Trong rất nhiều các biện pháp tu từ ấy, so sánh tu từ là một trong những phơng thức đợc các nhà thơ, nhà văn thờng sử dụng để xây dựng nên những thế giới hình tợng nghệ thuật trong tác p
Trang 1bé Gi¸o Dôc & §µo T¹oTrêng §¹i Häc Vinh
Trang 2Trờng đại học vinh
- - - ♣ - - -
Nguyễn thị thanh bình
Lập luận trong đoạn văn chính luận
khảo sát qua văn chính luận
của hồ chí minh
Luận văn thạc sỹ ngữ văn
Vinh – 2006
Trang 3Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tác phẩm văn học là kết quả của lao động nghệ thuật, trong đó nổi bật
nhất là nghệ thuật sử dụng sáng tạo các chất liệu ngôn từ thông qua các biện pháp tu từ ngữ nghĩa Trong rất nhiều các biện pháp tu từ ấy, so sánh tu từ là một trong những phơng thức đợc các nhà thơ, nhà văn thờng sử dụng để xây dựng nên những thế giới hình tợng nghệ thuật trong tác phẩm của mình Cùng với những biện pháp tu từ khác, so sánh tu từ tạo cho tác phẩm khả năng nhận thức mới mẻ, làm thành vẻ đẹp riêng, mang đậm dấu ấn cá nhân của ngời sáng tạo Nh vậy, chìa khoá mở cửa đi vào khám phá thế giới của tác phẩm nghệ thuật, góp phần tìm hiểu phong cách ngôn ngữ của ngời nghệ sỹ lại chính là bắt đầu từ việc tìm hiểu các biện pháp, các phơng thức so sánh tu từ Đó là lí do đầu tiên chúng tôi lựa chọn đề tài này
1.2 Chế Lan Viên là một trong những tác gia lớn, tiêu biểu của thơ ca
Việt Nam hiện đại Thơ ông không chỉ phản ánh tinh thần thời đại của những năm tháng “không thể nào quên”, mà còn ghi dấu những chặng đờng phát triển của thơ ca dân tộc trong suốt thế kỷ XX Những sáng tác thơ Chế Lan Viên đã hắt toả thứ ánh sáng kỳ ảo của ma lực ngôn từ, làm toả lên vẻ đẹp riêng của một hồn thơ giàu chất trữ tình cách mạng và đậm chất triết lý, suy tởng Vì vậy, ngay
từ khi mới xuất hiện trên thi đàn dân tộc (với tập Điêu tàn, 1937), cho đến những
năm cuối đời (với ba tập Di cảo, 1996), Chế Lan Viên đã tạo đợc một ấn tợng
mạnh mẽ, lôi cuốn sự chú ý của giới nghiên cứu phê bình văn học
Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thơ Chế Lan Viên từ nhiều góc
độ, trong đó có góc độ ngôn ngữ học Nhng thơ ông vẫn còn là một nguồn mạch
có thể khai thác không cùng Để góp phần khám phá thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên, hớng tiếp cận của chúng tôi trong luận văn này là từ góc độ phong cách học, mà cụ thể ở đây là tìm hiểu cách sử dụng biện pháp so sánh tu từ thể hiện trong thơ ông nh thế nào Đây là phạm vi mà ít nhiều một số bài viết đã có
Trang 4đề cập nhng còn cha thành hệ thống và tập trung chuyên sâu một cách tơng xứng.
1.3 Gần nửa thế kỷ qua, thơ Chế Lan Viên đợc đa vào giảng dạy trong các
cấp học của Nhà trờng Tuy nhiên, trên thực tế, việc nghiên cứu, giảng dạy và học tập thơ Chế Lan Viên đang gặp không ít khó khăn Có nhiều nguyên nhân song sự phong phú, phức tạp trong cách tổ chức ngôn ngữ là một trong những nguyên nhân chủ yếu Từ thực tế trên, nghiên cứu đề tài này, ngời viết hy vọng góp phần thiết thực vào phân tích và tìm hiểu thơ Chế Lan Viên trong quá trình dạy và học đợc tốt hơn
2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tợng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu của luận văn
Vận dụng lý thuyết phong cách học vào việc tìm hiểu văn chơng, cụ thể là thơ Chế Lan Viên, luận văn nhằm:
2.1.1 Tìm hiểu bản chất của biện pháp nghệ thuật so sánh, khẳng định
tầm quan trọng của so sánh tu từ trong việc xây dựng hình tợng nghệ thuật Từ
đó hiểu thêm mối quan hệ giữa ngữ và văn, giữa t tởng tình cảm và ngôn ngữ biểu hiện
2.1.2 Tìm ra những nét nổi bật trong t duy sáng tạo của Chế Lan Viên
trong việc vận dụng biện pháp so sánh tu từ để xây dựng thế giới hình tợng nghệ thuật Từ đó, sơ bộ có những kết luận đánh giá về phong cách nghệ thuật của Chế Lan Viên
2.1.3 Về mặt thực tiễn, Chế Lan Viên là tác giả lớn, tác phẩm có mặt
trong nhiều cấp học nên kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc phục vụ cho công tác giảng dạy và học tập về tác giả Chế Lan Viên trong Nhà trờng Mặt khác, so sánh tu từ là hiện tợng phổ biến trong sáng tạo văn chơng, nghệ thuật, bởi vậy, kết quả nghiên cứu sẽ góp phần vào việc rèn luyện kỹ năng phân tích tác phẩm văn chơng từ góc độ ngôn ngữ
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
2.2.1 Tổng kết về lý thuyết bản chất và các kiểu cấu trúc so sánh tu từ
Trang 52.2.2 Khảo sát, thống kê các kiểu so sánh tu từ trong thơ Chế Lan Viên.2.2.3 Phân loại và miêu tả các kiểu so sánh tu từ trong thơ Chế Lan Viên (về cấu trúc nội dung và hình thức).
2.2.4 Phân tích vai trò, giá trị của so sánh tu từ trong thơ Chế Lan Viên (trong sự đối sánh với các biện pháp khác, làm rõ vai trò của so sánh tu từ trong thơ Chế Lan Viên)
3 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu:
Khối lợng tác phẩm của Chế Lan Viên là rất lớn; luận văn chỉ lựa chọn tập thơ cuối trong chặng đờng thơ ca Chế Lan Viên:
Trang 6Sau đó, hệ thống lý luận về tu từ học, phong cách học hình thành cùng với
sự phát triển rất mạnh mẽ của ngôn ngữ học thế giới, đã củng cố, hoàn thiện và làm sáng tỏ, đầy đủ quan niệm về phơng thức so sánh nghệ thuật Với những nhà ngôn ngữ học, phong cách học tiêu biểu xuất hiện vào thời kỳ đầu thế kỷ XX nh: Charles Bally, Viện sĩ ngôn ngữ học Xô viết Vinogrador cùng với một loạt những công trình phong cách học ra đời
b ở Việt Nam, phơng thức so sánh nghệ thuật đã xuất hiện từ lâu trong thực tiễn hoạt động ngôn ngữ, trong khẩu ngữ, trong giao tiếp giữa ngời với ngời
Có thể nói rằng, ngay từ khi hình thành nền văn học dân gian cổ truyền của dân tộc ta, với những sáng tác truyền khẩu của tập thể nhân dân lao động, so sánh tu từ đã có rồi Đó là thể tỷ, trong ba loại: phú - tỷ - hứng Diện mạo của so sánh tu từ hiện ra trong văn học dân gian với đầy đủ giá trị thẩm mĩ tuyệt vời của nó
Đọc ca dao, thởng thức dân ca Việt Nam, chúng ta luôn luôn bắt gặp những so sánh mộc mạc, giản dị mà thâm thúy, tế nhị Nó nổi lên là một biện pháp chủ yếu trong sự diễn đạt t tởng, tình cảm của cha ông ta xa Nó thờng đi theo lối cụ thể hóa những khái niệm trừu tợng, tăng thêm vẻ đẹp thẩm mĩ cho những đối tợng định nói đến, giúp cho lời nói thêm ý nhị, tình tứ và thắm thiết Ngay cả khi diễn tả sự sung sớng không bờ bến của đôi trai gái đợc yêu thơng, đ-
ợc gần gũi nhau, cũng qua một so sánh trực tiếp:
Gối mền, gối chiếu không êm
Gối lụa không mềm bằng gối tay em
(Ca dao)Chính lối ví von so sánh là cách nói a thích nhất và rất phổ biến trong lời ăn tiếng nói của nhân dân ta [34] Sang thời kỳ của nền văn học viết, văn học hiện đại, nhất là từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay, song song với
sự phát triển của ngôn ngữ dân tộc, phơng thức so sánh nghệ thuật đợc phát huy mạnh mẽ trong sáng tác văn chơng, nhất là thơ ca
c Sự hình thành của hệ thống lý luận về so sánh tu từ tiếng Việt
Trang 7Thời kỳ cha xuất hiện phong cách học tiếng Việt thì lí luận chung về so sánh tu
từ cha hình thành nh một hệ thống kiến thức với những quy luật vận dụng, sáng tạo trong hoạt động ngôn ngữ, trong sáng tác văn học Nó mới chỉ là những kiến thức mang tính kinh nghiệm chủ nghĩa
Tu từ học xuất hiện, sau đó là phong cách học vào những năm 1955 –
1956, đồng thời phơng thức so sánh đợc nghiên cứu dới góc độ của ngôn ngữ học Nó phản ánh những cố gắng tìm tòi, phân tích, lí giải về hình thức cấu trúc,
về nội dung ý nghĩa, sắc thái tu từ ( giá trị thẩm mỹ) Thành tựu đó có sự đóng góp rất lớn của tác giả: Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú, Lê Hiền, Nguyễn Nguyên Trứ, Nguyễn Thái Hoà, Nguyễn Thế Lịch Đến nay, lý thuyết chung về ph… ơng thức so sánh nghệ thuật cơ bản là thống nhất và sáng tỏ Đặc biệt về mặt cấu trúc hình thức Riêng mặt cấu trúc nghĩa của so sánh, các tác giả cha đi sâu phân tích, cha lý giải một cách thoả đáng
Lý thuyết chung về so sánh tu từ và những ý kiến của chúng tôi về hệ thống lý thuyết này, chúng tôi sẽ trình bày ở phần nội dung của đề tài
4.2 Về phơng thức so sánh tu từ trong thơ Chế Lan Viên
Với sự nghiệp thơ ca dày dặn mang đậm hơi thở, tinh thần thời đại, Chế Lan Viên nổi lên trong nền thơ ca Việt Nam nh là một trong những hiện tợng thơ mang tầm thế kỷ Có thể nói, ông là gơng mặt thơ tiêu biểu của cả một thế hệ nhà thơ đã gắn bó và sáng tạo trong hai phần ba thế kỷ XX với những biến động lớn lao của thời đaị cũng nh của một nền văn học hiện đại Đó cũng là lý do giải thích vì sao sự nghiệp thơ ca của Chế Lan Viên lại có sức cuốn hút đối với giới nghiên cứu phê bình văn học Chặng đờng thơ của ông luôn đợc nhiều nhà phê bình văn học uy tín theo dõi sát sao Đó là Hoài Thanh, Hà Minh Đức, Lê Đình
Kỵ, Xuân Diệu, Phan Cự Đệ, Nguyễn Lộc, Nguyễn Văn Hạnh, Phơng Lựu, Đặng Thai Mai, Nguyễn Đăng Mạnh, Hoàng Nh Mai, Trần Đình Sử, Nguyễn Xuân Nam cùng nhiều cây bút khác …
Tuy nhiên, nhìn một cách tổng quát có thể thấy rằng các tác giả quan tâm tới thơ Chế Lan Viên phần lớn từ góc độ phê bình tác giả hơn là nghiên cứu nghệ
Trang 8thuật, cũng nh đứng từ góc độ lý luận văn học để tiếp nhận hơn là từ góc độ lý thuyết ngôn ngữ.Vì thế, trong phần lịch sử vấn đề này, chúng tôi sẽ không nhắc
đến những công trình, những bài viết không liên quan trực tiếp đến đề tài, mà chỉ xin điểm lại một số ý kiến những nhận xét tiêu biểu về tập thơ Di cảo và đặc biệt
là những công trình, bài viết về phơng thức so sánh tu từ trong thơ Chế Lan Viên nhìn từ góc độ nghệ thuật
a Về Di cảo thơ của Chế Lan Viên : Vào những năm đầu của thập niên
90, sự xuất hiện lần lợt ba tập Di cảo thơ có thể xem nh một cơn địa chấn nhỏ
trong đời sống văn học dân tộc Việt Nam Ngay khi mới ra đời Di cảo thơ đã thu
hút sự chú ý của đông đảo ngời đọc và giới nghiên cứu phê bình Tiêu biểu nh: Trần Mạnh Hảo trong cuốn Ngời làm vờn vĩnh cửu, đã xem Di cảo thơ là
sự hoà hợp giữa cảm xúc và lý trí, và với Di cảo thơ, Chế Lan Viên là cây đại“
thụ thế kỷ XX của nền văn học nớc nhà ” [16] ở một cách nhìn bao quát hơn,
Nguyễn Bá Thành trong cuốn Thơ Chế Lan Viên và phong cách suy tởng, viết: Thơ Chế Lan Viên từ một tiếng thơ đập bàn quát tháo lo toan , tiếng thơ nhân“ ”
danh lịch sử, nhân danh dân tộc để đối thoại với kẻ thù, thơ Chế Lan Viên giờ
là lời độc thoại nội tâm để tự trấn an [43] ở đây, tác giả đã đề cập đến sự
chuyển đổi trong t duy nghệ thuật của Chế Lan Viên trớc năm 75 và sau 75
Nguyễn Thái Sơn trong bài viết Chế Lan Viên và Di cảo thơ, báo văn nghệ
số 4, ngày 11/3/1995 nhận xét : có những tình cảm, những nỗi niềm, những giá trị nhân văn và nghệ thuật mà chỉ khi đọc Di cảo của ông ta mới nhận ra
Ta càng hiểu ông, kính trọng ông và thơng Chế Lan Viên hơn [36].
Vũ Quần Phơng cũng nhấn mạnh: Đọc các tập Di cảo chúng ta nh đợc biết thêm một thế giới khác nữa của Chế Lan Viên Đây chính là thơ bổ sung, thế giới bổ sung vào đời thơ Chế Lan Viên Chúng ta hãy còn tốn nhiều bút mực về các thi phẩm này [34].
Bàn về Di cảo thơ II, tác phẩm duy nhất lọt vào vòng chung khảo, giải
th-ởng Hội nhà văn, Ban chấp hành Hội nhà văn khẳng định : Di cảo thơ giúp ngời
Trang 9đọc hiểu quá trình lao động, sáng tạo nghiêm túc, những trăn trở của một nhà thơ đến với cách mạng và cống hiến trọn đời cho cách mạng bằng nghệ thuật (Thông báo về giải thởng của Hội nhà văn năm 1994).
Đỗ Lai Thuý trong một bài viết Tháp chàm bốn mặt, cho rằng: Trong Di cảo thơ ngời ta sống lại những yếu tố của Điêu tàn, đặc biệt là của ánh sáng
và phù sa Đó là những giằng co nội tâm những day dứt về số phận con ngời
[44].
Ngoài ra, còn nhiều ý kiến khác cũng bàn về Di cảo thơ, nhng nhìn chung,
các tác giả đều tập trung khẳng định một số vấn đề cơ bản nh:
1 Đánh giá cao vai trò quan trọng của Di cảo thơ trong sự nghiệp sáng tác
của Chế Lan Viên
2 Khẳng định bớc chuyển biến cơ bản về cảm xúc, t duy nghệ thuật của nhà thơ vào những năm cuối đời Sự chuyển biến này đợc xem nh là một sự tiếp nối trong mạch t duy thơ Chế Lan Viên
3 Xem con đờng nghệ thuật của Chế Lan Viên nh một vòng tròn khép kín
đi từ cái tôi đến cái ta và cuối cùng lại trở về cái ta
Tuy nhiên, viết về Di cảo thơ của Chế Lan Viên, các nhà nghiên cứu, phê
bình văn học cha có một công trình, một bài viết nào đi khảo sát toàn diện Di cảo thơ dới góc độ ngôn ngữ học và tìm hiểu phơng thức so sánh tu từ.
b Về phơng thức so sánh tu từ trong thơ Chế Lan Viên : Tác giả Hồ Thế
Hà trong Thế giới nghệ thuật thơ Chế Lan Viên [13], đã khẳng định: Chế Lan
Viên vận dụng và sáng tạo nhiều phơng thức t duy nghệ thuật, trong đó hai biện pháp nghệ thuật nổi bật đó là đối lập và so sánh Hai biện pháp này mang dấu ấn thẩm mĩ và năng lực sở trờng độc dáo của riêng Chế Lan Viên
Sử dụng biện pháp so sánh nghệ thuật, Chế Lan Viên đã thật sự thành công
và tiến rất xa so với các nhà thơ khác cùng thời và sau ông Tài sử dụng ngôn ngữ, sức liên tởng tơng đồng của ông mang cá tính riêng không lẫn vào ai, lấp lánh một vẻ đẹp trí tuệ
Trang 10Tác giả cũng tiến hành thống kê và đa ra kết luận về cấu trúc so sánh trong thơ Chế Lan Viên Trong thơ Chế Lan Viên có nhiều dạng, nhiều biến thể nhng phổ biến, đậm đà nhất là những kiểu sau:
Kiểu 1: A nh B: Em đi nh chiều đi, chiếm 43%
Kiểu 2: A là B: Điện trời ta là sóng nớc Sông Hồng, chiếm 30%
Kiểu 3: A thành B: Rồng năm móng vua quan thành bụi đất, chiếm 22%
Kiểu 4: A / B: Chiếm 5%
Trong chuyên luận này, tác giả Hồ Thế Hà đã khái quát đợc những mô hình cấu trúc so sánh cơ bản trong thơ Chế Lan Viên, đã khẳng định tác dụng mở rộng ý, nâng cao tầng ý của so sánh Tác giả cũng khẳng định so sánh tu từ là một trong hai biện pháp nổi bật của hình thức nghệ thuật thơ, làm thành thi pháp
và phong cách thơ Chế Lan Viên
Tuy nhiên, tác giả mới chỉ đa ra một cách sơ lợc và nhận định khái quát về
4 kiểu so sánh theo tác giả là cơ bản trong thơ Chế Lan Viên mà cha đi sâu tìm hiểu thế giới hình ảnh biểu tợng, cái thế giới hình ảnh do liên tởng so sánh mà
có, cái thế giới tạo ra bầu trời thơ riêng có trong thơ Chế Lan Viên nói chung và
ba tập Di cảo thơ nói riêng, cũng nh lý giải vì đâu tác giả lại có sự lựa chọn đó
và những lựa chọn nh vậy đã nói lên điều gì trong tâm hồn nhà thơ
Nh vậy có thể nói rằng, nghiên cứu Di cảo thơ dới góc độ phong cách học,
đặc biệt tìm hiểu phơng thức so sánh tu từ trong Di cảo thơ là một đề tài còn bỏ
ngỏ, hấp dẫn cho nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học và cho những ai quan tâm, yêu thích thơ ông
Trang 116.1 Thực hiện đề tài này, ngời viết mong muốn góp thêm một cái nhìn
t-ơng đối có hệ thống về so sánh tu từ trong thơ Chế Lan Viên để làm sáng tỏ phần nào nét phong cách riêng của nhà thơ thông qua điểm nhìn nghệ thuật của tác giả
6.2 Từ việc phân tích so sánh tu từ trong thơ Chế Lan Viên nêu lên một
cách cảm nhận, thẩm bình vẻ đẹp riêng có thể thể hiện trong phong cách thơ Chế Lan Viên
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và các tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn, dự kiến gồm 3 chơng:
Chơng 1: Những vấn đề lý thuyết có liên quan đến đề tài
Chơng 2: Thống kê và phân loại so sánh tu từ trong Di cảo thơ Chế Lan
Viên
Chơng 3: Những đặc điểm của so sánh tu từ trong Di cảo thơ Chế Lan
Viên
Trang 12từ điển Langman Language Activators là xem xét hai hay nhiều sự vật, ngời hay
ý tởng để chỉ ra những sự vật, ng… ời hay ý tợng này giống nhua hay khác biệt thế nào Hay là nhìn vào cái này mà xem xét cái kia để nhìn thấy sự giống nhau, khác nhau hoặc sự hơn kém (Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê chủ biên)
Ví dụ:
1 Cô Hoa gầy hơn cô Huệ
2 Nhà này cao bằng nhà kia
3 Tuấn nói tiếng Anh kém hơn Nghĩa
Là một thao tác, một hiện tợng phổ quát của t duy đợc thể hiện trong n ngôn ngữ, so sánh đợc đề cập đến ở nhiều công trình nghiên cứu trong nớc lẫn ngoài nớc từ các góc độ cú pháp học, ngữ nghĩa học, hoặc tu từ học Sau đây chúng tôi sẽ trình bày các quan điểm về so sánh xuất phát từ góc độ tu từ học
1.2 So sánh tu từ
1.2.1 Quan niệm về so sánh tu từ.
So sánh tu từ là một phơng thức biểu đạt mang tính nghệ thuật Nhìn từ góc độ phong cách học, so sánh tu từ là một phơng thức biểu đạt hình tợng phổ biến của mọi ngôn ngữ Vì thế, đây cũng là một trong những vấn đề đợc các nhà ngôn ngữ học trên thế giới quan tâm nghiên cứu Xtepannov với Phong
cách học tiếng Pháp (M - 1965); Vinôgradov với Phong cách học tiếng Nga
(M.1969); Môren với Phong cách học tiếng Pháp (M.1970) những công trình…
Trang 13này đã làm sáng tỏ về mặt lý thuyết cũng nh sự ứng dụng của phơng thức so sánh
tu từ và đã khẳng định giá trị của phơng thức so sánh tu từ và đã khẳng định giá trị của phơng thức so sánh tu từ trong sáng tạo hình tợng nghệ thuật, điều mà tr-
ớc đây trớc công nguyên, mỹ từ pháp thời cổ đại với các triết gia hy lạp nh Platon (428- 347), Democrit (460 - 370) và Arystore (384 - 322) gọi là “một cách tạo nên lời hoa văn mỹ của “mỹ từ pháp”
ở nớc ta, từ lâu, các nhà nghiên cứu văn học và ngôn ngữ học cũng đã đề cập đến vần đề này Trong lối nói truyền thống thì gọi là “Tỉ” (Phú – Tỉ - Hứng) “Tỉ” là so sánh hình ảnh Nhng “Tỉ” có hai loại: “Tỉ trực tiếp” tơng đơng
“so sánh nghệ thuật”; “Tỉ gián tiếp” thì là ẩn dụ Với thể “Tỉ” này, ca dao không nói thẳng ngay nh ở thể "phú", mà lại mợn một đối tợng khác để so sánh, để ngụ một ý gì, hay gửi gắm một tâm sự, một tình, ý Nhng quan niệm trên mới chỉ dừng lại ở những nhận xét chung chung
Vũ Ngọc Phan nêu so sánh là một phơng pháp chủ yếu trong sự diễn đạt
t tởng và tình cảm So sánh cũng làm cho lời thêm ý nhị [31] Theo ông “giữa 2
nhân vật so sánh bao giờ cũng có một mối liên hệ nội tại, một liên tởng về ý niệm bên trong Nó có thể là so sánh trực tiếp:
“Thiếp xa chàng nh rồng nọ xa mây
Nh con chèo bẻo xa cây măng vòi”
(Ca dao)Cũng có thể nói là sự so sánh gián tiếp, tức là nghệ thuật ẩn dụ tu từ, nó là phơng thức nghệ thuật tu từ tế nhị hơn” [31]
Nh thế, thể “Tỉ” trong quan niệm truyền thống là bao gồm cả so sánh nghệ thuật và ẩn dụ, ẩn dụ chính là sự so sánh gián tiếp
Vào những năm 60 của thế kỷ XX, một loạt các công trình nghiên cứu ngôn ngữ học, nghiên cứu tiếng Việt ra đời đã cũng cố và hoàn thiện hệ thống lý luận về “phong cách học” trong đó có phơng thức so sánh tu từ Sau đây, chúng tôi xin điểm qua một số quan niệm tiêu biểu:
Trang 14a Đinh Trọng Lạc trong cuốn Giáo trình Việt ngữ quan niệm: So sánh
là định nghĩa sự vật hiện tợng hoặc khái niệm ở trong ngôn ngữ nghệ thuật thông qua sự so sánh chúng với hiện tợng hoặc khái niệm có cùng dấu hiệu chung Mục đích so sánh là để cụ thể hoá những sự việc trừu tợng, để ngời đọc
dễ hiểu, dễ tởng tợng hơn [20].
ở giáo trình này, tác giả không đặt vấn đề so sánh lôgíc và so sánh tu từ
mà chủ yếu tiến hành khảo sát hình thức biểu hiện của so sánh, có chủ ý nhấn mạnh đến kết cấu đặc thù của tiếng Việt Có thể nói, đây chính là một trong những giáo trình đầu tiên của môn phong cách học tiếng Việt Nam
b Cù Đình Tú trong Phong cách học và đặc điểm tu từ tiếng Việt quan
niệm so sánh tu từ về cơ bản không có gì khác so với các quan niệm trên Tuy nhiên, tác giả đa ra một cách hiểu về so sánh tu từ có phần cụ thể, dễ hiểu hơn,
đặc biệt sau khi tái bản năm 2001 tác giả làm rõ thêm một bớc về quan niệm so sánh tu từ: So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tợng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy (nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tợng [41].
Cù Đình Tú đã dựa trên mối liên hệ cơ bản của ngôn ngữ là quan hệ kết hợp và quan hệ liên tởng để phân chia các cách tu từ Trong đó, tác giả khẳng
định so sánh tu từ là cách tu từ dựa trên quan hệ liên tởng
Hơn nữa, tác giả đặt so sánh luận lý bên cạnh so sánh tu từ để phân biệt chúng một cách cơ bản ở so sánh luận lý: cái đợc so sánh và cái so sánh là các
đối tợng cùng loại và mục đích của sự so sánh là xác lập sự tơng đơng giữa hai
đối tợng Còn ở so sánh tu từ: các đối tợng đợc đa ra so sánh là khác loại và mục
đích của phép so sánh là nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của đối tợng
Trong công trình của mình, tác giả đã khảo sát cấu tạo của so sánh tu từ cả
về mặt hình thức (cấu tạo bên ngoài) lẫn về mặt nội dung (cấu tạo bên trong) Về hình thức: So sánh tu từ gồm 2 vế Vế đợc so sánh (A) và vế so sánh (B) hai vế
gắn với nhau lập thành các hình thức so sánh theo công thức:
Trang 15Lũ đế quốc là bầy dơi hốt hoảng
- So sánh tu từ không dùng từ so sánh do yêu cầu của vần luật thơ ca.
Ví dụ:
Bác ngồi đó, lớn mênh mông Trời xanh, biển rộng ruộng đồng nớc non
(Tố Hữu)
Về nội dung: Đối tợng nằm trong hai vế so sánh tu từ là khác loại nhng lại
có một nét giống nhau nào đó, tạo thành cơ sở cho so sánh tu từ Nét giống nhau
có thể biểu hiện ra bằng những từ ngữ cụ thể, lúc đó ta có phép so sánh tu từ nổi:
Dù ai nói ngả nói nghiêng Lòng ta vẫn vững nh kiềng ba chân
(Cao dao)
Nét giống nhau khi không đợc phô bày ra bằng những từ ngữ cụ thể
mà lẫn vào bên trong hai vế của phép so sánh khiến ngời đọc phải tự tìm ra, lúc đó ta có phép so sánh tu từ chìm.
Ví dụ:
Chủ nghĩa Lê-nin là cái cẩm nang thần kỳ
Trang 16(Hồ Chí Minh)Theo tác giả Cù Đình Tú, tiêu chuẩn của một phép so sánh tu từ đợc xem
là tốt, là đắt phải thỏa mãn hai điều kiện: các đối tợng đa ra so sánh là khác loại; phát hiện đúng nét giống nhau giữa hai đối tợng Tài nghệ của ngời dùng phép so sánh tu từ là ở chỗ phát hiện ra nét giống nhau chính xác bất ngờ, điều mà ngời
ta không để ý đến hoặc không nhìn thấy Tác giả còn khẳng định, do mang chức năng nhận thức và chức năng biểu cảm, cấu tạo lại đơn giản nên so sánh tu từ đ-
ợc dùng trong nhiều phong cách chức năng và phong cách cá nhân Tiếng Việt
Nh vậy, có thể nói rằng, với công trình này, tác giả Cù Đình Tú đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng những tiêu chí để nhận diện chính xác phép
so sánh tu từ cả về nội dung lẫn hình thức
c Nguyễn Thái Hoà trong Phong cách học Tiếng Việt cũng đa ra khái
niệm: So sánh tu từ là phơng thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tơng đồng nào đó, để gợi ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức của ngời đọc, ngời nghe [22].
Ví dụ:
Tình anh nh nớc dâng cao Tình em nh dải lụa đào tẩm hơng
(Ca dao)Tác giả cũng phân biệt so sánh tu từ với so sánh lôgíc ở tính hình tợng, tính biểu cảm và tính dị loại (không cùng loại) của sự vật Chẳng hạn, so sánh lôgíc:
a = b vậy b = a còn so sánh trong ngôn ngữ không đơn giản nh vậy Ta có thể
nói: Nhà ấy con cũng giỏi nh bố, nhng rất ít khi so sánh: Nhà ấy, bố cũng giỏi
nh con Hoặc là có thể nói: Thơ Xuân Quỳnh cũng hay nh thơ Nguyễn Du mà
không thể nói: Thơ Nguyễn Du cũng hay nh thơ Xuân Quỳnh Sở dĩ nh vậy là
bởi trong ngôn ngữ, vế đợc so sánh có một tiền gỉa định làm chuẩn mực đã đợc khẳng định, không hoàn toàn đồng nhất với cái so sánh Tác giả cũng cho rằng vì
Trang 17lý do này mà mọi so sánh (trong ngôn ngữ) đều khập khiễng Tác giả gọi hiện ợng này là sự khúc xạ của ngôn ngữ Đặc biệt trong so sánh tu từ, độ khúc xạ
t-còn tăng lên nhiều lần vì t-còn mang sắc thái chủ quan của ngời so sánh
Tác giả còn nêu lên cấu trúc đầy đủ nhất của phép so sánh tu từ bao gồm 4 yếu tố sau:
Tuy nhiên không phải lúc nào so sánh tu từ cũng hiện lên với hình thức đầy
đủ nh vậy Tuỳ từng trờng hợp có thể hoặc đảo trật tự so sánh hoặc thêm bớt một
Trang 18d Nguyễn Thế Lịch trong các bài viết của mình nh: Các yếu tố và cấu
trúc của so sánh nghệ thuật [24] và bài Từ so sánh đến ẩn dụ [25], cũng nh sau
này tác giả gộp vào viết lại trong bài Cấu trúc so sánh trong tiếng Việt [26],
quan niệm: So sánh là đa một vật ra xem xét sự giống nhau, khác nhau, sự hơn kém về một phơng diện với một vật khác đợc coi là chuẩn Có thể không phải chỉ là một mà là nhiều sự vật, nhiều thuộc tính đợc so sánh.
Tác giả khẳng định cái hay của so sánh chính là ở chỗ hai sự vật đa ra so sánh với nhau không cùng một loại, khác xa nhau Thế mà giữa chúng vẫn có ph-
ơng diện chung để so sánh
Tác giả cũng nhấn mạnh so sánh nghệ thuật ngoài giá trị nhận thức phải có tính hình tợng, tính biểu cảm Thiếu những tính chất này thì cha thể gọi là nghệ thuật
Ngoài ra, bài viết của tác giả Nguyễn Thế Lịch đã đề cập đến: Các loại so sánh Bao gồm: So sánh ngang, so sánh hơn, so sánh kém, so sánh không nhằm
xác định hơn kém Sự thể hiện quan hệ so sánh: loại có dùng từ so sánh, loại
không dùng từ so sánh, loại dùng nhiều từ so sánh Cấu trúc so sánh và các yếu tố: Theo tác giả Nguyễn Thế Lịch, kết quả so sánh đợc diễn đạt bằng một cấu trúc gồm 4 yếu tố: Yếu tố cần đa ra so sánh, có thể là đợc hay bị xét về tơng
quan với chuẩn (YTĐ/BSS); Yếu tố nêu rõ so sánh về phơng diện nào đó (YTPD); Yếu tố thể hiện mối quan hệ trong so sánh (YTQH); Yếu tố dùng để so
Trang 19sánh, đợc coi là chuẩn, xác định mức độ hơn, kém, giống, khác của yếu tố cần so sánh (YTSS).
Tác giả cũng đã khái quát và miêu tả các kiểu CTSS lợc bỏ yếu tố:
- CTSS 2-3-4 Mẫu: hiền nh đất
- CTSS 1-3-4 Mẫu: chạy nh bay
e Sau này, các tác giả: Đinh Trọng Lạc Phong cách học Tiếng Việt[22], Hữu Đạt trong Phong cách học tiếng Việt hiện đại [12] cũng nêu định nghĩa về
so sánh tu từ và coi đây là một biện pháp tu từ ngữ nghĩa quan trọng Đồng thời, các tác giả cũng tiến hành khảo sát ở một số dạng cụ thể với quan điểm nhất quán với những giáo trình trớc đó Tác giả Hữu Đạt cho rằng: Thực chất của
phép so sánh tu từ là dùng thuộc tính hay tình trạng của sự vật hay hiện tợng
Trang 20này giải thích cho thuộc tính hay tình trạng của sự vật khác Mô hình khái quát
của phép so sánh theo tác giả là : A-X-B, trong đó A: là cái cha biết
đợc đem ra so sánh, B là: cái đã biết đem ra để so sánh; X là: phơng tiện so sánh
đợc biểu hiện bằng các từ: nh, giống nh, là, nh là, tựa nh, tựa hồ, hệt nh, bằng, bằng nh, hơn, kém Trong thực tế sử dụng ngôn ngữ X có thể có mặt hay vắng
mặt
Tuy nhiên phạm vi của giáo trình không cho phép các tác giả đi sâu phân tích giá trị của so sánh tu từ trong những tác phẩm cụ thể, của những tác giả cụ thể mà chỉ dừng lại ở những miêu tả khái quát nhất
Trang 21Tơng t là bệnh của tôi yêu nàng
(Nguyễn Bính)
- Động từ:
Ví dụ:
Nhớ gì nh nhớ ngời yêu Trăng lên đầu núi nắng chiều lng nơng.
(Tố Hữu)
- Tính từ:
Ví dụ:
Quả bắt đầu chín lự Ngọt nh nỗi nhớ nhà.
Ví dụ:
- Đôi mắt cô em nh say nh đắm
Nh buồn in hình ảnh giấc mơ xa
(Thế Lữ)
- Một buổi tra không biết ở thời nào
Nh buổi tra nhè nhẹ trong ca dao
(Huy Cận)1.3.CSS là một kết cấu C-V
Ví dụ:
Trang 22- Mặt trời xuống biển nh hòn lửa
(Huy Cận)
- Anh nhớ em nh đông về nhớ rét
(Chế Lan Viên)
2.ý nghĩa: CSS biểu thị đối tợng hoặc cụ thể hoặc trừu tợng
2.1.Đối tợng cụ thể, cảm giác đợc nh: ngời, vật, hành động.
(Ca dao)2.2.Đối tợng trừu tợng nh: ý niệm, khái niệm, tình cảm.
Ví dụ:
- Hồng nh màu của bình minh
Đỏ nh màu máu của mình em ơi
(Diệp Minh Tuyền)
- Tâm hồn tôi là một buổi tra hè Toả nắng xuống dòng sông lấp loáng
(Tế Hanh)
- Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần
Trang 23(Xuân Diệu).
- Tình anh nh nớc dâng cao Tình em nh dải lụa đào tẩm hơng
(Ca dao)
* Yếu tố 2 (CSSS)
1 Hình thức cấu tạo
1.1 CSSS đợc cấu tạo bởi tính từ làm định ngữ.
Ví dụ: - áo chàng đỏ tựa ráng pha
1.2 CSSS đợc cấu tạo bởi động từ chỉ hoạt động làm định ngữ
Ví dụ: Lặng nghe lời nói nh ru
Chiều xuân dễ khiến nét thu ngại ngùng
- Trong nh tiếng hạc bay qua
Đục nh tiếng suối mới sa nửa vời.
(Nguyễn Du)
- Cỏ bờ đê rất lạ Xanh nh là chiêm bao
Trang 24(Chế Lan Viên)Một sự vật hiện tợng có nhiều thuộc tính CSSS là yếu tố biểu thị một thuộc tính, một hành động của CSS, cũng là yếu tố thể hiện nét tơng đồng giữa CSS và CĐSS.
Trong cấu trúc so sánh hoàn chỉnh nh ở các ví dụ trên, CSSS có mặt là để xác định ý nghĩa của so sánh, thể hiện thuộc tính của sự vật mà CSS biểu thị, thuộc tính này là thuộc tính tiêu biểu của sự vật mà CĐSS biểu thị Còn đối với CTSS vắng CSSS, ngời đọc phải dựa vào liên tởng để tìm ra nét tơng đồng giữa CSS và CĐSS, rồi lại phải chọn lọc trong số những thuộc tính ấy, xem thuộc tính nào đã đợc tác giả vận dụng vào so sánh Quá trình tiếp nhận ấy cũng có thể xem
nh quá trình đồng sáng tạo với tác giả so sánh Một so sánh nghệ thuật hay thờng
là một so sánh có khả năng gợi nhiều liên tởng và liên tởng ở ngời nghe càng phong phú thì càng có khả năng trùng hợp với liên tởng ở ngời nói
Trang 25Thiếu vắng trên bề mặt nhng luôn luôn có mặt bề sâu, muốn tìm ra phải biết rõ các thuộc tính của sự vật thể hiện trong yếu tố 4 (CĐSS) Qua câu thơ, Bác muốn nói với mọi ngời những gì về trẻ em? Giữa tuổi thơ với cái búp trên cành có gì tơng đồng? Đặt ra câu hỏi nh vậy và dùng sự liên tởng để trả lời, chúng ta sẽ tìm ra đặc điểm của trẻ em, cũng là điều tác giả ngầm muốn nói: Trẻ
em (thế giới tơi non, tràn đầy sức sống, chứa chan hy vọng) nh búp trên cành
Nh vậy với những dạng so sánh này, CSSS sẽ không chỉ dừng lại ở một phơng diện, một thuộc tính của sự vật mà đã đợc mở rộng theo những liên tởng phong phú của ngời đọc
* Yếu tố 3 (TSS): bao gồm các từ so sánh thể hiện sự tơng quan trong so
sánh: sự vật đợc hay bị đem ra so sánh là ngang bằng, hơn, hay là kém sự vật đợc coi là chuẩn
1.Những TSS: nh, tựa, nh là, nh thể, dờng nh, tựa nh, tựa hồ vv …
1.1 Chỉ cái tơng tự (gần giống) bề ngoài:
Trang 26(Tố Hữu)
- Khi ra đi chỉ dép lốp chiến trờng Nguồn ánh sáng đến muôn đời chẳng tắt Vợt cao hơn sự chết vẫn soi đờng
Ví dụ:
Kiều càng sắc sảo mặn mà
So bề tài sắc lại là phần hơn
Trang 27Làn thu thuỷ, nét xuân sơn Hoa ghen thua thắm liễu hờn kém xanh
(Nguyễn Du)
Thắm và xanh ở đây là biểu hiện nét đẹp của Thuý Kiều Vì thế: hoa ghen thua thắm thực chất lại là ngời thắm hơn hoa, liễu hờn kém xanh, thực ra nhằm
nhấn mạnh Kiều đẹp, mợt mà, óng ả hơn liễu
Đôi khi có thể so sánh bậc cao nhất đợc thể hiện bằng câu hỏi tu từ:
Gì sâu bằng những tra thơng nhớ Hiu quạnh bên trong một tiếng hò
(Đỗ Trung Quân)
- Tâm hồn tôi là một buổi tra hè Toả nắng xuống dòng sông lấp loáng
(Tế Hanh)Kiểu so sánh này cũng khác với phán đoán logic khẳng định có công thức:
S là P ở phán đoán logic nếu ta thay thế hệ từ logic là bằng từ nh là thì nội
dung cơ bản của phán đoán lập tức thay đổi, giá trị khẳng định logic sẽ không còn
Trang 28Trái lại, ở so sánh tu từ, nếu thay là bằng nh là thì nội dung cơ bản không
thay đổi, chỉ thay đổi về sắc thái ý nghĩa: từ sắc thái khẳng định chuyển sang giả
- Chiều đi trên đồi êm nh tơ
Chiều đi trong ngời êm nh mơ
(Bích Khê)
- Đàn buồn, đàn lặng, ôi đàn chậm Mỗi giọt rơi tàn nh lệ ngân
(Xuân Diệu)
1.2 Loại mở rộng: nhiều sự vật, thuộc tính hay hành động
Ví dụ:
- Đôi ta nh lửa mới nhen
Nh trăng mới mọc nh đèn mới khêu
(Ca dao)
Trang 29- Con về với nhân dân nh nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa
Nh đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đa
(Anh Thơ)
- Cỏ bờ đê rất mợt Xanh nh là chiêm bao
Nh cầm cốc thuỷ tinh trong
Trang 30Trong tay bóp nát máu ròng ròng sa
(Xuân Diệu)
2.3 CĐSS thể hiện 3 mức độ: Ngang bằng, phóng đại, giảm nhẹ
- Ngang bằng:
Đôi ta nh lửa mới nhen
Nh trăng mới mọc, nh đèn mới khêu.
(Cao dao)
- Phóng đại:
Đôi ta làm bạn thong dong
Nh đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng
trong cấu trúc so sánh, chính yếu tố này sẽ quyết định mọi giá trị của so sánh Bởi vì CĐSS là nơi hội tụ, là kết quả của một quá trình: quan sát, liên tởng, lựa chọn Qua đó, phong cách riêng của ngời sáng tạo sẽ đợc bộc lộ
Ví dụ:
-Tháng giêng ngon nh một cặp môi gần -Trăng, vú mộng của muôn đời thi sĩ.
(Xuân Diệu)Nếu nh trớc đây, các nhà thơ trung đại thờng lấy thiên nhiên làm chuẩn mực, thớc đo của cái đẹp: Phù dung nh diện, liễu nh mi thì nhà thơ Xuân Diệu
lại nhìn thấy trong thiên nhiên những đờng nét, hình hài của thế giới con ngời, thể hiện một chuẩn mực thẩm mĩ mới: Con ngời là trung tâm thế giới, là chuẩn
Trang 31mực của cái đẹp Đó là một cảm quan trái ngợc với cảm quan của thơ ca trung
đại Cái nhìn ấy đã khiến nhà thơ phát hiện ra những nét đẹp thật bất ngờ, táo bạo Hình ảnh cặp môi gần, đặc biệt là sự đồng nhất trăng và vú mộng gợi tả đợc
niềm đam mê, khao khát vừa trần tục vừa xa vời của thi sĩ, nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới (theo nhận định của Hoài Thanh).
Nh thế, sự lựa chọn CĐSS trong cấu trúc so sánh tu từ là một sự lựa chọn
có ý nghĩa Nó bộc lộ cách đánh giá, thái độ nhìn nhận thế giới quan của ngời so sánh và qua đó thể hiện tài năng, phong cách sáng tạo riêng của tác giả
b Cấu trúc nghĩa so sánh tu từ
So sánh nghệ thuật là một cấu trúc nhiều tầng nghĩa, nhiều lớp nghĩa Vận dụng quy luật cấu trúc Nghĩa của lời (Hoàng Phê)[32] ta có các tầng nghĩa cơ
bản sau:
* Tiền giả định: Nghĩa có sẵn ở mỗi ngời Việt Nam đợc huy động, đợc
thực tại hoá trong trờng hợp cụ thể văn cảnh để hiểu nghĩa của câu Những
điều mà phải đúng nh vậy thì câu, hoặc lời mới thật sự có ý nghĩa Tiền giả
định là phần không cần thiết phải nói, phải nêu ở một thông báo, đã đợc các nhân vật giao tiếp mặc nhiên thừa nhận, dựa vào chúng mà ngời nói tạo nên ý nghĩa t-ờng minh trong phát ngôn của mình
* Nghĩa hiển ngôn: Lớp nghĩa hiện lên trên bề mặt của ngôn ngữ
* Nghĩa hàm ngôn: là những gì ngời nghe phải tự mình suy ra từ tiền
giả định và hiển ngôn, để hiểu đợc đúng và đầy đủ ý nghĩa của lời
Cấu trúc ngữ nghĩa của lời là một cấu trúc gồm nhiều tầng, có tiền giả
định, hiển ngôn và hàm ngôn Trong hiển ngôn có cái đã biết đối lập với cái mới Trong hàm ngôn có hàm ý và có thể có thêm ngụ ý Ngụ ý nằm ở lớp sâu nhất trong cấu trúc ngữ nghĩa của lời Giữa tiền giả định, hiển ngôn và hàm ngôn có quan hệ cấu trúc chặt chẽ và có sự tác động lẫn nhau để tạo nên ngữ nghĩa của lời Tiền giải định là cơ sở cho hiển ngôn và cùng với hiển ngôn là cơ sở cho hàm ngôn
Trang 32Ví dụ:
Nhớ ai bổi hồi bồi hồi
Nh đứng đống lửa, nh ngồi đống than
(Ca dao)
* Tiền giả định:
- Bổi hổi bồi hồi: tâm trạng xao xuyến đến nôn nóng trong lòng.
- Lửa, than: nhiên liệu có sức nóng thiêu đốt, khiến cho con ngời nhấp
nhổm không yên khi ở gần
* Hiển ngôn: So sánh nỗi nhớ với hành động đứng đống lửa, ngồi đống
than
* Hàm ngôn: Trạng thái nhớ nhung trong tình yêu: Thờng trực, cồn cào,
khắc khoải, không lúc nào nguôi ngoai Nhân vật trữ tình thể hiện một tình cảm yêu thơng nồng cháy
Căn cứ vào những ngữ cảnh cụ thể của so sánh nghệ thuật, chúng ta nhận thấy, có khi ý nghĩa hàm ngôn đợc nói ra trực tiếp hoặc gián tiếp Ta có hai kiểu
Ví dụ:
Tình anh nh nớc dâng cao Tình em nh dải lụa đào tẩm hơng
(Ca dao)
Trang 33Phơng thức so sánh tu từ chìm đòi hỏi sự liên tởng rộng rãi hơn, một sự
suy nghĩa sâu sắc hơn so sánh tu từ nổi
ở so sánh tu từ nổi, nghĩa hàm ngôn đã đợc trực tiếp nêu ra và trở thành
nghĩa hiển ngôn So sánh tu từ chìm thì tầng nghĩa hàm ngôn nằm ở đáy sâu
nhất, kín đáo, có tính chất hàm ẩn Nó thể hiện giá trị nghệ thuật của một so sánh tốt và “đắt”
Nói chung, sự hàm ngôn của so sánh nghệ thuật luôn luôn gắn chặt với văn cảnh Sự đồng nhất, sự giống nhau ở một số đặc điểm, một số nét nghĩa và phẩm chất nào đó của các đối tợng chỉ là tơng đối Bởi vì, có những so sánh nghệ thuật bao hàm cả sự phóng đại nhằm khắc sâu bản chất của sự vật và hiện tợng
Có lẽ vì thế mà ngời Đức có một châm ngôn mọi so sánh đều khập khiễng.
c Giá trị so sánh của tu từ
1 Giá trị nhận thức
Giá trị cơ bản nhất của so sánh tu từ là nhận thức Nhà ngôn ngữ học Paul từng nhận định: Sức mạnh của so sánh là nhận thức Huệ Tử trong Cổ học tinh hoa cũng nhấn mạnh tác dụng nhận thức của so sánh: Khi nói với ai phải lấy cái ngời ta đã biết làm ví dụ với cái ngời ta cha biết để khiến ngời ta biết Thao tác
so sánh đợc tiến hành theo quan hệ liên tởng của t duy, vừa mang tính khách quan lại vừa mang tính chủ quan Khách quan là ở chỗ từ sự vật này liên tởng tới
sự vật khác có chung một hay nhiều thuộc tính Điều này tạo ra cho so sánh một giá trị nhận thức Chủ quan là vì hoạt động liên tởng diễn ra trong t duy của mỗi cá nhân, thể hiện khả năng nhận thức, thái độ, tình cảm, thói quen sử dụng ngôn ngữ của cá nhân So sánh tu từ, trớc hết, giúp chúng ta nhận thức sâu sắc hơn về
sự vật, hiện tợng khách quan và thực tế đời sống hoặc những phơng diện nào đó của sự vật
Ví dụ 1:
Đôi ta nh lửa mới nhen
Nh trăng mới mọc, nh đèn mới khêu.
Trang 34(Ca dao)Cái tình đôi lứa đợc ví nh lửa mới nhen, nh trăng mới mọc, nh đèn mới khêu đã giúp ta nhận thức về một tình yêu trong trắng thủa ban đầu, mới chớm
nở trong cõi lòng, đầy hứa hẹn và sức phát triển thật mạnh mẽ
Những so sánh tu từ có giá trị thờng là những so sánh mà các đối tợng đa
ra là khác loại Thậm chí càng xa nhau càng dễ gây bất ngờ, kì thú, đồng thời nêu đúng những nét giống nhau giữa hai đối tợng, gợi lên mối liên tởng mới mẻ
độc đáo và bất ngờ, có những hàm ngôn phong phú và sâu sắc, có giá trị nhận thức cao
Nh vậy, giá trị nhận thức do so sánh tu từ đem lại ở đây không đơn giản
là nhận thức thuần tuý theo t duy lôgic mà là thêm một cách nhìn mới, khám phá một nét mới về đối tợng Để khi tiếp nhận, ngời đọc công nhận ở đó một
cách diễn đạt mới, độc đáo, thể hiện khả năng t duy nghệ thuật của tác giả
Ví dụ:
Cỏ bờ đê rất mợt Xanh nh là chiêm bao
( Xuân Quỳnh)
Đây là một so sánh có tính chất phát hiện độc đáo của nữa thi sĩ Xuân Quỳnh Hình ảnh so sánh ở đây đợc gợi chứ không phải đợc tả.
Trang 35- Cỏ bờ đê vốn là một hình ảnh quen thuộc, dân dã, gắn bó với tuổi
thơ nơi thôn quê và thờng in dấu trong niềm thơng nỗi nhớ của con ngời khi đã lớn, khi đã xa
- Chiêm bao là trạng thái con ngời chìm vào thế giới của những giấc
mơ
- Màu xanh trong chiêm bao không còn là màu xanh của thị giác, đó
là hình ảnh của thế giới ảo mộng, không có thực
Hàm ngôn:
Nỗi nhớ đã đa con ngời sang thế giới khác, thế giới của hoài niệm
Nh vậy, nhận thức về màu xanh đã vợt ra khỏi quỹ đạo của thị giác thông thờng để vơn tới một chân trời mới: màu xanh còn là màu của tâm lý, màu của thế giới hoài niệm Màu xanh ấy hiện lên trong niềm thơng nỗi nhớ Xuân Quỳnh
đẹp một cách lung linh huyền diệu
2 Giá trị biểu cảm
So sánh tu từ mang sắc thái biểu cảm cao Theo ông Cù Đình Tú: { }…
chức năng nhận thức không phải là riêng cho so sánh tu từ mà còn là của so sánh luận lý Sự khác nhau là ở chỗ so sánh tu từ còn là phơng tiện biểu cảm
(TR 278) Bằng việc sử dụng so sánh tu từ, ngời ta thể hiện kín đáo mà sâu sắc tình cảm, cảm xúc và thái độ, sự đánh giá về đối tợng
Ví dụ, nếu nh so sánh Đen nh bồ hóng mang màu sắc trung tính, nhằm
miêu tả một hiện thực thì so sánh Đen nh chó mực lại có hàm ý xấu Tùy tình
huống mà nó có thể là một lời chê, hay thậm chí là một lời nguyền rủa
Cũng chính vì thế mà sự thay đổi chuẩn so sánh, đi ngợc lại những gì đã thành thói quen, thành chuẩn mực cũng chính là biểu hiện bất thờng, qua đó hàm chứa thái độ ngời so sánh Trong con mắt thẩm mĩ truyền thống của ngời phơng
Đông, thiên nhiên là chuẩn mực của cái đẹp, vì thế chiều thuận trong t duy so sánh truyền thống là: con ngời (với tất cả những đặc điểm về hình thức và phẩm
Trang 36chất) nh… … thiên nhiên (với mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông ).… Vì thế, không thể không chú ý khi bắt gặp những so sánh:
- ở đây hoa cũng đẹp nh ngời ( Lý Bạch)
- Lá liễu dài nh một nét mi (Xuân Diệu)
- Tiếng suối trong nh tiếng hát xa ( Hồ Chí Minh)
Hoa, lá liễu, tiếng suối là những hình ảnh tợng trng cho vẻ đẹp của thế
giới tự nhiên Bản thân chúng đã là đẹp, lấy chúng để ví với con ngời (cả về hình dáng lẫn phẩm chất), con ngời bỗng trở thành chuẩn so sánh của cái đẹp Và
nh thế, con ngời còn đẹp hơn cả thiên nhiên Đó cũng là điểm nhấn tu từ, thông tin biểu cảm của những so sánh trên.
Sự đảo ngợc chiều liên tởng truyền thống cũng nh sự thay đổi chuẩn so sánh tạo nên những cấu trúc bất thờng và sự lựa chọn ấy bộc lộ thái độ của ngời
so sánh Lý Bạch muốn ca ngợi vẻ đẹp của Dơng Quý Phi, một vẻ đẹp mà đến
nh hoa, biểu tợng cho cái đẹp cao nhất của tự nhiên – cũng phải soi vào Xuân
Diệu nhìn nét duyên dáng của thiên nhiên mà hình dung ra vẻ đẹp của con ngời Còn Bác cũng nghe tiếng suối mà liên tởng đến tiếng hát ngọt ngào quyến rũ… Tất cả đều coi con ngời là trung tâm, là chuẩn mực của cái đẹp
So sánh tu từ không chỉ thể hiện thái độ, sự đánh giá mà còn bộc lộ thế giới tâm hồn, tình cảm, tâm trạng của ngời sử dụng Qua các so sánh tu từ, tác giả bày tỏ niềm vui, nỗi buồn và những cung bậc tình cảm khác nhau Nhà thơ Xuân Diệu đã biểu lộ một tình yêu mạnh mẽ, đến vồ vập, thái quá qua một so sánh tu từ:
Đã hôn rồi hôn lại Cho đến mãi muôn đời
Đến tan cả đất trời Anh mới thôi dào dạt Cũng có khi ào ạt
Nh nghiến nát bờ em
Trang 37(Biển)Hay có khi lại là sự thất vọng:
(Ca dao)Nỗi nhớ ông bà, nhớ tổ tiên nguồn cội trở nên tha thiết, sâu nặng khi nỗi nhớ ấy đợc so sánh với hình ảnh cụ thể, mộc mạc, bình dị, gần gũi nuộc lạt
Hay cái trạng thái cảm xúc tởng chừng nh khó có thể diễn tả tinh tế hơn
đ-ợc nữa:
Chiều đi trên đồi êm nh tơ
Chiều đi trong ngời êm nh mơ
(Bích Khê)Không thể làm cái việc không tởng là dẫn ra cho hết những hình ảnh mà các tác giả đã sáng tạo trong so sánh tu từ Bởi có bao nhiêu so sánh tu từ là có bấy nhiêu hình ảnh so sánh Chỉ biết rằng chúng thật giàu có về giá trị gợi hình, giá trị biểu cảm
Nh vậy, so sánh tu từ không chỉ đem lại sự nhận thức chính xác, mới mẻ gợi những hình ảnh bất ngờ, độc đáo, cụ thể mà còn thể hiện sâu sắc thái độ, tình cảm, cảm xúc của con ngời
3 Giá trị thẩm mỹ
Trang 38Nói tới so sánh ngời ta thờng nghĩ tới giá trị nhận thức các nhà phong cách học thờng nhắc tới ý kiến của Paul : Sức mạnh của so sánh là nhận thức, còn sức mạnh của ẩn dụ là biểu cảm.
Điều ấy quả có lý nếu đề cập tới so sánh nói chung, những so sánh lấy cái
cụ thể hơn để làm rõ một khía cạnh nào đó của cái cha đợc cụ thể Chẳng hạn:
xanh nh da trời, xanh nh lá khoai, xanh màu nõn chuối, xanh lá mạ, xanh nớc biển
Nhng không phải so sánh nào cũng hớng tới cái cụ thể nh vậy, Nguyễn Tuân tả màu xanh biển Cô Tô: Xanh nh mùa thu ngả cốm làng Vòng; nh vạt áo nớc mắt của ông quan T Mã nghe đàn tì bà trên con sóng Giang Châu, màu xanh dầu xăng của ngời thiếu quê hơng hay Xuân Quỳnh xanh nh là chiêm bao Lu Quang Vũ xanh nh là thơng nhau đây không đơn thuần chỉ là những so
sánh nhằm mục đích nhận thức về bản thân đối tợng, hớng tới nhận thức thế giới bên ngoài - thế giới thực nh nó vốn có, bởi vì, nào ai đã thấy màu xanh của mùa thu ngả cốm làng Vòng, màu của vạt áo quan T Mã, màu của những ngời thiếu quê hơng, cũng nh màu của chiêm bao, của tình thơng yêu? để mà nói cụ thể.…Những so sánh kiểu nh vậy rất gợi cảm và tạo ra sự hứng thú, giúp chúng ta bay vào thế giới của cái đẹp, của tởng tợng hơn là đến ngỡng cửa lôgíc học Nh vậy,
có thể nói hình ảnh so sánh ở đây không cụ thể mà giàu sức gợi cảm hớng tới cái đẹp làm phong phú cảm xúc thẩm mĩ của con ngời.
Nhng nói nh thế không có nghĩa là những hình ảnh so sánh cụ thể không mang lại giá trị thẩm mỹ Có ai phủ nhận vẻ đẹp của bức tranh quê mà những câu
Trang 39Bông là vật cụ thể, bình thờng trong cuộc sống, dờng nh nó chẳng có gì
đặc biệt Con ngời đội bông trên đầu để đi cũng là công việc bình thờng hàng
ngày Nhng ở đây, con mắt tinh tế của tác giả dân gian đã phát hiện ra vẻ đẹp nên thơ trong công việc bình thờng ấy qua so sánh bông với mây – một hình
ảnh của tự nhiên – gợi cái đẹp nhẹ nhàng, tinh khiết Trong cấu trúc so sánh
bông không còn là một vật tầm thờng, công việc đội bông của con ngời cũng
bỗng chốc trở thành thi vị
Nh thế, so sánh tu từ đâu chỉ nhằm hớng tới nhậnthức: bông (trắng, nhẹ, xốp) nh mây dù đó cũng là khía cạnh nhận thức do so sánh mang lại Cao hơn và
sâu hơn, cái đích của so sánh tu từ là muốn gợi ra một cách để nhận thức hiện thực, muốn phát hiện thế giới bên trong, muốn đa con ngời vào thế giới của cái
đẹp Đó cũng là sự khám phá chất thơ, vẻ đẹp của cuộc sống lao động thờng
ngày Khêu gợi hoạt động thẩm mỹ, cảm xúc thẩm mỹ của độc giả, đó cũng
chính là giá trị mĩ học do so sánh tu từ mang lại
2 Thơ và thơ Chế Lan Viên
2.1 Thơ và ngôn ngữ thơ
2.1.1 Khái niệm thơ
Thơ là một hình thức sáng tác văn học đầu tiên của loài ngời Chính vậy
mà có một thời gian rất dài, thuật ngữ “thơ” đợc dùng chỉ chung cho văn học Thơ có lịch sử lâu đời nhng để tìm một định nghĩa thể hiện hết đặc trng bản chất của nó cho việc nghiên cứu thơ ngày nay thì thật không dễ Không phải không có
định nghĩa về thơ, trái lại còn rất nhiều Nhiều ý kiến cho rằng: hình nh có bao nhiêu nhà thơ, bao nhiêu nhà nghiên cứu thì có bấy nhiêu cách định nghĩa về thơ Khó khăn trong việc chọn một định nghĩa về thơ đợc mọi ngời chấp nhận xuất phát từ chỗ, kể từ khi ra đời đến nay, thơ ca đã không ngừng vận động biến đổi cùng tiến trình văn học ở mỗi giai đoạn lịch sử văn hoá, quan niệm về nội dung, hình thức thơ khác nhau Đó là lý do khó tìm đợc một định nghĩa tiêu biểu, ổn
định cho thơ Tình hình đó không riêng cho một nền văn học nào
Trang 40ở Việt Nam, quan niệm về thơ trớc kia gần nh xuất phát từ nội dung, xem nội dung nói về điều gì, đó là điều quan trọng hàng đầu của thơ Phan Phu Tiên, thế kỷ XV, khi biên soạn Việt âm thi tập tân san, là quyển tập hợp tuyển thơ ca
các đời – từ đời Trần đến đời Lê, đã viết: Trong lòng có điều gì, tất hình thành
ở lời; Cho nên thơ để nói chí vậy Thơ nói chí (Thi ngôn chí) [23, 10]
Từ đầu thế kỷ XX, đời sống xã hội ở Việt Nam có những biến đổi sâu sắc, lớp ngời mới với cách sống mới, suy nghĩ mới, tình cảm mới xuất hiện Chính Tản Đà, rồi các nhà thơ mới với những cách tân táo bạo đã làm đổi thay bộ mặt thơ ca nớc nhà, hoàn tất quá trình hiện đại hoá thơ ca cả nội dung lẫn hình thức
Từ đấy đến nay, các ý kiến về thơ cũng mở ra một cái nhìn mới xác hợp với đặc trng của thơ ca hơn Về cơ bản có thể xếp các quan niệm, định nghĩa về thơ thành một xu hớng sau:
- Xu hớng mang tính chất huyền bí: Thuộc xu hớng này phải kể tới Hàn Mặc Tử: Làm thơ tức là điên, và Chế Lan Viên: Làm thơ là làm sự phi thờng Thi sĩ không phải là ngời, nó là Ngời Mơ, Ngời Say, Ngời Điên Nó là Tiên, là
Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu Nó thoát hiện tại Nó xáo trộn dĩ vãng Nó ôm trùm tơng lai Ngời ta không hiểu đợc nó, vì nó nói những cái vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý (Tựa Điêu tàn, XB 1957) còn nhóm Xuân Thu nhã tập thì định nghĩa: Thơ là cái gì huyền ảo, tinh khiết, thâm thuý, cao siêu.
- Xu hớng dựa trên nội dung phản ánh: thơ gắn với cuộc sống con ngời, tiêu biểu nh: Lu Trọng L Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cái lõi của cuộc sống, Tố Hữu: Thơ là cái nhuỵ của cuộc sống, Thơ là chuyện của đồng điệu,
Sóng Hồng thì: Thơ biểu hiện cuộc sống một cách cao đẹp.
- Xu hớng dựa trên cấu trúc ngôn ngữ: Tiêu biểu cho xu hớng này phải kể
đến Phan Ngọc Trong Thơ là gì? ông viết: Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt ngời tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này [29, 18].