiêm nghiệm cuộc đời để ớcmơ, là nơi nghệ thuật làm cho con ngời có phút giây thăng hoa bay bổng…thể hiện niềm khát cảmthấy an toàn hy vọng
Trang 23Hớng về cõi mộng là tâm thế sáng tạo chung của các nhà thơ mới HoàiThanh trong thi nhân Việt Nam cũng đã thấy rõ cảm hứng hớng về cõi mộng ở
các nhà thơ mới " …" " Cả trời thực trời mộng cứ nao nao theo hồn ta " Thực tế
trong thơ mới ở tác giả nào ta cũng gặp những thi phẩm chứa đầy yếu tố " mộng".
Lê Đình Kỵ trong " Thơ mới những bớc thăng trầm" cũng đã nhận xét "các nhà thơ mới luôn dành u tiên cho mộng mơ" Dù trực tiếp nói đến " mộng" hay không
trực tiếp nói đến " mộng" mà chỉ dùng hình tợng thơ để gửi gắm thì các nhà thơmới vẫn luôn dành u tiên cho " mộng" Cũng chính vì thế mà một thời ta thờng
đánh giá thơ mới là thoát ly cuộc sống nên không có lợi cho cách mạng cho nhândân
Chuyện " mộng"" mơ" trong văn học không phải đến thời thơ mới mới có
mà nó có trong truyền thống văn học phơng Đông và phơng Tây ở Trung Quốc
có Bồ Tùng Linh với " Liêu trai trí dị" ở Việt Nam tiêu biểu là Nguyễn Dữ với ' Truyền kỳ mạn lục" Nguyễn Tuân cũng có một số tác phẩm viết về đề tài này Thi sĩ Tản Đà thì thờng xuyên đắm mình vào những " giấc mộng lớn " "giấc mộng con"…thể hiện niềm khátở phơng Tây ta đã từng biết cuộc trò chuyện của Hămlét với bóng
ma qua" Chiêm bao" trong tác phẩm nổi tiếng của Xêchxipia…thể hiện niềm khát Đến thơ mới việc
tìm đến " mộng", nhờ mộng để phơi trải cảm xúc cá thể, để sáng tạo thi ca đã trở
thành một trào lu, một nguồn cảm hứng cho các thi nhân Trong hoàn cảnh xãhội đầy bất công, ngột ngạt không tạo đợc nguồn cảm hứng lãng mạn cho cái tôitơi trẻ, chỉ trong cõi mộng cái tôi tìm thấy cái đẹp và thực sự đợc tự do bộc lộcách cảm, cách nghĩ cách nhìn của mình về cuộc sống Ngời thì gửi vào giấcmộng tình yêu, kẻ thì tìm về quá khứ kiếm tìm những nét đẹp của một thời để
ngợi ca tôn thờ, hoặc ôm giấc mộng " Giang hồ" hoặc đến với thiên nhiên, xem
nó nh là đối tợng thẩm mỹ cần khai phá, ngợi ca Đó là những con đờng thoát lyquen thuộc của thơ mới và cũng chính là tâm thế sáng tạo chung của các nhà thơmới
Thoát ly vào giấc mộng tình yêu là con đờng phổ biến nhất đối với cácnhà thơ mới Thơ tình yêu ngự trị trên hầu hết các bài báo chí, sách vở đ ơng
thời Chính nhà thơ Xuân Diệu, một thi sĩ của tình yêu mà phải kêu lên: " Những giọng anh, em đầy rẫy trong các văn chơng, không khí trĩu những chàng với nàng, không khéo thở thì đều đến chết ngạt mất" ( Thơ ái tình
ngày nay 22/4/1938)
Những chàng, nàng, em, cô em, chị trong thơ mới 1932 - 1945 Rất ít khi là
đối tợng cụ thể họ đều là những nhân vật trong tởng tợng của thi nhân, họ là
những ngời tình trong " mộng" của thi sĩ, là nguồn cảm hứng vô tận cho thi ca Với các nhà thơ mới tình yêu chính là lẽ sống, sống trong " mộng" tình yêu là cách quên đi thực tại khổ đau Và cũng chỉ trong " mộng" họ mới đợc thoả mãn
trong tình yêu, hạnh phúc, họ mới đợc hởng hơng vị cùng những cung bậc ngọtngào của tình yêu chung thuỷ trong sáng
Trang 24Bên cạnh " mộng" tình yêu là " mộng" trở về quá khứ tìm lại những nét
đẹp văn hoá của một thời, tìm lại dấu vết kỷ niệm xa, xem nó nh niềm tự hào
của cuộc đời, của dân tộc " Ông Đồ" của Vũ Đình Liên, " Chùa Hơng" " Sơn Tinh, Thuỷ Tinh" của Nguyễn Nhợc Pháp, "Tiếng địch sông Ô" của Huy Thông, "Trời xa" của Huy Cận, "Xóm ngự viên"" Vờn cổ tích" của Nguyễn Bính, " Tình liêu trai"; " Đào nguyên lạc lối" của Vũ Hoàng Chơng…thể hiện niềm khát Đã cho
thấy rõ hành động "tìm về" ấy " Mộng" trở về qúa khứ là xu thế thờng gặp ở
các nhà thơ mới vì theo họ đó là nẻo thoát ly trong sạch nhất lúc bấy giờ Lấyquá khứ để đối lập và thể hiện bất hoà với hiện tại là một lối thoát nghệ thuậtgiúp cái tôi đợc tự do Các nhà thơ xem quá khứ là một cái gì tốt đẹp hơn cuộc
đời hiện tại và trở về quá khứ là trở về bản sắc của dân tộc Quá khứ có thể lànét đẹp thanh bình ở chốn quê dân dã trong mối tình đầu thơ mộng Cũng cókhi nó không phải là có thật trong lịch sử dân tộc mà chỉ là cái t ởng tợng, cái
đợc hình dung bằng thi nhãn "mộng"
Nhìn chung các nhà thơ mới " mộng" trở về đắm chìm trong quá khứ vớinhiều tâm trạng phức tạp, nhng với họ quá khứ là những gì tốt đẹp đáng ngợi ca
và tởng vọng, là nguồn thi hứng cho các nhà thơ
Với con mắt của ngời thị dân thiên nhiên trong thơ mới đã có vị trí hoàn toànkhác xa, nó là một khách thể tồn tại độc lập Thiên nhiên đợc cảm nhận nh làmột ngời bạn và tuy là bạn nó vẫn khác mình Thiên nhiên trong tâm thức củacác nhà thơ mới đợc hiện lên với tất cả vẻ đẹp tơi nguyên nh vốn có Nó cũngchính là đối tợng của cái đẹp trong quan niệm thi ca lúc ấy Bế tắc trớc cuộc đời,cô đơn, bơ vơ các thi sĩ tìm đến ẩn náu ở thiên nhiên vũ trụ bao la trong sạch.Thiên nhiên là nơi ẩn náu tình yêu và đầy quyến rũ của họ Đó là một thiên nhiên
đầy cảm xúc, dờng nh nó thấu hiểu tâm sự của các thi nhân, cùng thì thầm sẻchia những nỗi niềm cay đắng của con ngời, con ngời tìm đến với thiên nhiên để
đợc vợt thoát, đôi khi muốn tan biến trong cái thanh sạch đẹp đẽ của nó " Hãy cho tôi một tinh cầu giá lạnh/ Một vì sao trơ trọi giữa trời xa", " Để nơi ấy tháng ngày tôi lẫn tránh", " Những u phiền đau khổ với buồn lo "…thể hiện niềm khát Hiện tợng các nhàthơ : Mơ trăng, Ngủ trong sao, Chơi cùng trăng…thể hiện niềm khát
Hình ảnh vũ trụ, trăng, sao, mây, nớc, gió, ma xuất hiện khá nhiều trong thơmới với vị trí khác xa Vũ trụ thiên nhiên là nơi cái tôi ẩn mình để tìm cảm giácbình yên để quên đi thực tại Tìm vẻ đẹp trong thiên nhiên để làm nổi vẻ đẹp củacái tôi, khẳng định cái đẹp thanh sạch của thiên nhiên để đối lập với cái nhơ bẩncủa cuộc đời là một hớng đi của thơ mới
Không hoà nhập với thực tại bởi nó đen tối, ngột ngạt, trắc trở, thay vì đứng
lên làm cách mạng các nhà thơ mới " ôm giấc mộng giang hồ ra đi xuôi ngợc khắp trần gian" ra đi không hẹn ngày về, ra đi chu du trong "cõi mộng" ký thác
hồn mình vào những thú đau thơng…thể hiện niềm khát Đó là một trong những xu hớng thoát ly, là
Trang 25xu hớng thẩm mỹ của các nhà thơ lãng mạn nh " Thế Lữ, Lu Trọng L, Thâm Tâm, Nguyễn Bính, Trần Huyền Trân …thể hiện niềm khát "
Với các nhà thơ mới muốn ra đi, muốn vợt thoát khỏi cuộc sống chật hẹp đầy
bon chen vị kỷ, bất công của hiện thực, họ chỉ có mơ đi giang hồ "đi vì không muốn sống nh con cừu non dại" giữa bầy sói lang Không làm đợc ngời anh hùng
ngoài cuộc đời thực họ ôm mộng làm ngời anh hùng trong văn chơng Cảm hứnglãng mạn trữ tình về ngời tráng sỹ " một đi không về" ra đi cô độc, ra đi vì chílớn, không vớng bận chuyện gia đình riêng t, kiểu Kinh Kha vì bất bình phảnkháng đối với thực tại xã hội bấy giờ, đã tạo thành trờng phái thơ hành trong thơmới Với các nhà thơ mới mộng ra đi là phơng tiện nghệ thuật để cái tôi trữ tình
của thi sĩ tự do bộc lộ khát vọng của mình "Cả Hàn Mặc Tử thi sĩ bị bệnh phong phải sống cách ly với mọi ngời vẫn khát khao ra đi: Đi! Đi! Đến tàn phế nh Hàn Mặc Tử mà vẫn "thèm đi" chữ của Nguyễn Tuân "Đi! đi đi mãi nơi vô định/ Tìm các phi thờng cái ớc mơ" (Đời phiêu lãng).
Đắm mình trong những giấc mộng tình yêu tiên giới, hay quay về quá khứvới những kỷ niệm đẹp, hoặc ẩn mình trong thiên nhiên, ra đi khắp nẻo sông hồ
để mong tìm hạnh phúc, dù ở đâu cái tôi trong thơ mới vẫn bị ám ảnh bởi nỗisầu đan tan vỡ, buồn tủi cô đơn Điều đó chứng tỏ hiện thực cuộc sống khônglàm thỏa mãn khát vọng của cái tôi yêu tự do và khát khao cái đẹp nghệ thuật.Vì vậy đến với " mộng" để thỏa mãn khát vọng của mình là tất yếu, là tâm thếsáng tạo của thơ mới
Mộng đối với các nhà thơ mới là thế giới của cái đẹp, của thơ, đối lập vớithế giới thực tại đầy rẫy những cái thô lậu giả dối, sầu đau và bất hạnh Cuộc
đời thực toàn là "Đời tàn trong ngõ hẹp" mà các thi sĩ đã "chán hết" bởi sự buồn
tẻ, nhàm chán, lạnh lẽo, không có gì thơ mộng: "Quanh quẩn mãi chỉ vài ba dáng điệu", "Tới hay lui cũng chừng ấy mặt ngời" ( Quanh quẩn)
Các nhà thơ mới tìm cái đẹp, tìm cảm hứng thi ca ở thế giới Bồng lai tiêncảnh, chốn Đào Nguyên, Đao ly, Đâu xuất, ở xứ trời mơ với Ngọc nữ Tiên Nga,Nàng Li Tao, Nàng Mỹ thuật và cũng chính là Nàng thơ Với các nhà thơ mớicái đẹp nhất của cuộc đời là tuổi trẻ tình yêu, nhng tình yêu đẹp đẽ thơ mộng
chỉ có đợc trong mộng: "Ta đi thơ thẩn bên vờn mộng", "Em nấp sau hoa khúc khích cời" "Bay lên lu luyến bên cung Nguyệt", "Sẽ ngỏ cho nhau thấu nỗi niềm"
Vũ trụ bao la, chốn nớc non thanh tú là nguồn thi hứng cho thi ca đồngthời chỉ ở đó cái đẹp rực rỡ của thi ca mới đợc khẳng định, tỏa sáng và trờng
tồn, "Thơ tôi bay suốt đời cha thấu"/Hồn tôi bay đến bao giờ mới đậu/ Trên triều thiên ngời chói vạn hào quang" Nên mộng bay lên thế giới khác tìm thi
hứng kiếm tìm cái đẹp của các thi sĩ thơ mới không nguôi
Cũng là " mộng" cả nhng mỗi nhà thơ đều có con đờng riêng để tìm đếnvới nó Khao khát đợc sống trong tiên giới, với cảnh đẹp thanh sạch, có hồ sâu
Trang 26suối cao, có chim, có bớm, có trăng sao và những ngời đẹp Thiên nga, NgọcChâu, Nàng Li Tao là những giấc mộng thờng gặp của Thế Lữ, Lu Trọng L.Tìm đến với cõi âm chốn h vô lạnh lẽo, thế giới của những bóng ma hờ vànhững tiếng kêu rợn ngời của những nấm mồ Trở về với những hoài niệm xa,ngợi ca quá khứ huy hoàng của dân tộc Chàm cùng cảnh điêu tàn của nó nhằm
bộc lộ nỗi lòng của ngời dân mất nớc luôn là giấc mộng của chàng "Thi sĩ đất Chàm" Bằng thi nhãn mộng, luôn chìm đắm trong mộng nh Lu Trọng L thì
mọi sự vật đều trở nên bồng bềnh vô cùng dễ cảm Đến với mộng, Huy Cận
phải nhờ những vật dẫn mộng "cánh mộng, cửa mộng, chim mộng " Bằng cách
ấy Huy Cận đến với mộng dài hơn, sâu hơn, cảnh vật trong mộng huyền ảo màgần với thực hơn Cũng từ đây, ta dễ nhận ra Huy Cận là ngời có tâm thế khátỉnh táo khi bớc vào " mộng"
Vũ Hoàng Chơng từ khi " ngời yêu đi lấy chồng", thì cuộc đời nh tan nátbởi quá khứ đau khổ và chán chờng tuyệt vọng, thi sĩ chỉ còn biết đến rợu vàthuốc phiện Đến với mộng, Vũ Hoàng Chơng phải nhờ đến sự kích thích củakhói thuốc phiện và men say
Cảnh sắc thôn quê với mảnh vờn, con thuyền…thể hiện niềm khát và những ngời con gái quêchân chất, thủy chung trong sáng là cõi mộng riêng của Nguyễn Bính Cánh b-
ớm nh là chiếc cầu nối tình cảm hạnh phúc lứa đôi là nét riêng trong mộng tìnhyêu của thi sĩ chân quê này…thể hiện niềm khát
Tuy mỗi ngời đều có con đờng riêng để xây cõi trời mơ ớc của mình nhngtất cả đều là hớng tới sự tự do, hạnh phúc của cái tôi khát khao bày tỏ, khẳng
định Cùng hớng về " mộng" nhng nhân vật trung tâm trong thế giới mộng củatừng nhà thơ khác nhau Điều đó do cá tính thơ do sự trải nghiệm riêng của từngnhà thơ quy định Nhân vật thờng xuất hiện trong mộng của Thế Lữ, Lu Trọng
L hầu hết là những con ngời nơi tiên giới nh Tiên Nga, Ngọc Châu, Li Tao,Nàng mỹ thuật ở họ có vẻ đẹp siêu trần trong trắng kiều diễm Nếu là âm
thanh màu sắc thì đó là âm thanh, màu sắc đặc thù của chốn bồng lai "Tiếng sáo thiên thai", "Tiếng thu", " Nàng mỹ thuật" , Hoa thủy tiên" Điều vừa nói không có gì khó hiểu bởi Thế Lữ là "Ngời của tiên giới" Lu Trọng L là "ngời của cõi mơ" ham kiếm tìm vẻ đẹp nơi xa lạ.
Ngợc lại với Thế Lữ và Lu Trọng L, "nhân vật" thờng đi về trong mộngcủa Chế Lan Viên và của các nhà thơ thuộc trờng thơ loạn là xơng sọ, nấm
mồ, máu tủy Những hồn ma với tiếng oán hờn, ta thán thảm thiết đến rợnngời Chế Lan Viên thích chiêm nghiệm về bản chất cuộc đời tr ớc cảnh tànphá, hủy diệt của thời gian và con ngời Từ cái chết, từ sự lụi tàn của quá khứ
mà nói đến cái sống, cái thực tại hiện hữu, là cá tính sáng tạo mang đậm chấttriết lý của Chế Lan Viên Nhân vật trung tâm trong mộng tình yêu của ChếLan Viên cũng khác lạ, nó luôn gắn liền với hình ảnh ngời Chiêm Nơng Nhà
Trang 27thơ tởng tợng ra những cuộc hẹn hò, những lần gặp gỡ với các Chiêm Nơng:
"Mộng", "Ngủ trong sao", "Đợi ngời Chiêm nữ"
Cảnh yêu đơng, nỗi đam mê và sự hòa nhập cũng đầy âm khí: "Ta cùng nàng nhìn nhau không tiếng nói/ Sợ lời than lay đổ cả đêm sâu/ Đôi hơi thở tìm nhau trong bóng tối" (Đêm tàn)
Sau lúc đắm mình trong những phút " mộng" điên cuồng, mơ dữ dội vớinhững bóng ma Hời, nhà thơ chợt bừng tỉnh giấc mộng tình yêu tan biến chỉcòn nỗi xót xa nhớ tiếc bóng dáng ngời Chiêm Nữ giờ đã xa ở đây không đơnthuần là giấc mộng tình yêu mà còn có một cái gì ẩn chứa đằng sau đó NgờiChiêm Nữ ấy không có thật, cả cuộc tình lãng mạn đam mê ấy cũng không cóthật Tất cả chỉ là sản phẩm của trí tởng tợng của nhà thơ Ngời Chiêm Nữ ấyphải chăng là hiện thân cho cái đẹp, cái hoàn mỹ và bí ẩn Còn cuộc tình là hiệnthân cho niềm khát khao, hớng tới cái đẹp, chiếm lấy cái đẹp của nhà thơ Nhânvật trung tâm trong giấc mộng tình yêu của Chế Lan Viên không phải là TiênNga, Ngọc Châu, ở chốn Đào Nguyên mà là bóng ma Chiêm Nơng Điều nàyhợp với lôgíc mạch thơ hớng về quá khứ "Điêu tàn" nhìn thấy cái đẹp và sựsống từ cõi chết Cá tính thơ Chế Lan Viên ở đây dờng nh chịu sự ảnh hởng củavăn hóa Chàm và nỗi ám ảnh khôn nguôi của những di tích còn lại trên đấtChàm
Nhân vật trung tâm trong các giấc mộng của Nguyễn Bính không mang vẻsiêu thoát huyền ảo của cõi tiên nh Thế Lữ và Lu Trọng L hay ma quái bí hiểm
nh Chế Lan Viên mà là những "anh, em" bằng xơng bằng thịt hiện hữu ở cõi trần
Vẻ đẹp của những cô gái quê gắn liền với những trang phục đậm chất thôn quê
"khăn mỏ quạ, quần nái đen" cùng những phẩm chất trong sáng thật thà thủy
chung Họ là những cô hái mơ, cô gái dệt vải, anh lái đò và chàng nho sinh luôn khát khao hạnh phúc tình yêu nên mộng công danh "Quan trạng" thờng xuấthiện trong tâm tởng họ Bởi công danh mới chính là chỗ dựa vững chắc của tìnhyêu, xây dựng hạnh phúc vẹn toàn Đó là sự hy vọng đổi đời đầy tính nhân văncủa thi sĩ giành cho những con ngời thôn quê Mộng ấy chính là dấu ấn của thi sĩchân quê ra thành phố, để chiêm nghiệm cuộc sống ở chốn đô thị mong tìm niềmvui hạnh phúc Nhng sang ngang rồi, cái tôi Nguyễn Bính vẫn thấy cô đơn, bơ vơbất hạnh và tan vỡ không thể khác cái tôi ấy, mộng trở về quê hơng tìm niềm vuihạnh phúc ở chốn thanh bình Hình ảnh "mảnh vờn" luôn xuất hiện bên hình ảnh
"Quan trạng", trong mộng của Nguyễn Bính là vậy
Tâm điểm trong giấc mộng của Hàn Mặc Tử là những cô gái quê xuân tình
mà trinh bạch Với Hàn Mặc Tử đợc sống, đợc yêu thật là vô vọng, nhng thi sĩvẫn thiết tha mộng ớc Ngời tình lý tởng trong mộng của Hàn Mặc Tử luôn lộ rõ
vẻ đẹp của thân xác, của da thịt và những dáng điệu đầy khêu gợi tình dục: "Da thịt trời ơi trắng rợn mình" Trong mộng của Hàn Mặc Tử cảnh vật trăng, sao,
hoa lá đều mang dáng vẻ gợi tình.
"Trăng nằm sõng soài trên cành liễu
Trang 28Đợi gió đông về để lả lơi …" " "
Ngời tình trong mộng của Hàn Mặc Tử khát khao ái tình mạnh mẽ, táobạo đến lạ lùng nhng vẫn trinh trắng chứ không e dè, mơ màng, huyền ảo nhtrong Thế Lữ, Lu Trọng L Với Hàn Mặc Tử hình ảnh ngời tình trong mộng
là điểm tựa của cuộc đời, là nguồn sống của thi ca Sự trinh bạch của ng ờitình đã đợc hiện lên trong hình ảnh Đức mẹ Đồng Trinh, mang dấu ấn củacảm quan tôn giáo
Các nhà thơ mới đều xây cho mình một cõi mộng, nhng vật liệu để xâydựng thế giới mộng ở mỗi ngời mỗi khác Ngời thì dùng thi liệu dân gian, ngờidùng hiểu biết về văn hóa phong tục, ngời sử dụng biểu tợng ám gợi
Thế Lữ, Lu Trọng L nói đến " mộng" thì cảnh vật phải huyền ảo mơ màng,
âm thanh phải là "Tiếng sáo Thiên Thai", "Tiếng thu " Cảnh trong mộng phải
là cảnh thanh sạch, linh thiêng, điệu ngọc, sông ngân ngời đẹp phải là "TiênNga, Li Tao, Tiên nữ" nh truyền thống thơ bác học và phần nào truyền thốngthơ dân gian Cách xng hô của các nhân vật không chỉ là anh là em mà còn làchàng và nàng
Trong cõi mộng của Nguyễn Bính ta gặp những "Quan trạng, Vua, Công
chúa, vờn Thợng uyển, Xóm Ngự Viên, đặc biệt là rất nhiều bớm, những bớmvàng, bớm trắng bay rập rờn làm nhiệm vụ thông tin tình yêu, là cầu nối vợtmọi rào cản giữa những tâm hồn cô đơn đến với nhau Tất cả đều tạo nên sựkhác biệt của cõi mộng Nguyễn Bính, không khí cổ xa và huyền thoại về sự hóathân của ngời bớm, làm mộng của ông vừa ly kỳ, vừa gần với hình ảnh trong cadao dân ca …thể hiện niềm khát
Sự ám ảnh của nền văn hóa Chàm luôn thể hiện trong những giấc mộng
của Chế Lan Viên: "Trên đờng về", "Những sợi tơ lòng", "Chiến tợng" Trờng
thơ loạn gồm những: Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan luôn dùng nhữnghình ảnh kinh dị, mồ không, xơng sọ, máu tủy, não cân và ánh sáng ma quái,
âm thanh ghê rợn là những biểu tợng ám gợi tạo nên thế giới mộng khác lạ kỳ
ảo Thế giới mộng của Chế Lan Viên đợc xây cất bằng những hình ảnh âmthanh sắc màu của cõi âm, không gian dày đặc bóng tối Phải chăng văn hóatâm linh phơng Đông đã giúp thi sĩ sáng tạo nên cõi mộng hiện thực kỳ lạnày Thế giới huyền vi, xứ trời mơ của Hàn Mặc Tử đầy nhạc, h ơng, hoa vàtrăng Hàn Mặc Tử sử dụng khá nhiều những vật liệu cao sang nh vàng bạc,châu báu, lụa là gấm vóc để xây cất thế giới riêng của mình, thể hiện khátvọng cuộc sống hạnh phúc đầy đủ sang trọng Không chỉ có vật liệu và bảovật cao sang, thế giới huyền diệu ấy còn đợc xây cất bằng những dạng vậtliệu siêu hình, nó đợc tạo dựng bằng tinh anh của vạn vật Hàn Mặc Tử đãchng cất vạn vật để chắt ra những gì là tinh tuý, tinh hoa, những gì chỉ làdạng thức tinh thần để làm thành thanh khí mà tạo ra cõi huyền diệu củamình, nên cõi ấy nh thể khí, thể hơi, mà đó là linh khí của trời đất ở đó là
Trang 29thế giới của hồn hoa, hồn của ngọc, hồn của mùa xuân, âm nhạc của h ơngthơm, của ánh sáng
Chất liệu mà các nhà thơ mới dùng để xây cất tạo nên thế giới mộng rấtphong phú, đa dạng, vừa gần gũi thân quen dễ cảm nhận vừa kỳ lạ sang trọng
nh biểu tợng ám gợi
Thế giới mộng là một phơng thức nghệ thuật giúp cái tôi cá thể của thơmới đợc tự do bộc lộ cảm xúc, nỗi khát khao ớc ao Mỗi ngời tự xây chomình một thế giới riêng và bằng những con đờng riêng để đến với nó, những
" mộng" đã trở thành cảm hứng sáng tạo của các nhà thơ mới nhằm đối lậpvới thực tại bế tắc cô đơn chán chớng không lối thoát
Nhìn chung cảm hứng về cõi mộng cho thấy sức mạnh của nội tâm, của ýthức cá nhân, của trí tởng tợng một khi đợc giải phóng thật sự Thế giới mộng
mà các nhà thơ mới dựng lên là bằng chứng rõ ràng cho thấy phẩm chất nghệthuật rất cao của thơ mới Dù đợc sáng tác theo khuynh hớng lãng mạn, tợng tr-
ng hay siêu thực thì trong thế giới mộng vẫn ẩn chứa tính nhân bản, tinh thầndân tộc, tình yêu hạnh phúc lứa đôi, tình yêu quê hơng đất nớc Mộng là thớc đochất thơ của thơ mới, là cảm hứng sáng tạo nghệ thuật đáng quý và đáng trântrọng
Ch ơng 2
Đặc điểm của thế giới mộng trong thơ
của một số nhà thơ mới tiêu biểu
2.1 Thế giới mộng của Lu Trọng L
Theo P.Valery " mơ mộng là nhận thức" Bằng mơ mộng Lu Trọng L đã đi
vào hồn mình, " mộng du" vào thế giới và sáng tạo nghệ thuật "Tiếng thu" là mộtmiền đầy mơ hồ, huyền hoặc, mông lung, "Mộng" xuyên thấm vào câu chữ, hình
ảnh, nhạc điệu, chi phối thế giới nghệ thuật thơ " Tiếng thu" Lắng nghe " Tiếngthu" không phải chỉ bằng thính giác mà phải thả cả linh hồn vào suối mộng của thinhân, nghe thi nhạc, thi hình nghe tiếng" thổn thức" " rạo rực" của linh hồn Muốnxâm nhập vào " vũ trụ riêng t" ấy ta phải theo ngời thơ nơng nhẹ từng bớc, nếu dặtchân quá mạnh thế giới ấy sẽ vỡ tan và biến mất
Tìm vào thế giới " mộng" của " Tiếng thu" là một công việc vô cùng phứctạp vì xét đến cùng mộng đợc toả lan từ tâm hồn sơng khói phiêu lãng của nhàthơ ở đây ngời viết cố gắng tìm hiểu một số đặc điểm nổi bật của thế giớimộng trong " Tiếng thu"
Hoài Thanh hoàn toàn đúng khi cố định ấn tợng chung của mình về thơ LuTrọng L ở hai chữ " mơ màng" nh Lu Trọng L Ông cũng đã từng khẳng định "mộng" đó mới là quê hơng của L Thực tế ta thấy Lu Trọng L thờng xuyên nói
đến chữ " mộng"
Tần số xuất hiện trực tiếp của từ " mộng" trong 52 thi phẩm của tập " tiếngthu" khá dày đặc Theo khảo sát sơ bộ của ngời viết từ " mộng" ( mơ) hiện diện
Trang 3032 lần trong 17 bài thơ ( 9 lần dùng từ " mơ" ) Nh vậy từ " mộng" có mặt trong30% ( xấp xỉ 1/3 số bài thơ của tập "Tiếng thu").
2.1.1 Bản thân chữ " mộng" trong thơ Lu Trọng L rất đa dạng Nó không
chỉ là những giấc mộng, giấc mơ mà còn là gối mộng, thuyền mộng, cõi mơ,
đoá mộng đầu Dới bút thơ Lu Trọng L " mộng" có thêm những hàm nghĩa
mới, có khi là một ẩn ức, một ám ảnh không sao giải thoát nổi " Đã qua rồi cơn
mộng/ Đừng vỗ nữa tình ơi" ( Còn chi nữa) Có lúc lại là một trạng thái êm nhẹ,
lơ lửng, " Trên trời chiếc nhạn êm nh mộng/ Lơ lửng âm thầm nhẹ cánh bay" ( Im lặng) Khi lại là một cõi u tĩnh lồng lộng: "Dới chân không nghe chèo vỗ sóng/ Thuyền bơi trong cõi mơ lồng lộng" ( Thuyền mộng ) Trong thơ Lu Trọng L ngời đọc đặc biệt ấn tợng với những" đoá mộng đầu" xuất hiện không chỉ một lần ở " Tiếng thu" " Đoá mộng đầu" ấy mang vẻ đẹp ngây thơ, hơng
thơm tinh khiết, thiêng liêng của một tình yêu vừa hé mở Nhân vật trữ tình
khao khát hái mộng ru mình vào những cuộc tình đẹp nh mộng ảo: " Em xinh
em đẹp lòng anh toả/ Dan díu cùng nhau giấc mộng đầu" ( Tình điên) " Chờ anh dới gốc sim già nhé/ Em hái đa anh đoá mộng đầu" ( Một chút tình).
Mộng ở đây đồng nghĩa với huyền diệu, chính vì vậy mà nó ngan ngát
h-ơng tình ái Đó cũng là những giấc mộng êm ái nhất của thi nhân Với Lu Trọng
L cõi mộng không phải là cõi h vô, cũng không phải là những giấc chiêm bao
đ-ợc kiến trúc nh là cõi vĩnh cửu của thủa hồng hoang nơi thời gian và không giankhông còn ngự trị của Đinh Hùng ở "Tiếng Thu" mộng thậm chí còn mang
màu sắc: "Mộng nở trong lòng sắc đỏ hoe" (Mây trắng), "Mộng vàng không kịp hái" (Ma ma mãi).
Những sắc màu của mộng chính là sắc thái tâm trạng của nhân vật trữtình Cái "đỏ hoe" của mộng trong "Mây trắng" cũng là cái đỏ hoe trong mắtchàng trai trẻ khi mây trắng bay về Trớc mùa thu, trớc cái bao la vô tận củathời gian, không gian, ngời trai trẻ buồn đến ứa lệ và làm nên sắc mộng lạ -
"Đỏ hoe".
Mộng nhiều khi chồng chất lên nhau tạo nên những "mộng kép" "Ta mơ trong đời hay trong mộng / Vùng cúc bên ngoài, động dới sơng" (Tình điên) Mơ
trong mộng đã kỳ lạ lại thêm sự trùng phức của những hình ảnh chập chờn h thực
"Vùng cúc động dới sơng" càng làm thơ thêm huyền ảo Cái lay động khẽ khàng
của hoa cúc dới sơng tởng làm thi nhân tỉnh mộng nhng trái lại, nó đẩy hồn thơxuống sâu hơn một tầng mộng nữa Trong "Hôm qua" cũng có hiện tợng này:
"Thơ ta cũng giống tình nàng vậy / Mộng, mộng mà thôi! Mộng hão hờ" Ba từ
mộng trùng điệp trong một dòng thơ lại nhấn thêm chữ "hão hờ" cuối câu khiếnthơ chìm đắm trong mộng Sự xuất hiện trực tiếp với mật độ dày đặc của "mộng"cho ta biết nhân vật trữ tình luôn sống trong những tởng tợng và mộng ớc Mỗibài thơ trong "Tiếng thu" là một đóa mộng mà thi nhân đa tay lợm lấy trên những
Trang 31bớc giang hồ hay trong những mối tình tởng tợng Những đóa mộng ấy kết thànhmột chùm mơ là "Tiếng thu" tiếng thơ của một hồn mộng.
Chất mộng trong " Tiếng thu" thoát thai từ hồn thơ bảng lãng chập chờn
L-u Trọng L Vì vậy có những bài thơ rất mộng nhng không dùng đến chữ mộngmơ nào (Tiếng thu), có những hình ảnh thơ sắc nét, hiện thực nhng vẫn là hình
ảnh của cõi mộng (Nắng mới), có những đờng nét trở nên sơng khói mờ ảotrong con mắt đa tình kỳ diệu của thi nhân (Trăng lên), "Mộng" đã nhập vàolinh hồn câu chữ huyền ảo hóa những dòng thơ Trong nỗi sầu buồn mênh mang
và cái say sa chếnh choáng! Sầu và say là những trạng thái biểu hiện của
"Nhạc sầu" thơ lãng mạn Việt Nam 1930 - 1945 có điều cung đàn "Tiếng thu"tơng đối khác lạ với các cung đàn khác Nếu Huy Cận gieo nỗi sầu bạn cũ trongnhững vần thơ ảo não, Chế Lan Viên thê thiếp trong tiếng khóc Chàm, Hàn Mặc
Tử rên xiết quằn quại trong nỗi đau tởng chừng nh tan vỡ cả xác hồn thì nỗibuồn trong thơ Lu Trọng L chỉ là nỗi sầu mộng vừa vơng vấn, vừa tê tái Vậy
mà chính Lu Trọng L lại là ngời trực tiếp nói đến nỗi sầu buồn nhiều hơn cả.Trong 52 bài thơ của tập thơ "Tiếng thu" có đến 23 bài nói đến chữ " sầu" chữ "buồn" ( 51 lần chiếm 44,2% số bài thơ khảo sát) Sầu buồn có khi chỉ là địnhngữ cho những danh từ, gối sầu, mắt buồn, thơ sầu, tóc sầu, trăng sầu
"Thuyền yêu không ghé bến sầu / Nh đêm thiếu phụ bên lầu không trăng Ta là nàng Li Tao / ngồi bến Hoa Giang khóc trăng sầu" Nhng theo khảo sát của
chúng tôi "sầu - buồn" chủ yếu xuất hiện với t cách là những tâm trạng củanhững chủ thể trữ tình "Sầu" đi với "mộng" và "mộng" luôn đi với "sầu" Haiyếu tố này luôn luôn đi kèm nhau, chúng bổ sung, định nghĩa cho nhau Nh vậymộng trong thơ Lu Trọng L là "sầu mộng" một trạng thái tâm hồn, một tâm thếsáng tạo Thơ của ông chảy ra từ nguồn mộng của tâm hồn ông Ông không chờ
có cảnh đẹp nh mộng hay có giấc chiêm bao rồi mới có thơ "mộng" Các nhàthơ khác có khi mộng khi tỉnh và mộng một cách có điều kiện Vì vậy mỗi khi
họ nói đến chữ ''mộng'', tức khắc ngời ta nghĩ đến những ý cảnh mới, những tâmtrạng khác với lúc thờng Lu Trọng L không thế, ông bao giờ cũng viết với tâmthức của kẻ đang mộng, đang sầu Nguyễn Văn Long đã cảm nhận khá sâu sắc:
"Cái tôi trữ tình trong thơ Lu Trọng L hầu nh rất ít mối liên hệ với thực tại, mất
Trang 32khả năng nhận thức cuộc sống hiện thực mà luôn luôn chìm đắm trong thế giới mộng tởng"
Đối với Lu Trọng L thế giới mộng không phải là một cõi tách biệt với cõisống mà chính là môi trờng sống của hồn thơ thi nhân Nếu Đinh Hùng kiến tạo
"Khuôn mặt nhạn nhòa của vĩnh cửu đã phải hút thuộc phiện để nhập mộng"[ 47, 171], thì Lu Trọng L cha bao giờ biết đến khái niệm "nhập mộng" Vì chỉ
ở trong mộng thi nhân mới thực sự đang sống Ra khỏi thế giới mộng, nhân vậttrữ tình cảm thấy boàng hoàng ngơ ngác nh đến một miền đất lạ, đi lạc vào xứ
sở khác biệt
Cái nhìn có tính chất mộng ảo của Lu Trọng L đã kiến tạo nên một thế giới
"Tiếng thu" kỳ diệu có sức quyến rũ Ông nhìn đời bằng đôi mắt mơ màng ngơngác của chú nai vàng giữa rừng thu xào xạc
Đối với thi nhân cuộc sống chỉ là mộng và mộng, mộng và sầu, mộng sầu vàtình ái Cái mộng của ông khác với cái mộng của thơ truyền thống ở chữ sầu này
Và thờng xuyên nhất là sầu tỉnh mộng Có cái gì đó boàng hoàng, trống trải khi giấc
mộng tan: "Giật mình ta thấy hồ hôi lạnh, mộng đẹp bên chăn đã biến rồi" (Hôm qua) Trong cõi mộng và ngoài cõi mộng là hai tâm trạng đối lập nhau: "Lúc mộng nhìn nhau cời ngặt nghẽo / Mộng tàn trên gối lệ hoen rơi" (Mộng chiều hè).
Sau khi triền miên trong những cơn mơ, tỉnh dậy thi nhân chỉ thấy vệthoen rơi của nớc mắt mặn đắng u buồn Trong "Tiếng thu" nhân vật trữ tình
thờng xuyên giật mình: "Giật mình nhớ ra, giật mình thấy hồ hôi lạnh, giật mình ẵm phải cái không gian " Và tiếp đó là cảm giác trĩu nặng của sầu
đau, bẽ bàng Điều đó cũng chứng tỏ thi sĩ luôn sống trong mộng và sầu
đau Nỗi mộng sầu từ lòng ngời lan ra cả thế giới xung quanh "Nàng đi ôm mối sầu vô hạn / Vô hạn sầu tràn khắp cỏ cây" (Im lặng) Những chữ sầu
"vô hạn" gối lên "vô hạn sầu" từ câu trớc bắt sang câu sau khiến nỗi sầutràn ra vũ trụ: Liễu rủ bóng, sao trời lặng lẽ, cỏ mòn lặng uống s ơng, những
cánh cỏ "lạnh lẽo xa vời ủ rũ bay" Linh hồn tạo vật cũng buồn vời vợi
trong cái chán nản lạnh lẽo của lòng ngời Ngay cả trong giấc mơ thi nhân
cũng không chạy trốn đợc nỗi sầu, mộng cha tan mà ngời đã cảm thấy "hiu hiu mộng tàn", đã thấy "Dới nớc lâu đài tan tác vỡ, Bên bờ t lại giấc mơ tàn" thế giới mộng cũng héo rũ ảo mờ: "Đã héo lắm nụ cời trong mộng / Đã
mờ mờ lắm bóng thân yêu / Đã lam tím cả cảnh chiều / Trong buồn lặng đã hiu hiu mộng tàn" (Thú đau thơng).
Tiên cảnh trong thơ Lu Trọng L không phải là cõi thanh sáng huy hoàng,hoan lạc Thi sĩ đem nỗi sầu trần ai lên tiên cảnh, biến Li Tao thành ngời cô phụ
"Đêm khuya trời giá tuôn thầm giọt lệ khóc trăng sầu" (Hồn nghệ sĩ) khiến Quý Phi thẫn thờ sụt sùi "Nửa vạt sầu che vội mặt hoa" Lu Trọng L trở lại "Ngày x-
a" xua hết bóng chim câu trắng của niềm vui và hạnh phúc, đẩy nàng tiên nữ
Trang 33mơ mộng đến với nỗi sầu đau kỳ lạ "Nàng buồn rụng hết tóc / Mỗi chiều ra vờn khóc" (Ngày xa).
Nỗi sầu không chỉ mênh mang dìu dặt nh "Tiếng sáo Thiên Thai" mà ghê
gớm đến độ làm biến đổi cả hình hài, làm tan vỡ cả những cái vĩnh cửu của thếgiới tiên cảnh, làm tàn phai nhan sắc vốn vĩnh viễn của tiên nữ
Trở lại với cõi trần, ngời thơ lại gặp ngay nỗi "Sầu mây trắng": "Mây trắng bay đầy trớc ngõ tre / Buồn xa theo với gió thu về / Vài chàng trai trẻ sầu biêng biếc / Mộng nở trong lòng sắc đỏ hoe" (Mây trắng).
Mây trắng trong thơ Thôi Hiệu xa bay chơi vơi giữa hiện tại và quá khứ,
nó là cái vô cùng đối lập với cái hữu hạn nhỏ bé của con ngời Chàng trai trẻ,nhân vật trữ tình của bài thơ nhìn mây trắng nh hiện hữu của thu buồn, mây
trắng bay về kéo nỗi buồn ngày xa trở lại khiến tấm lòng son trẻ "Sầu biêng biếc" nỗi sầu ánh lên lấp lánh h thực nh một điều hiện hữu mà khó hiểu, khó
nắm bắt Từ đó mà giấc mộng trẻ trai mang sắc lệ "đỏ hoe" Nỗi bi thu của L uTrọng L không phải là đôi mắt buồn đăm đắm hớng về cố hơng mà là nỗi sầumây trắng nhập mộng vào với cái sầu biêng biếc và giấc mộng đỏ hoe của lòngngời tạo nên một dấu ấn đặc biệt kỳ lạ Chỉ bằng con mắt mộng nhà thơ mớithấy đợc nỗi sầu có màu "biêng biếc" nh thế Âm hởng của tâm trạng sầu buồnman mác khắp thế giới "Tiếng thu" : Ngời cô phụ dạ sầu thổi tiếng vi vu, ngờitrai trẻ sầu biêng biếc, ngời tiên sầu ứa lệ, ngời thơ "mang mang nỗi sầu nghìndặm", trời đất vô hạn sầu, trăng gió cũng sầu, cây cỏ ủ rũ Thi nhân khôngnhững buồn khi tỉnh mộng mà buồn ngay trong mộng Nỗi sầu mộng có nhiềucung bậc: khi dìu dặt vơng vấn, khi tê tái thấm thía, khi nhẹ nhàng nh heo may,khi đậm nét nh lệ ứa nhng trớc sau nó vẫn là nỗi sầu rất Lu Trọng L, rất "Tiếngthu" Đó là nỗi sầu mộng - cái sầu không mạnh mẽ đến muốn tung phá nh XuânDiệu, không đau đớn đến "sợng sần" nh Hàn Mặc Tử nhng thờng trực trong hồnthơ thi nhân - nỗi sầu của một tâm trạng cô đơn đổ vỡ "Sầu" ở Lu Trọng L cũngchỉ bó hẹp ở sầu tình (trong "Tiếng thu", "Nắng mới" là bài duy nhất khôngphải nói chuyện tình yêu) ở nhiều nhà thơ khác, nguyên nhân sầu tình có thểthấy rất rõ hoặc do phụ bạc, hoặc do xa cách về không gian, hoặc do duyênkiếp nhng ở Lu Trọng L, nỗi sầu phần lớn không có nguyên cớ rõ ràng, dù đôikhi nhà thơ cũng dựng lên sự đối lập giữa "ngày ấy" và "hôm nay" giữa "mộng"
và "tỉnh" và một đôi lần nhắc đến tình huống ngời yêu đi lấy chồng (Khi thu
rụng lá, Tình điên) Nhà thơ viết: "Cha biết tên nàng, biết tuổi nàng / Mà sầu trong dạ đã mang mang" (Một chút tình) "Ai bảo em là giai nhân / Cho đời anh
đau khổ? (Một mùa đông) "Thuyền yêu không ghé bến sầu / Nh đêm thiếu phụ bên lầu không trăng" (Một mùa đông) Nh vậy "sầu" đi đôi với "yêu" là tất
yếu, cũng nh "sầu" đi đôi với "mộng" là chuyện dĩ nhiên Cũng chính từ
"yêu", "sầu", "mộng" mà ở thi nhân tiếp thu trạng thái say cũng xuất hiện khá
đậm đặc ở " Tiếng thu" say men tình nhiều hơn men rợu, men tình mới là thứ
Trang 34men nồng nàn nhất, ngọt ngào nhất mà cũng chua chát nhất của thơ thi nhân về
miền mộng ảo: "Tình ấp trong gối/ Rợu tân hôn không uống cũng say nồng".
Cái say ấy vừa là cảm giác ngây ngất chếnh choáng, vừa là cái nhìn say đắmcủa ngời thơ Trong mắt thi nhân mọi hình ảnh thực của thế giới nhòe đi, các đ-ờng nét trở nên huyền hồ h ảo, cả thế giới dờng nh cũng ngả nghiêng một cách
dịu dàng trong cơn say mộng của nhân vật trữ tình "Cây nớc say theo ngời tráng sỹ, Con đò quên cả chuyến sang ngang" Trạng thái "say" trong Lu Trọng
L rút cục cũng chỉ là say để mộng và say trong mộng Ngời xa uống rợu để tiêu
sầu, Lu Trọng L thì say sa màu tuyệt diệu "cho mắt đẹp nữa lúc mơ màng" (Lại
uống) Say đi với mộng nhng say mà sầu vẫn ám ảnh, đeo đẳng, cho nên ở thi
nhân mới có nỗi buồn đắm say lạ lùng kỳ ảo
Say đi liền với những giấc mộng giang hồ, say là một cách bớc vào cõimộng sâu hơn Ngời khách giang hồ nâng chén mừng sinh nhật vợ nhng lạimộng thấy chén hoàng hoa của ngời kỹ nữ thuở xa mà rơi lệ xuống bàn, thức
dậy giấc mơ phiêu lãng: "Hết say vẫn bàng hoàng trong mộng / Xót xa thay cái
giống giang hồ" (Giang hồ) Trong lúc say ngời khách thấy "ngời sơng gió",
"Mặt hoa bảng lảng nh lồng dới trăng" , sông Ngân nhạt nhòa, sầu đau trong
sóng mắt Cả đêm giang hồ thuở xa sống lại trong màn sơng đêm huyền ảo,
thế giới trở nên nhạt nhòa chếng choáng Hết say khách giang hồ vẫn "bàng hoàng trong mộng" cái còn lại có thực là cảm giác xót xa.
Thi sĩ là ngời mơ mộng, lúc thờng cũng khó phân biệt đợc thực và mộng,vừa tỉnh vừa mộng lại thêm say nữa nên mộng và thực càng bị xáo trộn, làm chogiọng thơ ngây ngất, ngời đọc cũng bị say lây Bản thân đã say ông còn ớc chocả ngựa say nữa nên cảnh trời đất đều ngả nghiêng, trời sụt núi lở thật là mộtcảnh động đất trong tởng tợng
Có thể nói mộng - sầu - yêu - say đó là thế giới riêng của Lu Trọng L, hay
nói cách khác nó là một thứ khí quyển dày đặc bao bọc toàn bộ thi phẩm của ông.Các yếu tố này đồng hành với nhau trong suốt 52 thi phẩm của tập "Tiếng thu" tạo
ra ở mỗi bài thơ cũng nh toàn tập thơ không khí mơ màng, mờ ảo, một trongnhững yếu tố tạo nên khí quyển đặc trng của thơ Lu Trọng L luôn đi kèm vớinhững yếu tố còn lại Nói đến mộng là phải nói đến sầu, yêu và say Nói đến yêuphải nói đến sầu - say và mộng Các yếu tố ấy có khi định nghĩa lẫn cho nhau vìtrong cảm hứng sáng tạo nghệ thuật chúng là một thể thống nhất Nhân vật trữ tình
do sầu mà say, nhng càng say thì càng sầu, yêu cũng say và sầu, khi tỉnh mộng màbuồn sầu nhng trong mộng nỗi buồn càng da diết hơn, say đa nhà thơ vào cõimộng sâu hơn nhng cả say và mộng cũng không giúp thi nhân thoát khỏi mình
Đắm đuối trong sầu mộng, trong say sa mơ màng cái tôi Lu Trọng L dờng nh trôinổi chơ vơ trong một thế giới vô định, triền miên trong tâm trạng u hoài bảng lảng.Chính điều này làm cho cõi mộng của "Tiếng thu" khác thế giới tiên cảnh bồng lai
trong thơ Thế Lữ Cõi tiên trong thơ Chế Lữ "đã cùng cõi trần Âm hóa" còn cõi
Trang 35mộng của Lu Trọng L vẫn đang trôi dạt ở một miền xa xôi và huyền ảo nào đấy
đến chơi vơi, đến mênh mông
2.1.2 Thế giới mộng trong " Tiếng thu" thể hiện khá rõ cái tôi mơ mộng
của Lu Trọng L Thi nhân đi giữa cõi thu mộng từng bớc sợ sệt, ngại ngùng nh
lo đạp phải những linh thiêng của trời đất rơi rắc xuống Chính vì thế nó rất khácvới thơ "mộng" của Hàn Mặc Tử, thơ " mộng" của Lu Trọng L rất ít hành động,
động tác Nhà thơ hình nh luôn ở trong trạng thái lỡng phân, không biết mình
đang sống ở không gian nào "Ta mơ trong đời hay trong mộng " bởi thế, mọi cử chỉ cũng trở nên đầy bâng khuâng, dè dặt sẽ sàng "Nhẹ bàn tay, nhẹ bàn tay, Lững thững sờn non chiếc cáng điều; Đừng vỗ nữa tình ơi; Muốn ca, Nàng chỉ lặng thầm ca, Ngại ngùng sợ gió chim xao động; Hãy lịm ngời trong thú đau th-
ơng " Lu Trọng L nhìn cuộc đời này không phải bằng cái nhìn cảm nhận thấu
hiểu mà là cái nhìn trong suốt xuyên qua bản thể, đẩy sự vật hiện tợng đến bến
bờ của huyền diệu thơ mộng Đôi mắt thi nhân không phải là đôi mắt của ngờitrần gian nữa mà là thi nhãn của ngời thơ dờng nh đi bên lề cuộc đời, nhìn cuộcsống này qua một lớp khói sơng huyền ảo Ông lúc nào cũng cảm thấy mình
đang trên con thuyền mộng trôi quá dải Ngân hà, bập bềnh trên mây bạc, xungquanh là mầu xanh lồng lộng và khắp trời nh đầy ánh sao, con thuyền cứ trôikhông bến đỗ (Thuyền mộng) Ngời nhìn bông hoa bên đờng không phải là đóahoa hữu tình trớc mắt có hơng, có sắc mà hình dung ra kiếp trớc của hoa - kiếp
ngời thiếu nữ "chết vô duyên vùi bên đờng" Hơng hoa là hơng thiếu nữ thoảng
trong đêm trờng h ảo quyến rũ và không thể nào đón nhận nắm bắt (Hoa bên
đờng) Ngọn gió lớt đầu cây đợc thi nhân đón nhận nh linh hồn cô gái nớc
Chiêm Thành "hiu hiu thổi, không buồn nói" trong ngọn gió chứa chất mối
hận nghìn thu chẳng thể cảm thông (Trờng hậu) Đối với Lu Trọng L mỗi sựvật hiện tợng hiện hữu của thế giới đều ẩn chứa một linh hồn vô hình, vô cảm
và nhà thơ bao giờ cũng nhìn sâu vào bên trong, vào chiều sâu vô hình ấy.Chính vì vậy thế giới thơ Lu Trọng L không có những đờng nét minh bạch rõràng những sắc hình muôn vẻ của thế giới sự sống đa dạng, phong phú ngoàikia Cái nhìn mộng ảo của nhà thơ đã xây cất nên một thế giới huyền vi kỳdiệu
Hồn thơ Lu Trọng L vô cùng nhạy cảm và tinh tế Chỉ có tâm hồn nhạycảm, mộng ảo nh ông mới có thể lắng nghe tiếng "rạo rực", "thổn thức" củalòng cô phụ dới trăng mờ Thi sĩ có khả năng nắm bắt và diễn tả một cách tế nhịnhững cảm xúc mơ màng bàng bạc lan thấm vào ngõ ngách của tâm hồn, làmrung động đến tận đáy sâu tình cảm của ngời đọc Ngời cô phụ trong "Tiếngthu" dờng nh cháy cạn mình trong những đêm trăng "thổn thức", "rạo rực".Những trạng thái ấy thuộc về đời sống nội tâm thầm kín bên trong mà ngời tachỉ có thể lắng nghe bằng chính tâm hồn mình Thiếu đi sự tinh tế, sâu lắng thìkhông thể nào và không bao giờ nắm bắt đợc tiếng "thổn thức" "rạo rực" kia Từ
Trang 36cái xào xạc của rừng thu, tiếng thổn thức của trăng mờ, tiếng rạo rực của lòng
cô phụ đến cái mênh mang vời vợi trong mắt một cô dâu mới "Sực nhớ quê nhà giọt lệ tuôn" ( Điệu huyền), nỗi buồn man mác trong tiếng gà tra não nùng (Núi
xa) đến cái dịu dàng của một chiều mộng chàng văn nhân và ngời thiếu nữ
"quên thân phận cùng mơ về thế giới" Những khoảng khắc ấy có thật trong tâm
trạng cuộc đời con ngời nhng dới bút thơ Lu Trọng L nó ánh lên vẻ kì diệu hthực vì đợc nhìn dới thi nhãn rất mộng của thi nhân
Tâm hồn nhạy cảm của cái tôi Lu Trọng L luôn chìm đắm trong mộng ởng Hồn thơ thi sĩ phiêu diêu trong những giấc mộng giang hồ và những giấcmơ tình ái, những cuộc tình trong mộng đứt - nối tiếp liền nhau theo gót chân lữkhách Thơ Lu Trọng L không phải là thứ thơ viết về thú giang hồ mà là giấcchiêm bao theo gót chân lữ khách Giấc mộng giang hồ đa thi nhân thăng hoa
t-đến những bến bờ xứ lạ, nó là hiện thân cho khát vọng vợt ra khỏi những gò ép,
bó buộc của cuộc sống tầm thờng, vơn tới thế giới lãng mạn bay bổng
Cái tôi trữ tình trong thơ thi nhân thờng mơ thấy mình tha hơng đặt chân
đến những chốn mênh mông, khi gò ngựa bên sông dới gốc đào (Hôm qua), khidừng chân bớc cô đơn trong chiều đông hoang lạnh (Lá mồng tơi) khi ở bếnNgân Sơn cùng tiên nữ (Túp lều cỏ) Ngời Thơ cứ phiêu du mãi trong chiếc
thuyền mộng, bơi trong không gian "thẳm xa xa thẳm một màu lơ" Nh vậy nhà
thơ không chỉ phiêu du bằng tởng tợng mà còn tởng tợng mình phiêu du vào cõimộng Ngời khách chinh phu ấy chỉ ở trọ cuộc đời trần thế và luôn muốn ra đi,
đến một thế giới khác kiếm tìm một chân trời khác thỏa ớc mộng của mình.Mộng giang hồ của Lu Trọng L mang dáng dấp một đấng trợng phu, một
khách chinh phu xa Không có cái bi phẫu "giầy cỏ, gơm cùn ta đi đây" đầy dấu
ấn thời đại nh trong thơ Nguyễn Bính, cũng không có cái bâng khuâng khó hiểukiểu Thâm Tâm, mà một mình một ngựa dấn thân vào gió bụi ra đi không vớngbận thê nhi nh những chàng tuổi trẻ khi xa Ngời tráng sỹ xa ra đi đầy quyếttâm và hăm hở lập công thì ngợc lại ngời khách du tử trong "Tiếng thu" ra đichỉ để ra đi, chẳng biết mình đi đâu cũng chẳng có mục đích phơng hớng gì.Giang hồ để mà giang hồ, đi để mà đi, để trốn thoát thực tế xã hội đơng
thời, để trốn cô đơn mong "quên chua cay trần sự" nhng chỉ thấy "nắng trần chan chát lòng trần héo" Những d vị của thế sự vẫn còn nguyên nỗi chua cay
trần thế cứ vơi đầy, chẳng thế nào dứt đợc Rốt cuộc, tất cả chỉ là giấc mơ hão
hờ, đi vào cõi mộng nhằm trốn tránh cô đơn, ghép lại những đổ vỡ nhng cõimộng cuối cùng cũng chỉ đem lại cô đơn và đổ vỡ mà thôi
2.1.3 Hồn thơ Lu Trọng L là hồn thơ mơ mộng nên thời gian trong "Tiếng
thu" cũng chập chờn mộng ảo Đối với các nhà thơ mới, thời gian không còn làvòng tuần hoàn theo nhịp điệu vĩnh hằng của vũ trụ mà là thời gian tuyến tính
chảy trôi Đọc Lu Trọng L, Hoài Thanh nhận xét: "Ta thấy những cảnh mơ hồ, không có thời nay mà cũng không có thời nào" Nhìn một cách tổng quát thời
Trang 37gian trong thơ ông đã bị xóa nhòa ranh giới trong cái nhìn mộng ảo về cuộc đời.Ngay khi thi sĩ đề cập đến những dấu ấn phân định thời gian "đêm nay" hay
"hôm qua" thì những thời điểm ấy cũng hoàn toàn không xác định Tuy nhiênnếu hiểu quá khứ là tất cả những cái đã trôi qua và lấy trạng thái mộng làm điểmtựa xác định thời gian hiện tại trong từng thi phẩm thì hầu nh trong "Tiếng thu"làdòng thời gian trở về với dĩ vãng và hoài niệm với những kỷ niệm đẹp
Trong mỗi giấc mộng thi nhân lại tìm về với những gì tốt đẹp, tìm về thi tứ
trăng hoa, ký ức trong Lu Trọng L là tuổi hoa niên với hình ảnh ngời mẹ "nét
c-ời đen nhánh sau tay áo " màu áo đỏ và nét cc-ời của mẹ đã trở thành hình ảnh
ám ảnh, là hành trang sởi ấm tâm hồn con Hiện tại là nắng mới mà ký ức cũng
là nắng mới Cái nắng mới của hiện tại gọi ký ức sống dậy, màu đỏ của áo vànét cời của mẹ Nhà thơ đã từ hiện tại gọi ký ức sống dậy, chập chờn rồi nhậphẳn vào quá vãng thiếu thời trong một giấc mộng ngọt ngào và cảm động Ký
ức với thi nhân còn là những mối tình đắm say ngày cũ, là thuở ngày xanh chabiết sầu, là lúc ngời chinh phu còn ở bên chinh phụ, là khi ngời lữ khách còn
đang trên đờng lãng du cha mệt mỏi Sự trở về với dấu cũ ngời xa nó là mộtphần không thể thiếu trong thế giới mộng của tiếng thu Những "đêm ấy" "hômấy" "cảnh xa" "thuở ngày xanh" đã ngng đọng lại nh là những gì không thể
đổi thay, những gì vĩnh viễn tốt đẹp của cuộc đời, nó là phần mộng của cuộc đờinày Ký ức đầy ứ có thể có thật hay không nhng điều quan trọng là nó đã sốngrất thực trong tâm tởng của nhân vật trữ tình, nó là giấc mộng trong trẻo an lành
vỗ về ngời thơ
Thời gian quá khứ với tất cả những gì tốt đẹp thì thời gian hiện tại là trạngthái đổ vỡ, trống rỗng cô đơn Thời gian hiện tại đợc nhận diện bằng các từ "đêmnay, hôm nay, giờ đây " Ngay cả những cụm danh từ có tính chất vô định: mộtsớm mai, buổi sớm kia đợc đặt vào hoàn cảnh cụ thể cũng mang sắc thái thờigian hiện tại Thời gian hiện tại trong "Tiếng thu" thờng gắn với trạng thái "tỉnhmộng" do đó mà tâm trạng thờng xuyên của nhân vật trữ tình trong hiện tại làcảm giác đổ vỡ, trống rỗng và sầu đau Những giấc mộng tan trả thi nhân về thực
tế, ngời thấy bàng hoàng ngơ ngác nh bị lạc vào thế giới khác "Đêm nay hoa có mình ta, Đốt trầm hơng cũ cho ma dạo đàn" Có lúc mộng vỡ tan và thi sĩ cảm thấy ngời mình trống rỗng nỗi đau và mọi cảm giác trở nên h vô: "Ta di đôi tay vào miếng kính ngời điên xem đến hiểu lòng ta" Cuộc tình trong mộng tan vỡ
và nhân vật trữ tình thấy tất cả đều "vô nghĩa lý" thậm chí không cả cảm thấy nỗi
đau thơng trên da thịt và trong sâu thẳm hồn mình nữa Cảm giác dờng trở nên têdại, hiện tại trống trải, lòng ngời ngơ ngác trớc đau thơng
Trong sự đôi sánh hiện tại - quá vãng, tâm hồn thi nhân luôn ngân lênnhững lời tha thiết đầy tiếc nuối - Quá vãng là tuổi hai mơi vừa đến, là ánhtrăng vàng mơ trên làn tóc rối hiện tại là những tan tác tơi bời của hoa dại vensông Rất nhiều kiểu bài thơ trong "Tiếng thu" có kiểu kết cấu theo trục thời
Trang 38gian, quá vãng - hiện tại Nhân vật trữ tình ý thức sâu sắc hiện tại chẳng còn chinữa nhng vẫn ngóng về dĩ vãng, vẫn buông những dấu hỏi "còn đâu " đầy tiếchận Thời gian vẫn chảy trôi đem đến sự tàn phai vô vọng.
Thế giới "Tiếng thu" là thế giới mộng song ở đó thời gian không ngng
đọng mà chảy trôi theo nhịp vận động tâm trạng con ngời Bớc đi của thời giangắn với sự tàn phai rơi rụng của cảnh và sự héo úa trong mong đợi của lòng ng -
ời: "Rồi ngày lại ngày / Sắc màu: phai / Lá cành: rụng / Ba gian: trống / Xuân
đi / chàng cũng đi" (Xuân về) Cách cảm nhận thời gian mang đặc trng của cảm
quan lãng mạn nhng cách ứng xử với thời gian của nhân vật trữ tình trong thơ
Lu Trọng L lại mang tính chất cổ điển, cái tôi trữ tình thi sĩ không cuống quít,níu kéo, tận hởng từng phút giây sự sống hiện tại mà lặng lẽ nhìn thời gian điqua lòng rng rng nỗi u hoài và "tuôn lệ" Thời gian trong "Tiếng thu" cứ "lặngrót một lòng buồn tênh" còn con ngời cứ sống trong giấc mộng của những kỷniệm xa cũ
2.1.4 Không gian trong " Tiếng thu" là không gian huyền diệu của thi
nhãn mơ màng Lu Trọng L Không gian trở đi trở lại trong tiếng thu là trăng vàbến nớc Đó là nơi bến cũ em ngồi quay tơ, bến ngàn sơn cặp uyên ơng ghé conthuyền mộng, bến hoa giang tiên nữ khóc trăng sầu, bến nớc có rặng xoan tâyhoa đỏ rực màu khát khao mong nhớ Những bến nớc ấy không phải là mộtbến trần gian cụ thể nào là nơi sông nớc xa xôi cho thi nhân ghé thuyền mộng,
nó là bến mộng để hồn thơ Lu Trọng L tìm đến rồi lại đi Bến nớc trong "Tiếngthu" là nơi gặp gỡ và chia tay giữa ngời lữ khách và tình nơng, họ gặp nhau trênmột ghềnh suối mây nào đó, họ cùng nhau khắc dấu kỷ niệm Nhng khi ngờikhách ra đi nó trở thành bến đợi, bến mong nhớ Không gian bến nớc trở nênhuyễn hoặc sơng khói mà u buồn, nó là nơi thăng hoa của những vần thơ sầumộng mênh mông, không gian bến nớc trở thành đặc trng khơi gợi tâm trạng đểnhân vật trữ tình trôi vào cõi mộng Cùng với không gian bến nớc là những cảnhbiệt ly não nùng mờ sám khắp "Tiếng thu" Không gian bến nớc là không gian
mở, nó vừa là không gian tĩnh tại bất biến vừa là không gian rộng mở, đa dạngtơng ứng với những đặc trng vật chất của "bến nớc" Vì vậy không gian bến nớc
ở "Tiếng thu" vừa thể hiện giấc mộng ra đi, vừa thể hiện giấc mơ trở lại củanhân vật trữ tình
Khắp thế giới nghệ thuật "Tiếng thu" ánh trăng mờ ảo bàng bạc lan tỏa,xuyên thấm vào cảnh vật và hồn ngời từ "trăng" (nguyệt) xuất hiện 32 lần trong
17 bài thơ (chiếm khoảng 30%) của tập "Tiếng thu" Trăng ở đây huyền ảo bị nội
tâm hóa sâu sắc và luôn đi kèm với những từ chỉ trạng thái: trăng sầu, trăng mờ thổn thức, trăng mơ màng, trăng lạnh về non không trở lại, trăng rụng dới cầu, trăng nở đầy buồng Trăng nối rộng không gian trong mộng tràn ra vũ trụ vô
biên, cả thế giới đều sầu mộng cùng với điệu sầu mộng của ngời Ngời cô phụnhớ chồng trong ánh trăng mờ thổn thức, cõi tiên u uất trong ánh trăng sầu, ngời
Trang 39lữ khách dừng gót phiêu linh trong đêm sơng, trăng cũng "ngậm buồn" trong một
đêm kỹ nữ Không gian ánh trăng gắn liền với thời gian đêm khơi thức nhữnggiấc một ái ân, gợi đến những ngọt ngào và đau thơng của những cuộc tình đã vỡ.Hồn thi nhân trôi mãi vào miền trăng h ảo, khuôn mặt ngời yêu cũng chập chờntrong không gian: "Giang hồ", "Thơ sầu rụng" Tình yêu cũng đợc so sánh với
trăng (Một chút tình) có khi trăng chính là mộng "Ai nghe tiếng hát chị đò đa /
Mà không cảm thơng ngời quả phụ / Nằm ấp bóng trăng tha / Luồn qua song
cửa sổ" (Điệu hát lẳng lơ) biết bao hoang lạnh và khát khao trong hình ảnh ngời
quả phụ "Nằm ấp bóng trăng tha" "Lấy vầng trăng lên mà tả mặt ngời đàn bà
đẹp thì không có gì lạ nhng mợn vầng trăng nhô đầu trên đám mây đen mà tả cái phút ái ân của đôi trai gái trong lúc đầu thì thật đầy mộng đầy mộng, thật tuyệt bút" [ 36 ] và chỉ Lu Trọng L mới có cách nhìn đầy mộng trong trăng nh
vậy (Trăng lên)
Không gian trăng trong thơ Lu Trọng L là không gian của cõi mộng, tâmtrạng con ngời nhập vào trăng khiến mộng toả lan khắp đất trời và đã h ảo hoáhiện thực, trộn lẫn thực với mộng, mộng với thực khiến thơ ông có độ huyền ảovô cùng Không gian mùa thu, gió thu, trăng thu, ma thu trong mộng của LuTrọng L khác các nhà thơ khác Ma thu là một trận ma đầm đìa nớc mắt của hai
kẻ bạn tình gây nên biết bao nỗi nhớ nhung cho những khách đa tình, nỗi nhớnhung có sức lan tràn khắp bầu trời, mặt đất và thánh thót tâm can con ng ời nhnớc mùa thu
2.1.5 Tình yêu trong thơ Lu Trọng L là tình yêu của những mộng tởng đắm
say, mơ màng nhng cũng lắm tàn phai rơi rụng Có thể thấy kết cấu chung củanhững câu chuyện tình trong "Tiếng thu" bao giờ cũng đi từ cấu kết đến tan vỡ,
đi từ thực đến mộng, trong giấc mộng tình yêu "vời vợi" không cùng "Mùa đông
đến đón ở bên sông, vội vã cô em đi lấy chồng", lòng lạnh giá thi sĩ đứng ở bên này sông vẫn không thôi xây mộng ớc "Anh là chim ô thớc/ Sẽ bắc cầu nguyện ớc/ Một đêm một lần qua" Bằng những giấc mộng tình thi sĩ đã xây cây cầu ấy
bằng thơ Gắn liền với giấc mơ tình ái là hình ảnh ngời phụ nữ - nhân vật tình
n-ơng Ngời tình nơng ấy trở thành cội nguồn của sầu mộng trong hồn thơ thi nhân
Họ đã đến bên sông Ngân, khi là cô gái Chiêm thành, ngời sơn nữ, ngời con gái
quay tơ bên bến cũ Dù là ai đi nữa, rút cục cũng chỉ là bóng dáng "ngời em sầu mộng của muôn đời" Đối tợng mà hồn thơ hớng tới linh hồn của những bản tình
ca diệu vợi u buồn Họ đến trong thơ Lu Trọng L không phải bằng đờng nét cụthể hữu hình, những chân dung sắc nét mà chỉ là ý niệm về một ngời con gái đợcnhìn qua lăng kính ảo ảnh mà nhà nghiên cứu Văn Tâm gọi là "Nơng thơ" Nhàthơ gọi bằng "nàng" "em" "cô em" " ngời em gái" hay "vân nơng" Nhng tất cảchỉ là mộng tởng
Với nhân vật tình nơng, thi nhân thờng chấm phá hình ảnh họ bằng một vàinét về "đôi mắt" và "mái tóc" và kèm theo là chiếc "gối" nhng những nét chấm
Trang 40phá ấy cũng huyền hồ: tóc mây, mắt lệ Ta thấy ba hình ảnh ấy đi về trong
"Tiếng thu" và gây đợc nhiều ám ảnh nhất "Đôi mắt" "Đôi mắt em lặng buồn / Nhìn thôi và chẳng nói" "Mắt em là một dòng sông, Thuyền ta bơi lặn trong dòng mắt em" "Lẳng lặng tựa Hằng Nga, Nhìn thôi mà chẳng nói" "Buông chèo này cùng ta tha thiết, Nhìn lại nhìn thôi bỡ ngỡ tình" "Mái tóc "
"Nghiêng nghiêng mái tóc hơng nồng, Thời gian lặng rót một dòng buồn tênh"
"Còn đâu ánh trăng vàng, Mơ trên làn tóc rối" "Đôi liễu nhìn nhau cùng rủ bóng, Trên đờng tha thiết mớ tóc mây" "Đôi mắt em say màu sán lạn, Trán em
để lỏng làn tóc lơi" "Gối" "Giật mình ta thấy bồ hôi lạnh, Mộng đẹp bên chăn
đã biến rồi" "Còn đâu giờ nhung lụa, Mộng chùm trên bông, Tình ấp trong gối"
"Ai bảo em là giai nhân, Cho lệ tràn đêm xuân, Cho tình tràn trớc ngõ, Cho mộng tràn gối chăn" "Ngày một ngày hai cách biệt nhau, Chẳng đợc cùng em
kê gối sầu" "Xin để gối nằm yên chỗ cũ, Hãy lịm ngời trong thú đau thơng"
"Lúc mộng nhìn nhau cời ngặt nghẽo, Mộng tan trên gối lệ hoen rơi" Nhìn
chung, những hình ảnh mà Lu Trọng L thờng hay nhắc đến ở trên là những vậtliệu tối u để xây thế giới mộng của ông Ngời khác sẽ có những đối tợng "utiên" khác nh cặp môi, cánh tay, đôi má, ngực, dáng hình Thậm chí, ngay cảkhi họ nói đến mắt, đến tóc, đến gối, họ cũng có một cái nhìn khác Lu Trọng L
Cặp mắt lặng nhìn thăm thẳm của Lu Trọng L hẳn khác "Đôi giếng mắt đã chứa trời vạn hộc" của Xuân Diệu hay đôi mắt đợm "Một vẻ ngây thơ và ớc ao"
của Hàn Mặc Tử Mái tóc nghiêng nghiêng ủ mộng của ông rõ ràng khônggiống với "tóc ngời" "tóc xanh tốt" của Xuân Diệu, thậm chí cũng không giốngnhững mái tóc tuy đôi khi đợm màu huyền bí nhng vẫn đậm tính tạo hình
"Bồng bềnh mua chảy óng lng thon" của Vũ Hoàng Chơng Chiếc gối của ông
cũng vậy, hình nh nó hoen nhiều lệ tình hơn chiếc gối của Huy Cận và cũngchứng kiến nhiều phút giật mình thảng thốt của chủ nhân hơn
Khác với ngời đàn bà tuyệt đối trong thế giới vĩnh cửu của Đinh Hùng, tồntại một cách tiên thiên đâu đó trong cõi siêu nghiêm, ngời tình nơng trong thơ
Lu Trọng L mang tâm trạng của ngời cô phụ vọng phu, mang giáng dấp củanhững giai nhân trong song cửa với những tình cảm có tính chất trần thế nhânbản - đó là nỗi u hoài sầu mộng của cảm giác cô đơn chia biệt, là dự cảm về sựvô vọng tan vỡ
Trong thơ Lu Trọng L, đây đó ta thấy ông đề cập đến ngời phụ nữ trongtính chất thân phận, cuộc sống của họ mong manh nh thân kiếp của cái đẹp(Hoa bên đờng) Số phận của họ vô định trôi nổi, chén rợu đào ngày cới cũng làdấu hiệu của thời xuân sắc đã cạn, sau hơng rợu nồng cuộc đời vĩnh viễn là lạnhgiá của mùa đông (Chị em) Thi nhân viết về họ bằng niềm thi cảm mênh môngvời vợi và sự tri âm da diết vì trong thân phận bạc mệnh yếu đuối của họ, ngờithơ thấy cả cái bé nhỏ cô độc của mình Ngời phụ nữ - nhân vật tình nơng ở Lu