Giới Thiệu Tổng Quan về Mái Nhà 1. Mái nhà truyền thống Trong kiến trúc dân gian Việt Nam, mái nhà khởi nguồn bằng những vật liệu có nguồn gốc thiên nhiên. Mỗi địa phương có một loại mái – một loại vật liệu đặc thù cho mái. Ở miền Bắc có mái tranh, mái rơm – rạ, mái cọ… miền Nam sử dụng nhiều lá dừa để lợp mái. Kết cấu khung mái là tre, gỗ với những liên kết mộng, chốt, hay thậm chí buộc bằng lạt tre (ở miền Bắc), dây dừa (ở miền Nam)… Những mái nhà nguyên sơ này vẫn còn tồn tại ở nhiều vùng quê Việt Nam. Mái nhà tiếp theo chính là mái ngói đất nung. Mái ngói đã trở thành một hình ảnh điển hình trong kiến trúc truyền thống Việt Nam. Mái ngói cùng hệ kết cấu khung gỗ là một sự kết hợp tuyệt vời của vật liệu với vật liệu, của kiến trúc và điêu khắc. Mái nhà dân gian có bốn mái hoặc hai mái, các công trình nhà ở quy mô nhỏ thường là hai mái. Tuỳ từng loại công trình mà mái ngói đi kèm với những chi tiết trang trí khác ở bờ nóc, bờ chảy, đầu đao, diềm mái… Nhiều hình tượng và những ước mơ, khát vọng của con người được lồng ghép vào những chi tiết trang trí trên mái hay ở hệ khung vì kèo gỗ. Ngôi nhà truyền thống vốn đa phần quay mặt dài về hướng nam nên phần đỉnh mái nhà kéo từ đông sang tây, mà cư dân nông nghiệp thì xem phương đông là khởi điểm cuộc sống, nơi mặt trời mọc, thuộc mộc, nên cây xà gồ đỉnh mái trong nghi lễ thượng lương thường được bọc vải đỏ hai đầu và treo tấm bùa bát quái ở giữa như một sự trân trọng với bộ phận kết cấu đặc biệt này của ngôi nhà 2. Mái nhà hiện đại Đối với kiến trúc hiện đại, sự sáng tạo nghệ thuật đã mang đến nhiều khối cấu trúc với các kiểu mái nhà khác nhau. Những kiểu mái nhà đạt chuẩn có khả năng tụ khí trong không gian của ngôi nhà chính là mái tam giác truyền thống, mái tròn và cuối cùng là mái bằng. Nay để tăng thêm giá trị thẩm mỹ của ngôi nhà các gia chủ lựa chọn mái nhà với các nhịp điệu gấp gãy, điều đó vừa mang lại một sắc thái riêng vừa có không gian “giải nhiệt” dưới mái vào mùa hè. Mặt khác, thiết kế mái nhà cũng là giải pháp để chống thấm trên mái bằng. Tùy theo môi trường cảnh quan, các diện của mái thường quanh quẩn theo hình thức hai mái, nhưng đã được xử lý. Những kiểu hai, ba mái đôi theo nhiều phương đa dạng, làm nên chất thơ cho “chiếc nón” của ngôi nhà. Mái cũng không còn liên tục và dày khít như trước kia. Trên khoảng mái rộng để chừa lại một ô vuông đủ rộng để đón ánh nắng mặt trời cho sân phơi trên tầng áp mái.
Trang 1LỢP MÁI
1
Trang 2[Type a quote from the document or th e summary of an interesting point You can position the text box anywhere in the document Use the Text Box Tools tab to change the formatting of the pull quote text box.]
Giới Thiệu Tổng Quan về Mái Nhà
1 Mái nhà truyền thống
Trong kiến trúc dân gian Việt Nam, mái nhà khởi nguồn bằng những vậtliệu có nguồn gốc thiên nhiên Mỗi địa phương có một loại mái – một loạivật liệu đặc thù cho mái Ở miền Bắc có mái tranh, mái rơm – rạ, mái cọ…
miền Nam sử dụng nhiều lá dừa để lợp mái Kết cấu khung mái là tre, gỗ vớinhững liên kết mộng, chốt, hay thậm chí buộc bằng lạt tre (ở miền Bắc), dâydừa (ở miền Nam)… Những mái nhà nguyên sơ này vẫn còn tồn tại ở nhiềuvùng quê Việt Nam
Mái nhà tiếp theo chính là mái ngói đất nung Mái ngói đã trở thành mộthình ảnh điển hình trong kiến trúc truyền thống Việt Nam Mái ngói cùng hệkết cấu khung gỗ là một sự kết hợp tuyệt vời của vật liệu với vật liệu, củakiến trúc và điêu khắc Mái nhà dân gian có bốn mái hoặc hai mái, các côngtrình nhà ở quy mô nhỏ thường là hai mái Tuỳ từng loại công trình mà máingói đi kèm với những chi tiết trang trí khác ở bờ nóc, bờ chảy, đầu đao,diềm mái… Nhiều hình tượng và những ước mơ, khát vọng của con người
được lồng ghépvào những chitiết trang trí trênmái hay ở hệkhung vì kèo gỗ
Ngôi nhà truyềnthống vốn đaphần quay mặtdài về hướngnam nên phầnđỉnh mái nhà kéo
từ đông sang tây,
mà cư dân nông nghiệp thì xem phương đông là khởi điểm cuộc sống, nơimặt trời mọc, thuộc mộc, nên cây xà gồ đỉnh mái trong nghi lễ thượng lươngthường được bọc vải đỏ hai đầu và treo tấm bùa bát quái ở giữa như một sựtrân trọng với bộ phận kết cấu đặc biệt này của ngôi nhà
2 Mái nhà hiện đại
Đối với kiến trúc hiện đại, sự sáng tạo nghệ thuật đã mang đến nhiều khốicấu trúc với các kiểu mái nhà khác nhau Những kiểu mái nhà đạt chuẩn cókhả năng tụ khí trong không gian của ngôi nhà chính là mái tam giác truyềnthống, mái tròn và cuối cùng là mái bằng Nay để tăng thêm giá trị thẩm mỹcủa ngôi nhà các gia chủ lựa chọn mái nhà với các nhịp điệu gấp gãy, điều
đó vừa mang lại một sắc thái riêng vừa có không gian “giải nhiệt” dưới mái
Trang 3vào mùa hè Mặt khác, thiết kế mái nhà cũng là giải pháp để chống thấm trênmái bằng.
Tùy theo môi trường cảnh quan, các diện của mái thường quanh quẩn theohình thức hai mái, nhưng đã được xử lý Những kiểu hai, ba mái đôi theonhiều phương đa dạng, làm nên chất thơ cho “chiếc nón” của ngôi nhà Máicũng không còn liên tục và dày khít như trước kia Trên khoảng mái rộng đểchừa lại một ô vuông đủ rộng để đón ánh nắng mặt trời cho sân phơi trêntầng áp mái
Mái Trung tâm hội nghị Quốc gia (Hà Nội) với hình tượng sóng Biển Đông
3 Phân loại ngũ hành trong phong thuỷ
Trong căn nhà, hai cấu trúc quan trọng nhất là tường nhà và mái nhà.Theo quan niệm của phong thủy với phương pháp luận của thuyết âm dươngngũ hành, bất luận hình thức ngôi nhà có cấu trúc hình thể như thế nào thìbản chất của ngôi nhà – do cấu trúc bởi những góc vuông – vẫn thuộc Thổhình Do đó với những ngôi nhà có tính tương sinh giữa mái nhà và cấu trúcnhà được coi là mối quan hệ hoàn hảo về phong thủy
Chúng ta có thể thấy điều này qua mối tương quan giữa cấu trúc bằng máinhà nhọn – Hỏa hình – vốn là mái nhà phổ biến nhất hiện nay – Hỏa sinhThổ Như vậy, giữa hình thức mái nhà với cấu trúc nhà tương sinh thì tốt.Khắc thì xấu
Theo phân loại ngũ hành: mái nhà được chia làm 5 loại chính: mái vút caothuộc Mộc; mái bằng thuộc Thổ; mái hình tròn thuộc Kim; mái nhọn thuộcHỏa; mái lượn sóng thuộc Thủy
Trang 4I Phân loại mái nhà
Theo hình thức: có hai loại là mái bằng và mái dốc
+ Mái bằng: Mái nằm song song với phương mặt đất với độ dốc được coi như bằng 0 độ, độ dốc đủ để thoát nước bề mặt, không có ý nghĩa tạo hình kiến trúc Mái bằng có ưu điểm tạo được sàn có thể để các cấu kiện, vật dụngkhác trên mái (bể nước…), dễ di chuyển, thao tác trên mái khi có sự cố.+ Mái dốc: Mái được tạo với phương ngang một góc nhất định Tuỳ loại vật liệu lợp mái và vật liệu khung mái cùng độ rộng diện tích che phủ mà mái có
độ dốc khác nhau Mái nhà tranh, tre, nứa, lá có độ dốc từ 33 – 45 độ, mái ngói trong kiến trúc dân gian truyền thống có độ dốc từ 30 – 33 độ, mái nhà Rông Tây Nguyên dốc tới 70 – 80 độ, mái tôn có độ dốc thấp hơn – khoảng
12 – 15 độ Các loại vật liệu lợp mái ở mái dốc cũng có những hệ kết cấu tương ứng Nếu vật liệu lợp mái là tranh thì sử dụng kèo tre, lợp ngói thì ứng với kèo gỗ, mái tôn được sử dụng với hệ kèo thép… Mái dốc về cơ bản khó
di chuyển, thao tác trên bề mặt và không tận dụng được diện mái như mái bằng Mái dốc góp phần tạo hình kiến trúc
Theo kết cấu
+ Mái bê tông cốt thép: Là mái được đổ bê tông toàn khối hoặc lắp ghép những cấu kiện bê tông (panel) Mái bê tông cốt thép có ưu điểm bền vững, chịu tải tốt nhưng nhược điểm là khó có khả năng tháo lắp khi cần di chuyển hay phá dỡ công trình
+ Mái khung (giàn) phẳng (với vật liệu tre – gỗ, thép): Là những dạng mái
sử dụng kèo, vì kèo, tường thu hồi… chịu lực cùng các lớp kết cấu khác (tuỳloại vật liệu lợp mái) Mái ngói có các lớp kết cấu: vì kèo, hoành, rui, mè (hoặc vì kèo, xà gồ, cầu phong, litô), mái tôn có các lớp: vì kèo, xà gồ… Loại mái này dễ tháo lắp các cấu kiện
+ Mái giàn không gian (hay còn gọi là giàn thép không gian): Hiện nay mái giàn không gian được sử dụng nhiều trong các công trình cần không gian lớnnhư ga hàng không, triển lãm, sân vận động, nhà thi đấu… Giàn không gian cho phép vượt được những nhịp lớn và khá linh hoạt trong giải pháp tổ hợp
hệ khung cũng như việc tháo lắp, di chuyển
Trang 5+ Mái có kết cấu đặc biệt: Các dạng mái kết cấu vỏ mỏng, dây treo…
Theo vật liệu
Có thể phân loại theo vật liệu lợp mái hay kết hợp cả vật liệu của kết cấu chịu lực mái: ví dụ như mái bê tông, mái ngói, mái kính, mái thép – kính, mái gỗ – kính, mái bê tông – ngói… Hiện nay trên thị trường các loại ngói
và tấm lợp mái rất đa dạng Việc lựa chọn một hình thức mái và vật liệu mái cần dựa trên nhiều yếu tố: thẩm mỹ kiến trúc, kỹ thuật, kinh tế
Mái kính kết cấu giàn không gian (Nhà ga T1 Nội Bài - Hà Nội)
Mái và chủ nghĩa biểu hiện trong kiến trúc
Như phần trên đã đề cập: mái góp phần lớn trong việc tạo nên hình thức công trình Hình hài, đặc trưng của công trình, hình thái kiến trúc và cảnh quan tổng thể nhiều khi được thể hiện, biểu lộ phần lớn qua mái Chính vì lẽ
đó, từ xưa đến nay các kiến trúc sư vẫn dành nhiều tâm sức sáng tạo cho mái nhằm đạt được yếu tố thẩm mỹ nhất định cho công trình; và cao hơn là vươn tới một sự khái quát, tư tưởng cần biểu đạt Chủ nghĩa biểu hiện trong kiến trúc ở trên thế giới cũng như Việt Nam cũng khai thác nhiều yếu tố này Ở cả
ý nghĩa vị trí và không gian (nằm trên cao nhất) và cả yếu tố tinh thần thì mái là bộ phận kiến trúc rất phù hợp để biểu hiện Từ những kiến trúc dân gian truyền thống Việt Nam, trên các chi tiết mái, trên các hệ vì kèo kết cấu được trang trí các hoa văn, hoạ tiết thể hiện quan niệm, ước mơ, khát vọng của con người Trên thế giới nhiều công trình có những hình thức mái độc đáo
đã trở thành những kiệt tác kiến trúc của chủ nghĩa biểu hiện Có thể kể tới công trình Nhà thờ Ronchamp (Pháp) của kiến trúc sư người Pháp Le
Corbusier với mái nhà độc đáo - gợi nhiều liên tưởng tới những sự vật khác nhau; hay công trình Nhà hát Opera Sydney (Australia) của kiến trúc sư
Trang 6người Đan Mạch Jorn Utzon với hình ảnh những cánh buồm (hay con sò) bên bờ biển…
Với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, nhất là kết cấu xây dựng; một số công trình ở Việt Nam cũng đã có những hình thức mái độc đáo theo chủ nghĩa biểu hiện Công trình Trung tâm hội chợ triển lãm Hải Phòng (KTS Nguyễn Tiến Thuận) có mái giàn không gian như một cánh diều, hay con tàu Công trình Trung tâm hội nghị Quốc gia (KTS Meinhard von Gerkan và KTS Nikolaus Goetze - Đức) với mái cách điệu từ hình tượng sóng biển Đông…
II Kỹ Thuật Lợp Mái Ngói.
1 Phân Loại Ngói
a. Ngói đất nung : Được chế tạo chủ yếu từ đất sét, qua các công đoạnphức tạp như ủ đất, cán, nhào, đùn ép, hút khí để tạo thành những
tấm nhỏ (galet) Sau quá trình phơi ủ sẽ chuyển sang tạo hình bằng
phương pháp dập dẻo Tùy theo hình dáng và vị trí sử dụng của sảnphẩm cuối cùng, ngói được đặt những tên gọi khác nhau
- Ngói mộc được sấy tự nhiên hoặc cưỡng bức đến một độ ẩm cần thiết Sản phẩm ngói mộc sau khi khô có thể tráng men hoặc không tráng men, được xếp vào lò nung Dưới tác dụng của nhiệt, thông thường khoảng 1000 °C –1150 °C, đất sét kết khối, rắn chắc lại nên
có độ hút nước thấp và hình dáng ổn định
- Một số công nghệ có thể thêm thiết bị, ngược lại một số lại bỏ bớt một vài công đoạn, tất cả đều có ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm
- Có thể nung ngói trong các lò thủ công hoặc lò tự động, lò liên tụchay gián đoạn Ngói không tráng men chỉ cần nung 1 lần, riêng ngói tráng men có thể nung 1 hoặc 2 lần
b. Ngói xi măng, ngói không nung hay ngói màu
- Được chế tạo bởi vữa xi măng và sơn phủ bột màu Vữa xi măng sau khi trộn được đổ vào khuôn kim loại, được nén chặt bằng búa
gỗ (sản xuất thủ công) hoặc rung bằng máy (sản xuất công nghiệp) Sau đó chuyển sang công đoạn bảo dưỡng trong một thời gian nhất định
- Hiện nay, tại Việt Nam, các nhà sản xuất sử dụng hai loại công nghệ chính cho việc sơn phủ lên ngói xi măng: công nghệ khô và công nghệ ướt
- Với công nghệ phủ màu khô: Sơn acrylic được phun lên bề mặt ngói trong trạng thái khô sau khi sấy Tiến trình này đơn giản như sơn nhà và việc chọn lựa màu sắc phun cho ngói cũng rất dễ dàng
Trang 7Tuy nhiên, công nghệ này không đáp ứng được nhu cầu về độ bền của màu sắc cho sản phẩm Sự gắn kết lỏng lẻo giữa lớp sơn
acrylic và bề mặt ngói sẽ sớm bị bong tróc theo thời gian Hơn thế nữa, màu sắc sẽ rất chóng phai do sơn acrylic có tính nhạy cảm
cao với tia cực tím
- Trái ngược với công nghệ nêu trên là công nghệ phủ màu ướt WET
on WET hiện đang được các nhà sản xuất ngói bê tông hàng đầu thế giới áp dụng Công nghệ ướt nổi bật ở chỗ bột màu được hoà lẫn với vữa hồ và phun trực tiếp lên bề mặt viên ngói còn ướt, ngay
sau khi ngói vừa được định dạng, nhằm tạo ra mối liên kết chặt chẽ giữa lớp màu sơn và bề mặt ngói Thực tế kiểm nghiệm cho thấy với công nghệ này, màu sắc ngói được giữ lâu bền hơn so với
ngói màu làm từ công nghệ khô
2 Cấu tạo mái ngói
a. Vì kèo : sử dụng gỗ hoạt thép kích thước (5 x10 ) bộ phận kết cấu chính trong bộ khung nhà, chịu toàn bộ lực của mái truyền xuống cột,
có dạng hình tam giác cân để đỡ hai mái dốc về hai phía
b. Xà Gồ ( đòn tay ) : sử dụng gỗ, thép kích thước 4x8,5x10 dùng để đỡ
hệ Rui cho mái
c. Cầu phong ( Rui ) : sử dụng gỗ, thép kích thước 4x4, 3x3 dùng để đỡ
Trang 8Bảng so sánh các loại ngói
Tên ngói viên/mSố
2
Khốilượng (kg/viên)
Khốilượng (kg/m2)
Đơn giá(đồng/viên)
Đơn giá(đồng/m2)
Trang 9NGÓI CUỐI RÌA:
Dùng để phủ điểm cuối của hông mái (Điểm tiếp giáp giữa mái và tường).
Trang 10NGÓI CUỐI MÁI:
Dùng để phủ xà gỗ và cuối mái tại đầu hồi.
Trang 236 Hướng Dẫn Lợp Ngói Xi măng màu
Trang 24được xếp quá 150 tấm
7.3.
Cách lợp mái nhà
- Độ dốc mái phải từ 170 trở lên(30/100) (H.1)
- Xà gồ (đòn tay) phải được phơi hoặc sấy khô, độ ẩm không được vượt quá 12%, có kích thướt từ 5cm x 10cm trở lên, phải thẳng, không cong vênh khi lợp
- Tấm ở trên chồng lên tấm dưới từ 5cm đến
20cm (H.2)
- Sóng tấm bên phải úp lên sóng tấm bên trái nửa sóng (H3)
- Khi lợp chỗ giáp mí 4 tấm nên cắt góc 2 tấm
chéo (H.4)
- Bảo đảm đai ốc (tige lợp) phải có đệm cao su,
siết không quá chặt, phải đủ 4 tige/tấm, nên
khoan lỗ bắt tige, không được đóng, đục
- Bắt tige trên đỉnh sóng
¤ Chú ý quan trọng
+ Khi di chuyển trên mái phải lót ván
+ Tấm lợp có chiều dài từ 1.8m trở lên phải
dùng 3 đòn tay
8 Công tác giám sát và nghiệm thu công tác lợp mái ngói
Trang 2525
Trang 27AK.11100 LỢP MÁI NGÓI 22v/m2
AK.11200 LỢP MÁI NGÓI 13v/m2
Đơnvị
Trang 28công 12,42 13,70 10,2 11,22
Máy trộn vữa
80l
Vận thăng0,8T
caca
0,035-
0,0350,60
0,035-
0,0350,60
AK.11300 LỢP MÁI NGÓI 75v/m2
AK.11400 LỢP NGÓI ÂM DƯƠNG
Đơnvị
Ngói 75v/m2 Ngói âm
Trang 29dương 3,5/7 g
Máy thi công
0,035 0,035 0,035 0,035Máy trộn vữa
80l
caca
Chuẩn bị, vận chuyển vật liệu trong phạm vi 30m, khoan, bắt vít, lợp mái che
tường, tấm úp nóc, hoàn thiện đúng theo yêu cầu kỹ thuật
AK.12100 LỢP MÁI, CHE TƯỜNG FIBRÔ XI MĂNG (0,92 × 1,52m)
AK.12200 LỢP MÁI, CHE TƯỜNG TÔN MÚI
AK.12300 LỢP MÁI, CHE TƯỜNG TẤM NHỰA
Đơnvị
Fibrôximăng
Tôn múi
Tấmnhựa
Chiềudài
≤2m
Chiề
u dàibấtkỳ
Trang 30-tường bằng Tôn múi m2 - 133,5 118,5
công7,30 6,40 4,50 5,12
AK.13100 DÁN NGÓI TRÊN MÁI NGHIÊNG BÊ TÔNG
Ngói mũihài75viên/m2
Ngói 22viên/m2
Vật liệu
Trang 31Ngói 22 viên/m2 viên - 23,1
Nhân công 4,0/7 công 0,55 0,50
Trang 32TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 HƯỚNG DẪN LỢP MÁI NGÓI CỦA CÔNG TY NGÓI ĐỒNG NAI
2 HƯỚNG DẪN LẮP ĐẶT NGÓI XI MĂNG MÀU CỦA CPAC-MONITER
3 HƯỚNG DẪN CÔNG TÁC LỢP NGÓI CỦA CÔNG TY CP ĐỊA ỐC HÒA BÌNH
4 DANH MỤC KIỂM TRA CÔNG TÁC LỢP MÁI CỦA CÔNG TY CP
XD&KD ĐỊA ỐC HÒA BÌNH