1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh phần ngữ pháp trong sách tiếng việt hợp nhất năm 2000 và bộ sách ngữ văn cơ bản trung học phổ thông hiện nay luận văn thạc sỹ ngữ văn

107 670 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So Sánh Phần Ngữ Pháp Trong Sách Tiếng Việt Hợp Nhất Năm 2000 Và Bộ Sách Ngữ Văn Cơ Bản Trung Học Phổ Thông Hiện Nay
Tác giả Nguyễn Thị Hoa
Người hướng dẫn TS. Đặng Lữ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn Thạc sỹ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 527,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự thay đổi của chương trình và sách giáo khoa mới đòi hỏi ngườigiáo viên phải nhận thức sâu sắc về nội dung các hợp phần của Tiếng Việt,trong đó có phần Ngữ pháp, để lựa chọn phương phá

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Vấn đề biên soạn sách giáo khoa phổ thông môn Ngữ văn luôn đòihỏi các nhà khoa học phải cân nhắc kỹ lưỡng từng vấn đề, từng bài học Bộsách giáo khoa chỉnh lí hợp nhất năm 2000 môn Ngữ văn có một số ưu điểm,nhưng trước yêu cầu đổi mới nội dung và phương pháp dạy học đối với bộmôn này, công việc thay sách cũng đã được tiến hành Vì thế, 3 phân môn Vănhọc, Tiếng Việt, Làm văn trước đây được hợp nhất lại trong một quyển sách

Ngữ văn Như vậy, việc biên soạn sách giáo khoa Ngữ văn phổ thông phải

đảm bảo được kiến thức của 3 phân môn này theo hướng tích hợp

1.2 Ngữ pháp là vấn đề đặc biệt quan trọng trong hệ thống ngôn ngữ

Nó là yếu tố chi phối việc sử dụng các đơn vị ngôn ngữ để tạo thành lời nói,làm cho ngôn ngữ thực hiện được chức năng là công cụ giao tiếp trong đờisống xã hội Ngữ pháp cũng có vai trò rất quan trọng trong việc tổ chức hoạtđộng tạo lập và lĩnh hội văn bản Vì thế, phân môn Tiếng Việt nói chung, phầnNgữ pháp nói riêng đã được đưa vào giảng dạy trong nhà trường phổ thông từtrước đến nay, từ các lớp bậc tiểu học, qua các lớp trung học cơ sở đến bậctrung học phổ thông Phần Ngữ pháp tiếng Việt ở trường THPT chủ yếu tậptrung vào phần cú pháp, nghĩa là phần ngữ pháp ở bậc câu

1.3 Trong bộ sách giáo khoa Tiếng Việt THPT chỉnh lí hợp nhất năm

2000, phần câu được dạy một cách có hệ thống nhưng nặng về lí thuyết, chưachú trọng hoạt động thực hành của học sinh Trong khi đó, trên thế giới hiệnnay, xu hướng dạy học ngôn ngữ dân tộc là chú trọng vào hoạt động giao tiếp,chú trọng mặt hành chức của ngôn ngữ Điều đó đòi hỏi phải biên soạn lại bộ

sách giáo khoa ngữ văn THPT hiện nay Bộ sách Ngữ văn THPT lần này được

biên soạn theo hai mức độ khác nhau đó là sách cơ bản và sách nâng cao,

trong đó sách Ngữ văn cơ bản được biên soạn theo chương trình chuẩn của

mặt bằng kiến thức và được sử dụng rộng rãi trong các nhà trường So với

phần Ngữ pháp trong sách Tiếng Việt THPT trước đây, phần Ngữ pháp trong

Trang 3

bộ sách giáo khoa Ngữ văn cơ bản THPT có những điểm mới cần được xem

xét để thảo luận, rút kinh nghiệm

1.4 Sự thay đổi của chương trình và sách giáo khoa mới đòi hỏi ngườigiáo viên phải nhận thức sâu sắc về nội dung các hợp phần của Tiếng Việt,trong đó có phần Ngữ pháp, để lựa chọn phương pháp giảng dạy thích hợp.Ngoài ra, vấn đề này cũng cần được nghiên cứu để thấy được sự tất yếu củaviệc thay sách giáo khoa, đánh giá những mặt mạnh, mặt hạn chế của bộ sáchmới xét từ phương diện nội dung, rút kinh nghiệm cho những sự thay đổi tấtyếu sẽ diễn ra trong tương lai

Xuất phát từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn vấn đề So sánh phần

Ngữ pháp trong bộ sách Tiếng Việt hợp nhất năm 2000 và bộ sách Ngữ

văn cơ bản THPT hiện nay để triển khai nghiên cứu trong khuôn khổ một

luận văn thạc sĩ ngành Ngôn ngữ học

2 Lịch sử vấn đề

Tiếng Việt nói chung và ngữ pháp nói riêng là vấn đề có vị trí đặc biệtquan trọng trong nhà trường Có một số bài viết, công trình bàn về vấn đề dạyhọc ngữ pháp trong nhà trường thuộc sách giáo khoa Tiếng Việt cũ và phầnTiếng Việt trong sách Ngữ văn mới

Tác giả Lê Cận, có bài Một số vấn đề dạy ngữ pháp ở nhà trường (in trong cuốn Những vấn đề ngữ pháp Tiếng Việt hiện đại), nghiên cứu ngữ pháp

theo quan điểm thực hành giao tiếp dưới ánh sáng của lí thuyết hoạt động lờinói

Nhóm tác giả: Lê A - Nguyễn Quang Ninh - Bùi Minh Toán trong cuốn

Phương pháp dạy học Tiếng Việt cho rằng, phần Ngữ pháp trong sách giáo

khoa Tiếng Việt ở trường THPT đề cập 3 vấn đề ở bậc câu: cấu tạo ngữ pháp,

sự liên kết trong văn bản và bình diện ngữ nghĩa [1]

Trong cuốn Sổ tay tiếng Việt PTTH, Đinh Trọng Lạc đề cập đến nội

dung phần Ngữ pháp tiếng Việt theo hướng hệ thống hóa ngắn gọn các kiếnthức cơ bản trong sách giáo khoa Tiếng Việt phổ thông [15]

Trang 4

Tác giả Đặng Lưu có: Dạy bài Lỗi về câu trong sách Tiếng Việt 10

theo hướng tích hợp trong Thông báo khoa học Trường Đại học Vinh, bàn về

nội dung một bài ngữ pháp trong sách giáo khoa hợp nhất năm 2000 [26], và

bài Để dạy tốt phần Tiếng Việt trong sách giáo khoa ngữ văn THPT (bộ mới) trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học dạy Ngữ văn ở trường phổ thông theo chương

trình và sách giáo khoa mới do khoa Ngữ văn phối hợp với một số Sở Giáo

dục và Đào tạo tổ chức năm 2007 [14, tr.165-168]

Lê Hương Giang trong bài Sách giáo khoa ngữ văn 10 - đôi điều cảm

nhận cũng có nêu một số nội dung có liên quan đến vấn đề nội dung phần Ngữ

pháp trong chương trình Ngữ văn THPT

Trong cuốn Tìm hiểu chương trình và sách giáo khoa ngữ văn THPT,

Đỗ Ngọc Thống cũng đã đề cập đến những nội dung mới của chương trìnhNgữ văn THPT nói chung và phần Tiếng Việt nói riêng [39]

Nhìn chung, các bài viết và các công trình nêu trên giúp chúng tôi cóđịnh hướng khi đi vào đề tài đã chọn, và yên tâm rằng, đề tài này nêu lên vàđặt nhiệm vụ giải quyết một vấn đề có tính cấp thiết, co ý nghĩa khoa học; mặtkhác, nó không trùng với bất cứ tài liệu nào đã được công bố trước đó

3 Đối tượng, nhiệm vụ và mục đích nghiên cứu

Luận văn này sẽ tập trung khảo sát nội dung các bài về ngữ pháp trong

2 bộ sách giáo khoa Tiếng Việt hợp nhất năm 2000 và sách giáo khoa Ngữ văn

cơ bản THPT

- Tìm hiểu tổng quan về phần Ngữ pháp trong 2 bộ sách giáo khoa bậcTHPT

- Khảo sát, thống kê, phân tích nội dung phần Ngữ pháp trong hai bộsách giáo khoa bậc THPT để nhìn nhận một cách khoa học kiến thức ngữ pháptrong từng bộ sách

- So sánh nội dung phần Ngữ pháp trong 2 bộ sách, phát hiện nhữngđiểm tương đồng và khác biệt, những tri thức được cập nhật trong bộ sách

Trang 5

mới, trên cơ sở đó, khẳng định tính tất yếu của việc thay đổi chương trình vàsách giáo khoa, đặt yêu cầu lựa chọn phương pháp dạy học thích hợp.

3.3 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là chỉ ra những đặc điểm, những

ưu điểm và hạn chế về nội dung phần Ngữ pháp ở 2 bộ sách, từ đó, giúp cho

thực tiễn dạy học sách giáo khoa Ngữ văn mới đạt hiệu quả cao.

4 Phương pháp nghiên cứu

Để triển khai đề tài này, chúng tôi dự kiến sẽ áp dụng các phương phápnghiên cứu cơ bản sau đây:

- Phương pháp khảo sát - thống kê - phân loại;

- Phương pháp miêu tả;

- Phương pháp so sánh đối chiếu;

- Phương pháp phân tích - tổng hợp

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được

triển khai thành ba chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Tổng quan về phần Ngữ pháp trong sách Tiếng Việt hợp nhất

năm 2000 và sách Ngữ văn cơ bản THPT hiện nay.

Chương 2: Nội dung phần Ngữ pháp trong bộ sách Tiếng Việt hợp nhất

năm 2000 và sách Ngữ văn cơ bản THPT hiện nay.

Chương 3: So sánh phần Ngữ pháp trong hai bộ sách

Trang 6

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ PHẦN NGỮ PHÁP

TRONG SÁCH TIẾNG VIỆT HỢP NHẤT NĂM 2000

VÀ SÁCH NGỮ VĂN CƠ BẢN THPT HIỆN NAY

1.1 Giới thiệu khái quát về sách Tiếng Việt hợp nhất năm 2000 và sách Ngữ văn cơ bản THPT

1.1.1 Vài nét về sách Tiếng Việt bậc THPT hợp nhất năm 2000

Tiếng Việt đã có một quá trình lịch sử và phát triển lâu đời, nhưng mônTiếng Việt trong nhà trường chỉ mới xuất hiện trong những thập kỉ gần đây.Cách mạng tháng Tám thành công, tiếng Việt trở thành ngôn ngữ quốc gia.Song, nhận thức được vai trò của môn Tiếng Việt, với tư cách là một môn họcđộc lập trong nhà trường phổ thông là quá trình không đơn giản

Ở bậc tiểu học (cấp 1), cho đến trước cuộc cải cách giáo dục năm 1981,sách giáo khoa dạy cả Văn lẫn Tiếng, nhưng trên thực tế, phần dạy tiếng vẫn

Tháng 6 năm 2000, cuốn sách có tên gọi Tiếng Việt 10 (Sách chỉnh lí

hợp nhất) của Bộ giáo dục và đào tạo do các tác giả Diệp Quang Ban (chủ

Trang 7

biên) và Đỗ Hữu Châu biên soạn đã ra đời Tháng 3 năm 2001,cuốn sách tiếp

theo có tên gọi Tiếng Việt 11 của Bộ giáo dục và Đào tạo do các tác giả Hồng

Dân (chủ biên) Cù Đình Tú, Bùi Tất Tươm biên soạn cũng đã được đưa vào sử

dụng trong sạy học Và như vậy, việc chỉnh lí hợp nhất sách Tiếng Việt bậc

THPT xem như đã hoàn tất Bộ sách ra đời trên cơ sở hợp nhất của hai bộ sáchtạm gọi là của hai miền Nam - Bắc khác nhau, cụ thể:

Ở sách Tiếng Việt 10 đó là sự chỉnh lí hợp nhất trên cơ sở của hai bộ

sách giáo khoa sau đây:

Bộ thứ nhất: Tiếng Việt 10 do Trường Đại học Sư phạm Hà Nội chủ trì

biên soạn, tác giả: Đỗ Hữu Châu (chủ biên), Diệp Quang Ban, Đặng Đức Siêu

Bộ thứ hai: Tiếng Việt 10 do Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn học

Thành Phố Hồ Chí Minh chủ trì biên soạn, tác giả: Hồng Dân (chủ biên),Nguyễn Văn Bằng, Cù Đình Tú, Bùi Tất Tươm

Ở sách Tiếng Việt 11, sách chỉnh lí hợp nhất trên cơ sở các sách giáo

khoa sau đây:

Bộ thứ nhất: Tiếng Việt 11 do Đại học Sư phạm Hà Nội chủ trì biên

soạn Tác giả: Diệp Quang Ban (chủ biên), Đinh Trọng Lạc

Bộ thứ hai: Tiếng Việt 11 do Hội Nghiên cứu và giảng dạy văn họcThành Phố Hồ Chí Minh chủ trì biên soạn Tác giả: Hồng Dân (chủ biên),Nguyễn Nguyên Trứ, Cù Đình Tú

Bộ sách Tiếng Việt hợp nhất ra đời đã cơ bản giải quyết được những

quan ngại lúc bấy giờ về hình thức cũng như nội dung của những bộ sáchtrước đó, bước đầu tạo được một chuẩn chung về khung chương trình học vàthi đối với môn Văn - Tiếng Việt - Làm văn Sự ra đời của bộ sách đánh dấu

sự thống nhất hoàn toàn về mặt chương trình dạy và học trên phạm vi cả nước

có ý nghĩa như một sự khẳng định về thể thống nhất của quốc gia, dân tộc ViệtNam

1.1.2 Vài nét về sách Ngữ văn THPT cơ bản hiện nay

Nghị quyết số 40/ 2000/QH10, ngày 09 tháng 12 năm 2000 của Quốchội khóa X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông đã khẳng định mục

Trang 8

tiêu của đổi mới chương trình giáo dục phổ thông là “Xây dựng nội dungchương trình, phương pháp giáo dục, SGK phổ thông mới nhằm nâng cao chấtlượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lựcphục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phù hợp với thực tiễn vàtruyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở các nước pháttriển trong khu vực và trên thế giới” [33, tr.3] Văn bản đồng thời yêu cầu “đổimới chương trình giáo dục phổ thông phải quán triệt mục tiêu, yêu cầu về nộidung, phương pháp giáo dục của các bậc học, cấp học quy định trong LuậtGiáo dục; khắc phục những mặt hạn chế của chương trinh, SGK; tăng cườngtính thực tiễn, kĩ năng thực hành năng lực tự học; coi trọng kiến thức khoa học

xã hội và nhân văn; bổ sung những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đạiphù hợp với khả năng tiếp thu của học sinh Bảo đảm sự thống nhất, kế thừa

và phát triển của chương trình giáo dục” [33, tr 4].

Chiến lược phát triến kinh tế - xã hội nước ta giai đoạn 2001- 2010 đã

đề ra nhiệm vụ “khẩn trương biên soạn và đưa vào sử dụng ổn định trong cảnước bộ chương trình và SGK phổ thông phù hợp với yêu cầu phát triển mới”[33, tr.4]

Một trong những thay đổi của chương trình SGK mới ở bộ môn Vănchính là việc biên soạn nội dung chương trình môn học này theo hướng tíchhợp các nội dung dạy học Cụ thể: nếu như sách giáo khoa môn Văn nói chungtrước đây đươc biên soạn gồm có ba phân môn độc lập tách biệt nhau thành ba

cuốn sách riêng biệt với tên gọi là Văn học - Làm văn - Tiếng Việt, thì nay được biên soạn lại trong cùng một cuốn sách chung có tên gọi là Ngữ văn.

Việc biên soạn lại chương trình của cả ba phân môn trong một cuốn sáchkhông có nghĩa là sự cộng gộp một cách cơ học, mà trên cơ sở của sự tính toán

và cân nhắc mức độ kiến thức, thời lượng và hình thức trình bày để đáp ứngtối đa yếu tố tích hợp các nội dung dạy học giữa các phân môn với nhau

Nội dung chương trình môn Ngữ văn được xây dựng theo hai cấp độ

Biên soạn theo chương trình chuẩn gọi là sách Ngữ văn cơ bản Sách này

nhằm đáp ứng cho các học sinh có nhu cầu nắm vững nội dung môn học để có

Trang 9

thể hoàn thành kì thi tốt nghiệp THPT Biên soạn theo chương trình nâng cao

được gọi là sách Ngữ văn nâng cao Sách này, ngoài những nội dung có trong

chương trình chuẩn còn có thêm một số nội dung và yêu cầu khác biệt, nhằmmột mặt, phân hóa đối tượng học sinh, mặt khác, phục vụ nhu cầu học tậpkhông chỉ thi tốt nghiệp mà còn tham gia thi đại học vào các trường thuộc banKhoa học xã hội

Nhìn chung, sách giáo khoa Ngữ văn bước đầu được đánh giá là bộ sách

có nhiều ưu điểm, biên soạn cẩn thận công phu, đáp ứng được yêu cầu vềkhung chương trình và có nhiều điểm mới

1.2 Quan điểm biên soạn, kết cấu chương trình và phần ngữ pháp trong hai bộ sách

1.2.1 Quan điểm biên soạn của hai bộ sách

1.2.1.1 Quan điểm biên soạn sách Tiếng Việt bậc THPT hợp nhất năm 2000

a Tất yếu của việc chỉnh lí hợp nhất

Năm 1975, đất nước thống nhất, chương trình và SGK môn Văn - TiếngViệt đã được tiến hành cải cách Qua nhiều lần cải cách, đến năm 1991 sáchgiáo khoa Văn tiếp tục được cải cách thêm một lần nữa Lần biên soạn này,sách được tách ra làm hai bộ với hai đội ngũ biên soạn khác nhau: một bộ donhóm các tác giả của trường Đại học Sư phạm Hà Nội chủ trì biên soạn, được

sử dụng rộng rãi trong các nhà trường phổ thông từ khu vực Quảng Bình trở raBắc Một bộ do nhóm các tác giả thuộc hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn họcThành phố Hồ Chí Minh chủ trì biên soạn, được sử dụng chủ yếu cho các nhàtrường phổ thông từ khu vực Thừa Thiên Huế trở vào Nam

Việc biên soạn SGK môn Văn thành hai bộ và sử dụng trong hai phạm

vi khác nhau đã nảy sinh nhiều vấn đề Cụ thể:

- Mặc dù chương trình được biên soạn là thống nhất chung trong phạm

vi cả nước, song không phải là hoàn toàn trùng khớp Có những bài viết chưa

có sự hòa hợp trong quan điểm, cách nhìn nhận đánh giá vấn đề, một số nộidung đã không còn phù hợp với thực tế tình hình Chẳng hạn: bài Khái quát về

Trang 10

Văn học Việt Nam, bài viết về tác gia Hồ Chí Minh… Thực tế này đặt ra yêucầu phải có một cách nhìn chung, nhận định chung thống nhất trong phạm vi

cả nước

- Việc tách SGK thành hai bộ với nội dung không hoàn toàn giống nhau

đã dẫn tới những bất cập trong quá trình ra đề thi đại học, cao đẳng, có nhữngphần thí sinh miền Bắc không được học thì lại có trong đề thi của trường miềnNam và ngược lại Thực tế này đòi hỏi phải có một chuẩn kiến thức chung cho

cả hai miền Nam - Bắc

- Có nhiều quan điểm của các nhà chính trị cho rằng: năm 1975, đấtnước đã liền một dải sau 30 năm chia cắt, vậy thì không có cớ gì một đất nướcthống nhất lại phải tồn tại hai bộ SGK tách biệt

Trước tình hình như vậy, Đảng và Nhà nước đã đi đến một chủ trươngphải thống nhất 2 bộ SGK thành một bộ sách duy nhất được sử dụng trênphạm vi cả nước

b Quan điểm biên soạn

Khác với việc biên soạn bộ SGK Ngữ văn ra đời năm 2006, bộ sách

chỉnh lí hợp nhất năm 2000 được biên soạn theo 2 quan điểm: “chỉnh lí” và

“hợp nhất”:

- Về mặt nội dung: trên cơ sở của hai bộ sách trước đó đang tồn tại, sáchchỉnh lí có sửa đổi một số nội dung, bài học không còn phù hợp để có mộtchuẩn chung về kiến thức Nghĩa là về cơ bản, bộ sách chỉnh lí không có nhiều

sự thay đổi về nội dung so với hai bộ sách hiện hành vào thời điểm đó

- Về mặt hình thức: đúng như tên gọi “hợp nhất” quan điểm của các nhàbiên soạn là thống nhất về mặt văn bản, tức đem đến cho SGK Văn một bộduy nhất và thống nhất sử dụng như nhau trên phạm vi cả nước

Như vậy có thể thấy, bộ sách giáo khoa chỉnh lí hợp nhất ra đời về cơbản không có gì thay đổi so với trước đó Sự thay đổi có chăng là số tác giảbiên soạn được bớt đi một nửa và số bài viết thay đổi thì không nhiều chỉkhoảng 20 % so với SGK cũ

1.2.1.2 Quan điểm biên soạn sách Ngữ văn THPT cơ bản hiện nay

Trang 11

a Những yêu cầu về việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa Ngữ Văn

Như đã trình bày, trong suốt một quãng thời gian dài từ sau ngày đấtnước thống nhất, chương trình và SGK môn Văn - Tiếng Việt hầu như khôngthay đổi bao nhiêu

Thực hiện nghị quyết số 40/2000/QH 10 của Quốc hội khóa X; chỉ thị

số 14/2001/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về đổi mới chương trình giáodục phổ thông; Chỉ thị số 40- CTTW ngày 15/6/2004 của Ban Bí thư về xâydựng, nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí giáo dục, từnăm học 2006 - 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai thực hiện chươngtrình và sách giáo khoa mới THPT rộng khắp trong cả nước Năm 2000 (sau

15 năm), chương trình Ngữ văn THCS mới thực sự có những thay đổi lớn, tiếp

đó, năm học 2006 - 2007 là sự ra đời của bộ sách giáo khoa mới bậc THPT

Sự đổi mới chương trình và SGK lần này là cần thiết và là một tất yếu, bởinhững lí do sau đây:

Thứ nhất, đất nước ta đang bước vào giai đoạn công nghiệp hóa, hiện

đại hóa với mục tiêu năm 2020, Việt Nam sẽ từ một nước nông nghiệp về cơbản trở thành nước công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế Nhân tốquyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhậpquốc tế là con người, là nguồn lực người Việt Nam được phát triển cả về sốlượng và chất lượng trên cơ sở mặt bằng dân trí được nâng cao Công việc nàycần được bắt đầu từ giáo dục phổ thông, mà trước hết là phải bắt đầu từ việcxác định mục tiêu đào tạo như là xác định những gì cần đạt được sau một quátrình đào tạo Vì vậy, để chăm lo phát triển con người, một trong những yếu tốcần thiết là nhà trường phải thay đổi nội dung, phương pháp giáo dục để chuẩn

bị cho xã hội một lớp người lao động mới, có những năng lực và phẩm chấtphù hợp với yêu cầu của đất nước trong thời kì mới

Thứ hai, xu thế phát triển chương trình và đổi mới quan niệm về SGK

phổ thông ở các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới buộc Việt Namphải đổi mới Xu thế giáo dục ấy đã được tổ chức UNESCO đề xướng với bốn

Trang 12

trụ cột: học để biết, học để làm, học để chung sống, học để tự khẳng định

mình Trên thế giới, xu thế này đã được nhiều quốc gia chuẩn bị và triển khai

ngay từ những thập kỉ cuối của thế kỉ XX Cải cách giáo dục tập trung vàogiáo dục phổ thông, mà trọng điểm là cải cách chương trình và SGK Chươngtrình của các nước đều hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục, trựctiếp góp phần cải thiện chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao chất lượng sốngcủa con người; khắc phục tình trạng học tập nặng nề, căng thẳng gây mất hứngthú và niềm tin đối với việc học tập của học sinh; giáo dục thoát li đời sống,quá nhấn mạnh đến tính hệ thống, yêu cầu quá cao về mặt lí thuyết mà coi nhẹnhững tri thức và kĩ năng có liên quan trực tiếp đến cuộc sống hằng ngày củahọc sinh, khiến năng lực hoạt động thực tiễn của người học bị hạn chế Xu thếđổi mới cũng nhằm khắc phục tình trạng sản phẩm của giáo dục không đápứng được yêu cầu biến đổi nhanh và đa dạng của phát triển xã hội, sự bất bìnhđẳng về cơ hội tiếp nhận giáo dục mà biểu hiện chủ yếu là sự cách biệt về điềukiện, về trình độ giữa các địa phương và khu vực, cách biệt giữa giới tính vàđịa vị xã hội Trên tinh thần ấy, chương và SGK của các nước phát triển rấtcoi trọng thực hành, vận dụng, nội dung được tích hợp nhiều mặt SGK trởthành tài liệu định hướng cho học sinh tự tìm hiểu, tự học, tự phát hiện, tựchiếm lĩnh tri thức mới Trào lưu cải cách giáo dục lần thứ 3 của thế kỉ XXđang hướng tới khắc phục những biểu hiện nói trên để chuẩn bị cho thế hệ trẻbước vào thế kỉ XXI

Thứ ba, phải thấy rằng, chương trình SGK cũ ra đời đã lâu - bộ SGK

phổ thông cũ được biên soạn từ những năm 1980 - 1981, và đến nay cơ bản đãhoàn thành nhiệm vụ của giai đoạn thống nhất hệ thống giáo dục phổ thông.Trong thời kì hiện nay, nó đã và đang bộc lộ những hạn chế nhất định, nhữngbất cập trước yêu cầu đổi mới về mục tiêu, nội dung và phương pháp Vấn đềđặt ra là cần khẩn trương soạn thảo và đưa vào thực hiện một chương trình dạy

và học mới để có thể đáp ứng được với tình hình thực tại theo luật giáo dụcnăm 1998 và các nghị quyết của Đảng và Nhà nước đã đề ra

Trang 13

Thứ tư, phải khẳng định rằng, đối tượng giáo dục hiện nay của chúng ta

đã thay đổi Các kết quả điều tra tâm sinh lí lứa tuổi học sinh thời gian gần đâytrên thế giới cũng như ở nước ta cho thấy: học sinh bậc THCS và THPTnhững năm đầu thế kỉ XXI so với những năm 80 của trở về trước là rất khácnhau Trong điều kiện phát triển của công nghệ thông tin, các phương tiệntruyền thông, trong bối cảnh hội nhập, mở rộng giao lưu quốc tế, học sinhđược tiếp nhận nhiều nguồn thông tin khác nhau đa dạng phong phú từ nhiềumặt của cuộc sống, những hiểu biết của học sinh cũng nhiều hơn linh hoạt vàthực tế hơn so với các thế hệ cùng lứa tuổi trước đó Trong học tập, học sinhkhông thỏa mãn với vai trò là người tiếp thu thụ động, không chỉ chấp nhậncác giải pháp đặt ra có sẵn Một nhu cầu tất yếu nảy sinh là sự lĩnh hội độc lậpcác tri thức và phát triển các kĩ năng

Một thực tế cần nhận thức đầy đủ trong giáo dục: đối tượng học sinhhiện nay có các yếu tố về thể chất tâm sinh lí cũng khác trước, nhiều quanniệm về lối sống, đạo đức, quan niệm về các giá trị tinh thần và vật chất củahọc sinh thay đổi Và như vậy, tất yếu không thể không đổi mới nội dung,phương pháp giáo dục một khi đối tượng giáo dục đã thay đổi

Thứ năm, những thành tựu nghiên cứu của các ngành khoa học xã hội

và nhân văn, của lí luận dạy học bộ môn trong nhà trường đã có nhiều đổimới Những thành tựu nghiên cứu có được đã đem đến cho khoa nghiên cứuvăn học, phê bình văn học, ngôn ngữ học… những sức sống mới, hơi thở mới.Nhiều thành tựu mới đã và đang được khẳng định Bên cạnh đó, nhiều giá trị

cũ cũng được xem xét đánh giá lại không ít điều đã trở nên lỗi thời, bất cập…cần phải được loại bỏ Chương trình, SGK phổ thông không thể không tiếpcận với những thành tựu mới của khoa học cơ bản

Như vậy, trong bối cảnh ấy, vấn đề đặt ra cho nền giáo dục Việt Namkhông phải là có nên hay không nên đổi mới mà đổi mới là một tất yếu và vấn

đề đặt ra cho các nhà cải cách là đổi mới như thế nào

b Những quan điểm trong biên soạn SGK Ngữ văn cơ bản THPT

Trang 14

Như chúng ta đã biết, chương trình và SGK Ngữ văn được xây dựngtrên cơ sở kế thừa những thành tựu của ngành Văn học, Ngôn ngữ học, Tâm líhọc, Giáo dục học cũng như các thành tựu khoa học khác…, đặc biệt là nhữngthành tựu của ngành phương pháp dạy học Văn và tiếng mẹ đẻ theo nhữngquan điểm mới về giáo dục, nhằm hướng tới sự cập nhật với xu thế giáo dụchiện đại và những yêu cầu cấp thiết của việc đào tạo nguồn nhân lực cho đấtnước trong những năm đầu thế kỉ XXI Điểm nổi bật trong việc biên soạn

SGK Ngữ văn nói chung là sự vận dụng hai quan điểm: tích hợp các nội dung

học tập và tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh.

+ Quan điểm tích hợp trong dạy và học Ngữ văn

Một đất nước văn minh tiến bộ, trước hết phải là một đất nước có nềngiáo dục khoa học hiện đại và ưu việt Ý thức được vai trò quan trọng của giáodục trong việc đào tạo nhân tài, góp phần đẩy mạnh sự phát triển nền kinh tếnước nhà, trong mấy năm gần đây, nước ta đã có sự đổi mới về nội dung cũngnhư phương pháp, quan điểm giảng dạy trong nhà trường Cùng với những bộmôn khác, môn Ngữ văn có sự thay đổi lớn trong đó quan điểm tích hợp đượccoi là thế mạnh và cũng là ưu điểm để giúp học sinh hệ thống hóa kiến thứcmột cách vững chắc

Hiện nay, tích hợp được xem là một trong những xu thế dạy học hiệnđại, hiện đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiềunước trên thế giới có nền giáo dục tiên tiến (Mỹ, Pháp, Trung Quốc, Nhật…).Tích hợp đã và đang thực sự trở thành một trào lưu sư phạm

Ở nước ta, từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây, vấn đề xây dựngmôn học tích hợp với những mức độ khác nhau mới được thực sự tập trungnghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào nhà trường phổ thông, chủ yếu ở bậchọc Tiểu học và cấp THCS Trước đó, tinh thần giảng dạy tích hợp chỉ mớiđược thực hiện ở những mức độ thấp như liên hệ, phối hợp các kiến thức, kỷnăng thuộc các môn học hay phân môn khác nhau để giải quyết một vấn đềgiảng dạy

Trang 15

Hiện nay, xu hướng tích hợp vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, thửnghiệm và áp dụng vào đổi mới chương trình và SGK THPT Chương trìnhmôn Ngữ văn THPT áp dụng từ năm 2002 do bộ GD&ĐT dự thảo đã ghi rõ:

“Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chươngtrình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy”;

"Quan điểm tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học, từ Đọc văn,Tiếng Việt đến Làm văn; Quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học;Quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập…” Như vậy, ở nước ta hiệnnay, vấn đề cần hay không cần tích hợp trong xây dựng nội dung chươngtrình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy môn Ngữ vănkhông đặt ra nữa Bài toán còn lại cho chúng ta là vận dụng quan điểm tíchhợp vào dạy học Ngữ văn như thế nào để có thể hình thành và phát triển cácnăng lực cho học sinh có hiệu quả hơn góp phần thực hiện tốt mục tiêu giáodục và đào tạo của bộ môn

Vậy thực chất tích hợp là gì? Và thực hiện quan điểm tích hợp trong dạyhọc Ngữ văn là thực hiện như thế nào?

Tích hợp (Integration) có nghĩa là sự hợp nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp.

Nội hàm khoa học khái niệm tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợpnhất hay là sự nhất thể hóa đưa tới một đối tượng mới như là một thể thốngnhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng, chứ khôngphải là một phép cộng giản đơn những thuộc tính của các thành phần ấy Hiểunhư vậy, tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy định

lẫn nhau, là tính liên kết và tính toàn vẹn Liên kết phải tạo thành một thực thể

toàn vẹn không còn sự phân chia giữa các thành phần kết hợp Tính toàn vẹndựa trên sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết, chứ không phải là sựsắp đặt các thành phần bên cạnh nhau Không thể gọi là tích hợp nếu các trithức, kĩ năng chỉ được thụ đắc, tác động một cách riêng rẽ, không có sự liênkết phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, tìnhhuống Trong lí luận dạy học, tích hợp được hiểu là sự kết hợp một cách hữu

cơ, có hệ thống ở những mức độ khác nhau, các kiến thức, kĩ năng thuộc các

Trang 16

môn học khác nhau hoặc các hợp phần của bộ môn thành một nội dung thốngnhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập đến

trong các môn học hoặc hợp phần của các môn đó Trong Chương trình

THPT, môn Ngữ văn, năm 2002 của Bộ giáo dục và Đào tạo, khái niệm tích

hợp cũng được hiểu là “sự phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ mật thiếtvới nhau trong thực tiễn để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau nhằm tạo nênkết quả nhanh chóng và vững chắc”

Tích hợp trong dạy học ngữ văn được thực hiện theo hai dạng: tích hợp

theo trục dọc và tích hợp theo trục ngang.

+ Tích hợp theo trục ngang là sự tích hợp thể hiện mối quan hệ, sự liênthông giữa đơn vị tri thức ở bộ môn này với tri thức ở bộ môn khác Theoquan điểm này, các phân môn Đọc - hiểu, Tiếng Việt, Làm văn trước đây ít cóquan hệ, gắn bó với nhau, nay được tập hợp xung quanh trục chủ điểm và cácbài học Các nhiệm vụ cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩ năng cũng gắn bóchặt chẽ với nhau hơn trước

+ Tích hợp theo trục dọc là sự tích hợp ở một đơn vị kiến thức và kĩnăng đã học trước đó theo nguyên tắc đồng tâm Cụ thể: kiến thức và kĩ năngcủa lớp trên, bậc học trên bao hàm kiến thức và kĩ năng của lớp học, bậc họcdưới nhưng cao hơn và sâu hơn Đây là giải pháp củng cố và dần dần nâng caokiến thức, kĩ năng của học sinh, để các kiến thức và kĩ năng ấy thực sự là củamỗi người học, góp phần hình thành ở các em những phẩm chất mới

Thực hiện quan điểm tích hợp trong việc biên soạn SGK Ngữ văn làgóp phần giải quyết những bài toán muôn thuở của giáo dục như: mâu thuẫngiữa khối lượng khổng lồ của tri thức văn minh nhân loại đang ngày một tănglên và thời gian học của học sinh đang ngày một ít đi do sự chi phối bởi nhiềunhu cầu của cuộc sống hiện đại; mâu thuẫn giữa việc người học không đượchọc thật sự mà người dạy học thay; mâu thuẫn giữa học (nhận thức) và hành(vận dụng ) của người học…

Việc tích hợp trong biên soạn SGK Ngữ văn được thực hiện trên cácphương diện cụ thể:

Trang 17

Thứ nhất là khâu tổ chức biên soạn: quan điểm mới trong tổ chức biên

soạn SGK là tổ chức một đội ngũ các nhà biên soạn là các nhà khoa học cótổng chủ biên, có ba chủ biên phụ trách 3 phân môn khác nhau

Thứ hai là tên môn học được thay đổi Như chúng ta đã biết, môn học

này trước đay trong chương trình SGK chỉnh lí hợp nhất có tên gọi là Văn học

- Tiếng Việt - Làm văn (tên của ba phân môn gộp lại) Tương ứng với tên gọi

trên là ba bộ sách: Văn học, Tiếng Việt và Làm văn được biên soạn một cách độc lập Nay theo quan điểm tích hợp, môn học này có tên gọi là Ngữ văn và

SGK được biên soạn cũng chỉ có một cuốn chung cho cả ba phân môn

Thứ ba là sự gắn kết, phối hợp các lĩnh vực tri thức gần nhau của các

phân môn Theo tinh thần này, mỗi phân môn Văn học, Tiếng Việt, Làm vănchỉ là một hợp phần trong môn học Ngữ văn nhưng giữa chúng có mối liên hệrất chặt chẽ, hỗ trợ cho nhau Do vậy, sự sắp xếp các bài học trong SGK làmột chuỗi liên tục, phối hợp cả ba hợp phần Trong đó, hợp phần Văn học(Đọc văn) cung cấp tri thức về lịch sử, thể loại và các văn bản, tri thức về cácphương pháp đọc hiểu Còn hợp phần Tiếng Việt và Làm văn giúp người họcrèn luyện các năng lực biểu đạt đặc biệt là các năng lực sản sinh văn bản

Có thể thấy ở cả ba cấp học phổ thông, nội dung các bộ SGK đều đượcbiên soạn theo quan điểm tích hợp Tuy nhiên, tỉ lệ nội dung của ba phân môncũng như mức độ và cách thức tích hợp thì khác nhau Đối với cấp tiểu học,học sinh tập trung học tiếng Việt, Văn học chỉ là ngữ liệu để dạy tiếng Lêncấp THCS, quan điểm tích hợp vẫn được duy trì, nhưng trục tích hợp là kiểuvăn bản với các hình thức cơ bản như: tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh,lập luận… Ngoài ra còn cung cấp cho học sinh một số loại văn bản hành chínhcông vụ như: thư tín, báo cáo, hợp đồng… Đến cấp THPT, trục tích hợp là thểloại tác phẩm đặt ra ở từng giai đoạn của lịch sử văn học Để đọc - hiểu tốt vănbản, sách cung cấp cho học sinh những công cụ giúp khám phá và tiếp nhậntốt các tác phẩm văn chương theo các thể loại cụ thể của từng thời kì

Qua đây có thể thấy rằng: biên soạn SGK theo quan điểm tích hợp sẽtạo điều kiện thuận lợi cho việc dạy và học của giáo viên và học sinh Bởi theo

Trang 18

quan điểm tích hợp, kiến thức của học sinh sẽ luôn được củng cố Ngay khiđang tiếp thu kiến thức mới học sinh vẫn được nhắc lại kiến thức đã qua kế cảkiến thức bộ môn hay kiến thức khác có liên quan.

Xung quanh việc biên soạn SGK ngữ văn theo quan điểm tích hợp cũng

có nhiều ý kiến khác nhau, có người đồng tình ủng hộ, song cũng không ít ýkiến phản ứng, thậm chí khá gay gắt Xin đơn cử nhận xét của ông Vương Trí

Nhàn: “Sách giáo khoa đã ngán đến tận cổ” (Văn nghệ Trẻ 34, ngày 24 /8/

2008) Ông Hồ Ngọc Đại cho rằng “Tích hợp trong Ngữ văn là vớ vẩn Đây là

sự bắt chước mấy chị em bán nước gội đầu “2 trong 1”, “3 trong 1”…Tôi cho

“Tích hợp” là hai chữ tệ hại nhất Đấy là cách phá hoại giáo dục phổ thông

hữu hiệu nhất” (Văn nghệ Trẻ số 19, ngày 21/5/ 2008)

Có lẽ các tác giả đã quá nghiêm trọng hóa vấn đề Cách nhìn của các tácgiả có phần phiến diện nhất định Thiết nghĩ, nên có một cách nhìn đúng đắnmang tính khoa học khi nhận định về quan điểm mới này

+ Tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh

Đây là một quan điểm có ý nghĩa quan trọng không chỉ riêng môn Ngữvăn mà còn quan trọng với tất cả các môn học khác trong nhà trường phổthông

Tích cực hóa là một hoạt động nhằm làm chuyền biến vị trí của ngườihọc từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thểtìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập Quan điểm này nhằm giúp họcsinh “phát huy tính tích cực tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thói quen vàkhả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tìnhhuống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn; tạo niềm tin, niềm vui, hứngthú trong học tập Làm cho “học” là quá trình kiến tạo; học sinh tìm tòi, khámphá, phát hiện, luyện tâp, khai thác và xử lí thông tin, tự hình thành hiểu biết,năng lực và phẩm chất ” [34, tr.8]

Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh là một trong nhữngnhiệm vụ của người thầy giáo trong nhà trường và cũng là một biện pháp nângcao chất lượng dạy học Tuy không phải là vấn đề mới, song trong quá trình

Trang 19

đổi mới việc dạy và học hiện nay thì tích cực hóa hoạt động học tập của họcsinh đang là vấn đề được đặc biệt quan tâm Quan điểm này được cụ thể hóa ởmột số điểm như sau:

- Học sinh vốn được coi là đối tượng có sẵn những tiềm năng mà ngườigiáo viên có nhiệm vụ đánh thức và tạo điều kiện để những tiềm năng đó đượcphát triển tối đa, đặc biệt là tiềm năng sáng tạo Chính vì thế, việc sắp xếp cácnội dung học tập, cách xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập trong SGK Ngữ vănđược thực hiện theo cách tăng cường tính chủ động, sáng tạo, rèn kĩ năng tựhọc ở người học, tạo điều kiện cho người dạy có thể thực hiện được vai trò tổchức, dẫn dắt các hoạt động học tập ở người học

- Giáo viên khuyến khích học sinh tìm hiểu câu hỏi, không đưa ra câutrả lời trước Không nên áp đặt một cách thô bạo, cứng nhắc kết quả hiểu vàcảm thụ của mình đối với học sinh Tôn trọng và khuyến khích, động viên cáckết quả suy nghĩ tìm tòi riêng và độc đáo của học sinh trong quá trình học tập.Không nên biến học sinh thành chiếc thùng chứa để giáo viên đổ kiến thứcvào Bên cạnh đó, học sinh cũng phải tích cực trong giờ học, không nên chỉbiết nghe, ghi, chấp nhận và làm theo mẫu một cách thụ động

Quá trình tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh sẽ góp phầnlàm cho mối quan hệ giữa dạy và học, giữa thầy và trò ngày càng gắn bó vàhiệu quả hơn Tích cực hóa vừa là biện pháp thực hiện nhiệm vụ dạy học vừagóp phần rèn luyện cho học sinh những phẩm chất của người lao động mới: tựchủ, năng động, sáng tạo Đó là một trong những mục tiêu mà nhà trường phảihướng tới

Tích cực hóa hoạt động nhận thức của học sinh sẽ góp phần phát hiệnkịp thời những quan niệm sai lệch của học sinh Qua đó, người giáo viên cóthể có biện pháp để khắc phục kịp thời

Như vậy, tích cực hóa hoạt động học tập của học sinh được phát huytrong biên soạn SGK Ngữ văn chính là một cách để tăng cường tính chủ độngsáng tạo của học sinh

1.2.2 Kết cấu chương trình của hai bộ sách

Trang 20

1.2.2.1 Kết cấu chương trình sách Tiếng Việt bậc THPT hợp nhất năm 2000

Bộ sách Tiếng Việt THPT được biên soạn trên cơ sở chỉnh lí hợp nhấtcủa hai bộ sách vốn độc lập với nhau đang được giảng dạy ở hai miền Nam-Bắc trước đó Tuy nhiên, về cơ bản có sự thống nhất về nội dung chươngtrình Chương trình Tiếng Việt được tạo bởi hai hợp phần cơ bản là những trithức cần cung cấp cho học sinh và các kĩ năng cần rèn luyện cho học sinh.Các kĩ năng cần cung cấp bao gồm ba loại:

- Những tri thức chung về Tiếng Việt: nguồn gốc và quá trình lịch sử củatiếng Việt, loại hình tiếng Việt, chức năng của ngôn ngữ, tính hệ thống củangôn ngữ…

- Những tri thức về hệ thống tiếng Việt và hoạt động của hệ thống đó.Chương trình không đề cập đến toàn bộ hệ thống tiếng Việt, mà chủ yếu chútrọng đến những nội dung có quan hệ trực tiếp đến hoạt động giao tiếp củatiếng Việt, đến ngôn ngữ nghệ thuật, đến cách nói và cách viết của học sinh

Đó là phần từ vựng và cú pháp, ngữ nghĩa trong tiếng Việt

- Tri thức về các loại hình văn bản, chủ yếu là văn bản nghị luận

Hợp phần thứ hai là các kĩ năng cần rèn luyện cho học sinh Đó là các kĩnăng chủ yếu như sau: kĩ năng lĩnh hội ngôn bản, kĩ năng sản sinh văn bảnthích hợp với mục đích giao tiếp và các điều kiện giao tiếp

Kĩ năng lĩnh hội ngôn bản bao gồm: kĩ năng biết cách nghe, đọc để hiểulời nói của người khác Kĩ năng này còn bao gồm các kĩ năng đánh giá lời nóicủa người khác, đặc biệt là giá trị của các lời nói nghệ thuật

Kĩ năng sản sinh ngôn bản bao gồm: kĩ năng nói và viết Viết các văn bảntrường quy - chủ yếu là văn bản nghị luận văn học Chương trình quy địnhviệc rèn luyện kĩ năng nói trong các hội thảo khoa học, các cuộc thảo luận Tuy nhiên, cũng phải thấy rằng việc tách ra từng hợp phần chỉ có tínhchất kĩ thuật trong trình bày Trong thực tế cấu tạo chương trình, các hợp phầnnày không thể tách rời nhau Khi trình bày về tri thức thì cũng đồng thời đềcập đến những kĩ năng tương ứng để thể hiện những tri thức đó Ngược lại,

Trang 21

qua việc hình thành kĩ năng mà hiểu thêm sâu sắc vững chắc những tri thức

đó Mặt khác, tri thức sẽ định hướng và đề ra yêu cầu cho kĩ năng và độ chín

về tri thức là hiệu quả tổng hợp của việc cung cấp kiến thức và rèn luyện kĩnăng của chương trình

Trên cơ sở những yêu cầu về các hợp phần của chương trình, sách giáokhoa chỉnh lí hợp nhất đã được biên soạn theo một khung chương trình cụ thểnhư sau:

- Chương trình được xây dựng để giảng dạy ở hai khối lớp là 10 và 11riêng khối lớp 12 không đề cập đến giảng dạy Tiếng Việt

- Chương trình cũng quy định số tiết cho phân môn Tiếng Việt bậc THPT

và cho từng khối lớp cụ thể

LỚP 10 LỚP 11

TỔNG SỐ TIẾT TIẾNG VIỆT BẬC THPT

Sách giáo khoa Tiếng Việt cũng quy định số tiết học trong từng chương,từng bài cụ thể như sau:

Ở lớp 10, sách được biên soạn gồm có ba chương với tổng số tiết là 33tiết được dạy trong 11 bài

Chương I: Tiếng Việt và việc sử dụng tiếng Việt gồm 6 tiết được dạy

trong hai bài:

Bài 1: Khái quát về lịch sử tiếng Việt (2 tiết)

Bài 2: Yêu cầu của việc sử dụng tiếng Việt có tính chất nghệ thuật (4 tiết) Chương II: Từ ngữ, gồm 10 tiết được dạy trong bốn bài:

Bài 3: Giản yếu về từ vựng tiếng Việt (3 tiết)

Bài 4: Các biện pháp tu từ từ vựng (3 tiết)

Bài 5: Lựa chọn từ ngữ (2 tiết)

Bài 6: Ôn tập và kiểm tra học kì 1 (2 tiết)

Chương III: Câu gồm có 17 tiết được dạy trong 5 bài như sau:

Trang 22

Bài 7: Giản yều về câu tiếng Việt (6 tiết)

Bài 8: Câu trong văn bản (4 tiết)

Bài 9: Lỗi về câu (1 tiết)

Bài 10: Biện pháp tu từ cú pháp 4 tiết)

Bài 1: Ôn tập và kiểm tra học kì II (2 tiết)

Ở lớp 11, sách được biên soạn gồm có bốn chương với tổng số tiết là 33tiết, được dạy trong 16 bài và hai phần ôn tập kiểm tra

Chương I: Tiếng Việt và giao tiếp bằng ngôn ngữ gồm có 5 tiết được dạy

trong ba bài:

Bài : Đặc điểm loại hình của tiếng Việt (2 tiết)

Bài 2: Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt và chuẩn hóa tiếng Việt (2

tiết)

Bài 3: Sự giao tiếp bằng ngôn ngữ (2 tiết)

Chương II: Phong cách học tiếng Việt gồm có 13 tiết được dạy trong 6

bài cụ thể:

Bài 4: Những hiểu biết cơ bản về phong cách học (2 tiết)

Bài 5: Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (1 tiết)

Bài 6: Phong cách ngôn ngữ gọt giũa (1 tiết)

Bài 7: Phong cách ngôn ngữ khoa học và phong cách ngôn chính luận

(3 tiết)

Bài 8: Phong cách ngôn ngữ báo - công luận và phong cách ngôn ngữ

hành chính (3 tiết)

Bài 9: Phong cách ngôn ngữ văn chương (2 tiết)

Ôn tập và kiểm tra (1 tiết)

Chương III: Thi luật gồm 5 tiết và được dạy trong bài:

Bài 10: Tính nhạc trong văn tiếng Việt - vai trò của “tiếng” trong thơ

ca (2 tiết)

Bài 1: Thơ lục bát, hát nói, thơ thất ngôn, Thơ mới (3 tiết)

Chương IV: Ngữ nghĩa của câu, gồm 10 tiết được dạy trong 5 bài:

Bài 12: Câu và phát ngôn (1 tiết)

Trang 23

Bài 13: Các thành phần nghĩa của phát ngôn (2 tiết)

Bài 14: Nghĩa tường minh (1 tiết)

Bài 15: Nghĩa hàm ẩn (1 tiết)

Bài 16: Phân tích nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn trong văn chương

(3 tiết)

Ôn tập và kiểm tra (2 tiết)

Nhìn trên tổng thể, chương trình tiếng Việt lớp 10 được dạy 1 tiết trênmột tuần với nội dung tập trung vào các vấn đề lớn chủ yếu là lí thuyết và rènluyện ngôn ngữ

Về lí thuyết (dạy trong 5 tiết ) bao gồm có các vấn đề lớn:

- Tổng quan về tiếng Việt: nguồn gốc, quan hệ thân thuộc, tiếp xúc giữa

tiếng Việt và các ngôn ngữ khác ở Việt Nam Quá trình đấu tranh để tự khẳngđịnh và phát triển Tiếng Việt trong giai đoạn hiện nay (2 tiết)

- Lịch sử chữ Quốc ngữ (1 tiết)

- Những yêu cầu của việc sử dụng tiếng Việt có tính chất nghệ thuật:

tính chính xác, tính hình tượng hợp phong cách, tính hàm súc, tính cá thể, hiệuquả tác động (thuyết phục, truyền cảm…) (2 tiết)

Về rèn luyện ngôn ngữ (28 tiết)

- Rèn luyện về từ ngữ Ôn tập về từ và nghĩa của từ Đồng nghĩa, trái

nghĩa Các biện pháp tu từ về từ… (4 tiết)

- Các lỗi dùng từ (4 tiết)

- Lựa chọn từ ngữ để đạt hiệu quả nghệ thuật (4 tiết)

- Ôn, kiểm tra (2 tiết)

- Rèn luyện về câu Ôn tập các kiểu câu theo cấu trúc và theo mục đích

nói năng Kết hợp câu mở rộng câu, rút gọn câu, chuyển đổi kiểu câu Câutrong văn bản… (6 tiết)

- Các lỗi về câu (chú ý lỗi câu trong văn bản) (3 tiết)

- Các biện pháp tu từ cú pháp và cách viết câu đạt hiệu quả nghệ

thuật… (3 tiết)

- Ôn, kiểm tra (2 tiết)

Trang 24

Chương trình tiếng Việt 11 cũng được thực hiện 1 tiết trên tuần với cácvần đề lớn như sau:

Về lí thuyết ( 5 tiết)

- Đặc điểm của tiếng Việt Đặc điểm loại hình và đặc điểm ngữ nghĩa.

Sự phong phú và trong sáng của tiếng Việt Giữ gìn sự trong sáng của tiếngViệt… (2 tiết)

- Giao tiếp bằng ngôn ngữ Các chức năng của ngôn ngữ thể hiện trong

giao tiếp Nhân tố giao tiếp Mục đích và hiệu quả giao tiếp Tác động của cácnhân tố và mục đích giao tiếp thể hiện trong giao tiếp… (3 tiết)

Về phong cách học - tu từ học… (20 tiết)

- Khái niệm phong cách, về tu từ Phong cách tu từ và giao tiếp… (2

tiết)

- Nói và viết, đặc điểm, yêu cầu…(2 tiết)

- Các phong cách thường gặp ( 8 tiết)

- Các lỗi về phong cách (2 tiết)

Thi luật:

- Tính nhạc trong văn tiếng Việt Vai trò của “tiếng” (âm tiết) trong

ngôn ngữ thơ ca… (2 tiết)

- Thơ thất ngôn thơ lục bát, hát nói Thơ mới (2 tiết)

- Ôn tập, kiểm tra ( 2 tiết)

Về ngữ nghĩa của câu

- Câu và phát ngôn Các thành phần thông tin của ngữ nghĩa của phát

ngôn Nghĩa tường minh (hiển ngôn) và nghĩa hàm ẩn (hàm ngôn)… ( 2 tiết)

- Nghĩa hàm ngôn từ vựng… (1 tiết)

- Nghĩa hàm ngôn mệnh đề …( 2 tiết)

- Sự phân tích nghĩa hiển ngôn và hàm ngôn trong văn học… ( 2 tiết)

- Ôn tập (1 tiết)

Như vậy, có thể thấy, cấu trúc chương trình SGK Tiếng Việt được biênsoạn và xây dựng theo nguyên tắc hệ thống Cấu trúc theo chương, bài có quyđịnh số bài số tiết cụ thể đảm bảo các vấn đề lớn của tiếng Việt Ở cả hai bộ

Trang 25

sách Tiếng Việt 10 và 11, tất cả các bài, chương đều có hai phần rõ rệt: phầnkiến thức lí thuyết và phần thực hành Phần lí thuyết trình bày theo kiểu cungcấp kiến thức cho học sinh Phần thực hành có sau phần lí thuyết

Cách bố trí các chương bài theo tính hệ thống của ngôn ngữ, theo quan

hệ logic của bản thân hệ thống ngôn ngữ Các chương trong bộ sách lần lượttập trung vào những vấn đề thuộc những chủ đề riêng biệt

Kết cấu của sách, bài, các chương và nội dung của sách tách biệt với nộidung phân môn Văn học và Làm văn ở cùng một thời gian học tập trong nămhọc - Tạo nên tính độc lập tách rời của cuốn sách ( Khả năng tồn tại độc lập)

1.2.2.2 Kết cấu chương trình sách giáo khoa Ngữ văn cơ bản THPT

Như đã trình bày, Sách giáo khoa Ngữ văn cơ bản THPT được biên

soạn dành cho cả ba khối lớp 10, 11, 12 còn được gọi là chương trình ngữ vănTHPT chuẩn dùng cho các ban Khoa học tự nhiên và các lớp không phân ban.Chương trình này về cơ bản sẽ được dùng cho đại đa số học sinh THPT

Chương trình được xây dựng trên nguyên tắc kế thừa của các chươngtrình Ngữ văn những thập kỉ trước đây, nhất là những kinh nghiệm có được từviệc thí điểm phân ban vào những năm 2002 - 2005, nhằm tránh những hạnchế, khuyết điểm kéo dài trong nhiều thập kỉ qua và vận dụng được nhữngthành tựu ổn định của các khoa học văn học, sư phạm hiện đại…

Môn Ngữ văn được xác định là một môn Khoa học về xã hội và nhânvăn vừa là một môn học về công cụ

Mục tiêu của chương trình đã được thể hiện rất rõ:

“- Trang bị những kiến thức phổ thông, cơ bản hiện đại, có tính hệthống về ngôn ngữ và văn học - trọng tâm là tiếng Việt và văn học Việt Nam-phù hợp với trình độ phát triển của lứa tuổi và yêu cầu đào tạo nhân lực trongthời kì công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước

- Hình thành và phát triển ở học sinh các năng lực sử dụng tiếng Việt,tiếp nhận văn học, cảm thụ thẩm mĩ, phương pháp học tập tư duy, đặc biệt làphương pháp tự học, năng lực ứng dụng những điều đã học vào cuộc sống

Trang 26

- Bồi dưỡng cho học sinh tình yêu tiếng Việt, văn học, văn hóa, tình yêugia đình, thiên nhiên, đất nước, lòng tự hào dân tộc, ý chí tự lập, tự cường, lítưởng XHCN, tinh thần dân chủ nhân văn, giáo dục cho học sinh trách nhiệmcông dân, tinh thần hữu nghị hợp tác quốc tế, ý thức tôn trọng và phát huy cácgiá trị văn hóa của dân tộc và nhân loại” [32, tr.39].

Trên cơ sở những quan điểm biên soạn cùng mục tiêu cụ thể, chươngtrình Ngữ văn cơ bản bậc THPT được xây dựng theo hướng tích hợp nội dungcủa cả ba phân môn là Văn học - Tiếng Việt - Làm văn:

a) Về nội dung tri thức phần Văn học

- Văn bản văn học không chỉ là các tác phẩm được sáng tác bằng tư duyhình tượng, chủ yếu dùng các yếu tố hư cấu tưởng tượng Văn bản văn họccòn là những văn bản không phải hư cấu tưởng tượng, được viết bằng ngôn từnghệ thuật với nhiều thể loại khác nhau như: sử ký, địa chí, văn nghị luận, vănthuyết minh…

- Sách Ngữ văn THPT lựa chọn các văn bản văn học theo tiêu chí thểloại Bám sát vào tiến trình lịch sử văn học để lựa chọn hệ thống tác phẩm tiêubiểu cho các thể loại của mỗi giai đoạn văn học Lấy Văn học Việt Nam làmtrục chính và bổ sung các tác phẩm Văn học nước ngoài cùng thể loại mộtcách tương ứng

- Hệ thống văn bản tác phẩm phải được lựa chọn trên cơ sở có kế thừa

có phát triển mới Do vậy, ngoài những tác phẩm đã có trước đây, sách còntuyển chọn và đưa vào giảng dạy lần đầu tiên một số văn bản mới đây chủ yếu

là các văn bản nghị luận và văn bản nhật dụng

Xuất phát từ các lí do mục đích và yêu cầu của việc giảng dạy phần vănbản trong sách Ngữ văn, một mặt, tích hợp với các nội dung tri thức của cácphân môn khác, mặt khác, còn được xây dựng theo trục tích hợp dọc tức làtrục đồng tâm, cụ thể:

Ở lớp 10, phần văn học gồm hai bộ phận Văn học Việt Nam và Văn họcnước ngoài Trong đó, phần văn học Việt Nam lại gồm có hai bộ phận là Vănhọc dân gian và Văn học viết Trung đại; Văn học nước ngoài tập trung vào

Trang 27

văn học cổ đại Hi Lạp, Ấn Độ, Văn học Trung đại Trung Quốc Bộ phận Vănhọc dân gian được sắp xếp theo tiến trình lịch sử thể loại Bộ phận Văn họcviết Trung đại được sắp xếp theo tiến trình lịch sử văn học Bộ phận văn họcnước ngoài cũng được sắp xếp theo tiến trình lịch sử văn học có chú ý tới tínhkhu vực.

Hệ thống các tác phẩm văn học đã được đưa vào giảng dạy trong sáchvăn học chỉnh lí hợp nhất năm 2000 nay tiếp tục được đưa vào giảng dạy trongsách Ngữ văn Cụ thể:

Văn học dân gian: ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa

Văn học trung đại Việt Nam: Tỏ lòng (Thuật hoài), Cảnh ngày hè (Bảo

kính cảnh giới - Bài 43), Đọc Tiểu Thanh kí (Độc Tiểu Thanh kí), Phú sông Bạch Đằng (Bạch Đằng giang phú), (Bình Ngô đại cáo, (Đại cáo bình Ngô) Trao duyên (trích Truyện Kiều), tác gia Nguyễn Trãi, Nguyễn Du.

Văn học nước ngoài: Uy-lit xơ trở về (trích Ô - đi - xê, Hô-me-rơ),

Ra-ma buộc tội (trích Ra-Ra-ma-ya-na, Van-mi-ki), Tại lầu Hoàng Hạc tiễn Mạnh Hạo Nhiên đi Quảng Lăng (Hoàng Hạc Lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng

Lăng - Lí Bạch)

Ngoài ra, chương trình còn đưa vào giảng dạy một số tác phẩm mới

như: Tựa Trích diễm thi tập (Hoàng Đức Lương), Hưng Đạo Đại Vương Trần

Quốc Tuấn (trích Đại Việt sử kí toàn thư - Ngô Sĩ Liên), Chuyện chức phán sự đền Tản Viên (Trích Truyền kì mạn lục - Nguyễn Dữ)…

Ở lớp 11, phần văn bản tác phẩm tiếp tục được biên soạn với hệ thốnggồm hai bộ phận là văn học Việt Nam và văn học nước ngoài

Phần văn bản Văn học Việt Nam tiếp tục với phần văn học trung đại ởlớp 10 (bộ phận văn học Việt Nam thế kỉ XIX), song chủ yếu tập trung vàovăn học hiện đại Việt Nam 45 năm đầu thế kỉ XX - nền văn học trên conđường hiện đại hóa Cụ thể:

- Phần văn học trung đại tiếp tục với các tác phẩm: Vào phủ chúa Trịnh (trích Thượng kinh kí sự - Lê Hữu Trác), Tự tình (Hồ Xuân Hương), Câu cá

mùa thu (Thu điếu - Nguyễn Khuyến), Thương vợ (Trần Tế Xương), Bài ca

Trang 28

ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ), Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Sa hành đoản

ca - Cao Bá Quát), Lẽ ghét thương (trích Lục Vân Tiên - Nguyễn Đình Chiểu) Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu)…

- Phần văn học hiện đại tập trung vào ba khuynh hướng văn học là lãngmạn hiện thực và cách mạng trên cơ sở làm nổi bật đặc trưng thể loại văn họcgồm: Thơ, văn xuôi, kịch, văn nghị luận…

+ Về truyện: có các tác phẩm: Hai đứa trẻ (Thạch Lam), Chữ người tử

tù (Nguyễn Tuân), Hạnh phúc của một tang gia (trích Số đỏ - Vũ Trọng

Phụng), Chí Phèo (Nam Cao)

+ Về thơ: tập trung chủ yếu là nhóm thơ ca lãng mạn và thơ ca cáchmạng Thơ lãng mạn chủ yếu là các tác phẩm của phong trào Thơ mới như

Hầu trời (Tản Đà) Tràng giang (Huy Cận), Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mặc Tử), Vội vàng (Xuân Diệu),… Thơ ca cách mạng chương trình chọn dạy hai tác

phẩm: Lưu biệt khi xuất dương (Xuất dương lưu biệt - Phan Bội Châu), Từ ấy (Tố Hữu), Chiều tối ( Mộ - Hồ Chí Minh)

+ Về kịch: chương trình đưa vào giảng dạy một đoạn trích kịch Vĩnh

biệt Cữu Trùng Đài (trích Vũ Như Tô - Nguyễn Huy Tưởng)

+ Về văn nghị luận: có các tác phẩm Về luân lí xã hội ở nước ta (Trích

Đạo đức và luân lí Đông Tây - Phan Châu Trinh), Một thời đại trong thi ca

Ở lớp 12, tiếp tục với hai bộ phận như ở lớp 10 và 11 là văn học ViệtNam và văn học nước ngoài

- Phần văn học Việt Nam tập trung vào các tác phẩm thuộc giai đoạnvăn học từ 1945 đến nay, trong đó có chú ý mở rộng đến những tác phẩm saunăm 1975 Về loại thể:

Trang 29

+ Truyện: Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi), Vợ chồng A

phủ (Tô Hoài), Vợ nhặt (kim Lân), Rừng Xà nu (Nguyễn Trung Thành), Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu).

+ Thơ ca: Tây tiến (Quang Dũng), Việt Bắc (Trích Việt Bắc - Tố Hữu),

Đất nước (trích trường ca Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm), Sóng

(Xuân Quỳnh), Đàn Ghi - ta của Lorca (Thanh Thảo).

+ Văn nghị luận: Tuyên ngôn độc lập (Hồ Chí Minh), Nguyễn Đình

Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc (Phạm Văn Đồng), Nhìn về vốn văn hóa dân tộc (Trần Đình Hượu ).

+ Kịch và kí: Người lái đò sông Đà (Nguyễn Tuân), Ai đã đặt tên cho

dòng sông? (Hoàng Phủ Ngọc Tường), Hồn Trương, Ba da hàng thịt (Lưu

Quang Vũ)

- Phần văn học nước ngoài: gồm chủ yếu các tác phẩm hiện đại nổi

tiếng của thế giới: Thuốc (Lỗ Tấn), Số phận con người (trích của Sô-lô-khốp),

Ông già và biển cả (trích của Heminway).

Như vậy có thể thấy, cấu trúc xây chương trình SGK ở bộ phận văn bảnmang tính loại thể rất rõ Chương trình xây dựng, một mặt, đảm bảo đầy đủcác thể loại văn học cơ bản, mặt khác, đảm bảo tính hệ thống của tiến trìnhlịch sử văn học Đây là hướng tích hợp theo trục dọc, nhằm giúp cho học sinh

có cái nhìn đầy đủ sâu sắc và toàn diện về hệ thống thể loại văn học và quátrình phát triển của lịch sử văn học qua từng chặng đường cơ bản

b) Về nội dung kiến thức kĩ năng làm văn

Sách làm văn chỉnh lí hợp nhất năm 2000 được biên soạn thành mộtcuốn riêng biệt độc lập và chia nhỏ thành các bài ứng với từng thao tác kĩ năng

cụ thể Tuy nhiên, trên thực tế bài văn là sự kết hợp và tổng hợp các thao tác

cơ bản, vận dụng các thao tác một cách tổng hợp và linh hoạt Làm văn là một

bộ phận trong chỉnh thể chương trình môn Ngữ văn Việc biên soạn chươngtrình phải đảm bảo tính kế thừa tức là có sự củng cố những tri thức làm văn đãhọc ở các lớp dưới bậc THCS, đồng thời nâng cao kĩ năng làm văn nghị luậncho học sinh Chính vì vậy, sách Ngữ văn đã triệt để vận dụng quan điểm này

Trang 30

trong việc xây dựng chương trình cho phân môn làm văn Cụ thể, phần làmvăn trong sách Ngữ văn được biên soạn:

Ở lớp 10, chương trình Làm văn tập trung vào những vấn đề chung vềvăn bản, tạo lập văn bản và các kiểu văn bản Phần này nhằm hệ thống hóanhững kiến thức chung đã học ở THCS Nhiệm vụ chủ yếu của Làm văn 10 là

ôn tập, hệ thống hóa và nâng cao thêm các kiến thức và kĩ năng của học sinh,tạo điều kiện để mở rộng và nâng cao để hoàn thiện ở các lớp 11, 12 tiếp theo.Trên tinh thần ấy, chương trình tập trung vào một số nội dung cơ bản như sau:

+ Hệ thống hóa các kiểu văn bản đã học ở THCS

+ Văn bản tự sự có yếu tố miêu tả, biểu cảm

+ Cách tóm tắt văn bản tự sự theo nhân vật chính

+ Văn bản thuyết minh, cách tóm tắt văn bản thuyết minh

+ Văn bản nghị luận: luận điểm, luận cứ, lập luận, cách làm bài vănnghị luận…

+ Luyện nói, luyện viết đoạn văn, bài văn tự sự, thuyết minh nghị luận.+ Một số kiểu văn bản khác: quảng cáo, kế hoạch cá nhân

So với chương trình Làm văn cũ chương trình Làm văn mới sẽ thấy cónhiều điểm khác biệt Chương trình cũ chỉ học kiểu bài nghị luận, trong khi ởchương trình mới, phần này vẫn được giảng dạy, song chỉ chỉ chiếm một phầnnhất định và ngoài ra có nhiều kiểu văn bản khác nữa (quảng cáo, kế hoạch cánhân) Trên cơ sở các nội dung, chương trình xây dựng thành các cụm bài:

- Văn bản tự sự:

+ Lập dàn ý cho bài văn tự sự

+ Chọn sự việc chi tiết tiêu biểu trong bài văn tự sự

+ Miêu tả và biểu cảm trong văn tự sự

+ Luyện tập viết đoạn văn tự sự

- Văn bản thuyết minh:

+ Các hình thức kết cấu của văn bản thuyết minh

+ Lập dàn ý bài văn thuyết minh

+ Tính chuẩn xác, hấp dẫn của của văn bản thuyết minh

Trang 31

+ Phương pháp thuyết minh

+ Luyện tập viết đoạn văn thuyết minh

+ Tóm tắt văn bản thuyết minh

- Văn bản nghị luận:

+ Lập dàn ý cho bài văn nghị luận

+ Lập luận trong văn nghị luận

Ở lớp 11, với mục tiêu giúp học sinh đạt hiệu quả cao trong giao tiếp,nội dung tri thức Làm văn 11 tập trung chủ yếu vào việc rèn luyện cho họcsinh các thao tác làm văn nghị luận dưới hình thức vận dụng tổng hợp các thaotác Bởi vậy, phần Làm văn này có những nội dung cơ bản như sau:

- Văn nghị luận:

+ Phân tích đề lập dàn ý cho bài văn nghị luận

+ Các thao tác lập luận: phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận và vậndụng kết hợp các thao tác đó trong bài văn nghị luận

+ Tóm tắt văn bản nghị luận

- Các văn bản khác: bản tin, tiểu sử tóm tắt…

- Phỏng vấn và trả lời phỏng vấn

Đan xen với các nội dung tri thức là các bài kiểm tra đánh giá

Ở lớp 12, chương trình Làm văn tiếp tục hệ thống hóa và củng cố các trithức kĩ năng làm văn đã được hình thành ở các lớp dưới và bậc học dưới Đó

là các kĩ năng làm văn: thực hành lập luận (vận dụng kết hợp các thao tác lập

Trang 32

luận, phát hiện và sửa chữa các lỗi về lập luận, viết phần mở bài và kết bàitrong bài văn nghị luận, diễn đạt trong văn nghị luận).

Phần Làm văn 12 tập trung chủ yếu vào các kiểu bài nghị luận cụ thểnhư sau:

- Kiểu bài nghị luận xã hội

+ Nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

+ Nghị luận về một hiện tượng đời sống

- Nghị luận văn học

+ Nghị luận về một bài thơ, đoạn thơ

+ Nghị luận về một ý kiến bàn về văn học

+ Nghị luận về một tác phẩm, một đoạn trích văn xuôi

,Nhìn chung phần Làm văn tập trung chủ yếu vào việc rèn các kĩ năngthực hành cho học sinh Thông qua đó, phát huy năng lực, tính tích cực chủđộng học tập của học sinh Đây là sự khác biệt lớn trong việc biên soạn nộidung làm văn trong sách Ngữ Văn so với sách Làm văn chỉnh lí hợp nhấttrước đây

c) Về nội dung tri thức tiếng Việt

Bộ sách Tiếng Việt chỉnh lí hợp nhất năm 2000 được biên soạn cho haikhối lớp 10 và 11 riêng lớp 12 không có phần tiếng Việt Trong bộ sách Ngữvăn, tiếng Việt có ở cả ba lớp học 10, 11,12 và được biên soạn xen kẽ với cácphân môn còn lại là Đọc - hiểu và Làm văn Thời lượng dành cho phân mônnày được quy định cụ thể:

LỚP 10 LỚP 11 LỚP 12 TỔNG

- Tiếng Việt 10 được biên soạn với mục tiêu:

+ Hình thành một số kiến thức về ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói

riêng Trên cơ sở những kiến thức đã học ở Trung học cơ sở sách Ngữ văn 10,

Trang 33

“hình thành và nâng cao những kiến thức về hoạt động giao tiếp bằng ngônngữ, về sản phẩm của hoạt động giao tiếp là văn bản, về đặc điểm của haidạng ngôn ngữ trong giao tiếp là ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết và về nhữngyêu cầu đối việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp Từ đó, đi đến những kiếnthức về hai phong cách ngôn ngữ đã có từ lâu: phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

và phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” [32, tr.72]

+ “Nâng cao kĩ năng sử dụng tiếng Việt khi nói, khi viết, và năng lựcphân tích lĩnh hội văn bản khi nghe khi đọc Những kĩ năng này được luyệntập củng cố và nâng cao qua các hoạt động thực hành Đồng thời với các kĩnăng ngôn ngữ là các kĩ năng nhận thức, tư duy cũng được phát triển và hoànthiện” [32, tr.72]

+ “Bồi dưỡng tình cảm yêu quý tiếng Việt, thái độ tôn trọng và ý thứcgiữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt” [32, tr.73] Những tình cảm, thái độ và ýthức đó cần được hình thành nuôi dưỡng qua từng tiết học, bài học tiếng Việt

cụ thể

- Trên cơ sở mục tiêu cụ thể, Tiếng Việt lớp 10 được biên soạn vớitổng số tiết là 16 tiết và số bài học trực tiếp là 10 Ngoài ra, phần nội dung dạyhọc tiếng Việt còn được thực hiện ở các mục chú giải từ ngữ sau mỗi văn bản,bảng tra cứu từ Hán Việt…

Phần nội dung dạy học tiếng Việt được trình bày theo hệ thống cấu trúcvới những nguyên tắc cụ thể: Nguyên tắc tích hợp (xen kẽ và phối hợp phầntiếng Việt với các phần Văn học và Làm văn ở những nội dung gần gũi).Nguyên tắc đi từ nội dung quen thuộc, gần gũi đến những kiến thức mới

Sách đề cập đến những vấn đề chủ chốt thường gặp về tiếng Việt Sáchtrình bày các nội dung chính trong hai loại bài:

Thứ nhất: loại bài hình thành kiến thức kĩ năng mới Nội dung những

bài này chưa được dạy hoặc chưa được đề cập một cách trực tiếp trong chươngtrình Trung học cơ sở Đó là những bài sau:

+ Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ (2 tiết)

+ Văn bản và đặc điểm của văn bản (2 tiết)

Trang 34

+ Đặc điểm của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết (1 tiết)

+ Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt (2 tiết)

+ Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật (2 tiết)

+ Khái quát về lịch sử tiếng Việt (1 tiết)

Thứ hai: loại bài củng cố kiến thức và kĩ năng mà học sinh đã được học

ở các lớp dưới hoặc đã có hiểu biết sơ giản Đó là các bài:

+ Các phép tu từ ẩn dụ và hoán dụ (1 tiết)

+ Các phép tu từ điệp và đối (1 tiết)

+ Yêu cầu chung về sử dụng tiếng Việt (2 tiết)

Ôn tập tiếng Việt cuối năm (2 tiết)

Với mỗi loại bài, sách có những cách tiếp cận và yêu cầu cần đạt đượckhác nhau

- Tiếng Việt lớp 11, được dành thời lượng là 16 tiết với 13 bài học.Cũng như Tiếng Việt 10, tiếng Việt 11 xây dựng cấu trúc chương trình khôngcăn cứ vào hệ thông của ngôn ngữ, mà chú ý đến tích hợp với các phần Vănhọc và Làm văn Các bài tiếng Việt được bố trí xen kẽ với các bài Văn học vàLàm văn để tạo nên được sự tích hợp tốt nhất Phần lớn các bài phần TiếngViệt đều dựa trên ngữ liệu các văn bản văn học vừa học hay đang học để tạonên tác động hai mặt

Phần Tiếng Việt 11 trong sách Ngữ văn tiếp tục được biên soạn theonguyên tắc đề cao tính tích cực chủ động của học sinh trong học tập Học sinhthông qua những tìm tòi khám phá của mình mà dần hình thành các kĩ năng,kiến thức Các hoạt động thực hành được chú ý thường xuyên, liên tục Nộidung chương trình vừa có những phần kiến thức mang tính củng cố ở các cấphọc dưới đã được học, vừa có những kiến thức mới học sinh tiếp cận lần đầu

Cụ thể:

Có bốn bài học duy trì nội dung đề tài như ở SGK Tiếng Việt 11 chỉnh lí

hợp nhất năm 2000, song cách tiếp cận thì khác nhiều Đó là các bài:

+ Đặc điểm loại hình của tiếng Việt (1 tiết)

+ Nghĩa của câu (2 tiết)

Trang 35

+ Phong cách ngôn ngữ báo chí (1 tiết)

+ Phong cách ngôn ngữ chính luận (2 tiết)

Có hai bài học mới không có trong chương trình SGK cũ

+ Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhân (2 tiết)

+ Ngữ cảnh (1 tiết)

Có bốn bài học chỉ thuần túy thực hành, không có trong SGK TiếngViệt 11 cũ nhằm ôn luyện và nâng cao kiến thức kĩ năng mà học sinh đã học ởTHCS:

+ Thực hành về thành ngữ điển cố (1 tiết)

+ Thực hành về nghĩa của từ trong sử dụng (1 tiết)

+ Thực hành về lựa chọn trật tự các bộ phận trong câu (1 tiết)

+ Thực hành về sử dụng một số kiểu câu trong văn bản (1 tiết)

Ngoài ra, còn có một bài ôn tập cuối năm, bài tìm hiểu thêm về từ HánViệt cũng thiên về thực hành là chủ yếu

Như vậy có thể thấy, xu hướng tăng cường các hoạt động thực hành củahọc sinh trong tiếp cận tri thức là rất rõ ở phần tiếng Việt 11

- Như đã trình bày ở trên, bộ sách chỉnh lí hợp nhất không có Tiếng Việt

12 Trong bộ sách Ngữ văn, Tiếng Việt đã được chú trọng đưa vào dạy đều ở

cả ba khối lớp Nói như vậy, tức là trong cuốn Ngữ văn 12 có một thời lượng nhất định được dành cho Tiếng Việt Cụ thể: phần tiếng Việt trong Ngữ văn

được chọn dạy với tổng số là 16 tiết tập trung vào hai loại bài:

Thứ nhất: loại bài thiên về hình thành kiến thức kĩ năng mới, chưa đượcdạy học ở các lớp dưới, gồm có các bài:

+ Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt

+ Phong cách ngôn ngữ khoa học

+ Phong cách ngôn ngữ hành chính

+ Luật thơ

+ Nhân vật giao tiếp

Thứ hai: loại bài thực hành để nâng cao kiến thức củng cố những kĩnăng đã học, gồm có các bài:

Trang 36

+ Thực hành một số phép tu từ ngữ âm

+ Thực hành một số phép tu từ cú pháp

+ Thực hành về hàm ý

+ Tổng kết phần Tiếng Việt: hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

+ Tổng kết phần Tiếng Việt: lịch sử, đặc điểm loại hình và các phongcách ngôn ngữ

Như vậy, nhìn trên tổng thể cả ba khối lớp 10,11, 12 phần Tiếng Việtđều được biên soạn thống nhất ở một số nội dung như sau:

Thứ nhất: Việc chọn lựa nội dung giảng dạy là theo cấu trúc có sự kếthợp của cả cũ và mới Có những bài học của SGK cũ nay vẫn tiếp tục đượcđưa vào, bên cạnh đó, bổ sung những bài học mới cho phù hợp và đáp ứngđược mục tiêu đào tạo của cấp học, môn học

Thứ hai: Việc biên soạn nội dung giảng dạy được thực hiện theo hướngtriệt để tăng cường khả năng hoạt động thực hành ở học sinh Đây là điểm mớinhằm phát huy tính tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức của người học, phùhợp với xu thế chung của thời đại

1.2.3 Nhìn chung về phần Ngữ pháp ở hai bộ sách

Cũng như những cấp độ khác, ngữ pháp chiếm một vai trò quan trọngkhông thể thay thế trong hệ thống ngôn ngữ Từ ngữ chỉ có thể phát huy giá trịcủa nó khi chúng được tổ chức theo các quy tắc ngữ pháp để biểu đạt nhữngnội dung cụ thể

Thuật ngữ Ngữ pháp có nguồn gốc từ tiếng Latinh “Grammatike”, và được dich từ tiếng Anh “Grammar”, tiếng Pháp “Grammaire”, có nghĩa là

“phép tắc về ngôn ngữ” hay “quy tắc viết, nói đúng” Theo Từ điển tiếng Việt

của Viện Ngôn ngữ học do tác giả Hoàng Phê chủ biên, xuất bản năm 2000 thìNgữ pháp được hiểu là “hệ thống những phương pháp và quy tắc cấu tạo từ,cấu tạo câu trong một đơn vị ngôn ngữ” [29, tr.696] Cũng theo tác giả Hoàng

Phê thì Ngữ pháp tiếng Việt là “những quy tắc cần theo để nói và viết cho

đúng một ngôn ngữ” [29, tr.696] Hiểu một cách chung nhất: “Ngữ pháp làtoàn bộ các quy tắc biến đổi hình thức của từ, các đặc tính ngữ pháp của từ

Trang 37

loại và các quy tắc cấu tạo cụm từ, câu tạo câu” [23, tr.5] Ngữ pháp chi phốiviệc sử dụng các đơn vị ngôn ngữ để tạo thành lời nói làm cho ngôn ngữ thựchiện vai trò quan trọng trong việc tổ chức hoạt động tạo lập và lĩnh hội vănbản Như vậy, ngữ pháp là bộ phận không thể thiếu trong phần Tiếng Việt ởphổ thông nói chung, trường THPT nói riêng.

1.2.3.1 Nhìn chung về phần Ngữ pháp trong sách Tiếng Việt chỉnh lí hợp nhất

Ngữ pháp tiếng Việt trong nhà trường THPT được triển khai ở lớp 10

và 11 Dung lượng dành cho phần này không nhiều, chỉ có 16 tiết ở cả haikhối lớp, nhưng nội dung các vấn đề thì khá phong phú và không phải là giảnđơn

So với các lớp dưới, chương trình ngữ pháp trong sách chỉnh lí hợp nhất

có một số điểm nổi bật như sau:

- Ngữ pháp tiếng Việt bậc THPT tập trung vào phần cú pháp, nghĩa làphần ngữ pháp ở bậc câu và ở lĩnh vực trên câu (văn bản) Các vấn đề thuộc

về từ pháp, từ loại và cụm từ đã được giải quyết ở các lớp dưới, nên không đềcập trực tiếp trong chương trình THPT, tuy chúng vẫn ít nhiều có liên quan

- Trong phạm vi ngữ pháp ở bậc câu, chương trình quan tâm đến nhiềubình diện khác nhau của câu: tiếp tục hệ thống hóa và nâng cao một số kiếnthức về cú pháp đã được dạy và học ở các lớp dưới như các vấn đề về cấu tạongữ pháp của câu, câu phân loại theo mục đích nói, sự liên kết câu trong vănbản, trên quan điểm trình bày sâu hơn, rộng hơn, và nâng cao hơn so với cáclớp dưới

- Đặc biệt chú trọng đến bình diện ngữ nghĩa của câu Đây là bình diệngần như chưa được đề cập đến ở các bậc học dưới Chương trình chú ý nhiềuđến các ý nghĩa mệnh đề (nghĩa miêu tả) nghĩa tình thái của câu đồng thờicũng dành sự quan tâm tới các thành phần nghĩa tường minh, hàm ẩn của câu,cũng như hàm ngôn của văn bản nghệ thuật Liên quan đến ngữ nghĩa của câu,sách còn đề cập đến việc sử dụng các kiểu câu phân loại theo mục đích nói,theo lối trực tiếp, gián tiếp

Trang 38

- Chương trình thể hiện khuynh hướng khảo sát và trình bày câu tronghoạt động hành chức của nó Dạy và học câu không phải chỉ ở trên nhận thức

mô hình cấu tạo, ở trạng thái cô lập, tách rời khỏi hoàn cảnh giao tiếp, mà câuđược xem xét trong mối liên hệ với hoạt động hành chức Đó là các vấn đềnhư: câu và phát ngôn, mối quan hệ giữa câu và hiện thực được phản ánh, giữa

ý nghĩa mệnh đề với ý nghĩa tình thái…

- Tiếng Việt nói chung, Ngữ pháp tiếng Việt nói riêng chú ý đến mốiquan hệ giữa Ngôn ngữ và Văn học, thể hiện ở hai thành phần nghĩa hiển ngôn

và hàm ngôn trong văn bản nghệ thuật, trong cách lựa chọn trật tự sắp xếp cácthành phần câu, lựa chọn kiểu câu… để tạo nên các sắc thái nghệ thuật hoặcbiếu cảm…

Như vậy có thể thấy, việc biên soạn phần ngữ pháp tiếng Việt cũng nhưcác phần khác, các phân môn đều có sự thống nhất chung ở quan điểm biênsoạn vừa có cũ vừa có mới, vừa có lí thuyết vừa có thực hành Tất cả hướngtới một mục tiêu chung là cung cấp các tri thức về cú pháp tiếng Việt, đồngthời rèn luyện các kĩ năng tạo lập văn bản cho học sinh

1.2.3.2 Nhìn chung về phần Ngữ pháp trong sách Ngữ văn

Nếu phần Ngữ pháp tiếng Việt trong SGK Tiếng Việt chỉnh lí hợp nhấtchỉ được trình bày chủ yếu ở lớp 10 và 11, thì phần Ngữ pháp tiếng Việt trongchương trình Ngữ văn lại được biên soạn và trình bày ở cả ba khối lớp là 10,

11 và 12 với thời lượng là 7 tiết chính thức và được dạy trong 5 bài học(không kể những phần tích hợp, hoặc không được trình bày riêng thành mộtđơn vị bài học độc lập)

Trên cơ sở kế thừa những tri thức của SGK cũ và những điều chỉnh kịpthời đáp ứng nhu cầu thực tế của việc dạy và học, chương trình ngữ pháp trong

sách giáo khoa Ngữ văn một mặt được giảm bớt về số tiết học, mặt khác, vẫn

đảm bảo được các đơn vị kiến thức cơ bản Cụ thể:

- Tiếp tục quan điểm tập trung xem xét ngữ pháp ở cấp độ câu

Trang 39

- Nội dung chương trình đảm bảo tính kế thừa và phát triển: có nhữngtri thức ngữ pháp đã học ở các bậc học dưới, nay tiếp tục được giảng dạy lại,nhưng trên tinh thần đào sâu, mở rộng và độ khó thì cao hơn nhiều.

- Tăng cường nội dung thực hành, yêu cầu luyện tập đối với học sinh.Giảm bớt phần kiến thức lí thuyết thuần túy Thông qua luyện tập để rèn luyện

tư duy cho học sinh, giúp học sinh có thể tạo lập câu vừa đúng về cấu tạo ngữpháp vừa phù hợp với việc thể hiện nội dung ý nghĩa định bộc lộ (đạt hiệu quảgiao tiếp cao nhất)

Quan điểm đẩy mạnh việc xem xét và nghiên cứu câu trong hoạt độnghành chức tiếp tục được bộc lộ rõ Quan điểm này mang tính kế thừa SGK

Tiếng Việt chỉnh lí hợp nhất năm 2000.

Do được biên soạn theo tinh thần tích hợp nên phần ngữ pháp trongSGK ngữ văn có mối liên hệ chặt chẽ với các hợp phần khác như Đọc - hiểu,Làm văn Dạy câu chính là cung cấp cho học sinh kĩ năng viết một bài văn vàkhả năng đào sâu hơn những tri thức đọc - hiểu

Ngoài những bài đề cập trực tiếp, những bài có liên quan cũng đóng gópmột phần quan trọng trong việc triển khai các nội dung Ngữ pháp tiếng Việt

Tiểu kết chương 1

Sự ra đời của bộ sách Tiếng Việt chỉnh lí hợp nhất năm 2000 đã cơ bảngiải quyết được những vướng mắc trong việc thực hiện nội dung dạy và họctiếng trong nhà trường phổ thông, đem đến một sự chuẩn hóa và thống nhất vềnội dung, kiến thức dạy và học trong nhà trường Việt Nam

Sự phát triển của khoa học kĩ thuật, những thành tựu nghiên cứu củangành ngôn ngữ học, cũng những đổi thay của xu thế dạy học trên thế giới đãđưa đến một lần nữa SGK Ngữ văn được thay đổi Quan điểm tích hợp trongviệc xây dựng chương trình và SGK bước đầu giải quyết được những bài toánmuôn thuở của nền giáo dục nước ta Đây là một trong những xu hướng giáodục hiện đại đã và đang được áp dụng ở nhiều nước tiên tiến trên thế giới

Trang 40

Kết cấu chương trình của hai bộ sách được sử dụng hai thời kì là rấtkhác nhau, xuất phát từ những quan điểm khác nhau trong việc biên soạnnhằm đáp ứng nhu cầu trước mắt cũng như lâu dài của môn học

Nội dung phần ngữ pháp trong hai bộ sách được biên soạn tập trung vàocấp độ câu với cả những tri thức mang tính lí thuyết và cả những yêu cầu vềthực hành, trên cơ sở kế thừa và phát triển vì mục tiêu chung rèn các kĩ năngtạo lập văn bản cho người học

Ngày đăng: 22/12/2013, 12:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Lê A chủ biên (2007), Phương pháp dạy học Tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Tác giả: Lê A chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
[2] Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
[3] Diệp Quang Ban chủ biên (2001), Tiếng Việt 10, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 10
Tác giả: Diệp Quang Ban chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
[4] Diệp Quang Ban (1998), Một số vấn đề về câu tồn tại trong tiếng Việt, NXB Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về câu tồn tại trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
[5] Nguyễn Huy Cẩn chủ biên (2006), Việt ngữ học dưới ánh sáng các lí thuyết hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt ngữ học dưới ánh sáng các líthuyết hiện đại
Tác giả: Nguyễn Huy Cẩn chủ biên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2006
[6] Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2005), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngônngữ học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
[7] Hồng Dân chủ biên (2006), Tiếng Việt 11, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 11
Tác giả: Hồng Dân chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2006
[8] Nguyễn Đức Dân (1987), Logic - Ngữ nghĩa - Cú pháp, Nxb ĐH và THCN, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Logic - Ngữ nghĩa - Cú pháp
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb ĐH vàTHCN
Năm: 1987
[9] Trương Dĩnh (2003), Thiết kế mới về dạy học tiếng Việt 11, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế mới về dạy học tiếng Việt 11
Tác giả: Trương Dĩnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
[10] Nguyễn Văn Đường chủ biên (2008), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10 tập 1, tập 2, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 10 tập1, tập 2
Tác giả: Nguyễn Văn Đường chủ biên
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2008
[11] Nguyễn Văn Đường chủ biên (2008), Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11 tập 1, tập 2, Nxb Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng Ngữ văn 11
Tác giả: Nguyễn Văn Đường chủ biên
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2008
[12] Cao Xuân Hạo chủ biên (1998), Sơ thảo Ngữ pháp chức năng, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sơ thảo Ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáodục
Năm: 1998
[13] Cao Xuân Hạo (1998), Tiếng Việt: mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt: mấy vấn đề ngữ âm, ngữ pháp, ngữnghĩa
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
[14] Kỉ yếu Hội thảo khoa học Dạy học ngữ văn ở trường phổ thông theo chương trình và sách giáo khoa mới (2007), Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỉ yếu Hội thảo khoa học Dạy học ngữ văn ở trường phổ thông theochương trình và sách giáo khoa mới
Tác giả: Kỉ yếu Hội thảo khoa học Dạy học ngữ văn ở trường phổ thông theo chương trình và sách giáo khoa mới
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2007
[15] Đinh Trong Lạc chủ biên (1994), Sổ tay tiếng Việt phổ thông trung học, Nxb Giáo dục. H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay tiếng Việt phổ thông trung học
Tác giả: Đinh Trong Lạc chủ biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục. H
Năm: 1994
[16] Đinh Trọng Lạc (2000), 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phương tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
[17] Đinh Trọng Lạc - Nguyễn Thái Hòa, (1999), Phong cách học tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc - Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
[18] Lưu Vân Lăng chủ biên (2008), Những vấn đề Ngữ pháp tiếng Việt hiện đại, Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề Ngữ pháp tiếng Việt hiệnđại
Tác giả: Lưu Vân Lăng chủ biên
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2008
[19] Hồ Lê (1991), Phương pháp nghiên cứu cú pháp, Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp nghiên cứu cú pháp
Tác giả: Hồ Lê
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1991
[20] Hồ Lê (1998), "Vấn đề phân loại câu trong tiếng Việt hiện đại", Tạp chí Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề phân loại câu trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Hồ Lê
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Từ bảng thống kờ trờn, chỳng tụi rỳt ra một số nhận xột: - So sánh phần ngữ pháp trong sách tiếng việt hợp nhất năm 2000 và bộ sách ngữ văn cơ bản trung học phổ thông hiện nay luận văn thạc sỹ ngữ văn
b ảng thống kờ trờn, chỳng tụi rỳt ra một số nhận xột: (Trang 84)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w