1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh nam ông mộng lục của hồ nguyên trừng và bắc hàng tùng ký của lê quýnh

98 795 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh Nam ông Mộng Lục của Hồ Nguyên Trừng và Bắc Hành Tùng Ký của Lê Quýnh
Tác giả Hồ Nguyên Trừng, Lê Quýnh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2008
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 411 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong số những tác phẩm ký của văn học trung đại Việt Nam Nam Ông mộng lục và Bắc hành tùng ký xứng đáng có được một sự chú ý đặc biệt.. Bản thân hai tác phẩm này tự chúng cũng chứa đựng

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

Hồ thị hà

So sánh nam ông mộng lục của Hồ Nguyên

trừng

và bắc hành tùng ký của lê quýnh

luận văn thạc sĩ ngữ văn

Vinh - 2008

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Đối tượng nghiờn cứu 6

4 Nhiệm vụ nghiờn cứu 6

Trang 2

5 Phương pháp nghiên cứu 7

6 Đóng góp của luận văn 7

7 Cấu trúc luận văn 7

NỘI DUNG 8

Chương 1 Các tiền đề của việc so sánh hai tác phẩm Nam ông mộng lục và Bắc hành tùng ký 8

1.1 Khái quát chung về thể loại ký trong văn chương Việt Nam trung đại 8

1.2 Tiền đề trực tiếp của việc so sánh hai tác phẩm 13

1.2.1 Tác giả Hồ Nguyên Trừng và hoàn cảnh sáng tác Nam ông mộng lục 13

1.2.2 Tác giả Lê Quýnh và xuất xứ của Bắc hành tùng ký 16

1.2.3 Những điểm tương đồng giữa hai tác giả và hai tác phẩm 24

1.2.4 Những điểm khác biệt giữa hai tác giả và hai tác phẩm 26

Chương 2 So sánh hai tác phẩm trên phương diện nội dung 29

2.1 Đề tài nội dung câu chuyện trong hai tác phẩm 29

2.1.1 Nam ông mộng lục viết chuyện xưa, chuyện của người khác còn nhớ lại 29

2.1.2 Bắc hành tùng ký chép chuyện nay, chuyện chính mình 37

2.2 Chủ đề tư tưởng của hai tác phẩm 46

2.2.1 Nam ông mộng lục là mộng hồn cố quốc của một người tha hương vĩnh viễn 46

2.2.2 Bắc hành tùng ký là tiết tháo của một kẻ cô trung đối cựu hoàng chờ ngày trở lại quê hương 56

Chương 3 So sánh hai tác phẩm trên phương diện hình thức

Trang 3

nghệ thuật 72

3.1 Tính chất thể loại của từng tác phẩm 72

3.1.1 Tác phẩm Nam ông mộng lục có tính cách là một tập tạp ký, ngẫu lục 72

3.1.2 Bắc hành tùng ký có tính cách là một bút ký, ký sự 76

3.2 Thời gian phản ánh trong hai tác phẩm 77

3.2.1 Nam ông mộng lục về cơ bản là hồi tưởng thời gian quá khứ 77

3.2.2 Bắc hành tùng ký bám sát ngày giờ hiện tại, phản ánh một chuỗi thời gian liên tục, chờ đợi ngày hồi hương cố quốc 79

3.3 Bút pháp của hai tác phẩm 80

3.3.1 Nam ông mộng lục sử dụng bút pháp sử truyện 80

3.3.2 Bắc hành tùng ký sử dụng bút pháp thực lục, biên ký 82

3.4 Kết cấu của hai tác phẩm 85

3.4.1 Nam ông mộng lục là một tập các thiên văn xuôi đa thể loại, lỏng về kết cấu chung 86

3.4.2 Bắc hành tùng ký là một trường thiên bút ký xen dùng nhiều thể văn 87

Kết luận 89

Tài liệu tham khảo 91

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tầm quan trọng của thể loại ký trong văn chương trung đại

Ký là một thể loại lớn của nền văn xuôi trung đại Việt Nam Không giống như văn học hiện đại, trong văn xuôi Việt Nam trung đại ký là một thể

loại bên cạnh các thể loại khác Có thể nói, trừ những tác phẩm đã là đoản

Trang 4

thiên truyện ngắn truyền kỳ hoặc trường thiên chương hồi và văn chính luận

ra còn nữa dường như đều được xếp vào ký

1.2 Trong số những tác phẩm ký của văn học trung đại Việt Nam Nam

Ông mộng lục và Bắc hành tùng ký xứng đáng có được một sự chú ý đặc biệt.

Cả hai đều là những tác phẩm có quy mô, hoàn chỉnh và được sáng táctrong những hoàn cảnh có thể nói là đặc biệt đối với tác giả của chúng nhưnglại khá điển hình cho hoàn cảnh chung của lịch sử triều đại

Có thể gọi đây là hai tác phẩm hải ngoại của văn xuôi tự sự Việt Namthời trung đại Tác giả của chúng là những vong thần của những vong triều,

để lại một phần lớn cuộc đời trên đất khách mà tác phẩm được viết ra như làmột nỗi niềm cố quốc tha hương

1.3 Bản thân hai tác phẩm này tự chúng cũng chứa đựng những đối

sánh rất thú vị:

Tác giả Nam Ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng sau khi lưu vong

Trung Quốc trở thành mệnh quan triều đình nhà Minh, sáng tác trong điều

kiện quý nhân hiển đạt thì tác giả Bắc hành tùng ký của Lê Quýnh lại sáng tác

trong ngục triều nhà Thanh

Nam ông mộng lục là một tập gồm các thiên đoản văn có tính cách chí nhân, chí dị, thi thoại, hồi tưởng lục Trong lúc Bắc hành tùng ký là một

trường thiên ký sự nhiều chỗ tựa như ghi chép lưu đày hoặc giống một hìnhthức nhật kí trong tù (Ngục trung nhật ký) Hai trường hợp hai hoàn cảnh haibút pháp - tất cả những điều đó tạo nên những tương đồng và dị biệt rất đángđược chú ý giữa hai tác phẩm

2 Lịch sử vấn đề

Trong khả năng bao quát của chúng tôi, những tư liệu có liên quan đến

đề tài được tìm thấy ở Việt Nam, chúng tôi đã nêu cụ thể ở phần tài liệu tham

Trang 5

khảo Điểm không thuận lợi cho chúng tôi khi thực hiện đề tài của luận văn là

có rất ít các công trình nghiên cứu khoa học trong nước đề cập đến hai tác

phẩm, đặc biệt chưa có tài liệu nào đề cập tới việc so sánh hai tác phẩm Nam ông mộng lục và Bắc hành tùng ký Hơn nữa các công trình nghiên cứu của

nước ngoài (văn học Trung Quốc) về hai tác phẩm được đưa vào Việt Nam

lại rất hiếm Có thể nói rằng tài liệu nghiên cứu tập trung nhất về Nam Ông mộng lục là của các nhà nghiên cứu, dịch giả: Ưu Đàm - La Sơn soạn, dịch,

chú giải, Nguyễn Đăng Na giới thiệu Tài liệu nghiên cứu tập trung nhất về

Bắc hành tùng ký là của học giả Hoàng Xuân Hãn Ngoài ra trong suốt trường

kỳ nghiên cứu và giới thiệu các tác phẩm trung đại của các nhà nghiên cứu,đây đó trong các chuyên luận, các bài tạp chí, bài báo và giáo trình đại họchai tác phẩm này đều thấy được ít nhiều đề cập đến

2.1 Tư liệu về tác phẩm Nam ông mộng lục

Ở Việt Nam, các nhà khoa học từ lâu đã chú ý đến tác phẩm Nam ông mộng lục Song cho đến nay chúng tôi có thể khẳng định tài liệu nghiên cứu tập trung nhất về Nam ông mộng lục là tài liệu của các nhà nghiên cứu, dịch

giả: Ưu Đàm - La Sơn soạn, dịch, chú giải; Nguyễn Đăng Na giới thiệu, nhàxuất bản văn học, Hà Nội 1999 So sánh tài liệu của Ưu Đàm - La Sơn vàNguyễn Đăng Na với các tài liệu của các tác giả khác đã từng soạn, dịch, chúgiải, phê bình, chúng tôi nhận thấy rằng: Tài liệu nghiên cứu, soạn, dịch, chúgiải của các tác giả khác còn có một số khiếm khuyết trên một số phươngdiện về tác giả, văn bản, bản dịch…

Các tài liệu khác nghiên cứu Nam ông mộng lục đều có chung một điểm: Đây đó trong các tư liệu nghiên cứu về tác giả và tác phẩm Nam ông mộng lục còn tản mạn, nhỏ lẻ Các nhà nghiên cứu chưa sưu tầm đủ 31 thiên

truyện vì thế nghiên cứu của họ ít nhiều còn có những sai sót đáng kể Thiếusót, chắp vá các thiên truyện Tư liệu không đầy đủ về tác giả, tác phẩm Bản

Trang 6

dịch không đầy đủ, dịch sót, dịch sai phiên âm sai, dẫn tới dịch sai Đây chính

là nguyên nhân có thể làm cho bạn đọc có thể hiểu thiên lệch hoặc không đầy

đủ về tác giả, tác phẩm Nam ông mộng lục

Khắc phục được các vấn đề nói trên, tài liệu của các nhà nghiên cứu,dịch giả Ưu Đàm - La Sơn và nguyễn Đăng Na quả là đặc sắc, có giá trị rấtlớn đối với bạn đọc - những ai có nhu cầu quan tâm đến tác giả, tác phẩmNam Ông Tài liệu của các tác giả này được xem là tài liệu nghiên cứu tập

trung nhất về tác giả, tác phẩm Nam ông mộng lục Chúng tôi đánh giá rất cao

về giá trị của nguồn tư liệu này Sự đóng góp của các tác giả Ưu Đàm - LaSơn và Nguyễn Đăng Na trên các phương diện như sưu tầm, dịch thuật, biênsoạn, chú giải, nghiên cứu giới thiệu… thật công phu, tỉ mỉ, đầy đủ, có nhữngphát hiện mới mẻ, sáng tạo giúp người đọc và nghiên cứu tác giả, tác phẩm

Nam ông mộng lục có một cái nhìn toàn diện, chính xác, khoa học hơn Bên

cạnh đó ở phần phụ lục của tài liệu các tác giả đã tập hợp giới thiệu các bài

tựa, bạt, thuyết minh, các bài phê bình về tác giả, tác phẩm Nam ông mộng lục qua các thời kỳ có một giá trị rất hữu ích đối với người đọc Đó là một

kênh tham khảo tài liệu tiện lợi, nhanh, khá đầy đủ trong cái nhìn đồng đại và

lịch đại về tác phẩm Nam ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng Đóng góp về

tư liệu của các tác giả thật sự có ý nghĩa thiết thực, là người tiếp nối tư tưởngcủa Nam Ông quảng bá, giới thiệu con người, tài năng một nhân vật lịch sử,

tư liệu sử học, văn học thời Lý - Trần đến với bạn đọc được tốt nhất

Nam ông mộng lục được đề cập đến rất nhiều trên mạng Internet Ý

kiến chung khẳng định đây là tập hồi kí chữ Hán đầu tiên của Việt Nam Cácnhà nghiên cứu đánh giá đây là tập kí ghi chép về các sử thoại và một sốchuyện về những nhân vật nước Nam thời Lý - Trần, gồm đủ loại: Nhà nho,thầy thuốc, đạo sĩ, nhà thơ, thầy tu, tướng sĩ, các vua đời Trần, hoặc bà conthân thích với tác giả Ý kiến cho rằng đối với Hồ Nguyên Trừng, đó là

Trang 7

những sự kiện và những con người tiêu biểu của nước Nam Khẳng định nàykín đáo lí giải động cơ sáng tác của tác giả tập ký đồng thời cũng gợi ý chúng

ta về tính cách chí nhân, chép sự của tác phẩm

Tác giả Lê Văn Hảo trong loạt bài dưới nhan đề Việt Nam Văn Hiến Ngàn Năm đã xem Hồ Nguyên Trừng như một danh nhân văn hóa của triều

Hồ Đặt Hồ Nguyên Trừng cùng tác phẩm Nam ông mộng lục trong một bối

cảnh văn hóa - lịch sử rộng lớn, tác giả đã đưa ra nhiều nhận xét, bình luậnsắc sảo Chúng tôi cho rằng chính là vì chứng kiến sự kết hợp giữa nhiều tàinăng - khoa học kĩ thuật và văn chương ở Hồ Nguyên Trừng mà tác giả Lê

Văn Hảo đã đặt cả một mục lớn Khoa học, kỹ thuật và văn học thời Hồ Bài

viết dài của Lê Văn Hảo đã phác thảo được bối cảnh lớn cần thiết cho việctìm hiểu cụ thể Hồ Nguyên Trừng cùng tác phẩm Nam ông mộng lục.

Điểm lớn nhất, nổi bật nhất trong lịch sử nghiên cứu về Nam ông mộng lục có lẽ là sự phân tích chủ đề Nam ông mộng lục và tư tưởng của Hồ

Nguyên Trừng sau khi lưu vong đất Bắc Bàn về chủ đề tư tưởng trong tác

phẩm Nam ông mộng lục đã từng có rất nhiều ý kiến, song có hai ý kiến hoàn toàn trái ngược nhau khi đánh giá tác phẩm Nam ông mộng lục Ý kiến thứnhất của Trần Nghĩa Trần Nghĩa căn cứ vào cuộc đời có phần khiếm khuyếtcủa Hồ Nguyên Trừng để luận tội: Dân tộc sẽ không bao giờ tha thứ, một khi

Hồ Nguyên Trừng đã bước hẳn về phía bên kia, đem trí tuệ và tài năng raphục vụ cho triều Minh, một tên xâm lược ác nhất trong số những tên xâm

lược Cụ thể ông cho rằng "Hồ Nguyên Trừng không phải là một con người tốt", "mà là một đứa con hư của dân tộc, chẳng qua có chút tài liệu sử học ít nhiều có thể bổ khuyết cho Việt sử" Nguyễn Đức Vân - Tuấn Nghi cũng có ý

kiến phản đối như Trần Nghĩa Song các ý kiến khác của Trần Văn Giáp,Đinh Gia Khánh, Nguyễn Huệ Chi… đã phản đối khá gay gắt lại kết luận đó

Trang 8

Về điều này Nguyễn Đăng Na đã giới thiệu trong cuốn Nam ông mộng lục

phần phụ lục

2.2 Tư liệu về tác phẩm Bắc hành tùng ký

Tác phẩm Bắc hành tùng kí, cho đến nay vẫn chưa có tài liệu gì đáng

kể ngoài công trình khảo cứu đặc biệt quan trọng của học giả Hoàng XuânHãn Những công trình nghiên cứu, khảo cứu của ông đã để lại những dấu ấnsâu đậm trên nhiều lĩnh vực văn hóa - khoa học - giáo dục Theo lời nhà xuấtbản, những công trình khảo cứu của ông về văn hóa, lịch sử cho đến nay vẫnđược coi là những mẫu mực cả về tính khoa học chính xác và về phong cách

nghiên cứu Khảo cứu của ông đối với Bắc hành tùng kí và con người tác giả

Lê Quýnh rất công phu Qua khảo cứu của ông người đọc hiểu rõ thêm về vẻđẹp của những vong thần chạy theo vua Lê Chiêu Thống sang đất nhà Thanh,cũng như những sáng tác văn học của họ để lại cho đời So với các tư liệukhác như "Đại Việt sử ký tiền biên, Đại Việt sử ký toàn thư, Hoàng Lê nhấtthống chí", công trình của ông bộc lộ một thái độ nghiên cứu khách quan,công bình Bình luận khen chê đều rất chừng mực, thấu tình đạt lí Đối khảovới các tài liệu khác, ít nhiều có đánh giá sai hoặc chưa đúng về nhân cáchcủa một con người - vong thần Lê Quýnh, thì khảo cứu của Hoàng Xuân Hãnqua tập ký sự giúp người đọc hiểu chính xác, chi tiết, tỉ mỉ tiết tháo của mộttrong những vong thần Lê mạt có tinh thần dân tộc sâu sắc Lê Quýnh khôngchịu cắt tóc, không chịu thay đổi trang phục cam chịu ngồi tù gần mười lămnăm (kể cả giam lỏng) từ khi sang đất Bắc để bàn chuyện cầu viện binh chođến khi triều Tây Sơn hết mới được tha và đem quan tài của chúa cũ về nướcvới trang phục, đầu tóc như lúc ra đi Bên cạnh đó Hoàng xuân Hãn đối chiếucác tài liệu để khảo cứu về tiểu sử con người Lê Quýnh giúp người đọc gópnhặt, suy đoán một cách khách quan về chủ đề tư tưởng của tác phẩm khi đọc

văn bản, bản dịch Bắc hành tùng ký

Trang 9

2.3 Thực hiện đề tài này chúng tôi cũng có gặp một số khó khăn là

chưa có điều kiện bao quát một cách đầy đủ các tư liệu trong và ngoài nước.Điểm các tài liệu được nhắc đến trong mục tài liệu của các nhà nghiên cứu,chúng tôi có thể khẳng định: Xét về phương diện đề tài, đề tài của chúng tôikhông trùng với tên của bất kỳ một cuốn tài liệu nào, hay một bài báo nào.Hướng đi của chúng tôi không trùng lặp con đường mà những người đi trước

đã lựa chọn, mặc dù những kết quả nghiên cứu của họ là một trong những gợi

ý cho quá trình nghiên cứu luận văn của chúng tôi Như vậy có thể khẳngđịnh một điều là chưa thấy có một công trình độc lập nào nghiên cứu hai tácphẩm này trong thế đối sánh cụ thể.Vì thế chúng tôi chọn đề tài đặt cho mìnhnhiệm vụ so sánh trực tiếp hai tác phẩm Hy vọng qua đó tìm kiếm một vàikết luận học thuật nho nhỏ

3 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn tập trung tìm hiểu khảo sát so sánh hai tác phẩm này trên một

số phương diện về cuộc đời, hoàn cảnh sáng tác, một số phương diện về nộidung và nghệ thuật của hai tác phẩm Các phương diện so sánh đó sẽ đượcchúng tôi triển khai thành một hệ thống nhất định trong luận văn

4 Nhiệm vụ của luận văn

Chúng tôi có nhiệm vụ khảo sát hai tác phẩm Nam ông mộng lục và Bắc hành tùng ký nhằm đối sánh những điểm giống nhau và những điểm khác

nhau về tác giả, hoàn cảnh sáng tác, nội dung, nghệ thuật trong tác phẩm Từ

đó, qua nghiên cứu của luận văn có thể giúp bạn đọc, đối tượng học sinh phổ

thông hình dung một phần nào về sự phát triển của thể ký trong văn xuôi tự sự

Việt Nam thời trung đại

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn vận dụng lý luận so sánh trên cơ sở sử dụng các phương pháp

so sánh, thống kê, phân tích, tổng hợp Luận văn cũng vận dụng các thành tựu

Trang 10

của thi pháp học, phong cách học, ngôn ngữ học Trong đó chúng tôi đặcbiệt chú trọng: Phương pháp so sánh và phương pháp hệ thống.

6 Đóng góp của luận văn

Trên cơ sở tiếp thu thành tựu nghiên cứu của các nhà nghiên cứu, cáchọc giả, đóng góp của luận văn là đối sánh những nét giống và khác nhau

giữa hai tác phẩm: Nam ông mộng lục và Bắc hành tùng ký Qua đó, giúp chúng tôi rút ra một vài kết luận nhỏ về thể ký - bộ phận văn học hải ngoại

trong văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm có ba chương

Chương 1 Các tiền đề của việc so sánh hai tác phẩm Nam ông

mộng lục và Bắc hành tùng ký

Chương 2 So sánh hai tác phẩm trên phương diện nội dung

Chương 3 So sánh hai tác phẩm trên phương diện hình thức nghệ thuật

Trang 11

CHƯƠNG 1 CÁC TIỀN ĐỀ CỦA VIỆC SO SÁNH HAI TÁC PHẨM

NAM ÔNG MỘNG LỤC VÀ BẮC HÀNH TÙNG KÝ

1.1 Khái quát chung về thể loại ký trong văn chương Việt Nam trung đại

1.1.1 Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến cuối thế kỷ XIX gọi là văn

học trung đại bao gồm hai bộ phận: văn học chức năng và văn học nghệ thuật Dựa vào cấu trúc câu văn, văn học trung đại cũng có thể được chia thành hai loại lớn: văn xuôi và văn vần Hai loại này gần như tương ứng với hai phương thức phản ánh cuộc sống mà Arixtôt đã chỉ ra: tự sự và trữ tình Văn xuôi tự sự thời trung đại được chia thành ba nhóm: truyện ngắn, tiểu thuyết chương hồi và ký Như vậy, ký trước hết là một bộ phận cùng với truyện ngắn và tiểu thuyết chương hồi hợp thành văn xuôi tự sự trung đại

Việt Nam

1.1.2 Theo quan điểm của lí luận văn học hiện đại, ký là một loại

hình văn học trung gian, nằm giữa báo chí và văn học, gồm nhiều thể như:

bút ký, hồi ký, du ký, phóng sự, ký sự, nhật ký, tuỳ bút Khác với truyện ngắn, tiểu thuyết, ký có đặc trưng riêng do nội dung và quan điểm thể loại của ký qui định Ký không chú trọng vào việc miêu tả quá trình hình thành

tính cách của các cá nhân trong tương quan với hoàn cảnh Những câuchuyện đời tư khi chưa nổi lên thành các vấn đề xã hội cũng không phải là

đối tượng quan tâm của ký Đối tượng nhận thức thẩm mỹ của ký thường là một trạng thái đạo đức - phong hoá xã hội (thể hiện qua những cá nhân

riêng lẻ), mội trạng thái tồn tại của con người hoặc những vấn đề xã hội

nóng bỏng Vì thế, tuy có nhiều tác phẩm ký rất gần gũi với truyện ngắn

Trang 12

nhưng khác với truyện ngắn, truyện vừa, đặc biệt là tiểu thuyết, ký có quan

điểm thể loại là tôn trọng sự thật khách quan của đời sống, không hư cấu

Nhà văn viết ký phải chú trọng việc đảm bảo tính xác thực của hiện thực đời sống được phản ánh trong tác phẩm Ký thường không có cốt truyện và tính

hư cấu Sự việc và con người trong ký phải hoàn toàn chân thực, có địa chỉ.

Ký dựng lại những sự thật đời sống cá biệt một cách sinh động, không xây dựng các hình tượng mang tính khái quát mà tính khái quát là do tác giả ký

thể hiện bằng suy tưởng Đây là quan điểm của lý luận văn học hiện đại về

thể loại ký và ký hiện đại khác với các tác phẩm văn xuôi theo cách gọi ước

lệ là tác phẩm ký văn học trung đại.

1.1.3 Có thể thấy, những tác phẩm được gọi là ký trong văn xuôi tự sự

Việt Nam thời trung đại thuộc về một loại hình văn học hết sức phức tạp Nói

cách khác, khái niệm ký trong văn học Việt Nam trung đại hàm chứa một nội diên có biên độ hết sức co dãn Ký là một bộ phận của văn học, vì thế nó cũng

chịu sự tác động của các qui luật chung đó Tuy nhiên, với tư cách là một thể

văn, ký có số phận riêng Ký có nghĩa là ghi chép sự việc để khỏi quên (gồm tất cả các loại văn bản ) Ban đầu ký là động từ, khi chuyển sang khái niệm

ký là danh từ, ký được dùng để chỉ những công văn giấy tờ mang tính chất

hành chính, rồi được dùng chỉ cả những điển tịch, những trước tác của một số

học giả cổ đại Với nghĩa ấy, ký gộp vào trong nó những tác phẩm văn xuôi

(kể cả văn xuôi có tiết tấu) nằm trong văn học chức năng hành chính, văn học

chức năng lễ nghi cũng như văn học chức năng thẩm mỹ Ký bao gồm tất cả

những tư liệu văn tịch được viết bằng bút, bằng dao, bằng đục, trên các chấtliệu: giấy, lụa, da thú, thẻ tre, đồ gốm, kim loại, đá, xương thú, mai rùa

1.1.4 Thế kỷ X - XIV là thời kỳ đặt nền móng cho loại hình truyện

ngắn và dòng tự sự viết dưới dạng ký của văn học Việt Nam trung đại Cũng như truyện ngắn và tiểu thuyết chương hồi, ký chủ yếu được viết bằng chữ

Trang 13

Hán dưới hình thức của các thể văn Trung Quốc Đề tài của ký bị hạn chế

trong khuôn khổ viết về hiện tại, về những điều mắt thấy tai nghe Nhìn

chung ký không được viết về quá khứ, nếu có, chỉ là quá khứ gần xoay quanh nhân vật hiện tại Thời trung đại, ký không được hư cấu, không được dùng

các thủ thuật của thần thoại, sử thi, truyền kỳ Không gian và thời gian nghệ

thuật trong ký bao giờ cũng cụ thể, gắn với sự kiện hoặc nhân vật đang đề cập tới Thế kỷ X - XIV ký vẫn thuộc loại hình văn học chức năng bao gồm: Văn khắc và tự bạt Văn khắc bao gồm các văn bản viết bằng dao bằng đục trên

chất liệu rắn như: gỗ, đồng, đá, gốm, xương thú, mai rùa Những tác phẩm

ký còn có thể được viết trên chất liệu rắn bằng loại bút đặc biệt như: dao và đục gồm văn bia và chuông khánh Văn bia là loại hình văn học khắc trên đá (cột đá, trụ đá, bia đá, vách đá) Từ thưở xa xưa, ông cha ta gọi bia là trụ đá,

cột đá đặt trước nhà cung thất, nhà tông miếu để xem thời gian qua bóng mặt

trời đổ Sau đó người ta khắc chữ, ghi việc lâu dần thành văn bia hay còn gọi

là bi văn Văn bia là những tác phẩm văn chương thuộc thể ký khắc trên chất liệu đá Văn chuông khánh nội dung và nghệ thuật của chúng giống văn bia.

Kết cấu của hai loại văn bản này gồm hai phần: kể và ghi nhớ (minh), nội

dung không phong phú, nhưng văn phong khá đa dạng Đặc biệt mỗi bàithường là sự kết hợp giữa tả cảnh, tả tình, kể việc, kể người với phát biểu trực

tiếp cảm nghĩ cá nhân người cầm bút khiến chúng mang đậm tính chất ký Ngoài hai thể loại này, ký còn có tự bạt Tự, bài tựa cho cuốn sách theo cách hiểu thông thường, trên thực tế thể tự còn chỉ những bài giới thiệu cho một công trình, một sự thể Bạt chỉ bài ký nhỏ viết để kèm vào sau một cuốn sách,

tập tranh Nó đôi khi làm ta liên tưởng đến những dòng lạc khoản ở các bức

trướng, công trình kiến trúc, tác phẩm điêu khắc Tự và bạt khác nhau ở chỗ:

Tự thường đặt ở đầu tác phẩm, còn bạt thường đặt ở cuối tác phẩm Có thể nói, tự bạt cùng với văn khắc đã tạo nên diện mạo của thể ký thế kỷ X - XIV

Trang 14

và đặt nền móng vững chắc cho văn xuôi tự sự Việt Nam trung đại những giaiđoạn tiếp theo Sau đó, do sự phân hóa chức năng và phát triển của các thể

loại, văn khắc trở thành một loại hình riêng - loại hình văn học chức năng lễ nghi và không đồng hành cùng thể ký Còn tự bạt dần đi vào chức năng khảo

cứu, giới thiệu sách, tranh luận văn chương, bình luận học thuật và bị chìm đi

trước những tác phẩm ký trường thiên

Sang giai đoạn thế kỷ XV thể văn tự bạt bùng nổ, ký dưới dạng tự bạt

tách dần ra thành môn khoa học riêng: nghiên cứu, phê bình, lí luận văn học

và chia tay văn xuôi tự sự, song nó đã đặt nền móng cho loại hình ký nghệ thuật Tự bạt là tiếng nói cá nhân người cầm bút, khi vai trò cá nhân chưa trực tiếp bộc lộ thì thể ký nghệ thuật chưa thể ra đời Giai đoạn này, ký nghệ thuật bắt đầu nảy mầm, ranh giới giữa ký và truyện ngắn hết sức mơ hồ, bất định.

Đặc điểm này đeo đẳng lịch trình văn xuôi tự sự Việt Nam suốt thời trungđại

Ký khác truyện ở chức năng và kết cấu tác phẩm Phân biệt bản chất truyện và ký là ở thái độ của người cầm bút Nếu tác giả hòa mình vào các sự kiện, vào các nhân vật với tư cách là người trong cuộc thì đó là ký Ký thực

sự ra đời khi người cầm bút trực diện trình bày đối tượng mình đang phảnánh bằng cảm quan của chính mình Theo cách hiểu này ta có thể khẳng định

Hồ Nguyên Trừng (1374 - 1446) là một trong những người đặt nền móng cho

cho thể ký Việt Nam thời trung đại vừa là đại diện cho tác giả ký thế kỷ XV XVII với tác phẩm Nam ông mộng lục.

-Sau đó ký phát triển thêm một bước mới Lúc này, tác giả viết ký đã

bám sát hiện thực, hơn nữa còn phản ánh trực tiếp những sự kiện, những conngười quanh người viết Không hiếm những trường hợp mà ở đó tác giả đãviết chuyện của chính bản thân mình Quãng đời từng trải, hồi ức chuyện

đời mình đã trở thành nội dung của một số tác phẩm ký Tác phẩm ký nghệ

Trang 15

thuật được đánh giá là đỉnh cao, là sự hoàn thiện của thể ký Việt Nam thời trung đại là Thượng kinh ký sự Lúc này, tác giả ký đã kết hợp nhiều bút

pháp nghệ thuật: du ký, nhật ký, hồi ký, ký phong cảnh, ký người, ký vật vào trong một chỉnh thể tự sự nhất định Vì thế, không thể không nhắc đến

tác phẩm Bắc hành tùng ký đã ra đời trong giai đoạn văn xuôi tự sự đã có một qui mô khả quan Tiếp đó ký viết bằng chữ Hán đến giai đoạn này đã nhường chỗ cho thể ký giai đoạn sau cuối thế kỷ XIX được viết bằng chữ

quốc ngữ hiện đại

1.1.5 Như vậy, qua khảo cứu trên, chúng ta có thể dễ dàng nhận ra

được tầm quan trọng của thể loại ký trong văn xuôi Việt Nam trung đại Khác với ký báo chí, ký văn học là một thể loại lớn trong văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại Ký trần thuật những người thật việc thật một cách xác thực Ký không nhằm thông tin thẩm mĩ, mà là thông tin sự thật Sở dĩ ký có

tính nghệ thuật và trở thành một thể loại văn học phổ biến bởi vì ngay trong

sự thực đã có cái thẩm mĩ Sự thật của cuộc sống là chân lý của cuộc đời Sựthật của cuộc sống cũng có những đột biến, phức tạp mà con người cần biết

và rất muốn biết đến Chính vì lẽ đó mà thể ký nghệ thuật đã nở rộ và kết

tinh được những tác phẩm lớn Trần thuật những người thật, việc thật,những tác phẩm ký văn học có giá trị như những tư liệu lịch sử quí giá, có ýnghĩa và tác dụng rất lớn đối với sự sáng tạo nghệ thuật sau này Trần thuậtngười thật việc thật là đặc trưng cơ bản của thể ký Trong những tác phẩm

ký Việt Nam thời trung đại, hai tác phẩm Nam ông mộng lục và Bắc hành tùng ký xứng đáng có được một sự chú ý đặc biệt Hai tác phẩm được đánh

giá là những được hợp khá đặc biệt- tác phẩm hải ngoại của văn xuôi tự sựViệt Nam thời trung đại

Trang 16

1.2 Tiền đề trực tiếp của việc so sánh hai tác phẩm

1.2.1 Tác giả Hồ Nguyên Trừng và hoàn cảnh sáng tác Nam ông mộng lục

Chúng tôi xem vấn đề tác giả và hoàn cảnh sáng tác của hai tác phẩm

là tiền đề trực tiếp cho việc có thể đem chúng ra so sánh được với nhau Cócác nguồn tư liệu để giúp chúng tôi tìm hiểu về cuộc đời Hồ Nguyên Trừng,

tác giả Nam ông mộng lục: Thứ nhất, tài liệu khảo cứu của Trần Văn Giáp, công bố năm 1962 Tư liệu thứ hai, Đại Việt sử ký tiền biên, nhà xuất bản Khoa học xã hội năm 1997 Tư liệu thứ ba, Đại Việt sử ký toàn thư, nhà xuất

bản Khoa học xã hội, năm 2004 Tư liệu thứ tư là lời thuyết minh của Trần

ích Nguyên năm 1986 Tư liệu thứ năm, Nam ông mộng lục, nhà xuất bản

Văn học, Hà Nội, năm 1999, và một số thông tin trên mạng Internet

Trước hết, chúng tôi nói về tác giả Hồ Nguyên Trừng Cuộc đời của HồNguyên Trừng có thể chia ra làm hai giai đoạn: Giai đoạn ở Việt Nam và giaiđoạn ở Trung Quốc Giai đoạn ở Việt Nam là thời gian Hồ Nguyên Trừngsinh sống cho đến khi triều Hồ thất bại Còn thời gian sống ở Trung Quốcđược tính từ khi hai cha con Hồ Quý Ly và Nguyên Trừng lưu vong TrungQuốc, phần đời còn lại của một Nam Ông nhưng đã phải làm thần dân củaMinh triều Thân tại tha hương mà tấc lòng cố quốc khôn nguôi

Hồ Nguyên Trừng (1374 - 1446) còn được gọi là Lê Trừng (như ta đọcthấy trong sử tịch của Trung Hoa), tự Mạnh Nguyên, hiệu Nam Ông; là contrưởng của Hồ Quý Ly (làm vua những năm 1370 - 1372) Khảo cứu xa hơn

về nguồn gốc của dòng họ Hồ cho thấy tổ tiên của họ là Hồ Hưng Dật gốcngười Chiết Giang Thời Hậu Hán đến làm thái thú ở đất Diễn Châu, hươngBào Đột Hồ Quý Ly là cháu bốn đời của Hồ Liêm Hồ Liêm là cháu đời thứmười hai của Hồ Hưng Dật Năm 1393, Hồ Nguyên Trừng được theo cha giữchức Phán quan ở chùa Thượng Lâm Năm 1400 Hồ Quý Ly lập con thứ là

Trang 17

Hán Thương làm Thái tử Lúc đó, Hồ Quý Ly đã làm thơ để dò ý con trưởng.

Hồ Nguyên Trừng đã làm bài thơ vịnh Cây tùng để đáp lại lời cha biểu thị tỏ

lòng hiếu không làm trái lệnh phụ thân Năm 1406 quân Minh xâm lược ViệtNam, Hồ Nguyên Trừng cầm quân chống giặc Minh Trong thời kỳ khángchiến chống Minh, ông từng tham gia các hoạt động xã hội, chính trị và quân

sự của đất nước Làm tả tướng quốc từ năm 1400 cho đến khi bị bắt năm

1407 Hồ Nguyên Trừng đã cùng cha, em và toàn dân chuẩn bị tích cực chocuộc kháng chiến chống quân Minh Ngay từ đầu cuộc kháng chiến, vấn đềông lo lắng nhất là lòng dân: "chỉ sợ lòng người có theo hay không theo Có

lẽ ngay từ đầu Hồ Nguyên Trừng đã nhìn thấy trước sự thất bại của công cuộccải cách do cha mình cầm đầu Cuộc cải cách chính trị, kinh tế của Hồ Quý

Ly tuy có nhiều tiến bộ và xuất phát từ tầm chiến lược thúc đẩy nhanh nhịp

độ phát triển cho đất nước Thế nhưng triều Hồ vấp phải vấn đề tạm gọi làlòng dân Nói cụ thể, cha con Hồ Quý Ly không làm tốt công tác tư tưỏng vàchuẩn bị dư luận Công cuộc cải cách cấp tiến đó rơi vào bi kịch Nói theo

cách nói hiện đại là bi kịch ý thức kẻ được giải phóng chưa ý thức được nổi

sự giải phóng Vì thế cha con Hồ Quý Ly bị thất bại, nguyên nhân thất bại

còn có một lí do khác là vì tất yếu của lịch sử

Dưới triều đại nhà Hồ, Hồ Nguyên Trừng tham gia chính sự trên haiphương diện quân sự và khoa học Ngoài trọng trách Tả tướng quốc triều Hồ,ông còn là một kĩ sư quân khí, công trình sư thiết kế chiến thuyền tài tình HồNguyên Trừng bộc lộ tài năng thiên bẩm của mình trong lĩnh vực khoa học kỹthuật quân sự Là người phát minh, sáng chế súng cho quân đội nhà Hồ ông

đã có hai phát minh có thể nói là phi thường so với thời đại Tài năng của Hồ

Nguyên Trừng thể hiện trong việc sáng chế cho nhà Hồ thuyền Cổ Lâu và súng Thần Cơ Theo học giả Nguyễn Văn Hảo, thuyền Cổ Lâu là một loại

thuyền lớn, đóng đinh sắt, có hai tầng và hàng chục tay chèo, hai người chèo

Trang 18

một mái tạo ra tốc độ lớn khi có thủy chiến Súng Thần Cơ, loại hỏa pháo cải

tiến hiệu nghiệm hơn tất cả các loại đại bác đương thời Triều Minh đã nếmmùi của các phát minh của Hồ Nguyên Trừng, vì thế khi xâm lăng đã tuyểnlựa bắt giữ, áp giải Hồ Nguyên Trừng theo những người tài giỏi của ViệtNam về Trung Quốc để khai thác tài năng của họ

Đôi nét về thời kỳ Hồ Nguyên Trừng phải sống lưu vong ở TrungQuốc Giai đoạn này được xác định chính xác từ tháng 5 năm 1407 - lúc ông

và thân phụ Hồ Quý Ly bị bắt sang Trung Quốc Từ đó cho đến tháng 7 năm

1446 ông sống phần đời còn lại của cuộc đời mình trên đất Trung Hoa hơnbốn mươi năm Cha con Hồ Quý Ly và con thứ Hồ Hán Thương bị bắt và giải

về Kim Lăng (tứ Nam Kinh ngày nay) thì bị giết chết Còn Hồ Nguyên Trừng

dâng cách làm súng thần được ban chiếu cho làm quan Toàn Việt thi chép:

"Quý Ly ở ngục tù, con là Trừng dâng cách làm súng thần được giao chức Lễ

bộ thương thư Trừng xin ban ơn tha tội, Quý Ly được tha ra, cuối cùng được hưởng thọ rồi mất" [49; 528].

Thoạt đầu, Hồ Nguyên Trừng giữ chức chủ sự ở bộ công trong triềuMinh Sau dần thăng lên Lang Trung, Hữu thị lang, Tả thị lang và cuối cùng

là Thượng thư - chức quan cao nhất đứng đầu các bộ Về cuối đời, Ông viết

Nam ông mộng lục ghi lại những tài liệu sử học và văn học thời Trần ở Việt

Nam, đề cao một số nhân vật Đại Việt Tác phẩm được người Trung Hoa hết

sức coi trọng Tác phẩm Nam ông mộng lục đã có mặt trong hầu hết các tùng thư lớn của văn học Trung Quốc như: Kỉ lục vựng biên, Thuyết phu tục, Ngũ triều tiểu thuyết, Ngũ triều tiểu thuyết đại quan, Hàm phân lâu bí kíp, Tùng thư tập thành, Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san Trừ bộ Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san là một tuyển tập xuất bản ở Đài Loan thời hiện đại,

còn lại các tác phẩm đã kể tên đều là sách soạn trong hai thời đại Minh

Thanh Các sách đó mặc nhiên xem Nam ông mộng lục thuộc vào lịch sử văn

Trang 19

học Trung Quốc Đó là chưa kể các bản chép tay Nam ông mộng lục hiện

diện trong thư tịch Trung Hoa với lịch sử 545 năm Riêng 80 năm gần đây tácphẩm được người Trung Hoa in ra ít nhất 6 lần vào các năm 1920, 1926,

1935, 1938, 1985, 1986 Điều đó chứng tỏ tầm quan trọng của tác phẩm đốivới đời sống văn học không chỉ riêng ở Việt Nam mà cả đối với nước TrungHoa Hồ Nguyên Trừng rất được người Trung Hoa trọng đãi Đặc biệt khilàm lễ tế vũ khí - một nghi thức mang tính tôn giáo, thì họ kiêm làm lễ tế cảông nữa Trên thực tế, nhà Minh tôn Hồ Nguyên Trừng làm tổ sư của ngànhchế tạo vũ khí Khi Ông qua đời, người Trung Quốc đã an táng ông tại mộtthắng cảnh nổi tiếng ở cố đô Bắc Kinh - vùng Tây Sơn với những trái núidiễm lệ Đó là hai ân điển mà ngay cả các danh nhân Trung Quốc không phải

ai cũng được hưởng

1.2.2 Tác giả Lê Quýnh và xuất xứ của Bắc hành tùng ký

Lê Quýnh (1750 - 1805) cha là Lê Doãn Giản, quê làng Đại Mão,huyện Siêu Loại, xứ Kinh Bắc (Bắc Ninh) Cha và chú đều đậu tiến sĩ, làmquan đồng triều Năm 1770, được bổ làm Văn quán nho sinh là nhờ phụ ấm

chứ không phải thi đậu Theo một tác giả Hoàng Lê nhất thống chí, thì Lê

Quýnh lúc còn trẻ là một công tử chơi bời, nhưng cũng biết làm văn Năm

1774 cha mất, ông về làng nuôi mẹ Sau khi Nguyễn Huệ ra Thăng Long diệtTrịnh, ông đem 300 gia đình để bảo vệ vua Lê năm 1786 Lê Quýnh từngđược vua Lê Chiêu Thống giao cho coi quân Tả và Hữu vệ năm 1787 Tháng

12 năm 1787, Vũ Văn Nhậm tướng Tây Sơn kéo quân ra chiếm Thăng Longhỏi tội Nguyễn Hữu Chỉnh Quân vua Lê thua, vua Lê Chiêu Thống lại chạylên phủ Lạng Giang Lê Quýnh đem hương binh đuổi theo hộ vệ Vua chuyểnsang huyện Chí Linh, năm sau 1788 chạy xuống Vị Hoàng (Nam Định) Ôngđược phong tước Trường phái hầu, vua Lê sai Lê Quýnh cùng Quốc cữuNguyễn Quốc Đống lên huyện Vũ Nhai ở Thái Nguyên để hộ tống và bảo vệ

Trang 20

thái hậu là Nguyên phi Nguyễn Thị Kim và con trai Tháng 4 năm 1788, ôngđến Vũ Nhai Tháng 5 năm 1788 trong khi bị quân Tây Sơn đuổi gấp, đến khirơi vào thế bí, mọi người đành phải qua sông Phất Mê đất Trung Quốc lánhnạn Cùng đi theo để hộ giá nhà vua, lúc này có rất ít người Những ngườitheo vua phần đông là những người tuổi còn trẻ là con cháu những danh thần,trong đó có Lê Quýnh Tháng 6 năm 1788, vua Thanh lệnh cho tổng đốc Tôn

Sĩ Nghị có nhiệm vụ chăm sóc và bảo vệ cung quyến vua Lê trú tại NamNinh với mục đích là thăm dò tình hình trong nước ta Vì thế vua Càn Longbằng lòng cứu viện nhà Lê Ngày 24 tháng 10, Tôn Sĩ Nghị phát quân, chiếntranh giữa hai nước xảy ra, mở đầu công cuộc xâm lược của nhà Minh trênđất Việt Nam Tổng đốc Sĩ Nghị đã giao cho Lê Quýnh chuẩn bị việc binhlương để soạn sửa tấn công vào Nam, rồi lại định chiêu hàng Vua Lê ChiêuThống giao cho ông chức bình chương sự, coi các việc binh và hộ Song ông

bị bệnh sốt rét phát mạnh, nên xin về quê nhà nghỉ Nhưng trong tác phẩm

Hoàng Lê nhất thống chí lại chép, hằng ngày ông cưỡi ngựa theo vua đến

doanh Sĩ Nghị và cho rằng Lê Quýnh không đồng tình, giục Sĩ Nghị tiếp tụctấn công, vì sợ Sĩ Nghị không bằng lòng Một tháng sau, triều đình nhà Lê bịtiêu tan trước sự tấn công chớp nhoáng của vua Quang Trung (đầu thánggiêng năm 1789) Lê Chiêu thống theo Sĩ Nghị chạy sang Quảng Tây, Tôn SĩNghị bị cách chức, Phúc Khang An được thay chân tổng đốc Với chính sáchngoại giao mềm dẻo của vua Quang Trung và văn từ giao tiếp với ThanhTriều hết sức bạt thiệp, khéo léo của Ngô Thì Nhậm, thành thử Phúc Khang

An được lệnh chuyển sang thế hòa với Việt Nam (khoảng tháng 3 năm 1789).Nhưng sự thực trong cơn binh lửa giai đoạn này, Lê Quýnh nghỉ tại quê nhà.Khi đã khỏi bệnh, ông toan tìm kế kháng Tây Sơn Tháng 5 năm 1789, tổngđốc Lưỡng Quảng Phúc Khang An biên thư giục vua Quang Trung chuẩn bịsang chầu, nhân dịp tìm gọi Lê Quýnh sang Trung Quốc để thăm dò tình hình

Trang 21

ở Việt Nam Tháng 7 năm đó ông đến Nam Quan, tháng 8 đến Minh Ninh.Bấy giờ vua Càn Long đã phong vua Quang Trung làm An Nam quốc vương.Trong thời gian bị bắt giam tại Trung Quốc, triều đình nhà Thanh đã hơnmười lần cử các quan viên đại diện ở các cương vị khác nhau đến để muachuộc, dụ dỗ, thậm chí dọa nạt Lê Quýnh và những người tòng vong khác đitheo hộ giá nhà vua Bắt họ phải cắt tóc, cải trang theo người Mãn Thanh vàtìm cách lưu giữ Lê Quýnh ở lại Trung Quốc Thế nhưng Triều Thanh bị thấtbại hoàn Lần thứ nhất vào tháng 9 năm 1789 viên coi đạo Tả giang bảo LêQuýnh phải cắt tóc, cải trang Nhưng Lê Quýnh cự lại Ba lần tiếp theo viêncoi đạo Hữu giang lại ép, nhưng Lê Quýnh và năm người khác nhất địnhkhông vâng lời (trong nhóm bạn hữu Lê Quýnh cùng đi khoảng mười ba,mười bốn người trong đó có cả con Lê Quýnh còn nhỏ là Doãn Thuyên).Những người cứng đầu đều bị đem an trí ở phủ Khánh Viễn thuộc tỉnh QuảngTây, dọc đường hai người trong nhóm bị bệnh chết là Nguyễn Đồng mất ởNam Ninh ngày 24 tháng 9 và Nguyễn Mậu Nễ mất ngày 22 tháng 10 ở LiễuChâu Trong lúc ấy, Lê Chiêu Thống cùng các hậu vệ khác đã nghe lời PhúcKhang An cắt tóc, cải trang trú tại Quế Lâm và sách phong sứ triều Thanh đãtới Thăng Long.

Tháng 11 họ chỉ còn bốn người được gọi đến Ngô Châu để gặp PhúcKhang An Bốn người ấy là Lê Quýnh, Doãn Trị, Trịnh Hiền và Lý BỉnhĐạo, Phúc Khang An bảo họ cắt tóc, cải trang Đây là lần thứ năm, thế mà họkhông chịu Quan Thanh lại cho biết rằng Nguyễn Huệ đã hàng và đổ lỗi giảlấy cương thường để phá chính sách của Thiên triều Tháng 12 Lê Quýnh vànhóm tùy tùng vua Lê Chiêu Thống đến Quế Lâm Có lẽ người Thanh khôngmuốn cho họ gặp Lê Chiêu Thống, cho nên cuối tháng họ tới tỉnh QuảngĐông và Lê Chiêu Thống tới Bắc Kinh Đầu năm 1790 họ bị giải lên BắcKinh, ngày 23 tháng 3 năm ấy đến bộ Hình, bị giữ ở nhà tù Bắc Sở Lúc này

Trang 22

bốn người bị chia an trí ở hai nơi khác nhau Tháng 5 năm 1790, quan đềthẩm (coi việc xử án) lại đến dụ dỗ lần thứ sáu Họ bảo, nếu cắt tóc, cải trangthì sẽ được ban chức vị trong một đạo quân như mọi người khác Lê Quýnhviện nhiều lẽ để từ chối Người Thanh đem vua Chiêu Thống đến và bảo vua

dụ dỗ Lê Quýnh Đây là lần thứ bảy, song ông nói đại ý rằng, vua bị ngườiThanh ép mà nghe lời, chứ thật tình vua không muốn như thế Sau đó LêQuýnh cũng không nghe lời Đến tháng 6, người Thanh bảo Đinh Nhã Hành,Phạm Như Tùng, Nguyễn Quốc Đống tới nhà ngục thăm và dụ dỗ lần thứtám, nhưng cũng vô hiệu Bấy giờ, sứ giả nước An Nam sắp tới nơi triều yết,các nhà chức trách trong triều Thanh rất nóng lòng muốn xử trí cho xong việclàm cho nhóm Lê Quýnh "trái mệnh" phải vâng lời Họ dùng đủ mọi cách đểkhất phục, lần thứ chín này cũng đành vô hiệu Tháng 7, sứ giả nước An Namtới, cuối tháng 8 là về Người Thanh để yên cho tù nhân một lúc, nhưng thựctình thì họ cũng tự cảm thấy hổ thẹn một phần nào, cho nên chúng lại gắngmột phen dụ dỗ lần nữa Tháng 11 năm 1790, quan quân thuộc hậu quânHoàng tinh (có trách nhiệm quản thúc những người vì nhà Lê mà tị nạn ởTrung Quốc) và quan bộ Hình đem con Lê Quýnh là Doãn Thiên tới bảo ôngrằng nếu chịu cắt tóc và cải trang thì cha con sẽ được đoàn tụ Ông chỉkhuyên con theo hầu vua Chiêu Thống chứ không nghe lời quan Thanh Lầnthứ mười một vào tháng 12, quan đề thẩm là Thượng thư bộ Hình Hồ QuýĐường dọa rằng nếu không nghe lời cắt tóc và thay đổi trang phục thì LêQuýnh sẽ chết già ở trong ngục Thế nhưng kết quả cũng không có gì là khảquan Cuối cùng, chúng giao cho giám ngục đem giam chung mọi ngưòi vào

một sở Vậy là án không tuân lệnh đã thành Như vậy, so với thần dân, vua

Lê Chiêu Thống đã bị quy phục "đầu hàng" trước Lê Chiêu Thống buộc phảinghe lời người Thanh Trong khi ấy, Lê Quýnh vẫn giữ nguyên lập trường

Lê Chiêu Thống và các tùng vong dễ bảo hơn đều được ban chức vị và cấp

Trang 23

bổng lộc Chiêu Thống được ban hàm tam phẩm, chức tá lĩnh hậu quân hiệu

Nhương hoàng tinh và đời đời nối chức Chừng ấy, đủ thấy tác giả Bắc hành tùng ký không phải là trung quân một cách máy móc, thiển cận Trong trường

hợp cụ thể này, Lê Quýnh thực ra là trung với dân tộc, thay vua mà giữ lấy tựtôn cho Tổ quốc Tháng 3 năm 1791, vua Lê sai Nguyễn Quốc Đống đem quàtới cho nhóm Lê Quýnh, nhưng viên cai ngục không để cho họ vào vì sợ tiếttháo của nhóm Lê Quýnh khiến cho vua Lê Chiêu Thống cùng các tòng vong

khác bỏ thái độ nhẫn nhục từ trước đến giờ Theo Lê sử bổ biên tháng 10 năm

Canh Tuất 1790, vua Lê nghĩ rằng người Thanh không thể tin cậy, bèn định

kế với mười người bề tôi: Phạm Như Tùng, Hoàng ích Hiểu, Lê Hân, NguyễnQuốc Đống, Nguyễn Viết Triệu, Lê VănTrương, Lê Quý Thích, Nguyễn ĐìnhMiên, Lê Tùng, Lê Thức, chích máu ăn thề với nhau là sẽ viết biểu xin binh,nếu người Thanh không bằng lòng thì xin đất hai châu Tuyên Quảng và TháiNguyên để về đó thờ cúng họ Lê, hoặc ngầm về Hà Quảng (thuộc Cao Bằng,

trong Hoàng Lê nhất thống chí lại nhầm là Gia Định) để lo chuyện phục

hưng, quyết không chịu sống trên đất Bắc Họ dự định sẽ quỳ sân vua cố nài

xin, nếu có sự bất thường thì sẽ cùng nhau sống chết Tháng 3 năm 1791, thư

ký lại mời vua Lê và các bề tôi tới ấn phòng mời chè trái rồi bảo về Ngờ đâu,viên đại thần Hòa Thân đỡ đầu Phúc Khang An rất quyền thế làm hại họ,muốn phân tán nhóm Lê Quýnh để im tiếng phàn nàn Ngày 20 tháng 4 năm

1791, viên thư ký lại đi ngựa tới bảo rằng: Vua Thanh đã cho Lê ChiêuThống châu Tuyên Quang để ở và bảo vua Lê cho tùy tùng nhanh chóng vào

tạ ơn Các bề tôi theo thư ký đến ấn phòng, người Thanh sai lấy xiềng sắtkhóa lại, bỏ lên xe trâu, đưa đi an trí ngoài ba trăm dặm Ngày 21 đưa Hoàng

ích Hiểu đi Y Lê, Lê Hân đi Phụng Thiên, Phạm Như Tùng đi Hắc LongGiang, Nguyễn Quốc Đống đi Cát Lâm, Nguyễn Viết Triệu và Lê Văn

Trang 24

Trương đi Nhiệt Hà, Trương Gia Khấu Còn Phạm Trần Thiện và Đinh Nhã

Hành lưu lại hầu vua Lê ở Bắc Kinh, thế nhưng nhóm Lê Quýnh không được thông tin ấy Trong 10 năm bị giam cầm họ không được biết tin tức gì ở bên

ngoài về bạn hữu và bà con Ngày 20 tháng 5 năm 1792, con trai Lê ChiêuThống mất vì chủng đậu Ông không biết Ngày 29 tháng 7 năm 1792, vuaQuang Trung mất Ông cũng không biết Ngày 16 tháng 10 năm 1793, vua LêChiêu Thống mất Tuy biết, nhưng họ không cho phép ra tù đưa tang Cònchuyện của nước nhà, họ chỉ được nghe trong ngục tù qua lời người đàn bà bịbắt và bị giam mới vào ngục kể cho họ nghe Tuy giam Lê Quýnh, nhưngngười Thanh vẫn trọng Lê Quýnh Trong mấy năm đầu, thỉnh thoảng họ vẫntới hỏi Lê Quýnh về một vài nhân vật liên quan đến vua Lê Tháng 5 năm

1792, vị đại thần quân cơ gọi ông vào phủ nội vụ hỏi về phe chống Tây Sơn

và về em Lê Chiêu Thống là Lê Duy Chỉ, tuy rằng Duy Chỉ bị bắt và bị giếtvào cuối năm 1790, một năm sau 1793 viên thu thẩm bộ Hình lại hỏi vềngười chú Lê Chiêu Thống và mấy viên tù trưởng ở Cao Bằng Năm GiaKhánh lên ngôi 1796, ông ở tù đã bảy năm, người Thanh có ý nhân lễ đăngquang, dụ Lê Quýnh cắt tóc rồi thả tự do cho họ Nhưng ông không chịu cắttóc mà vẫn xin về, cho nên lại phải bị tù Đời sống trong tù đã đè nặng tâmhồn ông và các bạn Bằng chứng là tháng 12 năm 1797, một bạn của LêQuýnh đã mắng lại người giữ ngục, khiến người này giận giữ om sòm Ôngthảo tờ trình quan đề lao, phản kháng và bảo chỉ nên phạt một mình ông làngười đứng trách nhiệm mà thôi Cũng may cả bốn người đều biết làm thơ,

họ thường lấy thơ văn làm chuyện khuây khỏa và an ủi Trong tập thơ của LêQuýnh còn lại có chép một số thơ của ông làm vào thời gian ở tù, như họa thơvua Lê Chiêu Thống gửi thăm (khoảng tháng 4 năm 1791), thơ cảm tác đêmtrừ tịch năm Đinh Tị 1797, thơ ngẫu thành, thơ vịnh lên năm mươi tuổi (1799)…

Trang 25

Năm 1799, có lẽ là năm lòng ông dao động nhất Tuổi năm mươi, ngồi

tù đã mười năm Ngày rằm tháng giêng là ngày hội treo đèn mà phải ngồi

trong ngục tối Ông thuật hoài trong bài Bắc Sở tự tình dài 384 chữ dán lên

vách Quan lang trung bộ Hình thấy mà ngậm ngùi, có lẽ vì thế mà các vị đạithần lại muốn cứu họ Nhân năm ấy, vua Càn Long mất, (mặc dầu ba nămtrước Càn Long đã nhường ngôi cho con là vua Gia Khánh) vua Gia Khánhmới rộng tay trừng phạt bọn quyền thần Hòa Thân về việc đã bạc đãi cácvong thần người Việt Tháng 2 năm 1799, quan thu thẩm bộ Hình được lệnhvua Gia khánh đến xét hỏi nhóm Lê Quýnh Lê Quýnh xin về quê nuôi mẹ.Ngày 14, đáp lời yêu cầu của quan đề thẩm, ông trình bẩm với nội dung: TâySơn được phong vương là do ý trời Ông xin về gần biên giới để tiện việc qualại buôn bán thăm viếng cha mẹ hoặc đem cha mẹ sang ở cùng Nếu được nhưvậy thì họ xin cắt tóc để đền ơn Người Thanh nghi ngờ không tin nên bảo họ

là nếu chịu cắt tóc thì cho doanh An Nam ở Bắc Kinh, nếu không sẽ đưa đi antrí tại Nhiệt Hà nhưng họ không bằng lòng Tuy chưa được thả, nhưng thờigian này cách giam cầm của triều Thanh đối với họ không nghiệt ngã nhưtrước nữa

Tháng 6 năm 1799, quan Thanh cho đem con của Lê Quýnh là LêDoãn Thuyên đến để dụ dỗ cha Cha con cách nhau trong gang tấc mà biểntrời cách mặt Mười năm cha con xa cách nhau giờ mới được gặp lại nhau.Ngày 13 tháng 8 và ngày 23 tháng 10, quan Thanh lại cho con của Lê Quýnhđến dụ dỗ Lê Quýnh viết tờ trình dài nhắc lại lời quan bộ Hình đã dọa đưa đi

an trí ở Nhiệt Hà Rồi trả lời rằng Nhiệt Hà cũng đất nhà vua, như doanh AnNam, như ngục Bắc Sở, và quyết giữ vững lập trường kiên định cố nài đểđược đưa gia quyến về quê nuôi mẹ Ông nghĩ Tây Sơn có lẽ không nỡ giết

họ, mà có giết họ cũng cam lòng Tháng 4 năm 1800, ông được ra ngụcnhưng chưa được thả tự do Ngày mồng 4, ông bị đưa đi doanh Hỏa Khí phía

Trang 26

tây thành Bắc Kinh cách chừng bảy cây số gọi là giam lỏng Ông được phép

đi thăm mộ chúa, tiếp con và gia nhân Tháng 12, nhân đi viếng mộ của vua,

mẹ và con vua Lê Chiêu Thống, ông gặp chú của vua Lê Chiêu Thống, bènbàn chuyện xin vua Thanh cho đem hài cốt ba người ấy về nước, rồi làm lờibẩm gửi lên, từ đó bà con được đi lại tự do Trong lúc đó quân Nguyễn Ánh

đã chiếm Phú Xuân (ngày 3 tháng 5 năm 1801) Cảnh Thịnh chạy ra ThăngLong, sau khi phá tan cuộc phản công ở lũy Trấn Ninh (Quảng Bình) Ngày 2tháng 5 năm 1802, (tức là 10 năm sau khi vua Quang Trung mất), NguyễnÁnh xưng đế với niên hiệu Gia Long sai Trịnh Hoài Đức sang cầu nhà Thanh,biết tin Lê Quýnh làm tờ bẩm xin về nước, nhờ Định thân vương chuyển tâu.Vua Càn Long không trả lời liền vì đang đợi sứ bộ Trịnh Hoài Đức đến BắcKinh Ngày 25 tháng 7 năm 1803, nghe tin sứ bộ đi gần tới nơi, ông xin phép

đi đón đoàn sứ bộ và không ngờ may mắn đã đến với ông Lê Quýnh được tinrằng trong đoàn hành nhân sứ bộ có con mình là Lê Doãn Trác đang đi tìmcha Mừng quá, ông đi đến Trạc Châu tìm con rồi bị bắt giải về Kinh, và ông

bị coi là đào ngũ Ngày 2 tháng 8, bộ Hình xét xử ông Vua Càn Long phán

rằng, việc ông làm đó cũng là "nhân tình chi thường" nên không bắt tội Ông

hiểu rằng như thế là sắp được tha trở về quê Ngày 1 tháng 9, quan hậu quânNhương Hoàng tinh tới hỏi ông có xin về nước nữa không Quan Định thânvương coi doanh Hỏa Khí tới bảo rằng: vua đã ưng thuận cho đem hài cốtchúa cũ về nước, nếu bọn ông muốn về thì làm tờ trình Tất cả mọi người tìnhnguyện đem quan tài Lê Chiêu Thống về nước Đó chỉ là thủ tục theo luật lệ.Chính vì thủ tục luật lệ ấy mà họ đã bị giam cầm trong thời gian gần mườilăm năm Tháng 8 năm 1804, ông và tất cả các tòng vong còn sống sót đemquan tài vua, mẹ và con trai vua Lê Chiêu Thống cùng tàn cốt các tòng vongkhác đã mất về đến Thăng Long Bấy giờ tất cả các cựu thần triều Lê cònsống đều đến đón Chuyện vợ vua Lê Chiêu Thống là Lê Thị Kim tự tử sau

Trang 27

khi ra nhận và tế xác chồng con đã gây một tiếng vang phi thường rất xứngvới khí tiết của nhóm Lê Quýnh, tiêu biểu cho đạo lý phương Đông cổ điển.

Như vậy Bắc hành tùng ký được viết trong thời gian tác giả sống cuộc đời tù

ngục ở hải ngoại

Sau khi về nước, ông không nhận chức tước của triều mới ban cho màtới ở chùa một thời gian rồi sống tại xã Đại Đồng thuộc huyện nhà được mộtnăm thì mất, thọ 56 tuổi (ngày 16 tháng 9 năm 1805) Trong nhóm tòng vongtrở về nước, một số ít chịu làm quan cho triều Nguyễn, phần lớn xin về làng.Đến năm Tự Đức thứ mười 1857, vua sai bộ Lễ các tỉnh tra tên tuổi các bề tôinhà Lê đã tiết nghĩa chết vì lòng trung thành với triều Lê Nhân đó vua đượcđọc thơ trung liệt của các trung thần hồi ấy như thơ của Lê Quýnh Vì thế,vua ra lệnh cho nội các thu thập thơ văn của các trung thần đời trước Có lẽ

nhờ vậy mà thơ văn của các vong thần cuối triều Lê nhất là tập Bắc hành tùng ký mới lưu giữ được đến ngày nay

1.2.3 Những điểm tương đồng giữa hai tác giả và hai tác phẩm về hoàn cảnh sáng tác

Hồ Nguyên Trừng và Lê Quýnh là hai tác giả có chung một cảnh ngộ,

họ là những vong thần sống lưu vong và sáng tác các tác phẩm trên đất khách

Dù được trọng đãi hay không được trọng đãi, cả hai đều là những thần dâncủa một vong quốc Sáng tác của họ là tâm sự, tấm lòng của người Việt Namyêu nước ở hải ngoại luôn hướng về Tổ quốc Hai tác giả có cùng nỗi đaunước mất nhà tan, đều là di thần của những triều đại đã đi vào dĩ vãng trởthành bóng ma của lịch sử Tác phẩm của họ là những thành tựu lớn của vănhọc Việt Nam trung đại, được xem là hai trường hợp độc đáo của bộ phận vănhọc trung đại Việt Nam sáng tác ở nước ngoài trên đất khách Hai tác giả đềusáng tác, tác phẩm thuộc thể ký trung đại, khác với thơ đi sứ hoặc du kýTrung Quốc

Trang 28

Thơ đi sứ là những sáng tác trong thời gian họ làm nhiệm vụ vâng

mệnh nhà vua đi giao thiệp với nước ngoài Còn du ký là "một thể loại thuộc loại hình ký mà cơ sở là sự ghi chép của bản thân người đi du lịch, ngoạn cảnh về những điều mắt thấy tai nghe của chính mình tại xứ sở xa lạ hay những nơi ít người có dịp đi đến" [10 ; 75].

Trên thực tế, tác phẩm Nam ông mộng lục được sáng tác bởi một người

bị giặc Minh bắt làm tù binh trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam phải

sống lưu vong ở nước ngoài Xét trên bình diện này, có thể coi Nam ông mộng lục là tác phẩm văn xuôi tự sự hải ngoại đầu tiên của Việt Nam, còn Bắc hành tùng ký lại là sáng tác của một tù binh bị bắt và giam cầm ở hải

ngoại trong suốt mười lăm năm trời Nếu Ngô Thì Chí viết bảy hồi đầu sách

Hoàng Lê nhất thống chí cho ta biết nhiều việc về Lê mạt đến ngày vua Cảnh

Hưng mất Sau đó Ngô Thì Du, Ngô Thì Thiến tục biên, nhờ đó ngày naychúng ta biết rõ nhiều biến cố xảy ra trên đất nước trong thời kỳ ấy Songnhững vong thần theo vua Chiêu Thống chạy sang đất nhà Thanh sau khiquân Tôn Sĩ Nghị bị đánh tan thì còn thiếu nhiều điều mà lịch sử giai đoạn

sau chúng ta muốn biết mà chưa biết Cuốn Bắc hành tùng ký của Lê Quýnh

vì vậy có tính chất như là Hậu Hoàng Lê nhất thống chí Câu chuyện Lê Quýnh là một dư âm hoặc nói vĩ thanh của câu chuyện Hoàng Lê nhất thống chí, một phần bức tranh của mạt vận nhà Lê Cái quí của tác phẩm là trực tiếp

cho người đọc biết rõ ràng về tiết tháo của một vong thần vốn lìa nước đểmong cầu viện nhưng lại bị giam giữ vì người Thanh sợ có chiến tranh xảy ra

với Việt Nam Như vậy, giống như Nam ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng, Bắc hành tùng ký của Lê Quýnh cũng là một phần của mạt vận nhà

Hồ Cả hai tác phẩm đều ghi lại cho ta phần thừa của một lịch sử triều đại.

Đó là hai trường hợp độc đáo của văn học trung đại sáng tác bằng thể ký ở hải

ngoại

Trang 29

1.2.4 Những điểm khác biệt giữa hai tác giả và hai tác phẩm về hoàn cảnh sáng tác

Mặc dầu Hồ Nguyên trừng và Lê Quýnh có chung cảnh ngộ nhưnggiữa họ lại khác nhau về thân phận: Một người là quan lớn hiển đạt, mộtngười là kẻ tù nhân bị lưu đày Hồ Nguyên Trừng làm quan tới chức Thượngthư, còn Lê Quýnh phải sống cuộc đời gần mười lăm năm ngục tù đầy bấthạnh Vì thế xét về hoàn cảnh riêng cụ thể giữa hai người ít nhiều có sự khácbiệt nhau

Nam ông mộng lục sáng tác trong bối cảnh tác giả Hồ Nguyên Trừng bị

giặc Minh bắt làm tù binh trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam phải

sống lưu vong ở nước ngoài Tác giả Nam ông mộng lục lại là người thành

đạt về công danh làm quan đến chức Thượng thư Tuy sách viết bằng chữHán, được in và lưu hành bên Tàu, nhưng độc giả không hề thấy ở HồNguyên Trừng một mặc cảm tự ti nào, một ý đồ đen tối nào, trái lại ông muốngửi gắm một ý tưởng xuyên suốt tập ký: Nước Nam của tác giả cũng cónhững con người tốt đẹp từ nhà vua tới nhà nho, nhà thơ, thầy tu, đạo sĩ, thầythuốc, tướng sĩ là những con người tiêu biểu cho nhân phẩm, đạo đức và tàinăng có thể đem ra làm gương cho người phương Bắc cùng soi ngắm như:Chu Văn An, Lê Phụng Hiểu, Không Lộ, Trần Nghệ Tông, Trần Minh Tông

Đó cũng là ý mà về sau nối tiếp triều Hồ, nhà Lê khôi phục Nam quốc để

Nguyễn Trãi có thể hùng hồn tuyên cáo - Như nước Đại Việt ta từ trước, vốn xưng nền văn hiến đã lâu ; Tuy mạnh yếu từng lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có.

Liên quan đến tác giả Hồ Nguyên Trừng còn có một chứng thực củalịch sử Trong một thời gian khá dài, khoảng 20 năm trời, nước ta rơi vàothảm họa của kẻ thù xâm lược nhà Minh Với ý đồ hết sức thâm độc muốnđồng hóa dân tộc, muốn xóa hẳn nền văn hóa nước Nam Sách quý bị chúng

Trang 30

thu sạch, cướp sạch, đốt sạch Chúng muốn biến nước ta thành quận huyệncủa chúng Những năm tháng ấy trong sự bưng bít và xuyên tạc của kẻ thùxâm lược, Hồ Nguyên trừng cũng như các tù binh người Việt bị bắt thời bấygiờ không thể hình dung được các sự kiện long trời lở đất đang từng ngàydiễn ra trên mảnh đất quê hương của mình Không những thế người Minh lạirất biệt đãi ông, hòng làm ông quên đi nguồn gốc của mình Nhưng từ nơi sâuthẳm nhất của cõi lòng, Hồ Nguyên Trừng vẫn khắc khoải một nổi niềmhướng về nơi chôn rau cắt rốn, nơi ông đã sinh ra và lớn lên, nuôi dưỡng ông

suốt 33 năm trời từ thuở lọt lòng cho đến khi lớn lên Nam ông mộng lục là nơi tác giả gửi gắm hồn mình vào giấc mộng Tác phẩm Nam ông mộng lục ra

đời ở Trung Hoa, do người Trung Hoa in ấn Người Trung Hoa xưa có mộtđặc điểm là họ chỉ cho rằng, chỉ mình họ mới được làm thượng đế, làm thiêntử; ngoại giả đều là Man, Di, đều là Nhung, Dịch Họ là trung tâm của vũtrụ Đã từng có ý kiến cho rằng: Bộ sử nổi tiếng của Việt Nam thời Trần là

Đại Việt sử lược bị người Trung Quốc tước đi chữ Đại vì họ bảo chữ Đại là phạm thượng Trong sách gọi vua Việt là Hoàng đế, thì được xem là tiếm lễ,

mà chỉ được đặt ở hàng vương; thái tử chỉ được xem là thế tử Từ đấy có thể

khẳng định rằng người Trung Hoa đã chỉnh sửa Nam ông mộng lục như đã từng làm đối với Đại Việt sử lược Ra đời và tồn tại trong một hoàn cảnh đặc biệt như vậy, Nam ông mộng lục, không chỉ là nỗi thổn thức từ đáy lòng của

Hồ Nguyên Trừng, mà còn mang ý nghĩa như một tiếng vọng về Tổ quốc củatrái tim người con đất Việt ở hải ngoại [26; 184 - 185]

Về cuốn Bắc hành tùng ký của Lê Quýnh Tác giả sáng tác phẩm trong

một hoàn cảnh khá đặc biệt - hoàn cảnh người tù, trớ trêu hơn lại là mộtngười tù bất đắc dĩ Là khách mời danh dự sang để bàn việc với triều Thanh,cuối cùng lại bị giam vào ngục chỉ vì không chịu cắt tóc và thay đổi trang

phục Cuộc đời tù ngục của tác giả được ghi lại trong Bắc hành tùng ký Song

bên cạnh đó, tác giả còn cho ta biết trong lời tự tựa nguyên nhân của việc Bắc

Trang 31

hành còn có một lý do khác Do để bảo vệ cung quyến của vua Lê, bị quânTây Sơn đuổi bắt, vây lùng vì thế họ đành phải lánh nạn sang đất Bắc Dotriều Lê bạc nhược, do ảo tưởng có thể nương nhờ triều Thanh giúp vua Lêcứu vãn, khôi phục lại vương triều của mình nên nhà Lê cầu cứu nhà Thanh

cứu viện, nhưng họ bị lật lọng, bị lừa dối Sáng tác Bắc hành tùng ký, tác giả

muốn gửi gắm những tâm tư tình cảm, tư tưởng ý chí của một người ViệtNam không chịu khuất phục trước những cạm bẫy, mưu đồ đen tối của Thanhtriều Tác phẩm còn là lời chứng minh cho ý chí và nghị lực của một conngười vượt khó mọi hoàn cảnh Nếu Hồ Nguyên Trừng là người bị hoàn cảnhkhuất phục (có nhiều nguyên nhân chưa thật sáng rõ: vì xin tha chết cho cha,hay bị bức ép phải hiến kế làm súng cho nhà Minh?) thì Lê Quýnh là ngườikhông bao giờ bị hoàn cảnh khuất phục Nếu Hồ Nguyên Trừng là một ngườikém về khí tiết, thì Lê Quýnh là một người có khí tiết trung trinh, lẫm liệt -một đức trung quân có tính dân tộc lý tưởng Quãng thời gian ngục tù của tácgiả là một minh chứng cho cuộc đọ sức, đấu tranh tư tưởng âm thầm, lặng lẽ,dai dẳng giữa bạo lực với nhân cách đạo đức, khí tiết của con người: khấtphục tinh thần là khó, giết chết là dễ, tất cả đều được bộc lộ qua lời văn củatác phẩm

Nếu Nam ông mộng lục là tác phẩm đặt nền móng cho thể ký Việt Nam thời trung đại, vừa là đại diện cho những tác giả thể ký viết theo lối tự sự nhiều thiên đầu tiên thế kỷ XV - XXII, thì Bắc hành tùng ký là tác phẩm thể nghiệm cho loại hình ký 3.nghệ thuật của văn học Việt Nam thời trung đại

giai đoạn thế kỷ XVIII - XIX Bản thân hai tác phẩm tự chúng cũng có những

đối sánh rất thú vị Nam ông mộng lục gồm các thiên đoản văn có tính cách chí nhân, chí dị, thi thoại, hồi tưởng lục Bắc hành tùng ký là một trường thiên

ký sự nhiều chỗ tựa như ghi chép lưu đày hoặc ngục trung nhật ký Haitrường hợp, hai hoàn cảnh, hai bút pháp tất cả những điều đó tạo nên nhữngnét tương đồng và dị biệt rất đáng được chú ý giữa hai tác phẩm của hai tác giả

Trang 32

CHƯƠNG 2

SO SÁNH HAI TÁC PHẨM TRÊN PHƯƠNG DIỆN NỘI DUNG

2.1 Đề tài nội dung câu chuyện trong hai tác phẩm

2.1.1 Nam ông mộng lục viết chuyện xưa, chuyện của người khác còn nhớ lại

Tác phẩm Nam ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng trong tùng thư Tập thành sơ biên được xem là văn bản tốt nhất, được in sớm nhất - năm

1617 Tác phẩm gồm có lời tựa của Lê Trừng năm 1438, gồm 225 chữ và 31

thiên truyện tổng cộng 5955 chữ Đề tài câu chuyện trong Nam ông mộng lục

đều viết chuyện xưa, chuyện của người khác còn nhớ lại, đó là những câuchuyện có thật của lịch sử nhưng giờ đây đã trở thành dĩ vãng

Trong Nam ông mộng lục người đọc dễ nhận ra một đặc điểm, tác giả

hầu hết viết về những chuyện xưa, chuyện của người khác nhưng những câuchuyện đó lại là những câu chuyện có thật, những con người thật, sự việc cóthật có trong lịch sử mà Hồ Nguyên Trừng còn nhớ được, kể cả những câuchuyện được kể là chuyện có tính cách là kỳ, dị, quái

"Mỗi khi nghĩ tới việc này, tôi lại đi sưu tầm chuyện cũ, nhưng đã bị mất mát gần hết, còn lại chỉ được một hai trong số trăm phần, tập hợp lại thành sách, đặt tên là Nam ông mộng lục để phòng khi xem đến; một mặt để nêu ra những việc thiện nhỏ của tiền nhân, một mặt để cung cấp những chuyện dị văn cho người quân tử" ( )

Có người hỏi ta:

- Chuyện của Ngài đều kể về việc thiện, vậy bình sinh Ngài chưa từng gặp kẻ bất thiện chăng?

Ta đáp:

Trang 33

- Việc thiện tôi thích nghe cho nên nhớ được; chuyện bất thiện không phải không có, nhưng tôi không nhớ

- Nhân vật trong sách xưa nhiều lắm lắm Nhưng, thời thay, đời đổi, chút ít dấu vết cũ không còn Riêng một mình ta biết được mà kể lại, đó chẳng phải mộng là gì? Các bậc đại nhân quân tử biết cho điều này chăng? Còn Nam ông là Trừng tôi tự gọi mình như vậy Ngày Trùng cửu, năm Mậu Ngọ, niên hiệu chính thống thứ ba, Chánh nghị đại phu, Tư trị doãn, Tả thị lang bộ Công là Lê trừng, người Giao Nam, tự là Mạnh Nguyên viết lời tự) [9;

43 - 44]

Tác phẩm Nam ông mộng lục được sáng tác trên đất khách trong thời

gian tác giả sống lưu vong ở nước ngoài tính từ năm 1407 Thế nhưng, nhữngcâu chuyện được viết trong tác phẩm hầu hết là chuyện xưa, chuyện củangười khác Ca ngợi những ông vua hiền đức đời Trần như vua Trần NhânTông làm vua những năm (1279 - 1293); Trần Minh Tông làm vua nhữngnăm (1314 - 1329); Trần Nghệ Tông làm vua những năm (1370 - 1372)

Những câu chuyện thật cảm kích như câu chuyện: Chuyện về Nghệ vương kể

về vua Nghệ vương hiệu là Cung Định Tính ngài thuần hậu, hiếu thảo với mẹcha, hòa hữu với bè bạn; cung kính, cần kiệm, quyết đoán sáng suốt, học rộngkinh sử, không thích xa hoa

"Cung Định là người trung tín, thành thực Thờ vua và phụng sự cha

mẹ cẩn thận từ chân tơ kẻ tóc, không ai có thể chê trách được Giao thiệp với mọi người thì ngài không thân mà cũng không sơ; giải quyết chính sự không

có gì đáng chê cũng không có gì đáng khen Khi Minh vương qua đời Trong

ba năm để tang, mắt ngài không lúc nào ráo lệ Sau ngày mãn tang, không mặc lụa màu, không chú trọng miếng ăn ngon Các loại quả la muối, cá heo

là thứ ăn quí ở phương Nam từ đó tuyệt không đụng đến và ngài thờ Dụ vương hơn mười năm [9; 50].

Trang 34

Khi đã lên ngôi, Nghệ vương thu hết con cái, cháu chắt bị mồ côi của các anh chị em đem về cung nuôi dưỡng, coi như con cháu mình, khiến tông tộc xa gần đều được ơn thương đến Những người nghèo khó lam lũ sau cơn tao loạn không thể lấy vợ lấy chồng được thì dựng vợ gả chồng cho, ai chết chưa kịp chôn cất thì chôn cất cho Những họ hàng mà chưa biết mình thuộc chi phái nào thì đều lượm lặt ghi chép lại khiến họ được ở trong họ hàng như mùa xuân đầm ấm Người trong nước thì được ngài giáo hóa, phong tục dần dần trở nên thuần hậu Vương nước này là bậc vua hiền chăng?" [9; 54].

Có thể nhận xét một cách sơ bộ rằng, trong sử sách của các tiền nhânghi chép để lại về các đời vua nhà Trần, người đọc hầu như chỉ tiếp nhận vẻđẹp của các triều vua nhà Trần trên phương diện lịch sử Những chiến cônglẫy lừng chống giặc ngoại xâm, những trận đánh vang đội oai hùng làm nênhào khí Đông A của một thời lịch sử Ngợi ca các nhà vua đời Trần, các tácphẩm văn học đang còn dừng lại ở nhận xét chung về những ông vua hiền,sáng, đức, tài, có tư tưởng tiến bộ, có những cải cách chính trị vì dân Song

có lẽ, đến với Nam ông mộng lục, người đọc mới thật sự chiêm ngưỡng,

khám phá, phát hiện thêm những vẻ đẹp về chân dung của một con người nhưvua Trần Nghệ Tông Lấy đức làm trọng, thay trời hành đạo ban phát cái đứccho trăm họ đến được với muôn dân Cùng với đức trọng, Nghệ vương còn làmột con người có tài trên lĩnh vực chính sự, văn chương xuất khẩu thành thơ,giỏi về ngoại giao Câu chuyện giản dị mà có nhiều giá trị

Những câu chuyện như: Phụ đức trinh minh [9; 64], Văn tang khí tuyệt [9; 67], Phu thê tử tiết [9; 80], là những câu chuyện kể về các bà phi, những

nàng công chúa thật đẹp, sáng ở cái đức, cái tâm của người phụ nữ Việt Namxưa Chính phi của vua Trần Duệ vương là Gia Huệ hoàng hậu họ Lê mẹ củaLinh Đức con trưởng của Duệ Tông Bà đã từng xuống tóc làm ni sư khichồng là vua Duệ vương đem quân đi đánh Chiêm Thành bị chết không trở

Trang 35

về Khi Nghệ vương đưa Linh Đức lên nối ngôi, bà vì Linh Đức xin cho conthoái vị mà không được Bà khóc lóc và nói: Con ta phúc mỏng, không khamnổi ngôi, chỉ chuốc họa vào thân Bà tu hành khổ hạnh, sớm tối đọc kinh sámhối để báo đền ơn chúa Chưa đầy năm sáu năm đã đạt pháp thuật tu luyện,qui cửa Phật và tạo được môn phái riêng rồi bà nhập định thị tịch Sau nàyngười đời đều rất phục bà là người biết nhìn người giỏi, biết tiên đoán sựviệc, lòng thành thờ vua thể hiện cái đức của người làm vợ Về sau đúng làLinh Đức làm vua được một năm, bị phế, rồi thắt cổ tự tử chết (niên hiệu vuaPhế Đế) Chuyện đời vua Thái Tông Trần Cảnh (1226 - 1258) có con gáiThiều Dương đang thời gian ở cữ thì vua cha đã ốm hơn mười tháng Bà đãnhiều lần sai người đến vấn an nhà vua, nhưng họ đều nói dối là vua đã bìnhphục không sao cả Đến khi vua mất, nghe tiếng chuông đổ hồi, bà khócthương gào đến đứt cả hơi rồi chết Chuyện về đôi vợ chồng viên Đầu mụcNgô Miễn biết chết vì nghĩa là chết đúng chỗ:

"Chết vì tiết nghĩa là việc đương nhiên của bậc đại phu" "Những người đàn bà ngu muội ở đời vì bực tức mà nhảy xuống sông tự tử thì nhiều lắm Còn như vì nghĩa quên mình người như Nguyễn Thị thì không dễ dàng có đâu"

[9; 81 - 82]

Họ hội tụ gặp nhau ở chữ hiếu, hạnh, ở chữ đức cao cả của con người

Đọc Nam ông mộng lục ta còn bắt gặp những vẻ đẹp của cái tài, cái đức, phép

thần thông biến hóa của các nhà sư, đạo sĩ như: Sư Giác Hải và đạo sĩ ThôngHuyền diệt trừ yêu quái trong cung điện nhà vua đời Lý Sự thị tịch của TrúcLâm, phép thần thông của nhà sư và đạo sĩ, sự thần dị của Minh Không, khỏibệnh trong giấc mộng, đức hạnh của bậc ni sư là những nhà sư và đạo sĩ đểlại những việc làm hành động, lời nói, cử chỉ thật đáng vị nể Có chuyện kểrằng, nhà vua sau khi truyền ngôi cho Thế tử bèn xuất gia tu hành, khắc khổ,tịnh tiến, tuệ giải siêu thoát, là sư tổ của một phương Chị gái của ngài làm

Trang 36

nhiều chuyện trái đạo nghĩa vợ chồng Khi chị gái ốm nặng Ngài xuống núithăm và thị tịch cùng chị gái Chuyện nhà sư Giác Hải và đạo sĩ ThôngHuyền cùng trấn yểm yêu quái trong cung điện nhà vua thời Lý Chuyện đạo

sĩ Áp Lãng chân nhân giúp vua Lý Thái Tông (1028 - 1054) chế ngự sóng to,gió lớn khi vua đem thủy quân đi phạt Chiêm Thành Nhưng đạo sĩ khôngnhận công, và không nhận ban thưởng Ngợi ca phép thần thông biến hóa củaKhông Lộ thiền sư Sư Quán Viên chữa bệnh đau mắt cho Trần Anh vương Những thầy giáo, thầy thuốc đáng trân trọng để tiếng vang trong đời là thầygiáo Chu Văn An, thầy thuốc Phạm Công Chu Văn An tính liêm khiết,cương trực, lấy việc đốc thúc đọc sách để trị gia, học nghiệp tinh thần, danhvang khắp chốn Đệ tử đầy nhà, nối nhau đỗ đạt và thường có người làm quantrong chính phủ Được vua Trần phong cho làm Quốc tử giám tư nghiệp, dạyThế tử kinh sách Sau ông được thăng làm Tế tửu nhà Thái học Minh vươngmất, con ngài là Dụ vương ham chơi, lười việc chính sự Bọn quyền thần lắm

kẻ không theo phép nước Chu Văn An nhiều lần can gián nhưng Dụ vươngkhông nghe Ngài lại dâng sớ xin chém bảy kẻ gian thần, chúng đều là bọn

quyền thế Sớ dâng lên mà không thấy trả lời Người đời gọi là Thất trảm sớ.

Chu văn An bèn treo mũ về nhà Về sau Dụ vương mất, nước loạn, quần thầnđón Nghệ vương về lập làm vua Được tin Chu Văn An mừng lắm, chống gậyđến yết kiến; xong lại xin trở về làng và lấy cớ là đã già nua, bệnh tật Ông từ

chối không nhận tước phong Nghệ vương bèn ban hiệu cho ngài là Văn Trinh tiên sinh [ 9; 70- 71] Chu Văn An không chỉ là một thầy giáo tài đức

mà là một nhân cách sống cao đẹp, một khí tiết trung trinh, ngay thẳng cứngcỏi Một thầy thuốc như thầy thuốc ông tổ ngoại Hồ Nguyên Trừng là PhạmCông, gia thế làm nghề y, giữ chức Thái y lệnh để phụng sự Trần Anh vương.Thế nhưng đối với thần dân ngài hết sức yêu thương:

Trang 37

"Ngài thường đem hết của cải trong nhà ra mua các loại thuốc tốt và tích trữ thóc gạo Gặp kẻ bệnh tật cơ khổ, ngài cho ở nhà mình, cấp cơm cháo chữa trị Tuy bệnh có dầm dề máu mủ, ngài cũng không hề né tránh Bệnh nhân đến chữa, tới khi khỏe mạnh rồi đi Cứ như vậy, trên gường không lúc nào nào vắng người Bỗng có năm đói kém, dịch bệnh nổi lên, ngài lại dựng thêm nhà cho những kẻ khốn cùng đói khát và bệnh tật để ở, cứu sống hơn ngàn người Ngài được người đời đương thời trọng vọng Có lần, cùng một lúc có người dân đến gõ cửa, mời gấp: Nhà có người đàn bà, bỗng nhiên nguy kịch, máu chảy như xối, mặt mày xanh lét Nghe vậy ngài theo người đó

đi ngay Nhưng ra tới cửa thì gặp sứ giả do vua sai tới, nói rằng: Trong cung

có bậc quí nhân bị sốt, vua triệu đến khám Ông đã lựa chọn cứu bệnh cho người dân nguy kịch trước, cứu chữa cho người trong cung chỉ bị cảm sốt sau Sau ngài đến yết kiến Vua quở trách Ngài bỏ mũ ra tạ tội, bày tỏ lòng thành của mình Vua mừng rỡ nói: Ngài thật là bậc lương y chân chính, đã giỏi về nghề nghiệp lại có lòng nhân đức, thương xót đám con đỏ của ta, thật xứng với lòng ta mong mỏi [9; 75 - 76].

Câu chuyện Phạm Công cho thấy ông thật xứng với danh hiệu của nghềy: "Lương y như từ mẫu" Vừa giỏi về y thuật, vừa giỏi về tâm thuật Một LêPhụng Hiểu lấy sức mạnh thần kỳ giết giặc cứu nước, cứu dân, không màngchức tước, danh phận chỉ thích làm một thảo dân sống ở chốn ruộng vườn

Nam ông mộng lục còn ghi chép kể lại những con người thật đẹp như hai anh

em họ Chúc có công lớn trong việc chỉnh đốn lại triều cương thật xứng với tàitrai Ngợi ca những tài thơ như Trần Nguyên Đán ông ngoại của Nguyễn Trãilàm bài thơ dùng lời trung để can gián nhà vua Mạc Ký một thi sĩ tài hoa quýkhách, một Hồ Tông Thốc người Diễn Châu tuổi trẻ đã đỗ đạt, nổi tiếng làngười có tài Trong một đêm, ông làm được trăm bài thơ, uống trăm chénrượu, không ai địch nổi, tên ông chấn động đô thành

Trang 38

Đề tài viết về chuyện xưa, chuyện người trong tác phẩm Nam ông mộng lục mỗi người một vẻ Hồ Huỳnh người Trung Quốc bạn đồng triều của

Hồ Nguyên Trừng viết trong lời tựa:

"Ôi, sao trời tỏa sáng, sắc mây rỡ ràng, đó là vẻ đẹp của trời; sông trôi núi dựng, hoa cỏ trái cây, đó là vẻ đẹp của đất; phẩm vật điển chương, lễ nhạc giáo hóa, đó là vẻ đẹp của người" [9; 202 - 203]

Nội dung trong tác phẩm Nam ông mộng lục phong phú, bao la trí tuệ.

Nói đạo quân thần để làm sáng tỏ cái đức đẹp của luân thường, ghi lại lẽ hưngphế của dòng họ và quốc gia để ngợi ca tiết nghĩa, khích lệ phong tục, didưỡng tâm tính, hun đúc phúc lành Những câu chuyện ấy đi vào lòng ngườiđọc như những bài học đạo đức để người đời học tập noi gương, tự hoàn thiệnnhân cách con người

Giai đoạn văn học thế kỷ X - XIV, Hồ Nguyên Trừng trở thànhngười khép lại khuynh hướng nghệ thuật viết về truyện kỳ, quái dị và mở ra

cánh cửa mới viết về người thật việc thật với mục đích "ngợi ca những việc tốt đẹp nho nhỏ của tiền nhân" Việc đó đã đưa Hồ Nguyên Trừng đến gần các tác

gia cận - hiện đại

Sau này vào những năm 60 của thế kỷ XX, khuynh hướng đó đã trởthành một trào lưu sáng tác do Chủ tịch Hồ Chí Minh phát động: viết vềgương người tốt việc tốt Hồ chủ tịch đã từng nói, mỗi người tốt việc tốt làmột bông hoa đẹp làm nên màu sắc rực rỡ cho vườn hoa dân tộc Khái niệm

dị văn mà Hồ Nguyên Trừng dùng còn hàm một nghĩa khác là: điều mới lạ

"Những việc tốt đẹp nho nhỏ của tiền nhân" đối với người đọc có thể xem là

một điều mới lạ Bởi vì, trong hoàn cảnh thực tại khi tác giả viết tác phẩm,mọi sự kiện về đất nước, về dân tộc, về họ hàng, bè bạn mà tác giả viết rađều đã trở thành "mộng" Vì thế cũng có thể xem là một điều mới lạ Nếu

Trần Thế Pháp viết Lĩnh Nam chích quái lục nhằm mục đích "khuyến thiện" và

Trang 39

"trừng ác"; thì tác giả Hồ Nguyên Trừng viết Nam ông mộng lục nhằm một mục đích duy nhất là "khuyến thiện" Vì thế con người Việt Nam trong Nam ông mộng lục hiện ra như những hạt ngọc nhỏ xíu nhưng ngời lên một ánh

sáng trong trẻo, đẹp đến lạ thường

Bên cạnh đó, viết về những câu chuyện xưa, chuyện của người HồNguyên Trừng đã có công rất lớn trong việc sưu tập cho kho tàng văn họcnước nhà - thơ văn Lý - Trần một lượng các bài thơ của các tiền nhân sángtác khoảng 20 bài Trong khoảng hai mươi bài thơ ấy Hồ Nguyên Trừng đãđính chính một số chỗ trong một số bài mà so với các sách khác chép chưachính xác về từ và nghĩa, đã tạo điều kiện giúp cho người đọc hiểu rõ nộidung ý nghĩa của một số bài thơ được chính xác, thấu đáo hơn Một số thiên

trong Nam ông mộng lục có tính cách như là những thi thoại Căn cứ vào nội

dung các thiên đó ta có thể xem chúng là những bài ký về hoàn cảnh sáng tác,

về tác giả của bài thơ, câu thơ Đằng sau mỗi bài thơ là một câu chuyện, mộtmẩu chuyện nhẹ nhàng, lãng mạn như những tình tiết của truyền kỳ Đây làmột công hiến cho văn học trung đại của Hồ Nguyên Trừng Bởi vì như tabiết, trong văn học Việt Nam trung đại thi thoại không nhiều Mãi đến VũTrung tùy bút ta mới thấy sự trở lại của thể này

Trong Bắc hành tùng ký cũng có những đoạn ký về các bài thơ của chính tác giả Khác với Nam ông mộng lục, ghi chép về chuyện làm thơ và các bài thơ trong Bắc hành tùng ký không độc lập khỏi dòng nhật ký, ký sự quán xuyến toàn tác phẩm Thêm nữa, các bài thơ trong Bắc hành tùng ký

cũng không đậm màu sắc lãng mạn mà thường chứa nhiều tình tiết, chi tiếtthực lục sự kiện trần tình lại những cảm xúc được gửi vào một số bài thơ của

Lê Quýnh trong tập ký sự

2.1.2 Bắc hành tùng ký chép chuyện nay, chuyện chính mình

Trang 40

Nếu Nam ông mộng lục của Hồ Nguyên Trừng viết những câu chuyện chủ yếu về nhà Trần, nhà Lý có trong sử sách gọi là chuyện xưa, thì Bắc hành tùng ký lại ghi chép chuyện vừa mới xảy ra ngay trong thời kỳ Lê

Quýnh sống lưu vong trên đất Bắc được tính từ năm 1789 Hầu hết các

chuyện trong Bắc hành tùng ký được tác giả kể theo trình tự thời gian lịch sử cuộc đời tù ngục của chính mình Ngay trong nhan đề bài tựa: "tự tựa mình đề"

nghĩa là lời tựa kể riêng về mình, tự tựa cũng nói đến xuất xứ của tác phẩm

Trong Tự tựa tác giả Lê Quýnh kể lại các mốc lịch sử của cuộc đời mình.

"Năm hai mốt tuổi được làm Văn quán nho sinh Năm hai lăm tuổi, về

để tang cha Mùa hè năm ấy 1774 trong nước có nhiều chuyện lôi thôi, ta bèn

Có khi, Bắc hành tùng ký kể lại lịch sử của đoàn tùy tùng hộ giá vua Lê

Chiêu Thống, thái hậu, nguyên phi Nguyễn Thị Kim, nguyên tử (con traiNguyễn Thị Kim) và các tòng vong trong liên hệ với bản thân của chính tácgiả Có thể nói, lần đầu tiên có một tác phẩm ký viết về tình cảnh một ngườiViệt Nam ở nhà tù Trung Quốc trong văn xuôi tự sự trung đại Việt Nam Đây

cũng là nét độc đáo của thể ký, văn xuôi tự sự thời trung đại Việt Nam Như vậy, xét trên quan điểm này thì Bắc hành tùng ký phần nào giống Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh đều là những sáng tác được viết trong hoàn cảnh

lao tù tại nhà tù Trung Quốc Cùng là thể ký, một bên là ký sự, ký cảnh được

viết bằng văn xuôi tự sự trung đại Một bên là ký thơ được sáng tác chủ yếu bằng thơ cách luật khuynh hướng thơ ca Cách mạng Tuy nhiên Nhật ký trong tù của Hồ Chí Minh và Bắc hành tùng ký của Lê Quýnh có nhiều điểm

Ngày đăng: 22/12/2013, 12:54

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lại Nguyên Ân (2003), Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển văn học Việt Nam từ nguồn gốc đến hết thế kỷ XIX
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
2. Lại Nguyên Ân (2001), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
3. Anh Chi, "Nhà kỹ nghệ, nhà văn Hồ Nguyên Trừng", http://www nguoidaibieu.com.vn/Trangchu/VN/tabid/66/CatID/29/ContentID/19521/Default.aspx Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà kỹ nghệ, nhà văn Hồ Nguyên Trừng
4. Nguyễn Huệ Chi (2002), "Con đường giao tiếp văn học cổ trung đại Việt nam trong mối liên hệ khu vực", Tạp chí Văn học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường giao tiếp văn học cổ trung đại Việt nam trong mối liên hệ khu vực
Tác giả: Nguyễn Huệ Chi
Năm: 2002
5. Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng (2001), Các triều đại Việt Nam, Nxb Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các triều đại Việt Nam
Tác giả: Quỳnh Cư, Đỗ Đức Hùng
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 2001
6. Nguyễn Văn Dân (2000), Lý luận văn học so sánh, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học so sánh
Tác giả: Nguyễn Văn Dân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2000
7. Trương Đăng Dung, nhiều tác giả (1990), Các vấn đề của khoa học văn học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các vấn đề của khoa học văn học
Tác giả: Trương Đăng Dung, nhiều tác giả
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1990
8. Đặng Anh Đào (1994), Tài năng và người thưởng thức, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài năng và người thưởng thức
Tác giả: Đặng Anh Đào
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1994
9. Ưu Đàm, La Sơn, Nguyễn Đăng Na (1999), Nam ông mộng lục, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nam ông mộng lục
Tác giả: Ưu Đàm, La Sơn, Nguyễn Đăng Na
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1999
10. Lê Bá Hán (chủ biên), (1992), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Tác giả: Lê Bá Hán (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
11. Dương Quảng Hàm (1993), Việt Nam văn học sử yếu, Nxb Tổng hợp Đồng Tháp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn học sử yếu
Tác giả: Dương Quảng Hàm
Nhà XB: Nxb Tổng hợp Đồng Tháp
Năm: 1993
14. Đỗ Đức Hiểu (1999), Đổi mới đọc và bình văn, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới đọc và bình văn
Tác giả: Đỗ Đức Hiểu
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 1999
17. Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án (2001), Tang thương ngẫu lục, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tang thương ngẫu lục
Tác giả: Phạm Đình Hổ, Nguyễn Án
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
18. Trần Đình Hượu, (Lại Nguyên Ân soạn) (2002), Các bài giảng về tư tưởng phương Đông, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các bài giảng về tư tưởng phương Đông
Tác giả: Trần Đình Hượu, (Lại Nguyên Ân soạn)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
19. Trần Đình Hượu (1995), Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại, Nxb Văn hóa - Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nho giáo và văn học Việt Nam trung cận đại
Tác giả: Trần Đình Hượu
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 1995
20. Đinh Gia Khánh (2000), Văn học Việt Nam (Thế kỷ X - Nửa đầu thế kỷ XVIII), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (Thế kỷ X - Nửa đầu thế kỷ XVIII
Tác giả: Đinh Gia Khánh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
21. TrầnTrọng Kim (2002), Việt Nam sử lược, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam sử lược
Tác giả: TrầnTrọng Kim
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2002
22. Đặng Thanh Lê (1995), "Tiếp cận một số vấn đề tiếp nhận ngôn ngữ và tư tưưởng triết học Trung Quốc thời kỳ trung đại", Tạp chí Văn học, (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếp cận một số vấn đề tiếp nhận ngôn ngữ và tư tưưởng triết học Trung Quốc thời kỳ trung đại
Tác giả: Đặng Thanh Lê
Năm: 1995
23. Nguyễn Lộc (2007), Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam (Nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX)
Tác giả: Nguyễn Lộc
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
24. Phương Lựu (2002), Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học Việt Nam trung đại, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần xác lập hệ thống quan niệm văn học Việt Nam trung đại
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Văn hóa - Thông tin
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w