1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Dạy học văn học dân gian với việc nâng cao tri thức, giữ gìn truyền thống văn hóa cho học sinh phổ thông

12 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 533,71 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn học dân gian vừa là văn học vừa là văn hóa. Mỗi tác phẩm văn học dân gian chứa đựng những tƣ liệu văn hóa, khoa học, tri thức của cộng đồng.Vì thế việc dạy và học văn học dân gian góp phần nâng cao tri thức văn hóa truyền thống của học sinh và thực hiện việc bảo truyền thống văn hóa.

Trang 1

TS NGUYỄN VIỆT HÙNG

Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Điện thoại: 0989209917 Email:

viethungsphn@yahoo.com

DẠY HỌC VĂN HỌC DÂN GIAN VỚI VIỆC NÂNG CAO TRI THỨC, GIỮ GÌN TRUYỀN THỐNG VĂN HÓA CHO HỌC SINH PHỔ THÔNG

TÓM TẮT

Văn học dân gian vừa là văn học vừa là văn hóa Mỗi tác phẩm văn học dân gian chứa đựng những tư liệu văn hóa, khoa học, tri thức của cộng đồng.Vì thế việc dạy và học văn học dân gian góp phần nâng cao tri thức văn hóa truyền thống của học sinh và thực hiện việc bảo truyền thống văn hóa

Từ khóa: văn học dân gian, tri thức văn hóa, truyền thống văn hóa, bảo tồn văn

hóa

ABSTRACT

Folklore is both literature and culture Each literary works contain folk material culture, science, knowledge of the community So learning and teaching folklore contribute to improving knowledge of traditional culture and guide students to preserve their cultural traditions

Key words: folklore, cultural knowledge, cultural traditions, cultural

preservation

1 Mở đầu

Văn học dân gian (VHDG) không phải là một bộ môn khoa học được dạy và học một cách độc lập trong nhà trường Phần VHDG cũng như những mảng kiến thức Ngữ văn khác nằm trong khung chương trình Ngữ văn trong nhà trường và cùng có nhiệm vụ hướng tới mục tiêu của môn học: “góp phần hình thành những con người có trình độ học vấn, có ý thức tự tu dưỡng, biết thương yêu quý trọng gia đình, bạn bè, có lòng yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, biết hướng tới những tư tưởng tình cảm cao đẹp như lòng

Trang 2

nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng căm ghét cái xấu, cái ác… Đó cũng là những người có ham muốn đem tài trí của mình cống hiến cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[6/4] Mục tiêu được cụ thể hoá thành ba phương diện: kiến thức, kĩ năng và thái độ và những phương diện đó đã chi phối đến cấu tạo của khung chương trình, cấu trúc của sách giáo khoa

Chương trình và SGK Ngữ văn bậc THCS và THPT hiện hành đã được ban hành

kèm theo quyết định số 03/2002/QĐ-BGD&ĐT, ngày 24 tháng 01 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Chương trình này được chuẩn hoá và thay thế cho những chương trình trước đây “Bên cạnh những cải tiến chung của bộ Chương trình như giảm tải, tăng thực hành, gắn đời sống, nét cải tiến nổi bật của Chương trình và SKG môn Ngữ văn là hướng tích hợp” Hệ quả của điều này là việc thay sách giáo khoa

ở tất cả các lớp học và sự thay đổi một số đơn vị kiến thức cơ bản, trong đó có phần Văn học dân gian (VHDG) Dẫu có sự thay đổi như thế nào về cấu trúc chương trình, hệ thống bài học cụ thể thì đối tượng VHDG vẫn không thay đổi Đó là những sáng tác nghệ thuật ngôn từ trong chỉnh thể folklore nghệ thuật và vì thế, VHDG vừa là văn học vừa là văn hóa Việc dạy và học VHDG trong nhà trường không chỉ tiếp cận tác phẩm

và thể loại theo đặc trưng mà điều quan trọng mà mảng nội dung kiến thức này đem đến cho người học là cung cấp những kiến thức, tri thức về văn hóa truyền thống của cộng đồng; nhận thức rõ ràng về vốn văn hóa đó là bước đầu tiên trong quá trình bảo tồn

truyền thống văn hóa của các thế hệ

2 Nội dung nghiên cứu

2.1 Mĩ học folklore và quan niệm về Văn học dân gian

Mĩ học folklore của phương Đông và phương Tây trong cuối thế kỉ XIX đến nay gặp gỡ nhau ở điểm cơ bản coi folklore là một loại văn hóa dân gian, trong đó yếu tố ngôn từ không tách rời khỏi các yếu tố khác như âm nhạc, nghi lễ, phong tục tập quán, sân khấu, tín ngưỡng… của con người Trên thực tế, người ta “không thể xác định ranh giới chính xác” [V Gen-nép, 2/108] Xu hướng ban đầu, các nhà nghiên cứu xem folklorelà đối tượng phức hợp, đa dạng (ở Pháp, Tây Ban Nha, Bỉ…), nhưng đến khi trường phái Phần Lan ra đời thì xu hướng rút gọn folklore như tác phẩm ngôn từ, họ

nghiên cứu Ka-lê-va-la như một tác phẩm thơ, theo tinh thần ngữ văn [2/112] Quan

điểm này nhanh chóng được thay đổi bởi các nhà khoa học Xô-viết đầu thế kỉ XX Họ cho rằng khái niệm văn học, thơ văn không bao trùm hết folklore, và không thể phân biệt ranh giới giữa folklore và các phương thức biểu hiện nghệ thuật khác [Iu Xô-cô-lốp, 2/113] Tiếp nối truyền thống đó, các nhà nghiên cứu như Ji-mun-xki, Gu-sép, Prốp… đều nghiên cứu ngữ văn dân gian trong chỉnh thể văn hóa dân gian, gắn liền với

văn hóa, tín ngưỡng, nghi lễ truyền thống [Mĩ học folklore – Gusev, Folklore và thực tại, Prốp]

Trang 3

Những công trình văn hóa học, nhân học của nhân loại trong khi rất chú trọng

mô tả cặn kẽ, tỉ mỉ những tư liệu dân tộc học trong sự đối sánh với folkloređã tạo tiền

đề về mặt lí luận cũng như thực tiễn cho các nhà folklorehọc trong việc đi tìm bản chất của folklorecũng như mối quan hệ của nó với các loại hình nghệ thuật, văn hóa khác Quan điểm đó được thể hiện trong một hệ thống các công trình nghiên cứu nhân học,

mở đầu là văn hóa học: “Văn hóa nguyên thủy” của E Taylor, tiếp đó là “Cành vàng”, Các huyền thoại về nguồn gốc của lửa (J.Frazer); Thi pháp của huyền thoại (Mê-lê-tin-xki) đến những công trình gần đây: Địa đàng phương Đông (Oppenheimer),… Những

mô tả dân tộc học đó luôn gắn với các thần thoại, huyền thoại tồn tại trong các cộng đồng dân cư khắp thế giới Nếu như Taylor tìm đến tư liệu của các thổ dân da đỏ châu

Öc, các cộng đồng châu Phi thì Frazer chủ yếu mô tả các nghi lễ, tục lệ dân gian của các

bộ lạc đến các dân tộc châu Âu thời Trung cổ

Trong công trình “Folklore và thực tại”, V Prốpsau khi phân tích những đặc trưng của folkloretrong mối quan hệ với dân tộc học, khảo cổ, phong tục… tác giả khảo sát một trường hợp “Truyện cổ tích Nàng công chúa không cười” qua rất nhiều phương diện: cấm cười, tiếng cười ban phát sự sống, tiếng cười trong nghi lễ trồng trọt, tiếng cười nở hoa,… để từ đó đưa đến kết luận về bản chất nông nghiệp của tiếng cười trong hình tượng nàng công chúa không cười

“Tất cả những tài liệu đã trình bày trên đây cho phép chúng ta rút ra kết luận: Truyện cổ tích về nàng công chúa không cười ma thuật dựa trên ý niệm cho rằng người chết không cười,chỉ có người sống cười hơn Khi đi xuống vương quốc của cái chết, những người chết không thể cười, những người sống không được cười Ngược lại,mọi trường hợp nhập thế, dù đó là sự ra đời của một đứa trẻ hay sự tái sinh tượng trưng trong nghi lễ nhập môn hoặc những nghi lễ tương tự, có kèm theo tiếng cười, tiếng cười này được gán cho là có một sức mạnh không phải chỉ đi kèm với sự sống mà còn tạo ra được sự sống Vì vậy, những trường hợp nhập thế đều nhất thiết có kèm theo tiếng cười nghi lễ Những nguyên nhân thật sự của sự ra đời không được nhận thức một cách chủ động và không được phản ánh trong nghi lễ Cùng với sự xuất hiện của nông nghiệp, tiếng cười được gán cho là có khả năng kích thích sự sống của cây cỏ Một mặt, vẫn tiếp tục cái tuyến những hiện tượng tạo ra sự sống mà không cần giao phối nam nữ Hoa nở

ra từ nụ cười của người phụ nữ không có sự tham gia của người chồng - Đêmêtê, nữ thần phì nhiêu, là một điển hình của nữ thần phì nhiêu không chồng Tiếng cười của nữ thần gắn với đặc tính nông nghiệp của nữ thần Mặt khác, nguyên nhân thực sự của việc tạo ra sự sống cũng như sinh ra con người đã được chủ động chuyển sang cho cây cỏ, được đưa vào nghi lễ Ở đây, tiếng cười, việc cày ruộng và sự gặp gỡ vợ chồng tạo thành một thể toàn vẹn Ở hình tượng Đêmêtê, chúng ta đã thấy có những ý định gán cho nữ thần một người chồng Truyện cổ tích về nàng công chúa không cười và về những dấu vết riêng của công chúa biểu hiện sự phát triển toàn vẹn của cái tuyến ấy

Trang 4

Một mặt chỉ cần làm cho công chúa cười lên được, mặt khác cần có một người chồng có sức mạnh ma thuật Ở hình tượng công chúa cũng như ở hình tượng chàng rể, chúng ta thấy bộc lộ những tính cách nông nghiệp.”

Quan điểm của các nhà mĩ học Xô-viết càng được củng cố bởi chủ nghĩa duy vật biện chứng, phân tích, cắt nghĩa đặc trưng của folklore ngôn từ có nguồn gốc từ sự nhận thức nguyên hợp của người nguyên thủy, nhận thức thẩm mĩ mang tính tổng hợp Trong buổi sơ khai của xã hội loài người, nghệ thuật không chỉ tồn tại đơn thuần, độc lập mà nó gắn với hoạt động thực tiễn của con người, có ý nghĩa thực tiễn, sau đó mới là

ý nghĩa nghệ thuật Cosven đã miêu tả các hình thức nhảy múa liên quan đến âm nhạc… Folklore thoạt đầu có thể là một thành phần của một hình thức nghi lễ Khi hình thức nghi lễ ấy suy tàn hay mất đi thì folklore tự tách ra và bắt đầu sống cuộc sống độc lập của nó Các hình vẽ trên hang động, những hình thức nhảy múa trước hoặc sau cuộc đi săn… vừa mang ý nghĩa truyền đạt kinh nghiệm, vừa mang màu sắc ma thuật, tôn giáo

Rõ ràng là VHDG gắn với rất nhiều yếu tố, và là một thành phần quan trọng trong các yếu tố tôn giáo, nghi lễ, phong tục, tập quán… Đây là những thành tố của tổng thể văn hoá Do đó, VHDG chính là một hiện tượng văn hoá, một thành tố trong chỉnh thể văn hoá đó Nói đến đặc trưng văn hoá của VHDG là chúng ta nhấn mạnh đến tính nguyên hợp của nó VHDG không chỉ đơn giản là văn học mà còn là khoa học tổng hợp, là cuốn bách khoa toàn thư về thế giới Thông qua mỗi tác phẩm VHDG con người không những thoả mãn nhu cầu thẩm mĩ của mình mà còn tìm thấy kiến thức nhiều mặt ẩn chứa trong đó Tác phẩm đó cũng là nơi lưu giữ những giá trị bền vững của nền văn hoá

cổ truyền

2.2 Tìm về cội nguồn văn hóa cộng đồng từ tác phẩm, thể loại văn học dân gian

Những thể loại VHDG có đời sống không tách rời ra mà gắn với những hoạt động thực tiễn của con người VHDG là nơi ẩn chứa thẩm thấu văn hóa dân gian, trong đó những yếu tố tôn giáo, tín ngưỡng, phong tục… của người nguyên thủy được chọn lọc, khúc xạ, hình thành nên những biểu tượng, những mã văn hóa Vì thế so với bối cảnh xã hội, so với nền tảng văn hóa rộng lớn, những biểu tượng trong VHDG kết tinh những giá trị văn hóa, diễn đạt tư tưởng cộng đồng một cách cô đọng, hàm súc Những năm giữa thế kỉ XX, tác giả Tầm Vu đã tìm hiểu tư tưởng người Việt qua những truyền

thuyết hàng đầu (Họ Hồng Bàng, Sơn Tinh Thủy Tinh, Thánh Gióng…) Tác giả Vũ

Ngọc Khánh cũng đặt vấn đề tìm hiểu lịch sử tư tưởng Việt Nam trong văn hóa dân gian, ông đã khái quát những vấn đề cơ bản trong tư tưởng người Việt như: ý thức cội nguồn dân tộc, sức sống mãnh liệt, tinh thần dân tộc, hội nhập tư tưởng, triết học, tôn giáo…

Từ đó, chúng tôi nhận thấy việc dạy và học phần VHDG không thể tách rời với việc tìm hiểu văn hóa truyền thống của dân tộc Thực hiện việc này vừa đi đúng hướng tiếp

Trang 5

cận VHDG theo đặc trưng nguyên hợp, vừa đáp ứng được nhu cầu bồi dưỡng, nâng cao vốn tri thức văn hóa truyền thống của học sinh phổ thông Thậm chí nếu không tuân thủ nguyên tắc tiếp cận đó có thể gây ra những tranh luận về các tác phẩm VHDG trong nhà trường như chúng ta đã biết: về cái chết mẹ con mụ dì ghẻ trong Tấm Cám, bản chất hình tượng Chử Đồng Tử, hình tượng An Dương Vương…

Trong hệ thống thể loại VHDG, mức độ biểu hiện của yếu tố văn hóa đậm nhạt khác nhau, và mỗi thể loại cũng lựa chọn, chắt lọc những tư liệu văn hóa, lịch sử, tư tưởng khác nhau để đưa vào tác phẩm Người ta có thể tìm thấy cội nguồn tư tưởng về quốc gia, dân tộc, ý thức về chủ quyền lãnh thổ, sự đấu tranh bảo vệ độc lập trong thể loại truyền thuyết; đồng thời cũng có thể tìm thấy những phong tục tập quán, tín ngưỡng và nhưng sinh hoạt cộng đồng ở những truyện cổ tích

Trong chương trình phổ thông, thể loại truyền thuyết được đưa vào giảng dạy ở

lớp 7 và lớp 10, có các tác phẩm sau: Con Rồng cháu Tiên, Thánh Gióng, Bánh chưng bánh giầy, Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Sự tích Hồ Gươm (lớp 7), An Dương Vương và Mỵ Châu – Trọng Thủy (lớp 10) Các truyền thuyết khá đa dạng về đề tài, chủ đề phản ánh

Trong đó có đề tài nguồn gốc dân tộc, truyền thống chống ngoại xâm, ca ngợi những anh hùng sáng tạo văn hoá, đề cao thành tựu văn minh buổi ban đầu… Trong 5 truyền thuyết thì 4 truyện về thời đại Hùng Vương, một truyện về thời Hậu Lê Thời đại Hùng Vương là “thời đại mở đầu lịch sử Việt Nam”, gắn với vấn đề nguồn gốc dân tộc và công cuộc dựng nước, giữ nước” buổi ban đầu của dân tộc Chủ đề của các truyền thuyết đã bao quát được các vấn đề trọng đại đặt ra với cộng đồng, dân tộc lúc bấy giờ,

đó là:

- Giải thích nguồn gốc giống nòi

- Giải thích tục làm bánh chưng, bánh giầy thờ cúng ông bà

- Đề cao thành tựu văn minh buổi ban đầu

- Ý thức và ước mơ về người anh hùng chống ngoại xâm

- Giải thích hiện tượng lũ lụt, ca ngợi chiến công dựng nước

Qua đó, học sinh được giáo dục về truyền thống của dân tộc, ý thức suy tôn giống nòi, cổ vũ tinh thần đoàn kết và trách nhiệm với cộng đồng Đó cũng là những chức năng chính, vai trò lịch sử của thể loại mà truyền thuyết cần đạt được Trong số những truyền thuyết đó, có nhiều truyện mang tính tư tưởng cao: tác giả Tầm Vu đã gọi

đó là những “truyện đứng đầu” trong kho tàng thần thoại (5 truyện), truyền thuyết người Việt, tác giả Đinh Gia Khánh cũng lựa chọn 4 truyện tiêu biểu… Tư tưởng nổi bật của những truyện đó là “yêu nước thương nòi – ở trình độ sơ khai nhưng đã có những nét

tuyệt vời” SGK có 3 truyện trong số đó là: Con Rồng cháu Tiên (Truyện họ Hồng Bàng), Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Thánh Gióng Những tác phẩm đó đã khẳng định giá trị của

Trang 6

chúng trong lòng nhân dân qua bao thế hệ và được nhân dân sàng lọc, nâng niu, mài giũa, đồng thời chính những tác phẩm ấy đáp ứng tâm tư, nguyện vọng, những nhu cầu trực tiếp của người dân

Sách Ngữ văn 10 quan niệm “truyền thuyết là loại truyện dân gian kể về các nhân vật và sự kiện có liên quan đến lịch sử thời quá khứ, thường có yếu tố tưởng tượng

kì ảo Truyền thuyết thể hiện thái độ và cách đánh giá của nhân dân với các sự kiện và nhân vật lịch sử được kể” Quan niệm này không phải là không đúng chỉ có điều nó quá chú ý đến “yếu tố lịch sử” trong truyền thuyết: kể và đánh giá về “các nhân vật và sự kiện lịch sử” Điều này đúng nhưng không đủ vì truyền thuyết nói như Vũ Quỳnh là “sử

ở trong truyện”, yếu tố lịch sử tạo là một phần của cơ sở lịch sử – xã hội cho sự ra đời của truyền thuyết Trong truyền thuyết, lịch sử là nền, là bối cảnh trực tiếp diễn ra các

sự kiện, hành động của nhân vật Nhưng bên cạnh đó, yếu tố văn học, bản chất thẩm mĩ của thể loại cũng hết sức quan trọng Chính sự sáng tạo của nhân dân lao động (về cả những nhân vật và sự kiện) làm nên đặc trưng văn học của thể loại Thực tế cho thấy, truyền thuyết có nhiều nhân vật là sự sáng tạo của nhân dân (Thánh Gióng, thần Kim Quy…), còn các sự kiện thì hầu hết là sản phẩm của trí tưởng tượng bay bổng của người lao động

Mặt khác, khái niệm này chỉ trình bày truyền thuyết như là những văn bản văn học đơn thuần mà chưa có những gợi ý về nghệ thuật diễn xướng truyền thuyết, mối quan hệ của truyền thuyết với tín ngưỡng, lễ hội Đứng về phía lí luận thì có thể học sinh chưa hiểu biết, tiếp nhận được nhưng thực tế của đời sống sinh hoạt văn hoá dân gian diễn ra xung quanh các em khiến cho người học không thể không có những liên tưởng và thắc mắc: chẳng hạn học sinh ở vùng Phù Đổng, Sóc Sơn vốn sống trong vùng

lễ hội và các hình thức thờ cúng về Gióng; vùng đền Hùng với hệ thống truyền thuyết thời Hùng Vương…

Mỗi tác phẩm VHDG đều hàm chứa trong đó những tri thức khoa học, những tư liệu về đời sống, những hình thức sinh hoạt, tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, đặc biệt

ở những thể loại tự sự ra đời sớm như thần thoại, sử thi, truyện cổ tích… Sử thi “Đẻ đất

đẻ nước” của người Mường có nguồn gốc từ những nghi lễ cổ xưa, được diễn xướng

trong các nghi lễ tang ma Những bài mo được dùng trong tang lễ của người Mường được thày mo hát từng đoạn trong sử thi gắn với những bước tiến hành của nghi lễ tang

ma, trong đó chứa đựng tri thức của tộc người Mường về thế giới quan, nhân sinh quan

Ở ven vùng sông Đà tồn tại nhiều bản kể liên quan đến nhân vật Sơn Tinh: Sơn Tinh đưa Mỵ Nương về núi bị lạc nhau, đi qua sông gặp nhiều trắc trở Trong truyện thì đó là cách diễn tả hình tượng hóa những khó khăn, trở ngại mà thực tế con người phải đối diện Ẩn chứa dưới những hình tượng nghệ thuật đó, chúng ta thấy được vốn văn hóa, tri thức khoa học của người xưa về tập tục đi săn (Sơn Tinh – Mỵ Nương bị lạc

Trang 7

nhau phải nhờ tiếng hú mới tìm được, gắn với phong tục rước tiếng hú của cư dân săn bắn), về kinh nghiệm vượt sông Đà của dân quanh vùng mùa nước trong và nước đục

Đó là kinh nghiệm có được do sự quan sát và thực tế sống và chiến đấu với con sông và

nó đi vào tác phẩm một cách tự nhiên Truyện cổ tích cũng phản ánh những yếu tố của đời sống hiện thực Chính vì vậy, nhiều nhà khoa học đã đi tìm căn rễ, nguồn gốc của truyện cổ tích trong những tư liệu lịch sử, văn hoá như Mê-lê-tin-xki, Prốp… và thực sự

đã có lí khi giải thích được rất nhiều các mô-típ, chức năng trong truyện cổ tích bắt

nguồn từ những yếu tố hiện thực Chẳng hạn, truyện “Trầu cau” phản ánh tình trạng xã

hội chuyển từ chế độ quần hôn sang hôn nhân gia đình, cho nên xuất hiện rất nhiều mâu

thuẫn và sự bỡ ngỡ Hay truyện “Sự tích cây nêu ngày tết”, lớp lịch sử gần là phản ánh

phong tục dựng cây nêu để xua đuổi tà ma, cầu mong yên ấm; nhưng lớp sớm hơn phản ánh nghi lễ cầu mùa, lễ mừng cơm mới của cư dân nông nghiệp: Người ta thường vẩy máu động vật (thường là máu chó, gà ) ra bốn xung quanh để tiến hành các nghi lễ ma thuật gắn với lễ cầu mùa màng được tươi tốt Trong truyện cổ là các cô gái thường cắt lấy mẩu khố của chàng trai đã cứu mình để sau này nhận ra nhau Mô-típ đó có thể giải

thích được bằng các phong tục dân gian, đặc biệt là trò Trám Trong rừng trám khi các

đôi trai gái tiến hành lễ thức “tình phọc”, có đôi khi không biết nhau, nữ phải giữ một vật của nam là kỉ niệm như khăn đội đầu hoặc tà áo… Hay mô-típ “người câm” phản ánh những nghi lễ có tính chất ma thuật Đó có thể là sự cấm kị không nói trong nghi lễ phồn thực, cấm nói khi tiến hành hầu bóng (đi vào thế giới của người chết nên không được nói), cũng có thể đó là cấm kị đối với cô dâu khi mới về nhà chồng không được nói trong một không gian hay thời gian nào đó

Ở chương trình THCS, thể loại truyện cổ tích giới thiệu năm tác phẩm cổ tích

của Việt Nam và thế giới Cây bút thần (Trung Quốc), Ông lão đánh cá và con cá vàng (Nga) liền sau truyện Sọ Dừa, Thạch Sanh, Em bé thông minh Trong trường THPT, có hai truyện là Chử Đồng Tử và Tấm Cám, hai truyện được xem là cổ tích thần kì Về cơ

bản trong nhà trường vẫn áp dụng khuynh hướng tiếp cận ngữ văn đối với các tác phẩm

và thể loại VHDG Việc xem VHDG như một loại văn học và với truyện cổ tích chủ yếu phân tích dưới góc độ tác phẩm văn học: khai thác nhân vật, nội dung chủ đề Chúng ta cần phải xem truyện cổ tích như một thể loại truyện kể dân gian có đặc trưng riêng biệt, trong đó mỗi câu chuyện đều được hình thành và phát triển trong mối quan hệ với các dạng cấu trúc văn hoá, phong tục, thần thoại của cộng đồng

Về các văn bản truyện cổ tích trong nhà trường, vấn đề tạo nên sự tranh luận chủ

yếu ở ba truyện Chử Đồng Tử, Tấm Cám, Ông lão đánh cá và con cá vàng

Truyện Chử Đồng Tử thuộc thể loại nào? Cổ tích hay truyền thuyết? Tại sao

Chử Đồng Tử lại được thờ ở nhiều đình, đền khác nhau ở vùng Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình Đền Dạ Trạch Hoá Từ (Khoái Châu – Hưng Yên), di tích lớn nhất thờ Chử Đồng Tử cùng với hai người vợ vậy thì nội dung ca ngợi mối tình trong sáng, thanh cao

Trang 8

như hướng dẫn của SGK có còn đứng vững được hay không? Nếu khai thác theo hướng

là truyện cổ tích thì nội dung và chủ đề như thế nào? Nếu chỉ khai thác tác phẩm ở chủ

đề ca ngợi người con chí hiếu, mối tình trong sáng, thanh cao… thì có làm nghèo chủ đề tác phẩm và hình tượng nhân vật hay không? Cách đánh giá nhân vật Chử Đồng Tử như vậy có phù hợp với tâm thức dân gian về nhân vật này hay không? Quan hệ giữa tác phẩm này với tín ngưỡng, lễ hội như thế nào? Đó là vấn đề phức tạp cần quan tâm, giải quyết Bởi vì, bản thân tác phẩm là một hiện tượng phức tạp, truyền thuyết Chử Đồng

Tử đã bị cổ tích hoá, khiến cho nội dung và chủ đề xã hội được đan xen, kết nạp vào tư tưởng của truyền thuyết ban đầu

Cuối năm 2011, trên các diễn đàn báo mạng và báo viết, có diễn ra cuộc tranh

luận về truyện Tấm Cám chủ yếu chung quanh kết thúc truyện trong văn bản SGK Ngữ văn 10 Thực ra, đây không phải là vấn đề mới bùng nổ mà nó đã được đặt ra từ nhiều năm trước: từ những công trình đầu tiên của tác giả Đinh Gia Khánh (Sơ bộ tìm hiểu những vấn đề truyện cổ tích qua truyện Tấm Cám, năm 1968) đến cuộc tranh luận trên

báo chí những năm 90 của thế kỉ XX Không giống như trước, lần này, các nhà nghiên cứu văn học dân gian không lên tiếng đơn giản vì trong giới folklore vấn đề này đã được giải quyết từ nhiều năm trước

Có hai luồng ý kiến trái chiều nhau: một bên phê phán kết thúc truyện với hành động trả thù dã man của cô Tấm (sớm nhất là Lơ-cléc, sau đó có Phan Hải Triều, Nguyễn Đổng Chi, Hoàng Ngọc Hiến, Nguyễn Xuân Lạc ); một bên bảo vệ và khẳng định truyện Tấm Cám và hành động trừng phạt của Tấm với Cám (Đinh Gia Khánh, Nguyễn Xuân Kính, Phạm Xuân Nguyên, Bùi Văn Tiếng )

Trong đó, chúng tôi đặc biệt quan tâm đến ý kiến của nhà phê bình Phạm Xuân

Nguyên khi xem xét cái kết của truyện Tấm Cám Ông xem đó là hành động mang tính

biểu trưng, ý nghĩa cảnh tỉnh cái ác, và do đó không nên lảng tránh kết thúc đó Điều quan trọng là thầy cô giáo phải giúp các em hiểu rõ tinh thần sự trả thù của Tấm Tác giả Bùi Văn Tiếng thì cho rằng kết thúc như vậy là thành công của truyện là cách ứng

xử mang tính nghệ thuật mà tác giả dân gian gửi đến độc giả mai sau về sự hoàn thiện nhân cách của con người, con người có thể trở nên độc ác do hoàn cảnh khách quan

Ở Việt Nam, tác giả Chu Xuân Diên đã vận dụng phương pháp nghiên cứu đặc thù của văn học dân gian (sử dụng khái niệm mô-típ) được đề xuất bởi A.N Vê-xê-lôp-xki, để phân tích kiểu truyện Tấm Cám), tránh xu hướng quan tâm chủ yếu đến các yếu

tố tâm lí – đạo đức trong hành động của Tấm [1/312], xu hướng gắn với mục đích đánh giá nhân vật, thường dựa trên những tiêu chuẩn tâm lí và đạo đức của con người hiện đại Từ đó tác giả triển khai và giải quyết các vấn đề:

Thứ nhất, hành động của Tấm là sự trừng phạt, chứ không phải là trả thù Qua việc so sánh các dị bản của truyện Tấm Cám trong nước, với kiểu truyện mang tính

Trang 9

quốc tế, đối sánh với hệ thống tên gọi mô-típ của Stith Thompson, tác giả đi đến kết luận: về phương diện cấu trúc và chức năng mô-tip cơ bản và nòng cốt của cho đoạn kết

của truyện Tấm Cám là mô-típ“trừng phạt”, cái ác phải bị đền tội [1/318]

Tôi cho rằng, việc nhân vật ác bị trừng phạt được xem như một chân lí về sự công bằng xã hội, cái ác phải bị tiêu diệt Điểm này có sự phù hợp với thực tế tiếp nhận

truyện cổ tích nói chung và truyện Tấm Cám nói riêng Tuổi thơ của mỗi chúng ta, được

nghe ông bà cha mẹ kể chuyện cổ tích thì trong thâm tâm đều mong muốn, ước mơ về

sự chiến thắng của cái thiện với cái ác và vì thế chi tiết Tấm giết Cám không hề tạo nên cảm giác ghê sợ hay không đồng tình với cô Tấm Ngược lại, khi cái ác bị đền tội, đứa trẻ nào cũng thấy hả hê và tin tưởng vào sự công bằng mà thế giới “ngày xửa, ngày xưa”

mở ra trước mắt chúng

Xét về phương diện lí luận và thi pháp thể loại, cốt truyện cổ tích là yếu tố bất biến, là mô hình đã được xác lập ổn định và đã được hoàn thành, trong đó chỉ có lời kể thay đổi do quy luật của sự sáng tạo truyền miệng cũng như sự vận động của cốt truyện trong bối cảnh không – thời gian Vì thế, việc cô Cám bị trừng phạt bởi Tấm, nhà vua, Thiên Lôi, hay bất kì một thế lực nào khác thì bản chất của sự kiện, hành động vẫn không đổi: cái ác phải bị tiêu diệt, công lí phải được thực thi, còn ai là người thực hiện điều đó và thực hiện như thế nào không quan trọng Mỗi cộng đồng, thời đại có cách lựa chọn của riêng mình cho cách kể nhưng phải tuân thủ một quy luật: không thể để yếu tố thời đại, thực tại xâm nhập vào cốt truyện dân gian Vì thế mỗi chi tiết “giết bằng gươm, giết bằng giội nước sôi, bằng đốt lửa” có ý nghĩa lịch sử, thời đại của chúng mà chúng

ta không thể thay thế bằng việc “giết nhân vật bằng súng”

Thứ hai, vấn đề ai thực hiện việc trừng phạt và trừng phạt như thế nào được tác

giả lí giải ở các phần tiếp theo Các mô-típ “sự bắt chước không thành công”, “giội nước sôi trở nên xinh đẹp hơn”, “mẹ ăn thịt con” được tác giả phân tích dưới góc nhìn cấu trúc cốt truyện và phương pháp so sánh lịch sử Tác giả đi tìm những tư liệu dân tộc học, phong tục học, để đi đến nhận định đã từng tồn tại quan niệm về việc “Chết do việc dội nước sôi để trở nên trắng và đẹp hơn” [Chu Xuân Diên, 1/324], đồng thời trong nghi

lễ trưởng thành của hầu hết các tộc người cũng tồn tại quan niệm và thực hành nghi lễ: con người trải qua sự hành xác thì trở nên đẹp đẽ, hoàn thiện hơn Mô-típ truyện dân gian là những tia hồi quang của các phong tục và nghi lễ dân gian mà đến thời đại chúng

ta, do khoảng cách lịch sử mối dây liên hệ đó không liên tục khiến chúng ta xa lạ và khó chấp nhận

Truyện cổ tích, ngoài chức năng phản ánh, lí giải các hiện tượng tâm lí, xã hội còn hướng tới chủ đề phong tục.Về mặt cốt truyện, sự kiện nhân vật chết (cái ác, cái xấu) có thể kết thúc câu chuyện Nhưng truyện cổ tích vẫn luôn thêm vào sự hoá thân của nhân vật để gửi gắm quan niệm của dân gian, lồng ghép các chủ đề khác (giải thích

Trang 10

phong tục, tên gọi sự vật, tên địa danh…): trầu cau, ba ông đầu rau, đá vọng phu Cho

nên, truyện Tấm Cám của người Việt không dừng lại ở cái kết cô Tấm trở thành hoàng

hậu mà kéo dài đoạn trừng phạt cũng là thực hiện chức năng đó Do đó, truyện cổ tích không chỉ được tiếp nhận dưới góc nhìn văn học mà cần đặt nó trên bình diện văn hoá rộng lớn, với sự bổ trợ của các kiến thức dân tộc học, phong tục học, nghi lễ và tín ngưỡng dân gian

Thêm nữa, chúng ta quen xét đoán nhân vật cổ tích dưới góc nhìn tâm lí – đạo đức của thời đại (cái nhìn lịch đại) mà không đặt nhân vật dưới góc nhìn đồng đại: so sánh kiểu hành động trừng phạt của cô Tấm với các nhân vật khác Chẳng hạn, hành

động trừng phạt của Đức Phật trong các truyện cổ có tính chất Phật thoại: Sự tích cái chổi, Sự tích lá phướn nhà chùa, Sự tích ông bình vôi Phật trừng phạt những lỗi lầm,

sơ suất rất thường tình của con người bằng những cái chết cho nhân vật Ở đây, chúng ta cũng không thể đánh giá Đức Phật dưới góc độ con người – đạo đức vì Đức Phật thực hiện chức năng mà truyện cổ tích quy định: răn dạy con người tuân thủ nghiêm ngặt giáo lí của nhà Phật, ai đi ngược lại điều đó thì bị trừng phạt Tư tưởng đó tạo ra sự tôn nghiêm, thiêng liêng của tôn giáo trong lòng nhân dân.Tương tự như vậy, tư tưởng về

sự trừng phạt cái Ác trong Tấm Cám cũng để tạo nên sự tin tưởng của nhân dân về lẽ công bằng, về quy luật “ác giả ác báo, thiện giả thiện báo”

Vì thế, hành động của Tấm phù hợp với quy luật chung của thể loại truyện cổ tích và với tư tưởng nhân dân ở thời đại mà truyện cổ tích ra đời Cũng vì lẽ đó, câu cửa miệng của nhân dân “hiền như cô Tấm” vẫn tồn tại như một sự khẳng định phẩm chất, con người cô sau tất cả các hành động của nhân vật cũng như sự lưu truyền qua thời gian của câu chuyện

Tác giả Chu Xuân Diên kết thúc cho chuyên luận của mình bằng đề mục “ngày xửa ngày xưa” để khẳng định bản chất của truyện cổ tích là câu chuyện tưởng tượng,

kì ảo, đem đến cho người đọc thế giới của tất cả những điều vô lí Vì thế “không nên bằng cách bình luận văn học và thậm chí cả bằng cách “sửa chữa” truyện cổ tích theo hướng hợp lí hoá cho phù hợp với tư duy lô-gic của con người hiện nay mà làm mất đi cái vô lí ấy của truyện cổ tích Vấn đề là giải thích được cái vô lí ấy, phát hiện ra cái hợp lí của bản thân truyện cổ tích” [1/344]

Chúng tôi bổ sung thêm ý kiến của M.Goóc-ki để thấy được tâm lí đón nhận của người đọc/nghe truyện cổ tích: “Tôi càng lớn càng thấy truyện cổ tích khác xa so với cuộc đời thực Truyện cổ tích mở ra trước mắt tôi một cánh cửa để trông vào thế giới khác ” Thế giới đó là thế giới mà tất cả các nghệ nhân dân gian, người kể chuyện cổ tích Nga đã thẳng thắn thừa nhận: “Câu chuyện tôi kể đến đây là hết rồi, không thể bịa đặt thêm được nữa Nhưng trong đám cưới của Ivan và công chúa, tôi là người dự tiệc,

Ngày đăng: 24/08/2021, 13:27

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Chu Xuân Diên (2001): Văn hóa dân gian, mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại. Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian, mấy vấn đề phương pháp luận và nghiên cứu thể loại
Tác giả: Chu Xuân Diên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
2. V.E.Gusev (1999): Mĩ học Folklor, Nxb Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mĩ học Folklor
Tác giả: V.E.Gusev
Nhà XB: Nxb Đà Nẵng
Năm: 1999
3. Hoàng Ngọc Hiến (1994): “Giảng truyện Tấm Cám ở trường phổ thông”, Giáo dục và Thời đại, số 29, ra ngày 18/7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giảng truyện Tấm Cám ở trường phổ thông”, "Giáo dục và Thời đại
Tác giả: Hoàng Ngọc Hiến
Năm: 1994
4. Đinh Gia Khánh (1989): Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trên đường tìm hiểu văn hóa dân gian
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1989
5. Propp (2004): Tuyển tập V.Ia.Propp, tập 2. Nxb Văn hóa dân tộc, Tạp chí Văn hóa nghệ thuật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập V.Ia.Propp
Tác giả: Propp
Nhà XB: Nxb Văn hóa dân tộc
Năm: 2004
6. Nhiều tác giả (2002), Ngữ văn 6 tập 1 – Sách giáo viên, Nxb Giáo dục, Hà Nội, trang 4 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ văn 6 tập 1 – Sách giáo viên
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
7. Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện văn hóa dân gian (1999): Văn hóa dân gian – những lĩnh vực nghiên cứu, Nxb KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hóa dân gian – những lĩnh vực nghiên cứu
Tác giả: Ủy ban Khoa học xã hội Việt Nam, Viện văn hóa dân gian
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1999

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w