1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh quan niệm về hạnh phúc lứa đôi trong truyện kỳ mạn lục (nguyễn dữ) và truyện cổ tích (người việt)

65 1,5K 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh quan niệm về hạnh phúc lứa đôi trong truyện kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ) và truyện cổ tích (Người Việt)
Trường học Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Nghiên cứu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 382,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thể loại truyện truyền kỳ nói chung, tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ nói riêng trong nền văn học trung đại Việt Nam cũng như thể loạitruyện cổ tích trong văn học dân gian nước n

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Thể loại truyện truyền kỳ nói chung, tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của

Nguyễn Dữ nói riêng trong nền văn học trung đại Việt Nam cũng như thể loạitruyện cổ tích trong văn học dân gian nước nhà đều có một số lượng truyện đáng

kể mà nội dung của chúng tập trung phản ánh quan niệm về hạnh phúc lứa đôitrong tình yêu và hôn nhân của những chàng trai, cô gái; của các cặp vợ chồngxuất thân từ các giai cấp, các tầng lớp khác nhau trong xã hội cũ Sự gặp gỡ thú

vị này đã thu hút sự chú ý của một số nhà nghiên cứu văn học khi đến với

Truyền kỳ mạn lục và truyện cổ tích Tuy cùng thể hiện quan niệm về hạnh phúc

lứa đôi qua những cuộc tình duyên li kỳ và thường gặp phải những éo le, trắctrở, nhưng trong tập truyện truyền kỳ của Nguyễn Dữ và trong kho tàng truyện

cổ tích của nhân dân lao động, quan niệm đó vẫn có những nét riêng cần dượclàm sáng tỏ

1.2 Quan niệm về hạnh phúc lứa đôi là một trong những vấn đề lớn xuyên

suốt trong văn học Việt Nam từ xưa tới nay và luôn được đặt ra kể cả trong văn

học dân gian và văn học viết Trong dòng chảy đó, Nguyễn Dữ với Truyền kỳ

mạn lục và nhân dân lao động với truyện cổ tích mà chủ yếu là truyện cổ tích

thần kỳ đã góp những mạch nguồn làm cho quan niệm về hạnh phúc lứa đôicàng thấm sâu và lan tỏa trong lòng người thưởng thức Vì thế, tìm hiểu quan

niệm này trong Truyền kỳ mạn lục và truyện cổ tích qua cái nhìn đối sánh sẽ góp

phần làm rõ thêm những đóng góp của Nguyễn Dữ và của tác giả dân gian vàomột vấn đề trong văn học đã được nhiều thế hệ văn nghệ sỹ quan tâm

1.3 Do có giá trị đặc biệt trên cả hai phương diện nội dung và hình thức

cho nên một vài truyện trong Truyền kỳ mạn lục và một số truyện trong kho tàng

truyện cổ tích người Việt đã và đang được tuyển chọn để giảng dạy trongchương trình môn Ngữ văn ở trường trung học cơ sở và trường trung học phổ

thông (Như truyện Người con gái Nam Xương trong Truyền kỳ mạn lục, truyện

Tấm Cám, Chử Đồng Tử, Thạch Sanh, Sọ Dừa… trong truyện cổ tích) Tất cả

những truyện đó ít hay nhiều, trực tiếp hay gián tiếp đều có đề cập tới quan niệm

về hạnh phúc lứa đôi Do đó, việc so sánh quan niệm này trong Truyền kỳ mạn

Trang 2

lục và trong truyện cổ tích nếu được giải quyết thấu đáo sẽ có tác dụng thiết thực

đối với việc dạy- học các tác phẩm được tuyển chọn ở trên đáp ứng yêu cầu đảmbảo đặc trưng thể loại

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

So sánh quan niệm về hạnh phúc lứa đôi trong Truyền kỳ mạn lục và trong

truyện cổ tích đặt ra cho người thực hiện những nhiệm vụ cụ thể sau đây:

2.1 Quan niệm đó được thể hiện như thế nào trong những truyện thuộc hai

thể loại văn học có quan hệ ảnh hưởng, chi phối lẫn nhau? Những truyện đótrước hết phải được chỉ ra qua thao tác khảo sát, thống kê

2.2 Trên cơ sở đi sâu phân tích một số truyện, nhiệm vụ chủ yếu đòi hỏi

cần làm rõ những điểm tương đồng và những chỗ khác biệt trong quan niệm về

hạnh phúc lứa đôi giữa Truyền kỳ mạn lục và truyện cổ tích Sự tương đồng và

khác biệt này được xem xét trên cả hai phương diện: nội dung và hình thức.Đồng thời phải lý giải nguyên nhân tạo nên sự tương đồng và khác biệt ấy

3 Lịch sử vấn đề

Trong các thể loại của văn học dân gian Việt Nam, thể loại truyện cổ tích

đã được các nhà nghiên cứu văn học ở nước ta tìm hiểu trên nhiều phương diện,

từ nội dung đến đặc điểm thi pháp Xét riêng về vấn đề thể hiện quan niệm hạnhphúc lứa đôi trong thể loại này, tuy chưa có một công trình dành riêng cho nónhưng đây đó cũng đã có những ý kiến nhìn nhận, đánh giá vấn đề dựa trên việc

phân tích một số truyện cụ thể Trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam (tập 2),

Nhà xuất bản Giáo dục, 1990, ở phần truyện cổ tích từ trang 41 đến trang 81, tácgiả Hoàng Tiến Tựu đã có những nhận xét xác đáng về nội dung phản ánh tronghai tiểu loại truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích sinh hoạt có liên quan tớiviệc thể hiện quan niệm về hạnh phúc lứa đôi Dựa vào các truyện tiêu biểu như

Tấm Cám, Chử Đồng Tử, Sự tích động Từ Thức, Vợ chàng Trương, Trương Chi tác giả cuốn giáo trình đó cho rằng: Chủ đề truyện Tấm Cám chủ yếu đề cập tới cuộc tranh giành hạnh phúc lứa đôi giữa hai chị em cùng cha khác mẹ

[28, 54] Còn trong các truyện đã nêu, tác giả dân gian đều bộc lộ quan niệmtình yêu, hôn nhân phải thực sự tự do, bình đẳng, không phân biệt sang hèn

Quan niệm đó góp phần làm cho truyện cổ tích là một giấc mơ đẹp Đặc biệt,

cũng trong cuốn giáo trình đã dẫn, ông Hoàng Tiến Tựu đã nêu bật vai trò của

Trang 3

yếu tố kỳ diệu như ông bụt, ông tiên trong việc giúp con người thể hiện khátvọng, ước mơ, trong đó có giấc mơ về hạnh phúc.

Sau đó, trong cuốn Bình giảng truyện dân gian, Nhà xuất bản Giáo dục,

1992, tác giả Hoàng Tiến Tựu tiếp tục đào sâu khát vọng hạnh phúc trong một

số truyện cổ tích người Việt Có thể xem cuốn sách này tuy chỉ là những cảmnhận từ người thưởng thức nhưng đã góp phần làm rõ hơn những nhận xét, đánhgiá về nội dung phản ánh hiện thực trong xã hội có giai cấp của truyện cổ tích

mà tác giả đã từng đề cập trong cuốn giáo trình công bố năm 1990 của mình

Trong cả hai cuốn sách đó, ông Hoàng Tiến Tựu đều cho rằng: Cuộc đấu tranh

giành hạnh phúc trong truyện cổ tích đều bắt đầu từ khuôn khổ gia đình rồi mới

mở rộng ra phạm vi xã hội [27, 72].

Trong cuốn giáo trình của mình, ông Hoàng Tiến Tựu cũng dành một phần

thích đáng để trình bày vấn đề ảnh hưởng của truyện cổ tích đối với văn học

nghệ thuật (từ trang 78 đến trang 80) Ở đề mục này, tác giả đã chỉ ra mối quan

hệ giữa truyện kể dân gian với các thể loại trong nền văn học trung đại Việt

Nam, trong đó có Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ: Chính truyện kể dân gian

mà chủ yếu là truyện cổ tích đã góp phần quan trọng vào việc hình thành loại truyện thơ và truyện vừa bằng tản văn trong nền văn học viết nước ta thời phong kiến Những truyện cổ tích được viết lại dưới hình thức tản văn trong Lĩnh Nam chích quái, Việt điện u linh, Thánh Tông di thảo ( Lê Thánh Tông), Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ), Truyền kỳ tân phả ( Đoàn Thị Điểm) đã góp phần quan trọng vào việc hình thành loại truyện vừa trong văn học Việt Nam thời trung đại [27, 78-79].

Trong bài viết Bàn về yếu tố văn học dân gian trong Truyền kỳ mạn lục, Bùi Văn Nguyên đã chỉ ra một số đặc điểm của Truyền kỳ mạn lục được xem là

ảnh hưởng của truyện dân gian (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích) Trên cơ sở so

sánh, đối chiếu một số yếu tố trong Truyền kỳ mạn lục với truyện dân gian, Bùi Văn Nguyên rút ra kết luận: Đề tài và nội dung các truyện như vậy chúng ta

thường gặp trong kho tàng truyện cổ dân gian Việt Nam [16, 12].

Cũng tương tự như việc nghiên cứu truyện cổ tích, tình hình nghiên cứu

Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ ở nước ta tuy đã đạt được những thành tựu

đáng kể nhưng hầu như chưa có một công trình nào tiến hành so sánh quan niệm

Trang 4

về hạnh phúc lứa đôi giữa hai thể loại này Riêng về Truyền kỳ mạn lục trong

một số cuốn sách, một số chuyên luận và bài báo, nhất là các bài viết về ngườiphụ nữ trong tác phẩm này, các tác giả cũng đã đề cập vấn đề quan niệm về hạnhphúc lứa đôi

Trong cuốn Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII, Nhà

xuất bản Giáo dục, 2000, các tác giả Đinh Gia Khánh (chủ biên), Bùi Duy Tân,

Mai Cao Chương đã đưa ra nhận xét: Truyền kỳ mạn lục so với các tác phẩm ở

giai đoạn trước thì ca ngợi tình cảm vợ chồng gắn bó thủy chung, ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ và cảm thông với những nỗi bất hạnh của họ lại

là một đóng góp của Nguyễn Dữ [11, 27] Người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục là một trong những loại nhân vật đã góp phần chủ yếu bộc lộ quan niệm về

Trong những năm gần đây, một số khoá luận tốt nghiệp của sinh viên khoaNgữ văn Trường Đại học Vinh tuy mức độ có khác nhau nhưng trong các khoá

luận đều có đề cập tới vấn đề quan niệm về hạnh phúc lứa đôi trong Truyền kỳ

mạn lục Đó là khoá luận của sinh viên Nguyễn Thị Vân Oanh với đề tài: So sánh hình tượng người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ) và trong Tiễn đăng tân thoại ( Cù Hựu), năm 2005; của sinh viên Ngô Thị Thu Khuyên

với đề tài: Chủ đề tình yêu trong Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục, 2003; của Lưu Thị Thanh Trà với đề tài: Nhân vật phụ nữ trong Truyền kỳ mạn

lục của Nguyễn Dữ, năm 2001.

Điểm qua một số công trình nghiên cứu về truyện cổ tích và Truyền kỳ

mạn lục đã nói ở trên, chúng ta nhận thấy: việc so sánh quan niệm về hạnh phúc

lứa đôi trong hai thể loại này chưa có ai đặt ra để xem xét như một vấn đềchuyên biệt

4 Phạm vi nghiên cứu

Trang 5

Nguồn tài liệu chúng tôi sử dụng để tìm hiểu vấn đề bao gồm:

- Nguyễn Đổng Chi (biên soạn) (1993), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam

(5 tập), Nhà xuất bản Văn nghệ

- Chu Xuân Diên (chủ biên), Lê Chí Quế (1996), Tuyển tập truyện cổ tích

Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, H, in lần thứ 2.

- Đinh Gia Khánh, Nguyễn Đình Rư dịch và chú thích, Trần Nghĩa giới

thiệu (2008), Lý Tế Xuyên, Việt điện u linh tập; Trần Nghĩa dịch, chú thích và giới thiệu, Hồ Nguyên Trừng, Nam Ông mộng lục; Ngô Văn Triện dịch, Phạm Văn Thắm giới thiệu, Nguyễn Dữ, Truyền kỳ mạn lục, Nhà xuất bản Văn học, phần văn bản Truyền kỳ mạn lục từ trang 111 đến

trang 276

Trong những nguồn tài liệu đó (không kể tài liệu tham khảo), chúng tôigiới hạn ở những truyện mà nội dung của chúng có đề cập tới tình yêu và hônnhân bởi vì: Quan niệm về hạnh phúc lứa đôi được bộc lộ qua những truyện cónội dung như vậy

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết vấn đề, chúng tôi sử dụng các phương pháp:

- Thống kê, khảo sát Phương pháp này cung cấp một cái nhìn tổng thể,

khách quan đối với các truyện trong Truyền kỳ mạn lục và truyện cổ tích có đề

cập quan niệm về hạnh phúc lứa đôi

- Phương pháp so sánh: là phương pháp chính nhằm làm nổi bật sự tươngđồng và khác biệt giữa hai loại sáng tác khi cùng thể hiện một vấn đề

- Phân tích tổng hợp: có tác dụng làm rõ vấn đề qua một số truyện cụ thể

6 Bố cục của khoá luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung chính của khoá luận có bachương:

- Chương 1: Những vấn đề chung

- Chương 2: Những điểm tương đồng trong quan niệm về hạnh phúc lứa

đôi giữa Truyền kỳ mạn lục và truyện cổ tích.

- Chương 3: Những điểm khác biệt trong quan niệm về hạnh phúc lứa đôi

giữa Truyền kỳ mạn lục và truyện cổ tích.

Cuối khoá luận còn có mục Tài liệu tham khảo và Mục lục

Trang 6

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

1.1 Thể loại truyện truyền kỳ và tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của

Nguyễn Dữ

1.1.1 Thể loại truyện truyền kỳ

Trang 7

Truyện truyền kỳ là một thể loại tự sự cổ điển của Trung Quốc thịnh hành

ở thời Đường, tên gọi này cuối đời Đường mới có Kỳ nghĩa là không có thực, nhấn mạnh tính chất hư cấu Thoạt đầu, tiểu thuyết truyền kỳ (truyện truyền kỳ)

mô phỏng truyện chí quái thời Lục Triều, sau phát triển độc lập [11, 286] Đây

là hình thức văn xuôi tự sự cổ điển Trung Quốc, vốn bắt nguồn từ truyện kể dân

gian, sau đó được các nhà văn nâng lên thành văn chương bác học, sử dụng những mô-típ kỳ quái, hoang đường lồng trong một cốt truyện có ý nghĩa trần thế, phần lớn là chuyện tình để gợi hứng thú cho người đọc [6, 447].

Theo cuốn Ngữ văn 10 (tập 2), các soạn giả định nghĩa: Truyền kỳ là một

thể loại văn xuôi tự sự thời trung đại phản ánh hiện thực qua những yếu tố kỳ

lạ, hoang đường Trong truyện truyền kỳ, thế giới con người và thế giới cõi âm với những thánh thần, ma quỷ có sự tương giao Đó chính là yếu tố tạo nên sự hấp dẫn đặc biệt của thể loại Tuy nhiên, đằng sau những tình tiết phi hiện thực, người đọc có thể tìm thấy những vấn đề cốt lõi của hiện thực cũng như những quan niệm và thái độ của tác giả [14, 55].

Từ các định nghĩa trên, ta nhận thức được rằng các tác giả đã nhấn mạnhkhái niệm thể loại truyện truyền kỳ ở hai đặc điểm: hình thức văn xuôi tự sự vàviệc tham gia của yếu tố kỳ ảo, mô-típ kỳ quái, hoang đường, không có thực Sự

có mặt một cách tương đối xuyên suốt của yếu tố kỳ và vai trò của nó đối vớivấn đề xây dựng cốt truyện và xây dựng nhân vật chính là bản chất thẩm mĩ củathể loại truyện truyền kỳ

Về phong cách, truyện truyền kỳ dùng văn xuôi để kể, đến chỗ tả cảnh tảngười thì dùng văn biền ngẫu, khi nhân vật biểu lộ cảm xúc thì thường làm thơ.Lời kể uyển chuyển, lời văn hoa mĩ, Truyện chí quái chủ yếu là ghi chép (chí)xếp theo điều mục, còn truyện truyền kỳ thì học theo bút pháp sử truyện Do đó,nhan đề thường có chữ “truyện”

Trong khía cạnh bố cục, truyện truyền kỳ thường là mở đầu giới thiệu nhânvật, tên họ, quê quán, tính tình, phẩm hạnh Kế đó là các chuyện kỳ ngộ, lạ lùng,tức là phần trung tâm của truyện Người kể thường nhân danh tác giả mà kể.Phần kết kể lí do kể chuyện

Tại Trung Hoa, Cù Hựu, tự là Tông Cát (1341- 1427) được xem là người

có công hoàn thiện thể truyền kỳ như là một thể loại đặc sắc ở nước này và toàn

Trang 8

khu vực chịu ảnh hưởng của văn hóa Hán Có thể nói, Cù Hựu tạo nên sự “giaothoa truyền kỳ” ở các nước lân cận Trung Hoa Nhìn chung, quá trình tiếp nhận

và sáng tạo diễn ra như sau: các nhà văn bước đầu làm quen (dịch ra tiếng nướcmình), sau đó làm theo (phóng tác) rồi cuối cùng là ứng dụng vào sáng tác củamình

Tại Hàn Quốc, dưới ảnh hưởng của Tiễn đăng tân thoại, Kim Thời Tập (1435- 1493) viết nên tác phẩm Kim ngao tân thoại, được đánh giá là tiểu thuyết

đầu tiên, giữ vai trò tiên phong trong hành trình phát triển của tiểu thuyết HànQuốc

Trên chặng đường lưu truyền đó, Tiễn đăng tân thoại đã đến Nhật Bản.

Nền văn chương đất nước mặt trời mọc xuất hiện cuốn truyền kỳ nổi tiếng thời

Edo của Asai Rychi (Tiễn Tỉnh Liễu Ý, 1612- 1691) là tập Otogi Bohko (Gia Tỳ

Tử).

Tiễn đăng tân thoại được phóng tác qua nhiều nước chịu ảnh hưởng của

văn hóa Hán Trong đó, sự phóng tác của Nguyễn Dữ với Truyền kỳ mạn lục ở

Việt Nam là thành công nhất, thể hiện màu sắc dân tộc đậm đà cùng tinh thầnthời đại rõ rệt

Lịch sử văn học dân tộc Việt Nam đã chứng minh rằng: thế kỷ XV- XVI làgiai đoạn đột khởi của thể loại văn xuôi tự sự, được mệnh danh là thế kỷ củatruyện truyền kỳ Nguyễn Dữ là người đầu tiên dùng thuật ngữ “truyền kỳ” để

đặt tên cho tác phẩm của mình Truyền kỳ mạn lục của ẩn sĩ Nguyễn Dữ trở

thành cột mốc mở đường cho hàng loạt các tác phẩm mang hơi hướng truyền kỳ

ra đời sau đó Chẳng hạn như Truyền kỳ tân phả (Đoàn Thị Điểm); Công dư tiệp

ký (Vũ Phương Đề); Tân truyền kỳ (Phạm Quý Thích); Lan Trì kiến văn lục (Vũ

Trinh)

Như vậy, với đặc điểm dùng hình thức kỳ ảo làm phương thức truyền tải

nội dung, truyện truyền kỳ có sức cuốn hút mãnh liệt mọi lứa tuổi, mọi thế hệ Người đọc sẽ cùng các nhân vật phiêu diêu trong thế giới huyền ảo ở cả bốn cõi không gian vừa phi quảng tính, vừa vô định hướng Hành trình trong thế giới với độ đàn hồi ảo hóa có thể co tám thập kỉ vào trong một năm hoặc đang từ hiện tại nhảy về quá khứ của kiếp trước và bước sang tương lai của kiếp sau Trong thế giới truyền kỳ, bạn đọc được tiếp xúc với các nhân vật chỉ xuất hiện

Trang 9

trong tưởng tượng như Nam Tào, Bắc Đẩu, thánh thần, tiên phật, vua vương, quỷ dữ, bộ tướng Dạ Xoa, tinh các loài vật hiện hữu thành người biến huyễn khôn lường và được tiếp xúc cả những kiếp người trầm luân khổ ải đang sống quanh ta Đó là thế giới vừa hư vừa thực, có thấp hèn- có cao thượng, có ma-

có thánh, có quỷ- có tiên, đồng thời có cả những cái sinh hoạt hàng ngày: ái ân, tình dục, ghen tuông, đố kị, lọc lừa [15, 24].

1.1.2 Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ

1.1.2.1 Tác giả Nguyễn Dữ

Nguyễn Dữ (?- ?), là người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, tỉnh HảiDương (Nay là thôn Đỗ Lâm, xã Phạm Kha, huyện Thanh Miện, tỉnh HảiDương)

Ông xuất thân trong gia đình khoa bảng Cha là Nguyễn Tường Phiêu, Tiến

sĩ khoa Bính Thìn niên hiệu Hồng Đức thứ 27 (1496) đời Lê Thánh Tông Theo

Ôn Đình hầu Vũ Khâm Lân (người biên soạn Bạch Vân am cư sĩ phả ký) và Ân

Quang hầu (người biên soạn tập thơ văn chữ Hán của Nguyễn Bỉnh Khiêm) thìNguyễn Dữ không ra làm quan mà ẩn cư ở núi rừng Thanh Hóa và làm ra sách

Truyền kỳ mạn lục Sách ấy được Nguyễn Bỉnh Khiêm phủ chính và Nguyễn

Thế Nghi sống cùng thời dịch ra chữ Nôm Nhưng theo bài tựa đề ở đầu cuốn

truyện in mộc bản năm Cảnh Hưng thứ 24- năm 1763 (bài Tựa chưa rõ ai viết); theo Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục; Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt thi

tuyển và một số bài Tựa các cuốn Truyền kỳ mạn lục in về sau thì: Nguyễn Dữ

có đi thi Hương, đậu Hương tiến (tức cử nhân); làm quan được một năm, ôngcáo quan về ở ẩn

Trong Hoàng Việt thi tuyển, Bùi Huy Bích xếp Nguyễn Dữ vào hàng ngũ

các tác giả thời Mạc, sau Nguyễn Bỉnh Khiêm, trước Giáp Hải và Lê Quang

Bí… Còn trong Kiến văn tiểu lục, Lê Quý Đôn viết: Sau vì ngụy Mạc cướp ngôi

vua, ông thề không ra làm quan, ở thôn quê dạy học trò, không bao giờ để chân đến thành thị Ngoài ra, theo Công dư tiệp kí (Vũ Phương Đề), Nguyễn Dữ là

học trò Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491- 1585), bạn học với Phùng Khắc Khoan(1528- 1613)

Tóm lại, căn cứ vào những tài liệu hiện còn, có thể biết được Nguyễn Dữsống vào khoảng thế kỉ XVI Nguyễn Dữ thuộc dòng dõi khoa hoạn, từng dùi

Trang 10

mài kinh sử, ôm ấp lí tưởng hành đạo, đã đi thi và có thể xuất sĩ Về sau, có lẽ vì

đại thế bất an, vì bất mãn với kẻ đương quyền hơn là nuôi mẹ già cho tròn đạo hiếu, Nguyễn Dữ lui về ở ẩn Cho nên, Truyền kỳ mạn lục chính là để gửi gắm

niềm suy tư của một nhà Nho trước những biến động của thời cuộc cũng như sựxuống cấp về mặt đạo đức của xã hội đương thời

1.1.2.2 Tác phẩm Truyền kỳ mạn lục

Tập Truyền kỳ mạn lục (ghi chép tản mạn những chuyện lạ) có 4 quyển,

không có phụ lục, gồm 20 đoản văn tiểu thuyết văn ngôn Hán văn Các truyệnviết bằng tản văn, xen lẫn văn biền ngẫu và những bài thơ Tiêu đề mỗi truyện

đều mang từ ký, truyện hoặc lục Mỗi từ ký, truyện hoặc lục đều mang nét nghĩa

ghi chép Ở một góc độ tâm lí, nét nghĩa này phản ánh sự khiêm tốn của tác giảcoi công việc của mình chỉ là sự ghi chép những câu chuyện có nguồn gốc trong

dân gian Nhưng căn cứ vào tính chất của các truyện trong Truyền kỳ mạn lục thì thấy rằng không phải Nguyễn Dữ chỉ sao chép và truyền lại những chuyện cũ

mà tác phẩm có tính chất một sáng tác văn học Nếu ta đem so sánh với truyện

sử là truyện kể lại lịch sử của nhân vật và thường kể đến hết đời, kể đến cả hậuthân con cháu người ấy là gì, quan chức đến đâu, nhưng không có cốt truyện thìtruyện truyền kỳ lại có cốt truyện riêng, không yêu cầu nhất thiết phải kể hếtmột đời nhân vật Nhiều truyện đóng khung trong một giấc mơ, một cuộc kỳngộ, một cuộc trò chuyện Trong tác phẩm, mô-típ đối thoại biện bác được sửdụng nhiều Bên cạnh truyện có hậu, nhiều truyện kết thúc không có hậu, không

như người ta vẫn tưởng như Từ Thức lấy vợ tiên, Chuyện kỳ ngộ ở trại Tây,

Chuyện người con gái Nam Xương Cái gọi là có hậu ở vài truyện trong số này

cũng chỉ là dư ba Chuyện cây gạo, Chuyện nghiệp oan của Đào thị cũng kết thúc bi kịch, bi kịch của số phận Ở Truyền kỳ mạn lục, người kể thường là các

Nho sĩ ẩn giật Đó là những người phát ngôn cho quan điểm tư tưởng củaNguyễn Dữ Sự hiện diện của tác giả trong truyện là biện pháp để tăng sứcthuyết phục và tính chân thực của truyện truyền kỳ Một độc đáo nữa là nội dungtruyện hoàn toàn là người và việc ở Việt Nam Tính chất hư cấu biểu tượng rất

rõ, được Lê Quý Đôn gọi là ngụ ngôn (Kiến văn tiểu lục) Đây là truyện có cốt

truyện hoàn chỉnh như những tác phẩm nghệ thuật, có thắt nút, phát triển, mởnút

Trang 11

Nguyễn Dữ đã phóng tác, vay mượn từ ba nguồn ảnh hưởng chính để sáng

tác Truyền kỳ mạn lục Khái niệm “nguồn” ở đây được chúng tôi sử dụng để chỉ

những sáng tác mà Nguyễn Dữ đã phóng tác, vay mượn hay ảnh hưởng để tạo

nên Truyền kỳ mạn lục Ba “nguồn” ảnh hưởng chính: tiểu thuyết truyền kỳ đời Đường, Tiễn đăng tân thoại (Cù Hựu) và truyện dân gian Việt Nam.

Ở nguồn tiểu thuyết truyền kỳ đời Đường, đây là những truyện một là có ý

chuộng lạ, như Hồ Ứng Lân đời Minh đã nói: kể những việc khác thường, kế thừa truyền thống chí quái từ đời Ngụy Tấn Hai là, như tác giả đời Tống là Triệu Ngạn Vệ nói: đặc điểm của truyền kỳ là chứa đựng nhiều thể [22, 349],

qua tác phẩm có thể nhận thấy tài viết sử, tài làm thơ, tài nghị luận của tác giả

Điều này đã được tác giả Trần Đình Sử khẳng định: Thái sử công viết Quân tử

viết thì cũng trong thể loại sử mà ra song không phải là ưu điểm, nhưng tài kể chuyện sử kết hợp ngòi bút thi nhân thì đúng là đặc sắc của truyện truyền kỳ

[22, 349] Chẳng hạn, khi sáng tác Chuyện Lệ Nương (Lệ Nương truyện),

Nguyễn Dữ đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa tài văn và tài thơ, qua đó vẽnên bức chân dung dân tộc lúc bầy giờ rất “đau thương” và hỗn loạn

Bố cục truyện truyền kỳ đời Đường thường là: mở đầu giới thiệu nhân vật,tên họ, quê quán, tính tình, phẩm hạnh, kế đó là kể các chuyện kỳ ngộ lạ lùng,

chẳng hạn trong Tạ Tiểu Nga truyện (thấy trong Quảng kí 491) nói Tiểu Nga họ

Tạ, người Dự Chương, 8 tuổi thì mồ côi mẹ, sau gả cho Đoàn Cư Trinh, hiệp sĩ

ở Lịch Dương Cả vợ chồng, cả bố đều quen nghề buôn bán, đi lại trong vùngsông hồ, bị giặc cướp giết chết, Tiểu Nga cũng gãy chân rơi xuống nước, thuyềnchúng vớt lên, lang bạt đến huyện Thượng Nguyên, vào nương nhờ các vãi chùaDiệu Quả Tiểu nga nhiều lần mộng thấy bố mách rằng kẻ thù là tên phu chạy

giữa lúc ban ngày… Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ cũng đã ảnh hưởng

truyện truyền kỳ đời Đường ở phương diện bố cục này Tuy nhiên, điểm khác

biệt giữa truyện truyền kỳ và Truyền kỳ mạn lục ở chỗ: phần kết truyện truyền

kỳ thường nêu lí do kể chuyện, còn ở Truyền kỳ mạn lục thì kết thúc bằng lời bình về nội dung và ý nghĩa truyện Ví dụ, Truyện Lý Oa ghi: Công Tá chắp bàn

tay vào lắng nghe, sai ta làm truyện, bèn cầm bút viết, ghi lại để biết [22, 42].

Có thể dẫn tiêu biểu một truyện trong Truyền kỳ mạn lục là Chuyện nghiệp

oan Đào thị (Đào thị nghiệp oan ký) như sau: Than ôi, theo về dị đoan chỉ có

Trang 12

hại Huống chi đã theo lại còn không giữ cho đúng phép, thì mối hại phỏng còn xiết nói được ư? Gã Vô Kỷ kia, là một kẻ gian dâm, buông thói tà dục, chẳng những dối người, lại còn dối vị Phật mà hắn thờ nữa Giá đem xử vào cái tội như vua Ngụy giết bọn Sa môn ngày xưa thì hẳn cũng không oan chút nào Thế còn Nhược Chân thì hẳn không có lỗi chăng? Đáp rằng làm quan mà như thế, còn gọi gì là chính gia nữa! Mầm vạ mọc lên, suýt nữa hãm vào chốn nguy khốn, chính mình làm mình chịu, không đáng lấy làm lạ chút nào [12, 175].

Chính những lời bình này tạo nên nét riêng độc đáo cho Truyền kỳ mạn lục so

với những sáng tác mà nó ảnh hưởng

Tiễn đăng tân thoại (câu chuyện mới dưới ánh đèn cắt bấc nhiều lần) gồm

4 quyển, 20 truyện Đây là tập truyện mà hầu hết các truyện trong đó là cáctruyện quái dị của quỷ thần, phản ánh ở mức độ nhất định chế độ hôn nhân bấthợp lí thời phong kiến và hiện thực xã hội đen tối cuối đời Nguyên

Ở đây Nguyễn Dữ đã vay mượn trong sáng tác của Cù Hựu nhiều tình tiết,

điển tích, đặc biệt là việc nhà văn dùng một số truyện trong Tiễn đăng tân thoại như một điển cố Chẳng hạn, Chuyện đối tụng ở Long cung (Long đình đối tụng

lục): Trong cuộc nói chuyện giữa Thái thú họ Trịnh và Bạch Long Hầu, Nguyễn

Dữ đã để cho nhân vật Trịnh Thái thú nhắc đến tên Dư Thiện Văn: Ngày xưa

Liễu Nghị có cuộc xuống chơi dưới Động Đình Thiện Văn có cuộc ăn yến ở Long Cung, chẳng hay kẻ phàm tục này có được theo dấu của người xưa không?[12, 160] [ Dư Thiện Văn là tên một nhân vật chính trong Tiệc mừng dưới thủy cung (Thủy cung khánh hội lục- Tiễn đăng tân thoại- Cù Hựu) Câu

chuyện về Dư Thiện Văn được kể rằng: Khoảng niên hiệu Chí Chính nhàNguyên, có người học trò là Dư Thiện Văn, giữa ban ngày thấy hai người lực sĩđến nói là vâng mệnh của Quảng Lợi Vương (vua thủy) sai đón, Thiện Văn theo

đi Đến bến sông, Thiện Văn xuống một chiếc thuyền, thấy hai con rồng vàngcắp đem đi, rồi xuống đến thủy phủ, được Quảng Lợi Vương tiếp đón longtrọng Thiện Văn làm hộ một bài văn để Quảng Lợi Vương đọc lúc làm lễ cấtcâu đầu của tòa đền Linh Đức Khi tòa đền khánh thành, Thiện Văn được dựmột bữa yến lớn] Đặc biệt, Nguyễn Dữ chủ yếu vay mượn mô-típ rồi biến đổi

đi, cấp cho nội dung và ý nghĩa mới, Việt Nam hóa câu chuyện Tiêu biểu như:

Mẫu đơn ký người và ma yêu nhau, làm việc đồi bại, sau phải mời Thanh quan

Trang 13

đạo dẫn binh thướng đi bắt hai người về trị tội đã ảnh hưởng tới cốt truyện

Chuyện cây gạo (Mộc miên thụ truyện) Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa (Kim Hoa thi thoại ký) mô phỏng chuyện Giám Hồ dạ phiếm ký của Cù Hựu, nhưng

lại lồng người và việc Việt Nam vào truyện Cốt truyện Từ Thức lấy vợ tiên một phần hấp thụ Đào Hoa Nguyên ký của Đào Tiềm, một phần hấp thụ từ Lưu Thần

Nguyễn Triêu nhập Thiên Thai trong U minh lục của Lưu Nghĩa Khánh Tuy

vậy, Nguyễn Dữ chỉ tiếp thu từ gợi ý về khung cốt truyện hoặc một vài mô-típ,còn thì do ông vận dụng vốn sống của mình sáng tạo ra cốt truyện mới

Trong công trình Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết truyền kỳ Hàn

Quốc-Trung Quốc- Việt Nam thông qua Kim ngao tân thoại, Tiễn đăng tân thoại, Truyền kỳ mạn lục, tác giả Toàn Huệ Khanh đã có một số kết luận về vấn đề

phẩm chất dân tộc trong Truyền kỳ mạn lục rất bổ ích Tác giả thông qua sự đối sánh với các nước Hàn Quốc và Trung Quốc đã thấy nét riêng của Truyền kỳ

mạn lục về mặt văn hóa đã phản ánh được cốt truyện cổ dân gian và đặc điểm văn hóa, bối cảnh lịch sử và địa lý cụ thể hơn so với Kim ngao tân thoại [9,

284] Mặt khác, tác giả cũng nêu lên điểm khác biệt của Truyền kỳ mạn lục so với hai tác phẩm kia là tác phẩm Truyền kỳ mạn lục ngoài chủ đề diễm tình kỳ

quái còn thể hiện ý đồ sáng tác của tác giả như nêu cao lòng yêu nước diệt trừ

ma quái, giáo huấn con người, nêu cao trinh tiết của người phụ nữ, phê phán hiện thực [9, 284] Đồng thời, Toàn Huệ Khanh cũng thấy được nét riêng về mặt

tác giả Nguyễn Dữ của Truyền kỳ mạn lục so với tác giả Cù Hựu, Kim Thời Tập, rằng ông đã trích dẫn được nhiều điển tích điển cố mang tính lịch sử nên đã tỏ

ra là người có tri thức uyên bác về lịch sử Trung Quốc và Việt Nam, đồng thời Nguyễn Dữ đã xây dựng cốt truyện trên cơ sở truyện cổ dân gian Việt Nam nên tính sáng tạo cao [9,284] Mặc dù là tác giả nước ngoài nhưng khi nghiên cứu

về văn chương Việt Nam nhất là trong sự đối sánh với văn học nước mình vàTrung Quốc, nhà nghiên cứu đã đưa ra được những ý kiến chính xác về nội dung

và nghệ thuật tác phẩm, nhất là làm nổi bật nét riêng mang bản sắc Việt Nam sovới hai tác phẩm cùng thể loại

Ngoài hai “nguồn” trên, Nguyễn Dữ còn tiếp thu, ảnh hưởng và học tậptruyện dân gian Việt Nam (thần thoại, truyền thuyết, cổ tích) mà đặc biệt là ảnhhưởng truyện cổ tích người Việt Trong bài nghiên cứu của Bùi Văn Nguyên-

Trang 14

Bàn về yếu tố văn học dân gian trong Truyền kỳ mạn lục, tác giả khẳng định sự

tiếp thu nền văn học dân gian trong sáng tác của Nguyễn Dữ Ông cho rằng:Nguyễn Dữ đã tiếp thu và sáng tạo có chọn lọc những yếu tố hoang đường thần

kỳ trong truyện dân gian vào tác phẩm của mình Thần, tiên, quỷ, ma quái…xuất hiện trong tác phẩm của Nguyễn Dữ vừa tỏ ra rất gần gũi với hình ảnh dângian tưởng tượng, nhưng lại rất khác biệt bởi bàn tay nhào nặn của người nghệ sĩnày Tuy nhiên, sáng tạo của Nguyễn Dữ đã thực sự vươn tới đỉnh cao về phảnánh hiện thực, phản ánh con người trần thế, với tất cả khổ đau, vui sướng, lo sợ

và hy vọng

1.2 Truyện cổ tích: Khái niệm, vấn đề phân loại và đặc trưng thi pháp thể loại

1.2.1 Về khái niệm truyện cổ tích

Cho đến nay, việc xác định khái niệm truyện cổ tích có rất nhiều ý kiếnkhác nhau:

Những nhà nghiên cứu sưu tầm văn học dân gian từ thế kỉ XIX ở Đức,thuộc trường phái Thần thoại học, như Schelling, anh em nhà Schlegel, anh em

nhà Grimm xem truyện cổ tích là những mảnh vỡ thần thoại cổ Những người

theo trường phái Nhân loại học (còn gọi là tiến hóa luận) ở Anh nửa sau thế kỉXIX như E Taylor, A.Lang, J Frazer xây dựng lí thuyết về cơ sở thế sự và tâm

lí của cái mà họ gọi là các cốt truyện tự sinh của truyện cổ tích, nhấn mạnh rằng

truyện cổ tích trùng hợp đồng thời với sự tồn tại của hoang dã Theo trường pháiThần tượng học mà đại biểu là Mar.Műller, Gaston Paris, Angeli de Gubarnetic,truyện cổ tích có sự lan truyền của thần bí cổ đại, thần thoại về mặt trời, thầnthoại về bình minh Trường phái Nghi thức chủ nghĩa gồm nhiều nhà bác họcAnh lại cho rằng truyện cổ tích là những nghi thức cổ truyền còn tồn tại đếnngày nay [5, 91-141]

Hiện nay, cùng với quá trình nhận thức và chia tách các loại truyện dângian khác ra khỏi cổ tích thành các thể loại truyện như: truyền thuyết, truyệncười, truyện ngụ ngôn,…thì phạm vi của truyện cổ tích được thu hẹp lại Kháiniệm truyện cổ tích được hoàn thành một cách hoàn chỉnh và chính xác hơn

Trang 15

Cuốn Từ điển thuật ngữ văn học của nhóm biên soạn Lê Bá Hán, Trần

Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đã định nghĩa một cách khái quát đầy đủ những nét

đặc trưng của truyện cổ tích: Truyện cổ tích là một thể loại truyện dân gian nảy

sinh từ xã hội nguyên thủy nhưng chủ yếu phát triển trong xã hội có giai cấp với chức năng chủ yếu là phản ánh và lí giải những vấn đề xã hội, những số phận khác nhau của con người trong cuộc sống muôn màu muôn vẻ khi đã có chế độ

tư hữu tài sản, có gia đình riêng (chủ yếu là gia đình phụ quyền) có mâu thuẫn giai cấp và đấu tranh xã hội quyết liệt [6, 368].

1.2.2 Vấn đề phân loại truyện cổ tích

Vấn đề phân loại truyện cổ tích cũng là một trong những vấn đề tồn tạiđáng kể của khoa học về truyện cổ tích trên thế giới Ở nước ta, cũng có nhiều ýkiến khác nhau về việc phân loại này

Nguyễn Đổng Chi trong Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (tập 1) chia

truyện cổ tích thành ba tiểu loại với tiêu chí xét trên phương diện đề tài và nộidung phản ánh như sau:

- Truyện cổ tích hoang đường (truyện cổ tích kỳ quái), ví dụ: Quỷ Dạ Xoa,

Ma- cà-rồng…

- Truyện cổ tích sinh hoạt (truyện cổ tích thế sự), ví dụ: Tấm Cám, Thạch

Sanh, Sọ Dừa…

- Truyện cổ tích lịch sử, ví dụ: Sự tích Hồ Gươm…

Cũng dựa trên tiêu chí đề tài với nội dung phản ánh, Đinh Gia Khánh trong

cuốn Văn học dân gian Việt Nam chia truyện cổ tích (người Việt) ra thành hai

tiểu loại:

- Truyện cổ tích sinh hoạt (thế sự): Tấm Cám, Cây tre trăm đốt…

- Truyện cổ tích lịch sử: Quận He, Nang Quát phu nhân…[8, 245].

Cách phân loại này đã bỏ qua cái gọi là truyện cổ tích hoang đường, gạt

truyện cổ tích hoang đường ra khỏi thể loại truyện cổ tích (Ví dụ: Quỷ Dạ Xoa,

Từ Đạo Hạnh…) Nhưng thực ra đây cũng là một bộ phận của truyện cổ tích.

Cách phân loại này đã kết hợp, vận dụng nhiều tiêu chí và căn cứ khác nhau.Trong đó, nổi lên hai tiêu chí quan trọng là đề tài và phương pháp sáng tác Cách

Trang 16

chia này về cơ bản phù hợp với tiến trình lịch sử của truyện cổ tích các dân tộc

và khá khái quát, khoa học

Hiện nay các nhà cổ tích học ở Việt Nam và trên thế giới thống nhất chiatruyện cổ tích thành ba tiểu loại: truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích sinh hoạt

và truyện cổ tích loài vật

Chúng tôi chọn tiểu loại truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích sinh hoạt

để tìm hiểu vì đây là hai bộ phận của truyện cổ tích ảnh hưởng tương đối rõ nétđối với nền văn học viết nói chung và văn xuôi trung đại nói riêng Nó là một

trong các “nguồn” ảnh hưởng tới Truyền kỳ mạn lục.

1.2.2.1 Truyện cổ tích thần kỳ

Theo tác giả Hoàng Tiến Tựu thì: Truyện cổ tích thần kỳ là bộ phận cơ

bản, cổ điển và tiêu biểu nhất của thể loại truyện cổ tích, đồng thời là một trong những bộ phận quan trọng và tiêu biểu nhất của nền văn học dân gian mỗi dân tộc [28, 47] Nó là sản phẩm của một giai đoạn phát triển cao nhất của thể loại truyện cổ tích, khi mà thể loại này đã xây dựng và hoàn thiện được hệ thống phương pháp và phương tiện nghệ thuật riêng của nó [28, 48].

Tương đồng với ý kiến của Hoàng Tiến Tựu, trong cuốn Từ điển thuật ngữ

văn học, các soạn giả cũng khẳng định truyện cổ tích thần kỳ là một bộ phận quan trọng và tiêu biểu nhất của thể loại truyện cổ tích [6, 368] Mặt khác, các

tác giả này còn chỉ ra một số đặc điểm của thể loại: Ở loại truyện này, nhân vật

chính vẫn là con người thực tại, những lực lượng thần kỳ siêu nhiên có một vai trò rất quan trọng Hầu như mọi xung đột trong thực tại đều không thể giải quyết nổi nếu thiếu yếu tố thần kỳ [6, 368].

Như vậy, xét về đối tượng miêu tả, phản ánh thì truyện cổ tích thần kỳhướng về những nhân vật con người và những xung đột xã hội của con người,coi con người là trung tâm, là đối tượng chủ yếu Tuy nhiên, đã gọi là truyện cổtích thần kỳ thì đòi hỏi phải có sự xuất hiện của rất nhiều yếu tố kỳ diệu (lựclượng thần kỳ)

Trang 17

Giáo sư Hoàng Tiến Tựu nhận xét: Trong truyện cổ tích thần kỳ, sự xuấthiện số lượng nhiều hay ít yếu tố kỳ diệu không phải là vấn đề mấu chốt Điềuquan trọng hơn là yếu tố ấy đóng vai trò như thế nào trong tác phẩm.

Đối với cốt truyện: Sự xuất hiện của các yếu tố kỳ diệu làm thay đổi cốt truyện

Nó giải quyết bế tắc của cốt truyện, đặc biệt là đưa câu chuyện đến kết thúc cóhậu

Yếu tố kỳ diệu trong quan hệ đối với con người đóng vai trò quan trọng, cóthể giúp đỡ hoặc làm hại con người Nhưng dù quan trọng như thế nào, nhữngyếu tố kỳ diệu chỉ đóng vai trò phụ, không thể thay thế con người

Yếu tố kỳ diệu trong tiểu loại này xuất hiện phong phú, nhiều hình nhiều

vẻ Nhưng căn cứ vào tính chất của nó thì có thể phân ra thành các dạng thức:yếu tố kỳ diệu ở dạng hữu hình (như ông Bụt, ông Tiên, gậy đầu sinh đầu tử,con đại bàng, con trăn tinh…); yếu tố kỳ diệu ở dạng vô hình (như câu thầnchú…) Lực lượng thần kỳ có thể phân ra thành các tuyến: một là, lực lượngthần kỳ đứng về phía người thiện, giúp người thiện chiến thắng kẻ ác; hai là, lựclượng thần kỳ đứng về phía tuyến ác; ba là, lực lượng này đứng ở vị trí trunggian

Tất cả các mâu thuẫn xung đột giữa con người với con người đều phảiđược giải quyết, đều phải được đặt trên địa hạt của cái thần kỳ

1.2.2.2 Truyện cổ tích sinh hoạt

Khác với truyện cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích sinh hoạt (cổ tích thế sự) là

những truyện cổ tích không có hoặc ít yếu tố thần kỳ Ở đây các mâu thuẫn , xung đột xã hội giữa người với người đều được giải quyết một cách hiện thực, không cần đến những yếu tố siêu nhiên Những yếu tố thần kỳ nếu có cũng không giữ vai trò quan trọng và nhiều khi chỉ là đường viền cho câu chuyện thêm vẻ li kì, hấp dẫn mà thôi (ví dụ: truyện Vợ chàng Trương; Sự tích chim hít- cô; Sự tích con muỗi…) [6, 369].

Về căn bản, khác với sự “không bế tắc” ảo tưởng (do lí tưởng hóa) của những nhân vật chính diện trong cổ tích thần kỳ, truyện cổ tích thần kỳ thường

lí tưởng hóa các nhân vật chính diện bằng cách “làm lại” cuộc đời của họ một cách tuyệt đối Truyện cổ tích sinh hoạt cũng lí tưởng hóa nhân vật của mình

Trang 18

nhưng theo một kiểu khác: để cho họ tự lo lấy số phận, khẳng định phẩm chất của họ thông qua sự ứng xử cụ thể của bản thân họ [28, 63].

Về phương diện cốt truyện, do yếu tố thần kỳ xuất hiện ít (hoặc không xuấthiện) trong cổ tích sinh hoạt nên sự xuất hiện của yếu tố này không có vai tròlàm phát triển hoặc thay đổi cốt truyện như cổ tích thần kỳ Yếu tố thần kỳ ở cổtích sinh hoạt thường nằm ở phần kết thúc truyện, và sự kỳ diệu ở đây thường là

sự hóa thân của các nhân vật Xu hướng kết thúc truyện cổ tích sinh hoạt thường

là xu hướng bi kịch, sự biến hóa đó mang tính tất yếu Những xung đột, mâuthuẫn trong truyện hoàn toàn xuất phát từ con người, do con người giải quyết

Nói tóm lại, tiêu chí quan trọng chủ yếu để phân biệt truyện cổ tích thần kỳ

với truyện cổ tích sinh hoạt là phương pháp sáng tác, tức là phương pháp chiếm lĩnh hiện thực Cả hai đều dùng hư cấu, tưởng tượng để khái quát hóa và cụ thể hóa hiện thực xã hội, lí tưởng nhân dân nhưng cơ sở và tính chất của sự hư cấu

ấy khác nhau rất xa Ở cổ tích sinh hoạt, đó là sự hư cấu tưởng tượng trên cơ sở thực tại của đời sống xã hội; còn ở truyện cổ tích thần kỳ, sự hư cấu, tưởng tượng lại dựa trên hai cơ sở thực tại (tức là cái có thực hoặc có thể có thực với cái ảo tưởng không có thực và không thể có thực [28, 55].

1.2.3 Đặc trưng thi pháp của truyện cổ tích

Thi pháp là hệ thống, hình thức nghệ thuật của tác phẩm văn học được tạothành bởi các phương pháp, các thủ pháp và phương thức chiếm lĩnh nghệ thuậtcủa con người đối với hiện thực

Đặc trưng nổi bật nhất về nghệ thuật của truyện cổ tích là hư cấu, tạo nên

cái không thật Đại văn hào Nga A.Puskin đã từng có ý kiến rất đúng: Truyện cổ

tích là những câu chuyện bịa nhưng những chuyện bịa đó lại là bài học quý cho các cô cậu hảo tâm.

Truyện cổ tích là loại nghệ thuật đích thực (loại nghệ thuật có chủ tâm).Nếu như thần thoại là loại nghệ thuật chưa có chủ tâm, tác giả dân gian chưa có

ý thức làm nghệ thuật và thần thoại chỉ có hai chức năng là nhận thức và thẩmmĩ…thì đến truyện cổ tích, tác giả dân gian là nhân dân lao động mới thực sự có

ý thức làm nghệ thuật Truyện cổ tích có đầy đủ ba chức năng: nhận thức, giáodục, thẩm mĩ Truyền thuyết cũng có hư cấu nhưng tính chất chân thực lịch sửđậm đà hơn so với truyện cổ tích

Trang 19

Nói đến “thế giới cổ tích” là nói tới thế giới của những khả nhiên (possible) chứ không phải là thế giới của cái mặc nhiên, cái phổ biến Nói “thế giới cổ tích” là nói tới một thế giới khác thường trong sự phân biệt với thế giới đời thường Những gì có, xảy ra trong cổ tích đều thuộc “thế giới cổ tích”, nghĩa là không thể có hoặc không thể xảy ra trong thế giới đời thường Cho nên khi nghe, tiếp nhận truyện cổ tích, con người sẽ được đặt vào cái gọi là “trường

cổ tích” [4, 65] “Trường cổ tích” là một khái niệm trìu tượng, một thế giới phi vật chất, một sản phẩm tinh thần có “lực hấp dẫn” tinh thần Thế giới ấy không đồng nhất với thế giới con người nhưng vừa có hệ quy chiếu với thế giới con người lại vừa có điểm đồng quy với thế giới con người, nhờ vậy, con người có thể sống trong đó, trong những thời khắc nhất định để nghiệm trải lại thế giới của chính mình [4, 64].

Nói tóm lại, truyện cổ tích là một loại hư cấu nghệ thuật có chủ tâm [4,

75], hư cấu để phản ánh hiện thực Cổ tích lấy hư cấu, đặc biệt là tính chất kỳdiệu làm cứu cánh để phát triển cốt truyện và “trường cổ tích” chính là môitrường để sự hư cấu được mở rộng đến mức tối đa như là cái khả nhiên dù

không phải là hẳn nhiên Người nghe truyện cổ tích khi bị tác động của “trường

cổ tích” đã không quan tâm đến điều được kể ra có thực hay không mà họ chỉ quan tâm tới diễn biến câu chuyện để hồi hộp, lo âu, vui buồn, hờn giận…đối với nhân vật trung tâm Người nghe truyện cổ tích đã trải qua những rung cảm nghệ thuật trong suốt tiến trình câu chuyện và khi trở lại đời thường trong tâm hồn họ dấy lên một khát vọng đấu tranh, đấu tranh cho chính nghĩa, cho lẽ công bằng [4, 77].

Ngoài ra, truyện cổ tích còn có một số đặc điểm thi pháp chung như:

Về đối tượng phản ánh, truyện bao giờ cũng lấy nhân vật người và nhữngxung đột xã hội loài người làm đối tượng chủ yếu trung tâm (trừ truyện cổ tíchloài vật) Các mâu thuẫn, xung đột trong cổ tích thường theo thiện- ác Thiện và

ác là hai khái niệm thuộc phạm trù đạo đức Truyện cổ tích có tác dụng giáo dụcđạo đức cho con người

Về nhân vật, có hai loại nhân vật là con người và các nhân vật thần kỳ.Nếu như con người trong truyền thuyết đều là con người mang tầm vóc lịch sử,

Trang 20

là người anh hùng thì con người ở cổ tích lại là con người bình thường, đượcxem xét đánh giá trong mối quan hệ có tính chất riêng tư như: vợ chồng, anh

em, bè bạn…và được xem xét, đánh giá trên bình diện giai cấp Các nhân vật

con người trong truyện cổ tích đều là nhân vật chức năng: Nhân vật có đặc

điểm, phẩm chất cố định, không thay đổi từ đầu đến cuối, không có đời sống nội tâm, sự tồn tại và hoạt động của nó chỉ nhằm thực hiện một số chức năng trong truyện và trong việc phản ánh đời sống Nhân vật đồng nhất với vai trò mà nó đóng trong tác phẩm [6, 228] Ia Prop trong công trình Hình thái truyện cổ tích

chỉ ra các nhân vật trong thể loại này trở đi trở lại có 31 hành động, ông gọi là

31 chức năng Bên cạnh đó, nhân vật con người xây dựng mang đặc điểm phiếmchỉ (chỉ chung): giới thiệu lai lịch nhân vật chung chung, không cụ thể; hầu hếtcác nhân vật không có họ tên; ngoại hình nhân vật cũng rất đại khái, sơ lược.Các nhân vật trở thành nhân vật phân tuyến (tuyến thiện, tuyến ác) và sự phântuyến hết sức rạch ròi, không bao giờ có sự lẫn tuyến, đổi tuyến

Về phương diện nghệ thuật và phương pháp giải quyết các mâu thuẫn,xung đột giữa người với người thì lực lượng thần kỳ lại giữ một vai trò đặc biệtquan trọng

Thời gian nghệ thuật trong truyện cổ tích đều là quá khứ tuyệt đối, không

có tính xác định Điều này đối với người viết truyện có thể hư cấu đến cùng, còncới người nghe truyện thì phải nâng cao trí tưởng tượng mới lĩnh hội được nộidung ý nghĩa cốt truyện Thời gian đặc biệt của truyện cổ tích còn có tác dụngđưa cả người kể và người nghe vào “trường cổ tích” Về kết cấu nội tại bêntrong, nguyên tắc tổ chức sắp xếp các chi tiết, sự kiện bao giờ cũng theo tuyếntính

Về không gian nghệ thuật: trong truyện cổ tích, đó làn không gian xã hội,thường thu nhỏ trong phạm vi gia đình Không gian nghệ thuật trong truyện cổtích có những không gian thực và những không gian ảo không có thật Căn cứvào tiêu chí vai trò, tác dụng, không gian nghệ thuật truyện cổ tích có hai loại là:không gian cản trở và không gian không bị cản trở Nó có tác dụng làm rõ vaitrò, năng lực của con người Đối với không gian không bị cản trở thì cho thấy

Trang 21

năng lực của con người là vô tận Đối với không gian cản trở thì lại nói lên sựthật là năng lực của con người nhiều khi có những hạn chế, năng lực con người

là hữu hạn

Các quan niệm: chính- tà, thiện- ác, người- thần là những bộ phận quantrọng của thế giới quan cổ tích

1.3 Khảo sát, thống kê những truyện thể hiện quan niệm về hạnh

phúc lứa đôi trong Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ) và trong truyện cổ tích

(người Việt)

1.3.1 Khảo sát, thống kê những truyện thể hiện quan niệm về hạnh

phúc lứa đôi trong Truyền kỳ mạn lục

Qua khảo sát, thống kê chúng tôi thấy Truyền kỳ mạn lục có 10 truyện

trong tổng số 20 truyện đề cập rõ nét quan niệm của tác giả về hạnh phúc lứađôi Cụ thể là:

Tên truyện Truyện đề cập đến

tình yêu

Truyện đề cập đếnhôn nhân

1 Chuyện người nghĩa phụ ở

Khoái Châu (Khoái Châu nghĩa

5 Chuyện nghiệp oan Đào thị

(Đào thị nghiệp oan ký)

x

6 Từ Thức lấy vợ tiên (Từ Thức

tiên hôn lục)

7 Chuyện yêu quái ở Xương

Giang ( Xương Giang yêu quái

lục)

Trang 22

8 Chuyện nàng Túy Tiêu (Túy

Tiêu truyện)

9 Chuyện người con gái Nam

Xương (Nam Xương nữ tử truyện)

Căn cứ vào kho tàng truyện cổ tích (người Việt) và phạm vi giới hạn của

đề tài, chúng tôi chỉ chọn ra một số truyện cổ tích tiêu biểu được xem là có ảnh

hưởng rõ nhất đến Truyền kỳ mạn lục để khảo sát, so sánh, tìm ra sự tương đồng,

khác biệt trong việc thể hiện quan niệm về hạnh phúc lứa đôi Cụ thể là:

Tên truyện Tiểu loại Truyện đề cập

đến tình yêu

Truyện đề cậpđến hôn nhân

ai/ Khối tình mang xuống

tuyền đài chưa tan

(truyện Trương Chi)

Cổ tích sinh hoạt x

9 Sự tích trầu, cau và

vôi

10 Sự tích trái sầu riêng Cổ tích sinh hoạt x x

11 Sự tích đá Vọng Phu Cổ tích sinh hoạt x

13 Gái ngoan dạy chồng Cổ tích sinh hoạt x

Trang 23

Chương 2 NHỮNG ĐIỂM TƯƠNG ĐỒNG TRONG QUAN NIỆM VỀ

HẠNH PHÚC LỨA ĐÔI GIỮA TRUYỀN KỲ MẠN LỤC VÀ

TRUYỆN CỔ TÍCH2.1 Tương đồng về phương diện nội dung

2.1.1 Quan niệm tình yêu, hôn nhân phải thực sự tự do, bình đẳng, không phân biệt sang hèn thì mới có hạnh phúc

Chuyện nàng Túy Tiêu (Túy Tiêu truyện) là tiêu biểu Truyện kể rằng: Dư

Nhuận Chi (tên là Tạo Tân) người đất Kiến Hưng, là người nổi tiếng hay thơ,nhất là những bài hát nức danh ở Kinh kỳ Nhuận Chi được Nguyễn Trung Ngạntặng cho con hát là Túy Tiêu Túy Tiêu có khiếu thông tuệ, sau một năm ở vớiNhuận Chi đã được làm thơ từ ngang với thơ của chàng Một hôm, Túy Tiêu đidâng hương lễ Phật, bị quan Trụ quốc họ Thân bắt đi Nhuận Chi buồn rầu, làmđơn kiện nhưng ai cũng tránh kẻ quyền hào không dám xét xử Túy Tiêu bị bắt

về, buồn rầu sinh ốm, toan thắt cổ tự tử Trụ quốc bất đắc dĩ phải mời NhuậnChi đến, dỗ dành trả Túy Tiêu nhưng không bao giờ cho hai người gặp nhau.Nhuận Chi nhận ra là mình đã quá tin lời nói dối của Trụ quốc Khi chàng và

Túy Tiêu liên lạc được với nhau, hai người quyết định ẩn hình náu vết, về trốn

lánh ở chỗ nhà quê Năm Đại Trị thứ 7, Trụ quốc vì cớ xa xỉ mà phải tội, Nhuận

Chi mới dám về Kinh sư thi đỗ tiến sĩ Vợ chồng ăn ở với nhau đến già

Chúng ta có thể thấy trong truyện, Dư Nhuận Chi và nàng Túy Tiêu yêunhau thật lòng, không nỡ rời xa nhau Túy Tiêu tuy chỉ là một con hát, Nhuận

Chi là người nổi tiếng có tài nhưng chàng vẫn kết duyên cùng Túy Tiêu Nhuận

Chi nhân đem những quyển sách nói về thơ từ mà dạy nàng Chưa đầy một năm,

Trang 24

nàng đã làm được thơ từ ngang với thơ của chàng [12, 222] Khi Túy Tiêu bị

bắt vào nhà quan Trụ quốc- một nơi giàu sang nhưng không vì thế mà nàng quên

đi chồng mình Quan Trụ quốc bảo: Chừng nàng còn nhớ anh chàng bán thơ

phải không? Nàng nói: Quả có như vậy, tình sâu gắn bó, hờn nặng chia lìa, lời thề chung sống chưa phai, điều hẹn cũng đã phụ Nay thì Sở mưa Yên tạnh, liễu héo đào tươi, bằn bặt xa nhau, hờn ôm thiên cổ Cho nên người xưa đã coi rẻ giàu sang mà nhớ anh hàng bánh, xem khinh sung sướng mà gieo xuống tầng lầu, thật là phải lắm [12, 225] Tuy hai người không đấu tranh mà chỉ dám trốn

lánh ở chốn nhà quê, đến khi Trụ quốc phải tội thì mới về Kinh sư đi thi nhưng

vợ chồng Nhuận Chi- Túy Tiêu vẫn luôn thương yêu nhau, ăn ở với nhau đếngià

Truyện cổ tích Thạch Sanh cũng là chuyện tiêu biểu cho quan niệm hôn

nhân tự do, bình đẳng, không phân biệt sang hèn Truyện kể rằng: Thạch Sanh làcon trai của Ngọc Hoàng trên trời, được đầu thai xuống trần gian Thạch Sanh

mồ côi cha mẹ, kết nghĩa anh em với Lí Thông Trong vùng có một con Chằntinh, năm ấy đến lượt Lí Thông phải nộp mạng cho nó Mẹ con Lí Thông lừaThạch Sanh đi thay thế nhưng chàng đã quay trở về sau khi dã chém chết Chằntinh Chàng tiếp tục bị lừa, bị đuổi ra gốc đa cũ còn Lí Thông vì cướp côngchàng nên được vua ban thưởng làm Đô đốc Công chúa (con vua) đến tuổi lấychồng, bị Đại bàng bắt đi Thạch Sanh nhìn thấy Đại bàng cắp công chúa bayqua thì bắn Đại bàng bị thương rồi vào hang cứu công chúa Lí Thông cướpcông Thạch Sanh một lần nữa Hắn lấp hang để chàng không thể quay về Dướihang, Thạch Sanh cứu con vua thủy tề Chàng được mời xuống thủy phủ vàđược vua thủy tề tặng cho một cây đàn Khi trở về, bị hồn Chằn tinh và Đại bàng

vu khống, báo thù nên Thạch Sanh bị bắt giam vào ngục tối Trong ngục, chàngđánh đàn.Công chúa từ khi được cứu khỏi hang của Đại bàng thì không nóiđược, khi nghe tiếng đàn của Thạch Sanh, nàng khỏi bệnh và nhận ra ân nhâncủa mình Mẹ con Lí Thông bị trừng phạt thích đáng Nhà vua vui lòng gả côngchúa cho Thạch Sanh Các nước chư hầu tụ họp binh lính sang hỏi tội nhà vuatại sao lại gả con gái cho một đứa khố rách Thạch Sanh đã đánh lui quân chưhầu 18 nước, cưới công chúa và lên làm vua đời đời hạnh phúc

Trang 25

Truyện Chử Đồng Tử cũng tiêu biểu cho quan niệm tình yêu, hôn nhân tự

do, không phân biệt sang hèn Truyện kể rằng: Vua Hùng thứ mười ba có côngchúa Tiên Dung rất xinh đẹp Nàng có sở thích đi chơi ở mọi nơi trong đất nước

Năm mười tám tuổi, nàng nói với cha: Cha àh, con sẽ không lấy chồng đâu Ở

Chử xá có hai cha con người đánh cá nghèo, gia tài chỉ có một bộ đồ nghề vàmột chiếc khố vải Khi người cha chết, Chử lấy khố cuốn cho cha Vì vậy, chàngphải làm việc ban đêm, cô đơn lẩn lút Một ngày nọ, từ đằng xa, chiếc thuyềnsơn chở công chúa mỗi lúc một lớn, có quân gia cờ quạt, đàn sáo vang động cảmột khúc sông Mọi người đổ ra xem rất đông, còn chàng thì rúc vào một bụi lau

ở bãi sậy sau rồi bới cát thành cái huyệt để tự giấu mình Công chúa thấy cảnhđẹp nên muốn tắm, khong ngờ nàng tắm đúng chỗ Chử Đồng Tử đang vùi mình.Cho là ý trời, Tiên Dung nhận Chử Đồng Tử là chồng Hôn lễ cử hành ngay trênsông Biết tin, nhà vua giận dữ, cấm cửa công chúa Từ đó, hai vợ chồng ChửĐồng Tử- Tiên Dung sống một cuộc đời mới, công cuộc buôn bán mỗi ngày mộtkhá Họ dong buồm về phương Nam Chử Đồng Tử tình cờ gặp và trở thành đồ

đệ của một đạo sĩ Chàng được sư phụ dạy cho nhiều phép màu nhiệm Lúc ra

đi, chàng được sư phụ trao cho một chiếc gậy và một cái nón Khi trở về nhà,chàng truyền đạo cho vợ Hai vợ chồng đem tất cả tài sản phân phát cho ngườinghèo và ra đi Đến một nơi, Chử Đồng Tử cắm gậy xuống đất rồi úp nón chesương Sau một đêm, nơi đó trở thành tòa lầu với chăn gối êm dịu như nhung,bao nhiêu lâu đài, nhà cửa, khí giới, tài sản, lính tráng… Việc đến tai vua Hùng,lòng giận bốc lên bừng bừng, vua coi là giặc, định tiến đánh Nhưng ngày hômsau, thần dân cũng như quân sĩ của nhà vua đều thấy sự lạ: tất cả đều biến mất;chỉ có cái đầm rộng mênh mông, đầy nước trắng xóa và nền cung của hai vợchồng công chúa Người ta goi là Đầm Nhất Dạ (Đầm Một đêm) và cái nền ấy làBãi Tự Nhiên Người ta lập miếu thờ hai vợ chồng Chử Đồng Tử, Tiên Dung

Ta thấy trong truyện Chử Đồng Tử, tác giả dân gian đã đề cập đến tình yêu,

hôn nhân tự do giữa một người con gái khuê các và một chàng trai nghèo Cuộchôn nhân này là một cuộc hôn nhân hạnh phúc Cảnh vợ chồng công chúa ngồitựa vào nhau mà ngủ dưới chiếc nón che sương úp trên đầu cây gậy thần trongđêm hoang vắng ở một nơi xa lạ thể hiện chiều sâu triết lý trong quan niệm dângian về hạnh phúc lứa đôi: hôn nhân không phân biệt sang hèn, con người tự tạo

Trang 26

dựng cuộc đời bằng bàn tay khối óc, coi sự giàu có yêu thương cao hơn sự dồidào vật chất.

Qua các truyện, có thể thấy quan niệm lứa đôi phải thực sự tự do, bìnhđẳng đã được tác giả Nguyễn Dữ cũng như tác giả dân gian đề cập đến Chỉ cótình yêu, hôn nhân tự do, không có sự phân biệt thì lứa đôi mới hạnh phúc, ở bênnhau trọn đời

2.1.2 Quan niệm con người trong tình yêu lứa đôi phải thực sự yêu thương nhau, chung thủy với nhau

Sự tích trái sầu riêng là truyện cổ tích tiêu biểu cho tình yêu thật lòng và

chung thủy Truyện kể rằng: Có một chàng trai trẻ tuổi người vùng Đồng Nai, làngười kiêm tài văn võ ở thời Tây Sơn Khi vua Gia Long thắng thế, truy sátnhững người làm quan cho nhà Tây Sơn thì chàng phải náu hình ẩn tích Chàngđến nước Chân-lạp, gặp mẹ con người chủ quán Chàng cứu chữa cho cô con gái

bà chủ quán đang mắc bệnh hiểm nghèo Hai người quyến luyến nhau Mẹ nàngcho biết là Phật đã báo mộng cho hai người lấy nhau Họ đi đến hôn nhân và cómột cuộc sống mới Trong nhà có trồng cây Tu-rên Khi quả chín, người vợ lấy

cho chồng ăn và bảo: Anh cứ ăn sẽ biết nó đậm đà như lòng em đây Không lâu sau, người vợ bị ngộ cảm, mất Nhưng hai người vẫn gặp nhau trong mộng.

Chồng hứa trọn đời sẽ không lấy một ai nữa, còn hồn vợ thì hứa không lúc nào

xa chồng Khi vua Gia Long thôi không truy nã, chàng trai trở về quê hương.

Năm ấy, quả Tu-rên duy nhất của cây rơi vào vạt áo chàng trai lúc chàng rathăm cây kỉ niệm của vợ Chàng mang theo quả Tu- rên về xứ sở Đến khi chàng

về già, cây ra quả Nhân ngày giỗ vợ, chàng trai mà bấy giờ đã là ông lão mời

mọi người đến dự Khi ông kể chuyện, ở khóe mắt người chung tình ấy long

lanh hai giọt lệ nhỏ đúng vào múi Tu- rên như vôi gặp nước và cuối cùng thấm vào múi như giọt nước thấm vào lòng gạch Sau đó 3 ngày, ông mất Dân làng

ăn thứ quả, nhớ đến chuyện người đàn ông chung tình Họ gọi đó là quả sầu riêng để nhớ đến mối tình chung thủy của hai người [1, 159- 163].

Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ) thể hiện rõ quan niệm con người phải

thực sự thương yêu nhau, chung thủy với nhau Tiêu biểu là: Chuyện đối tụng ở

Long Cung (Long đình đối tụng lục) Truyện được kể như sau: Trịnh Thái thú có

vợ là Dương thị bị thần Thuồng Luồng (thủy quái ở ngôi đền bên sông) bắt về

Trang 27

làm vợ Đang lúc không biết làm thế nào cứu được vợ thì Trịnh được Bạch LongHầu (vị thần làm mưa trên thiên đình) đưa xuống Long cung thưa kiện Được sựgiúp đỡ của cô gái áo xanh, Trịnh tiến hành kiện thần Thuồng Luồng Tên thủyquái này lúc đầu một mực chối tội nhưng sau hắn phải trực tiếp đối chứng vớiDương thị và bị vạch mặt Khi trắng đen phân minh, thần Thuồng Luồng bịLong Vương bát giam vào ngục tối Vợ chồng họ Trịnh được đoàn tụ trở về nhà.

Ta thấy trong truyện, Dương thị bị thần Thuồng Luồng bắt đi, được phong là

Xương Ấp phu nhân, được ở trong một cái điện ngọc bằng lưu ly, chung quanh

có ao sen bao bọc, gối chăn yêu dấu , hơn hết các phòng, và năm ngoái đã sinh được một con trai [12, 161] nhưng tấm lòng của nàng dành cho người chồng là

Trịnh Thái thú ở cõi trần vẫn không hề thay đổi: Nghĩ như thiếp chút phận mỏng

manh, tấm thân mềm yếu Duyên đôi lứa tự trời se lại, ước trăm năm cùng huyệt dám sai Nào ngờ biến dậy một đêm, đến nỗi hình rơi đáy vực Bởi không thể chìm châu đắm ngọc, nên đành cam dãi nguyệt dầu hoa Áo xiêm đã lắm tanh nhơ, thân thể tạm còn thoi thóp Sầu đầy tựa bể, ngày dài như năm Nào hay giữa lúc bơ vơ, bỗng nhận được thư thăm hỏi Ngắm cành hoa mà ước lệ, nhìn khách đến những đau lòng Mỗi bước lỗi lầm, riêng cỏ nội hoa hèn thắc mắc;

ba sinh thề ước, có trời cao đất cả chứng tri Ngọc bích chưa lành, cân vàng xin chuộc[12, 163] Còn Trịnh Thái thú thì quên ăn bỏ ngủ, buồn nản bỏ quan về,

quyết tâm sum họp với vợ, không bỏ vợ khi Dương thị áo xiêm đã lắm tanh nhơ.

Sự chung thủy ở đây không xét theo vấn đề tiết hạnh của con người mà điềuquan trọng là ở tấm lòng của con người dành cho nhau

Tuy nhiên, có nhiều truyện, con người thực sự yêu thương nhau, chungthủy với nhau nhưng không phải lúc nào cũng đạt được hạnh phúc Do chế độnam quyền, vương quyền, thần quyền mà tình yêu, hôn nhân có khi rơi vào bikịch, điển hình là bi kịch của người phụ nữ Các tác giả dân gian cũng nhưNguyễn Dữ đặt nhân vật trong những khó khăn, thử thách để bộc lộ những phẩmchất tốt đẹp Đó là sự thủy chung với chồng, hy sinh vì chồng và yêu thương conhết mực

Truyện Vợ chàng Trương kể về một đôi vợ chồng trẻ mới lấy nhau, đến

khi người vợ có thai, người chồng phải đi lính đánh giặc ở phương xa Đứa contrai ra đời không biết mặt cha Khi chàng Trương mãn hạn lính trở về thì đứa

Trang 28

con trai đã lên ba Trong một buổi nựng con, chàng đưa tay ra bế nhưng đứa con

chạy đi Chàng vội nói: Bố đây, bố đây mà! Con ơi, lại đây với bố Đứa bé nghe nói vậy vừa chạy đi, vừa bập bẹ nói: Không! Không phải bố, bố đến tối mới đến

kia Vốn tính đa nghi, khi nghe con trẻ nói vậy, chàng Trương bỗng chột dạ biến

sắc, nghi ngờ vợ, chờ đến khi đứa trẻ ngồi một mình, chàng lân la gạ hỏi đứa bé

nói thêm: Tối nào bố cũng đến, mẹ đi đâu bố cũng đi đấy, mẹ đứng bố cũng

đứng, mẹ ngồi bố cũng ngồi [1, 263] Trương sinh tra hỏi vợ, vợ phân trần thế

nào chàng cũng không tin, dân làng can ngăn thế nào cũng không được Chàngđánh đập, chửi mắng vợ tàn nhẫn rồi bỏ đi

Như vậy, Vũ Nương trong truyện là một người rất mực thủy chung vóichồng Chồng đi xa, mỗi khi con khóc nàng đã lấy cái bóng của mình để dỗ con

và cái bóng của nàng được xem là tình nhân lúc chồng xa nhà để dỗ con mỗikho con đòi bố.Và cùng với sự chăm lo, săn sóc cho mẹ già, chứng tỏ Vũ Nương

là một người vợ thủy chung, người con dâu hiếu thảo với mẹ chồng Thế nhưng,

sự đời nhiều nỗi đa đoan, nàng bị chồng nghi oan Nàng đã tự vẫn để khẳng địnhtấm lòng thủy chung Khi hiểu rõ lời con, chàng Trương vô cùng hối hận thì VũNương đã lấy cái chết để chứng minh chữ “Tiết”

Chuyện Người con gái Nam Xương trong Truyền kỳ mạn lục cũng tương tự

như vậy Câu chuyện ca ngợi vẻ đẹp của sự thủy chung, lòng vị tha của ngườiđàn bà Tác giả Nguyễn Dữ đã đưa vào truyện tính cách chưa hoàn hảo của nhânvật Trương sinh-chồng của Vũ Nương để nói lên tấn bi kịch và phẩm hạnh củanhân vật Vũ Nương Nàng hoàn hảo từ dung nhan đến phẩm chất Nguyễn Dữ

ca ngợi: Vũ Thị Thiết, người con gái quê ở Nam Xương, người thùy mị nết na lại

thêm tư chất tốt đẹp [12, 237].Chỉ một vài chấm phá ấy, người đọc có thể hình

dung nhân vật Vũ Thị Thiết đẹp người đẹp nết, khó có thể miêu tả bằng bút mực

hoàn hảo Mặc dù Trương sinh có tính hay ghen, đối với vợ phòng ngừa thái

quá nhưng nàng cũng giữ khuôn phép, không từng để lúc nào vợ chồng phải đến thất hòa [12, 237] Đến lúc Trương sinh đi lính, Vũ Thị Thiết một mình

nuôi dưỡng mẹ chồng, dạy dỗ con thơ làm nghĩa vụ con dâu, người mẹ trẻ cũnghết sức hoàn hảo Khi mẹ chồng ốm, nàng hết sức chăm sóc thuốc thang, đến khi

mẹ chồng mất, nàng hết lời thương xót, phàm việc ma chay tế lễ, lo liệu như đốivới cha mẹ sinh ra Thế nhưng sự đời lắm mức đa đoan nghiệt ngã Thói ghen

Trang 29

tuông và đa nghi làm cho Trương sinh thành người mù quáng, nhẫn tâm Khi đi

lính trở về, Trương sinh nghe con nói đinh ninh là vợ hư, mối nghi ngờ ngày

càng sâu Khi nàng hỏi thì lại giấu, không kể lời con, chỉ lấy bóng gió này nọ

mà mắng nhiếc nàng và đánh đuổi nàng đi [12, 239].

Như vậy, Trương sinh đã lầm giữa cái giả và cái thật Chàng đã nghe mộtlời nói thật nhưng chứa đựng những thông tin giả lẫn lộn Vũ Thị Thiết đã đemmột cái giả để thay cho cái thật, dùng cái bóng để khỏa lấp nỗi thương nhớchồng Sự nhầm lẫn ấy không thể nào cứu vãn nổi Trương sinh đã mất niềm tinvới người vợ yêu Còn Vũ Thị Thiết không biết làm gì để khẳng định phẩm chất

đoan chính của mình, nàng định phải mượn cái chết Nàng đã nói rằng: Kẻ bạc

mệnh này danh phận hẩm hiu, chồng con rầy bỏ, điều đâu bay buộc, tiếng chịu nhuốc nhơ, thần sông có linh, xin ngài chứng giám Thiếp nếu đoan trang giữ tiết trinh bạch dìm lòng vào nước xin làm ngọc Mỵ Nương, xuống đất xin làm cỏ Ngu Mỹ Nhược bằng lòng chim dạ cá, lừa chồng dối con, dưới xin làm mồi cho

cá tôm, trên xin làm cơm quạ, chẳng những chịu khắp mọi người phỉ nhổ [12,

239] Lời thề thốt ấy của Vũ Thị Thiết đã thể hiện nỗi oan khuất của nàng Qualời thề ấy, ta thấy Vũ Thị Thiết hiện lên là một người trung hậu, không biêt phảithanh minh thế nào cho chồng bởi nàng không hiểu hết cái sự “mờ nhân ảnh”kia đã gieo vào lòng Trương sinh nỗi đa nghi Tìm đến cái chết là cách duy nhất

để Vũ Nương chứng tỏ được tấm lòng trinh bạch của mình Cuộc sống kia đốivới nàng không có niềm tin thì làm sao có thể là chỗ dựa tuyệt đối cho nàng?

Thiếp sở dĩ nương tựa vào chàng vì có thú vui nghi gia thất, có sự yên ổn được tựa bóng cây cao…[12, 239] Cuộc đời không dành cho nàng chỗ đứng để

khẳng định nhân phẩm, nàng quyết định cho mình cái chết, chỉ có cái chết mới

giúp cho nàng thoát khỏi sự rầy bỏ của chồng con điều đâu bay buộc Nàng như

người ngụp lặn giữa dòng sông khao khát vươn tới bến bờ hạnh phúc, khẳngđịnh giá trị cao đẹp của mình: Một người vợ chung trinh với chồng, trọn bề đạohiếu Phẩm chất đáng quý ấy của nàng khiến người đọc chân trọng bao nhiêu thìtrách chàng Trương khéo vô tình bấy nhiêu Ta thường nghe câu thơ của vua LêThánh Tông ca ngợi sự thủy chung, đức hy sinh, lòng vị tha của Vũ Nương:

…Qua đây mới biết nguồn cơn ấy, Khá trách chàng Trương khéo phũ phàng…

Trang 30

Truyện Sự tích đá Vọng Phu (cổ tích sinh hoạt) và Chuyện người nghĩa

phụ ở Khoái Châu (Khoái Châu nghĩa phụ truyện- Truyền kỳ mạn lục) cũng nói

về bi kịch tình yêu, hôn nhân Người vợ trong Sự tích đá Vọng Phu thủy chung

chờ chồng, héo hon, bế con ngóng chồng và hóa thành đá thì nàng Nhị Khanh

trong Chuyện người nghĩa phụ ở Khoái Châu cũng đã tìm đến cái chết để khẳng

định lòng chung thủy với chồng Nhị Khanh là người phụ nữ bình dân được gảcho Phùng Trong Quỳ- một người ham chơi lêu lổng Buổi ấy, khi vùng Nghệ

An có giặc triều đình cho gọi Phùng Lập Ngôn- cha của Trọng Quỳ vào trấn giữgiặc và cai trị dân chúng Vì đường sá xa xôi nên Nhị Khanh không thể theochồng Nhưng khi Trọng Quỳ quyến luyến không dứt, nàng đã nói với chồng

rằng: Thiếp đâu dám đem mối khuê tình để lỗi bề hiếu đạo Mặc dầu cho phấn

nhạt hương phai, hồng rơi tía rụng, xin chàng đừng thắc mắc bận lòng đến chốn hương khuê [12, 123] Ngay trong lời nói ở lúc đưa tiễn cũng chứng tỏ nàng là

một người rất coi trọng chữ hiếu và giàu lòng vị tha Nàng đã biết khuyên chồngđừng bận tình riêng mà hỏng việc lớn Nhị Khanh ở nhà lo vẹn toàn đạo hiếu.Nàng bị bà cô ép lấy quan tướng quân họ Bạch May nhờ lão Bộc vào xứ Nghệtìm Trọng Quỳ về thì nàng mới tránh khỏi thất tiết Không ngờ Trọng Quỳ nết

hư khó đổi, Nhị Khanh đã bao lần răn bảo mà vẫn không nghe, cuối cùng đemnàng gán nợ thua bạc cho tên lái buôn Đỗ Tam Nhị Khanh lấy làm đau lòng.Tình cảm vợ chồng mà nàng cố vun đắp, cố làm cho tốt đẹp hơn, sung túc hơnthì ngược lại nó đã không mang lại cho nàng điều mong ước mà gieo vào lòngnàng sự đau đớn Nàng chẳng ngờ chồng mình khi túng quẫn lại đem nàng ralàm món hàng mua bán Nhị Khanh tâm sự với con: Một cái chết đối với mẹ cókhó khăn gì nhưng mẹ chỉ thương các con thôi Tình thương con dào dạt khôngngăn được nàng đến với cái chết Thế mới biết nàng coi trọng phẩm giá củamình biết bao! dù trước khi gả bán Nhị Khanh cho Đỗ Tam, Trọng Quỳ đã an ủi

nàng rằng: Thôi thì: bi, hoan, tán, tụ cũng là việc của người ta Nàng nên về với

người mới, khéo chiều chuộng hắn rồi bất nhật tôi sẽ mang tiền đến chuộc [12,

127] Nàng tìm đến cái chết tức là nàng muốn khẳng định chữ tiết với chồng,mặc dù người chồng tệ bạc với nàng Vì vậy, trong lời bình ở cuối truyện,

Trang 31

Nguyễn Dữ đã có nhận xét: Có người vợ như thế mà để cho phải hàm oan một

cách ai oan, Trọng Quỳ thật là tuồng chó lợn [12, 131] Tác giả chê Trọng Quỳ

để khen Nhị Khanh- người phụ nữ đảm đang trung thực đã mượn cái chết để giảithoát nỗi khổ của mình Nàng rơi vào bi kịch cũng là do chồng nàng Ta thấyngười phụ nữ trong truyện này qua nhiều cảnh ngộ Sự thủy chung, lòng vị thacủa nàng ngày càng rõ nét

Như vậy, cho dù các nhân vật hạnh phúc hay bất hạnh, các truyện dân gian

và Truyền kỳ mạn lục vẫn khẳng định tình yêu đôi lứa phải thực sự yêu thương

nhau, chung thủy với nhau

2.1.3 Quan niệm phê phán những kẻ bội bạc trong tình yêu và không chấp nhận sự phản bội

Rõ nhất là trường hợp của truyện Sự tích con muỗi Truyện kể rằng: ngày

xửa ngày xưa có hai vợ chồng thương yêu nhau rất mực, thề hẹn không bỏ nhau,nếu một người chết thì người kia sẽ chết theo cho có bạn Không lâu sau, người

vợ trẻ chết, người chồng tự tử mấy lần không thành Người chồng được đạo sĩbày cho phép cải tử hoàn sinh nhưng người vợ không sống lại Một hôm đi nhặtcủi, chàng tính cờ gặp cụ gìa chính là Đức Phật Đức Phật thương tình, bảo hắnchích máu ngón tay trỏ ba giọt vào miệng vợ Người vợ quả nhiên sống lại, thềyêu chồng Đức Phật gọi cá sấu chở họ về Họ dừng lại ở quán cơm Trong quán

có người khách thương sang trọng, tán tỉnh, mưu toan chiếm đoạt người vợ.Người chồng ra chỗ hẹn với cá sấu, ngồi đợi vợ, nhưng mãi mà người vợ khôngtrở lại Chàng tìm mọi nơi không thấy,tưởng cá sấu ăn thịt Chàng được cá sấuđưa đi tìm vợ, hóa ra vợ chàng đã đi theo người khách thương Gặp chồng, cô ta

nói: Chàng về đi Em đành phụ chàng Chàng tha thứ cho em vậy, rồi đưa cho người chồng một gói vàng và nói :Chàng hãy nhận lấy vật này và coi như em đã

chết từ hôm nào rồi [1, 205] Người chồng thất vọng, nhờ cá sấu đưa đi tìm Đức

Phật Đức Phật giúp chàng đòi lại ba giọt máu Người vợ trả lại ba giọt máu,chết, hóa thành con muỗi

Người vợ trong truyện không thể xem là người tốt mà là một người vợ phụbạc Xét về đức tính, chị ta khác chồng- là một người hiền lành tốt bụng Người

Trang 32

vợ dám tự quyết và chủ kiến mặc dù chủ kiến của chị ta hết sức sai lầm Tác giảdân gian đã để cho nhân vật này phát triển phẩm chất đạo đức một cách xuốngdốc từ cấp độ thấp đến cấp độ cao Chị đã chết đi sống lại nhiều lần Trước cáichết thứ nhất, chị ta đã là một con người có nhân cách ích kỷ nhưng đó còn ở

cấp độ thấp cậy có nhan sắc để lo ăn diện, không lo sự làm ăn [1,203] Sau khi

“chết đi sống lại” nhờ ba giọt máu của chồng, chị chẳng những không biết ơnchồng mà ngày càng ích kỷ hơn Càng ngày chị càng xuống dốc về mặt đạo đức.Thấy người chồng gầy còm ốm yếu chị đã quyết bỏ chồng theo một tên lái buôngiàu có, bỏ mặc người chồng thật thà hiền lành Người chồng đã lấy tình xưanghĩa cũ để thuyết phục kêu gọi chị ta trở về nhưng vô ích…Người vợ bạc tình ở

đây đã công khai trắng trợn nói rõ quan điểm: …Chồng tôi phải béo tốt người

giàu có chứ không nghèo hèn như anh [1, 205] Như vậy, chị ta lấy chồng, bỏ

chồng không phải vì không có tình yêu mà vì một lí do vật chất tiền bạc, của cải

đã đáp ứng cho thói ăn chơi lêu lổng của chị? Người vợ bạc tình đã chạy theo vàbám lấy gã lái buôn giàu có để hưởng sự giàu sang và đầy đủ Thế nhưng sự đờiđâu có để cho những kẻ bạc tình được toại nguyện Với triết lí “ở hiền gặp lành,

ác giả ác báo”, người vợ bạc tình dã biến thành con muỗi Và như vậy, con muỗichính là một sự trừng phạt cho kẻ phụ bạc Con muỗi chính là hiện thân của sựphụ bạc Sự trừng trị của tác giả dân gian cũng thể hiện khát vọng cho nhân dânkhông chấp nhận sự phản bội, trừng trị người bội bạc

Trong Truyền kỳ mạn lục, đó là trường hợp của Chuyện Từ Thức lấy vợ

tiên Từ Thức làm quan tri huyện Tiên Du, từng cửi áo chuộc tội cho người con

gái làm gãy bông hoa quý Sau đó, chàng bỏ mũ quan đến chốn nước non thắngcảnh để giữ mình trong sạch Vì tấm lòng nhân hậu cứu giúp nên chàng đượcNgụy phu nhân ở núi Nam Nhạc gả con gái Giáng Hương- cô gái làm gãy bônghoa ngày trước Mối tình đầy thơ mộng của Từ Thức- Giáng Hương mang nặngtình người dù một người ở chốn bồng lai tiên cảnh, người ở trần gian đến Tuynhiên, Từ Thức phong lưu rất mực, hứng thú cảnh tiên nhưng vẫn mang nặngtình đời, nhớ về quê hương Chàng xin được về quê Chàng được cỗ xe cẩm vân

đưa về Về đến quê thì vật đổi sao dời, thành quách nhân gian, hết thảy đều

Ngày đăng: 22/12/2013, 12:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đổng Chi (1993), Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam (5 tập), Nhà xuất bản Văn nghệ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nhàxuất bản Văn nghệ
Năm: 1993
2. Nguyễn Đình Chú (1980), Để xác định rõ hơn nữa vai trò làm nền của văn học dân gian trong lịch sử văn học dân tộc, Tạp chí văn học, số 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để xác định rõ hơn nữa vai trò làm nền của vănhọc dân gian trong lịch sử văn học dân tộc
Tác giả: Nguyễn Đình Chú
Năm: 1980
3. Chu Xuân Diên (biên soạn), Lê Chí Quế, (1996), Tuyển tập truyện cổ tích Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia (in lần thứ 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập truyện cổ tíchViệt Nam
Tác giả: Chu Xuân Diên (biên soạn), Lê Chí Quế
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia (in lần thứ 2)
Năm: 1996
4. Nguyễn Xuân Đức (2004), Những vấn đề thi pháp văn học dân gian, Nhà xuất bản Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp văn học dân gian
Tác giả: Nguyễn Xuân Đức
Nhà XB: Nhàxuất bản Khoa học xã hội
Năm: 2004
5. Aurtur Gorver (1976), Những khái niệm về văn hóa dân gian (tập 1), Lê Đình Cúc dịch từ trang 91- 141 cuốn Văn học dân gian Bucaret, Mirva.Bản dịch viết tay, 50 trang, 23cm, được Khương Việt Hà đánh máy lại ngày 20/08/2003. Ký hiệu trên thư viện văn học là DL406 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những khái niệm về văn hóa dân gian" (tập 1), LêĐình Cúc dịch từ trang 91- 141 cuốn "Văn học dân gian Bucaret
Tác giả: Aurtur Gorver
Năm: 1976
6. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên) (2004), Từ điển thuật ngữ văn học, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điểnthuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Năm: 2004
7. Nguyễn Phạm Hùng (1987), Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Tạp chí văn học, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu khuynh hướng sáng tác trongTruyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ
Tác giả: Nguyễn Phạm Hùng
Năm: 1987
8. Nguyễn Xuân Kính (biên soạn) (2003), Chu Xuân Diên, Nhà văn và sáng tác dân gian, Tổng tập văn học dân gian người Việt (tập 19), Nhà xuất bản Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Diên, Nhà văn và sángtác dân gian, Tổng tập văn học dân gian người Việt
Tác giả: Nguyễn Xuân Kính (biên soạn)
Nhà XB: Nhà xuất bảnKhoa học xã hội
Năm: 2003
9. Toàn Huệ Khanh (2004), Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết truyền kỳ Hàn Quốc- Trung Quốc- Việt Nam, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, H, trang 284 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh tiểu thuyết truyền kỳ HànQuốc- Trung Quốc- Việt Nam
Tác giả: Toàn Huệ Khanh
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Quốc gia
Năm: 2004
10. Đinh Gia Khánh (chủ biên) (1998), Văn học dân gian Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Tác giả: Đinh Gia Khánh (chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuấtbản Giáo dục
Năm: 1998
11. Đinh Gia Khánh (2000), Văn học Việt Nam tù thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉ XVIII, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam tù thế kỉ X đến nửa đầu thế kỉXVIII
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2000
13. Ngô Thị Thu Khuyên (2003), Chủ đề tình yêu trong Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục, Khóa luận tốt nghiệp ngành Ngữ Văn, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chủ đề tình yêu trong Tiễn đăng tân thoạivà Truyền kỳ mạn lục
Tác giả: Ngô Thị Thu Khuyên
Năm: 2003
14. Phan Trọng Luận (tổng chủ biên) (2006), Ngữ Văn 10 (tập 2), Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ Văn 10
Tác giả: Phan Trọng Luận (tổng chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuấtbản Giáo dục
Năm: 2006
15. Phương Lựu (2004), Lý luận văn học, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2004
16. Bùi Văn Nguyên (1968), Bàn về yếu tố văn học dân gian trong Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, Tạp chí văn học, số 11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về yếu tố văn học dân gian trong Truyền kỳmạn lục của Nguyễn Dữ
Tác giả: Bùi Văn Nguyên
Năm: 1968
17. Trần Ích Nguyên (2004), Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại và Truyền kỳ mạn lục, Nhà xuất bản Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh Tiễn đăng tân thoại vàTruyền kỳ mạn lụ
Tác giả: Trần Ích Nguyên
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn học
Năm: 2004
18. Nguyễn Thị Vân Oanh (2005), So sánh hình tượng người phụ nữ trong Truyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ) và Tiễn đăng tân thoại (Cù Hựu), Khóa luận tốt nghiệp ngành Ngữ Văn, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: So sánh hình tượng người phụ nữ trongTruyền kỳ mạn lục (Nguyễn Dữ) và Tiễn đăng tân thoại (Cù Hựu)
Tác giả: Nguyễn Thị Vân Oanh
Năm: 2005
19. Vũ Ngọc Phan (1964), Tìm hiểu quá trình hoàn chỉnh của một số truyện cổ dân gian Việt Nam, Tạp chí văn học, số 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu quá trình hoàn chỉnh của một số truyệncổ dân gian Việt Nam
Tác giả: Vũ Ngọc Phan
Năm: 1964
21. Trần Đình Sử (1998), Giáo trình dẫn luận thi pháp văn học, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình dẫn luận thi pháp văn học
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nhà xuất bảnGiáo dục
Năm: 1998
22. Trần Đình Sử (1998), Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại, Nhà xuất bản Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề thi pháp văn học trung đại
Tác giả: Trần Đình Sử
Nhà XB: Nhà xuấtbản Giáo dục
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Thời gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó - So sánh quan niệm về hạnh phúc lứa đôi trong truyện kỳ mạn lục (nguyễn dữ) và truyện cổ tích (người việt)
h ời gian nghệ thuật là hình thức tồn tại của hình tượng nghệ thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó (Trang 40)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w