1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

So sánh một số giống lúa lai hai dòng có triển vọng cho năng suất cao trong vụ đông xuân 2007 2008 tại trạm khảo nghiệm giống cây trồng yên thành nghệ an

50 677 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề So sánh một số giống lúa lai hai dòng có triển vọng cho năng suất cao trong vụ đông xuân 2007 - 2008 tại trạm khảo nghiệm giống cây trồng yên thành - nghệ an
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Việt Nam
Chuyên ngành Nông nghiệp
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2007 - 2008
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 757,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những thập niên cuối của thế kỉ XX, thì đã có nhiều những thành tựu vềlai tạo giống lúa mới phù hợp với phân bón và nước tưới như giống lúa thấp cây, lúachất lượng, giống lúa chống

Trang 1

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

I Lý do chọn đề tài 1

II Mục đích nghiên cứu 6

2.1 Mục đích nghiên cứu 6

2.2 Yêu cầu của đề tài 6

III Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu 6

3.1 Đối tượng nghiên cứu 6

3.2 Phạm vi nghiên cứu 6

3.3 Nội dung nghiên cứu 7

IV Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 7

4.1 Ý nghĩa khoa học 7

4.2 Ý nghĩa thực tế 7

Chương 1 TỔNG QUAN 8

1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 8

1.1.1 Tình hình sản xuất 8

1.1.2 Tình hình nghiên cứu 10

1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa ở Việt Nam 15

1.2.1 Tình hình sản xuất 15

1.2.2.1 Công tác bảo tồn nguồn gen lúa ở Việt Nam 20

1.2.2.2 Một số kết quả nghiên cứu, chọn tạo và khảo nghiệm giống lúa thuần của Việt Nam trong những năm qua 22

1.2.2.3 Thành tựu về nghiên cứu và phát triển lúa lai của Việt Nam 24

1.2.3 Tình hình sản xuất lúa ở Yên Thành 28

Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31

2.1 Cơ sở khoa học 31

Trang 2

2.1.1 Khái niệm 31

2.1.2.Giả thuyết khoa học 31

2.2 Thời gian, địa điểm nghiện cứu 32

2.2.1 Địa điểm 32

2.2.2 Thời gian nghiên cứu 32

2.3 Vật liệu di truyền 32

2.4 Phương pháp thực nghiệm 33

2.4.1 Bố trí thí nghiệm 33

2.4.2 Quy trình kỹ thuật 33

2.4.2.1 Kỹ thuật làm mạ 33

2.4.2.2 Kỹ thuật làm đất ruộng cấy 34

2.4.3 Thực nghiệm trên đồng ruộng……… 35

2.4.4 Thực nghiệm trong phòng thí nghiệm……… 36

2.4.5 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi các chỉ tiêu……… 36

2.4.6 Phương pháp xử lý số liệu 40

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 41

3.1 Đặc điểm khí hậu ở Huyện Yên Thành trong vụ Đông Xuân 2007 – 2008 41

3.2 Những đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các giống thí nghiệm 42

3.2.1 Khả năng sinh trưởng của mạ 42

3.2.2 Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng và phát triển 44

3.3 Các chỉ tiêu về sinh trưởng ……… 48

3.3.1 Động thái tăng trưởng chiều cao cây qua các giai đoạn sinh trưởng 48

3.3.2 Động thái và khả năng ra lá của các giống… ……… 51

3.3.3 Động thái và khả năng đẻ nhánh của các giống thí nghiệm……… ……….53

3.4 Một số đặc điểm hình thái của các giống thí nghiệm 56

3.5 Khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất lợi của các giống ……59

3.5.1 Khả năng chống chịu sâu bệnh………59

Trang 3

3.5.3 Khả năng chịu rét của các giống thí nghiêm………60

3.6 Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của các giống……… 61

3.7 Một số chỉ tiêu về chất lượng của các giống……… 63

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ…… ……… 67

Kết luận……… 67

Kiến Nghị……… 67 Tài liệu tham khảo

Phụ lục

MỞ ĐẦU

I Lý do chọn đề tài

Cây lúa(Oryzia Sativa, L) thuộc họ hoà thảo, là một loại cây thân cỏ điển hình

của ngành nông nghiệp thế giới nói chung và ngành nông nghiệp của Việt Nam nói riêng Là một trong ba cây lương thực chủ yếu trên thế giới đó là ngô, lúa và lúa mì Với nền nông nghiệp, cây lúa có vị trí rất quan trọng Cây lúa cung cấp hơn 60% lượng luơng thực cung cấp cho khoảng 1/4 dân số thế giới Là nguồn lương thực chính trong các bữa ăn hàng ngày của hơn 40% dân số toàn cầu Cây lúa là nguồn cung cấp lươg thực chủ yếu trên thế giới, nó có tác dụng là nền tảng cho các ngành kinh tế khác phát triển khi nền nông nghiệp phát triển vững chắc Hạt gạo là sản phẩm chính của cât lúa, trong gạo chứa một luợng lớn protein cho con người, lượng protein

mà hạt gạo cung cấp chiếm khoảng 40% nhu cầu protein của con người, cung cấp khoảng 80% lượng glucose của con người, nhiều chất vi lượng và vitamin khác nữa Trong hạt gạo tinh bột chiếm khoảng 80%, protein khoảng 6 - 10%, đường 6,5%, lipit 0,5 - 2%, các axít amin không thay thế và các loại vitamin nhóm B(B1, B2, B6, B12 ), và vitaminC

Trang 4

Lúa gạo là nguyên liệu chủ yếu của ngành công nghiệp chế biến thực phẩmnhư để chế biến ra rượư, bia, bánh kẹo, nước giải khát các loại, và nhiều sản phẩmkhác nữa Các sản phẩm phụ khác như cám, vỏ trấu, rơm rạ dùng để làm thức ăn chochăn nuôi gia súc như: trâu, bò, lợn, gà, vịt, Dùng làm nguyên liệu cho ngành sảnxuất giấy, gốm, thủy tinh Ngoài ra rơm rạ còn dùng làm phân bón có chất lượng caocho sản xuất nông nghiệp, làm chất đốt, Qua đó ta thấy rằng cây lúa có ảnh hưởngrất lớn đến đời sống của con người và ngành sản xuất nông nghiệp trong nền kinh tếquốc dân Trong tình hình hiện nay trên toàn thế giới đang và sẽ diễn ra nguy cơ thiếulương thực rất nghiêm trọng Trong khi nguy cơ thiếu lương thực có thể xảy ra nhưngdiện tích đất dành cho việc canh tác nông nghiệp lại giảm sút do tốc độ đô thị hóatăng nhanh đã một phần chiếm đi diện tích đất sản xuất lương thực Hơn thế nữa dân

số thế giới ngày một tăng với tốc độ chóng mặt, đây cũng là một nguyên nhân chủyếu làm cho nguồn lương thực không đáp ứng đủ nhu cầu về lương thực ngày mộttăng của dân số ngày một tăng lên Khi thiếu lương thực thì sẽ xảy ra nạn nghèo đóitrên toàn thế giới, khi đó nó sẽ đe dọa đến đời sống của con người, sẽ không dừng lại

ở đó mà khi thiếu lương thực nó sẽ gây ra hậu quả nghiêm trọng hơn nữa đó là sẽ ảnhhưởng đến đời sống của các thế hệ con cháu sau này của chúng ta Bởi lí do này màchúng ta không ngừng tìm kiếm sáng tạo ra các biện pháp nhằm đáp ứng được nhucầu về lương thực, một trong những biện pháp đó là chúng ta phải cải tiến trong sảnxuất lương thực như(cải tiến về giống cây trồng, cách canh tác, về phân bón ) để tăngsản lượng lương thực cung cấp nhu cầu của con người, để đảm bỏa cuộc sống của conngười được ấm no hạnh phúc

Đất nước Việt Nam chúng ta hiện nay có trên 80% dân số làm nông nghiệp,

mà trong ngành nông nghiệp thì nghề trồng lúa được coi trọng nhất và nó chiếm phầnlớn diện tích đất canh tác nông nghiệp của cả nước Trên thực tế hiện nay thì trongcác bữa ăn hàng ngày của người Việt Nam thì hầu hết là cơm( được chế biến ra từ hạtgạo), từ đó có thể khẳng định rằng cây lúa gắn bó chặt chẽ với con người Việt Nam

Trang 5

như "hình với bóng" vậy Nhưng trong thời gian gần đây thì diện tích trồng lúa của

nước nhà ngày càng giảm sút gây ra khó khăn cho việc tăng sản lượng lúa của nướcnhà và một số khó khăn khác nữa mà chúng ta có sẽ phải đối mặt trong thời gian sắptới Mà trong đó quan trọng nhất là ảnh hưởng đến anh ninh lương thực là một vấn đềrất nhạy cảm của mỗi quốc gia và vấn đề liên quan đến kinh tế xã hội của đất nước.Bởi vậy mà nhiệm vụ quan trọng của chúng ta hiện nay là tìm kiếm được một biệnpháp tốt nhất để tăng sản lượng lương thực, đủ cung cấp cho nhu cầu trong nước để từ

đó trấn áp được những khó khăn có thể xảy ra Trong các biện pháp mà chúng ta đãtriển khai thì biện pháp ứng dụng công nghệ trong lai tạo giống lúa mới là có triểnvọng nhất Nó hứa hẹn đem lại cho con người nguồn lương thực dồi dào và có chấtlượng tốt hơn, an toàn hơn Như chúng ta đã biết thì giống là một trong những yếu tốquyết định đén năng suất , sản lượng của lúa, mà hiện nay thì giống là yếu tố quantrọng nhất

Trong những thập niên cuối của thế kỉ XX, thì đã có nhiều những thành tựu vềlai tạo giống lúa mới phù hợp với phân bón và nước tưới như giống lúa thấp cây, lúachất lượng, giống lúa chống chịu, từ đó làm cho nghề trồng lúa nước phát triển thêmmột bậc quan trọng Tuy nhiên qua một thời gian thì những giống lúa đó đã khôngphù hợp với những đòi hỏi mới của xã hội, với những thay đổi của điều kiện tự nhiênngày càng khắc nghiệt hơn, vì vậy mà sau một thời gian thì nó cũng không còn cóhiệu quả nhiều nữa Bởi vậy mà các nhà nghiên cứu đã chuyển sang nghiên cứu ưuthế lai của các giống lúa Nhưng việc tạo ra ưu thế lai ở lúa là một việc làm khó khăn,

do cây lúa là loài tự thụ phấn là chủ yếu chỉ có một phần rất nhỏ là thụ phấn nhờ gió

mà thôi, cho nên việc lai tạo ra giống lúa có ưu thế lai là tương đối vất vả

Thành tựu về lúa lai rầm rộ nhất là vào các năm cuối của thập niên cuối thể kỉ

XX và những năm đầu của thể kỉ XXI Điển hình nhất là các nhà khoa học TrungQuốc đã tạo ra nhiều giống lúa lai có năng suất và giá trị dinh dưỡng cao, một sốgiống đó đang được đưa vào trồng ở Việt Nam Trong những năm gần đây các nhà

Trang 6

khoa học Việt Nam đã và đang một số giống lúa lai có triển vọng, mà nguyên liệu làcác giống lúa ở trong nước Đây là một hướng đi có triển vọng của nghề trồng lúanước Việt Nam nói chung và của Nghệ An nói riêng để tăng năng suất và sản lượnglúa cung cấp cho xã hội Năng suất của lúa lai lớn hơn năng suất của lúa thuần 20%,lúa giống địa phương bản địa, mà chất lượng hạt lúa, chất lượng hạt gạo vẫn có giá trịdinh dưỡng, giá trị kinh tế cao Mà hơn nữa giống lúa lai có khả năng chống chịu vớiđiều kiện ngoại cảnh, chịu phân, chống chịu sâu bệnh tốt và có thời gian sinh trưởngngắn đã là giảm rủi ro mất mùa ngoài đồng ruộng trong điều kiện thời tiết bất lợi vàphức tạp như ở nước ta Cho nên lúa lai là một giải pháp đúng và quan trọng chongành nông nghiệp Việt Nam nói chung và ở Nghệ An nói riêng

Trong những năm gần đây Việt Nam tăng sản lượng, năng suất lúa là nhờ vàonhiều nguyên nhân khác nhau như: thay đổi cơ cấu cây trồng, chuyển đổi mùa vụ,thay đổi chính sách nông nghiệp, về thủy lợi, thay đổi kỹ thuật trồng, nhưng nguyênnhân quan trọng nhất đó là nền nông nghiệp nước ta đã du nhập một số giống lúa lai

có năng suất cao đưa vào cơ cấu giống lúa của nước ta Và những năm gần đây cácnhà khoa học trong nước đã tiến hành nghiên cứu sản xuất ra các giống lúa lai cónăng suất chất lượng cao đưa vào sản xuất Lúa lai là một loại giống lúa mới cho năngsuất cao hơn lúa thuần khoảng 20%, sức chống chịu với một số loại sâu bệnh hạichính trên cây lúa và một số điều kiện bất lợi tốt hơn, có khả năng thích nghi với điềukiện ngoại cảnh tốt hơn và có thời gian sinh trưởng ngắn Bởi những lý do đó mà lúalai đang có khả năng mang lại cho nền nông nghiệp nước ta hướng đi ngày càng pháttriển tốt hơn, có hiệu quả cao Tuy nhiên lúa lai cũng như các giống lai ở động vật thì

nó chỉ có hiệu quả cao ở thế F1, còn các thế hệ sau thì năng suất và kả năng chốngchịu với sâu bệnh, điều kiện ngoại cảnh bất lợi sẽ giảm sút dần.Đó chính là hiệntượng thoái hóa giống, vì vậy để tránh hiện tượng đó cần phải thay thế các giống lúanày bằng những giống lúa mới có hiệu quả hơn nhằm tránh kết quả xấu do hiện tượngthoái hóa giống gây nên Để đáp ứng đòi hỏi đó thì đã có nhiều trung tâm nghiên cứu

Trang 7

giống cây trồng tham gia vào việc nghiên cứu và đã tạo ra được nhiều giống lúa lai cóhiệu quả cao hơn Và một phần không kém sự quan trọng để giải quyết những khókhăn do hiện tượng thoái hóa giống gây ra đó là nhập nội các giống lúa lai, và đây tỏ

ra là một giải pháp có hiệu quả mà hiện nay nhà nước ta đang áp dụng Hiện nay,được sự giúp đỡ của khoa học công nghệ hiện đại, thì việc nghiên cứu và xem xét cácgiống vừa lai tạo, các giống nhập nội có thích hợp với điều kiện sinh thái ở nước tahay không cũng đang được tiến hành ở các vùng sinh thái khác nhau trên khắp cảnước Do đó mà chúng ta cần tiến hành khảo nghiệm, so sánh giống để tìm ra giốngmới thích hợp với từng vùng sinh thái, từng địa phương thì mới đảm bảo được hiệuquả của giống mới khi đưa ra sản xuất đại trà

Nghệ An là một trong những tỉnh thuộc vùng duyên hải miền trung của đấtnước ta Miền đất ảnh hưởng nặng nề của gió lào khô nóng vào mùa hè, lụt lỗi vàomùa mưa nó làm hại rất lớn đến nền nông nghiệp của cả vùng Tuy điều kiện tự nhiênbất lợi như vậy, nhưng nền kih tế của Nghệ An vẫn chủ yếu dựa vào nông nghiệp,phần lớn người dân làm nông nghiệp để sinh sống và làm giàu, chỉ trừ những vùng thịtrấn và thành phố thì mới ít làm nông nghiệp Vì thế mà cây lúa ở Nghệ An là một câynông nghiệp rất quan trọng đối với người dân Xứ Nghệ Với miền trung nói riêng thìNghệ An là một vựa lúa lớn, có diện tích và dân số đông cho nên cây lúa có vị trí rấtquan trọng Là một vùng đất có khí hậu quanh năm phức tạp, mùa hè thì khô nóng,hạn hán; mùa đông thì giá lạnh, hanh khô Mùa nóng nhiệt độ có thể lên đến trên

400C, còn mùa lạnh thì nhiệt độ có thể xuống dưới 100C lại kèm theo mưa phùn làmảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng của cây lúa và cũng là một vùng đất hứng chịuphần lớn các đợt bão lũ, lốc xoáy, những điều kiện tự khí hậu bất thường Do đó cácloại giống lúa lai tạo phải có khả năng chống chịu được những điều kiện bất lợi về khíhậu của vùng đất này thì nó mới đem lại hiệu quả cao cho người trồng lúa Vì vậy,chọn ra các loại giống lúa có khả năng chống chịu được sâu bệnh, điều kiện ngoạicảnh bất lợi tốt và có tiềm năng cho năng suất cao là điều mà các nhà nghiên cứu

Trang 8

giống lúa cần phải tìm ra để đem đến cho người dân ở vùng đất Nghệ An nói riêng và

cả nước nói chung đưa vào sản xuất nhằm mục đích nâng cao đời sống của người dân

Để góp một phần nhỏ vào công việc đó và dựa vào thực tế đó chúng tôi tiến

hành nghiên cứu đề tài "So sánh một số giống lúa lai hai dòng có triển vọng cho

năng suất cao trong vụ Đông Xuân 2007 - 2008 tại trạm khảo nghiệm giống Yên Thành, Nghệ An."

II Mục đích nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu khả năng sinh trưởng và phát triển, khả năng thích ứng với điều kiệnđất đai, khả năng chống chịu với các yếu tố khí hậu, thời tiết, sâu bệnh của từng loạilúa trong vụ Đông Xuân Từ đó đưa ra các giống lúa phù hợp với cơ cấu ở vụ ĐôngXuân và chọn ra các giống có triển vọng cho năng suất cao để đưa vào cơ cấu mùa vụ

ở địa phương Trên cơ sở đó chọn ra được các giống lúa tốt phục vụ cho sản xuấtnhằm tăng sản lượng lương thực, tăng thu nhập cho nông dân, đảm bảo an nihn lươngthực góp phần tăng lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam từ đó tăng thêm thu nhập cho

xã hội

2.2 Yêu cầu của đề tài

_ Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất, năng suất của từng nhóm giốngtrong thí nghiệm

_ Đánh giá về khả năng sinh trưởng, phát triển và các đặc trưng đặc tính củatừng giống thí nghiệm

_ Đánh giá về khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bấtlợi(chịu rét, chịu hạn, chịu phân )

III Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu

Trang 9

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Các giống lúa lai hai dòng: Việt lai 20, TH 7-2, TH 3-2, TH 3-5, TH 3-6, TH 6-2

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Nghiên cứu trên phạm vi huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An, tại vùng đất thínghiệm của Trạm giống cây trồng Yên Thành

3.3 Nội dung nghiên cứu

- Đánh giá khả năng sinh trưởng và phát triển của từng giống qua từng giaiđoạn

- Đánh giá khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuậncủa từng giống

- Đánh giá các yếu tố cấu thành năng suất

IV Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

có năng suất cao, chống chịu được với các điều kiện ngoại cảnh bất lợi và chống chịutốt với sâu bệnh hại là một giải pháp rất có ý nghĩa thực tế hiện nay Nó giải quếtđược vấn đề an ninh lương thực cho xã hội Và hơn nữa nó còn làm cho người sảnxuất lúa làm giàu một cách chính đáng, góp phần xoá đói giảm nghèo và góp phầnlàm ổn định an ninh lương thực khi mà dân số ngày càng tăng còn diện tích đất nông

Trang 10

nghiệp thì ngày lại càng giảm Bởi thế mà chúng ta cần phải nghiên cứu, lai tạo khảonghiệm các giống mới nhằm nâng cao năng suất làm cho nghề trồng lúa có hiệu quảcao để có thể góp phần vào việc xoá đói giảm nghèo, ổn định an ninh lương thực Đó

là lý do thực tế để nghiên cứu, lai tạo, khảo nghiệm các giống lúa mới để đưa vào sảnxuất

Trang 11

Chương 1:

TỔNG QUAN 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

1.1.1 Tình hình sản xuất

Trên thế giới, ở nhiều vùng, nhiều quốc gia gặp rất nhiều khó khăn trong việcsản xuất lúa, đặc biệt là sản xuất lúa nước do không có đất trồng lúa Còn một số quốcgia thì lại phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên, tập quán canh tác của ngườidân, còn rất thủ công và lạc hậu, vì vậy mà năng suất lúa gạo còn thấp, sản lượng lúagạo thì không đáp ngkịp khi mà dân số tăng nhanh đòi hỏi một lượng lương thực lớn.Tuy nhiên vào nửa sau của thế kỉ XX thì những khó khăn đó được khắc phục dần, đãtạo ra một lượng lương thực dồi dào Giữa thập niên 60 cuộc cách mạng xanh với lúa

có tác dụng tích tổng và nhờ có cách mạng xanh mà sản lượng đó tăng kịp tốc độ tăngdân số của một số nước[9] Trong những năm sau đó, do hiểu được tầm quan trọngcủa lương thực mà phần lớn các nước trên thế giới đã đàu tư mạnh cho việc sản xuất

ra lúa gạo, bằng chứng là đã có nhiều trung tâm nghiên cứu về giống lúa đã ra đời vàdiện tích đất trồng lúa cũng đã tăng lên, do vậy mà năng suất và sản lượng lúa ngàycàng tăng lên

Bảng 1.1 Tình hình sản xuất lúa trên thế giới

Chỉ tiêu

Năm

Diện tích(Triệu ha)

Năng suất(Tạ/ha)

Sản lượng(Triệu tấn)

Trang 12

Từ bảng 1 ta thấy rằng:

Về mặt diện tích trồng lúa qua các năm là có tăng, nhưng tăng không đều vàcác năm trước tăng nhiều hơn so với các năm sau tăng ít và chậm Năm 1999 diện tíchtăng lên đột ngột, còn năm 2002 thì diện tích lại giảm đột ngột Còn đối với năng suất

có tăng nhưng tăng rất chậm, không đáng kể, sự chênh lệch về năng suất giữa cácnăm là không lớn Sản lượng thì dựa vào năng suất và diện tích, nhưng diễn biến củanăng suất và diện tích như ở trên nên sản lượng cũng có tăng nhưng không đáng kể

Số liệu cua FAO vào năm 1999 cho thấy 20% sản lượng lúa thế giới có được

từ 10% diện tích đất trồng lúa (diện tich sử dụng lúa lai)[12]

Ở Châu Âu và Châu Mỹ chủ yếu là lúa mạch (lúa mạch đen, lúa mạch trắng)còn lúa nước thì chủ yếu là ở Châu Á, là quê hương của lúa nước Là trung tâm sảnxuất lúa chính của thế giới với khoảng 90% sản lượng lúa của thế giới cũng là nơi tiêuthụ gạo lớn nhất thế giới nó chiếm khoảng 90% Các nước có diện tích đất trồng lúalớn là: Trung Quốc 46.68 triệu ha; Ấn Độ 43.39 triệu ha, tiếp đó là Inđônêsia,Bănglađet, Thái Lan, Việt Nam

Bảng 1.2 Tình hình sản xuất lúa của một số nước Châu Á

Chỉ tiêu

Tên nước

Diện tích(Triệu ha)

Năng suất(Tạ/ha)

Sản lượng(Triệu tấn)

(Nguồn: FAO.Statistíc Division 2007)

Qua bảng số liệu trên ta thấy có sự chênh lệch lớn về năng suất giữa các nước.Những nước có diện tích lớn và khá lớn thì năng suất của nước đó chỉ ở mức trung

Trang 13

bình như Trung Quốc(38.99 ta/ha), Ấn Độ(31.46 tạ/ha) Còn có những nước có diệntích nhỏ thì năng suất lại rất cao, Nhật Bản có năng suất cao nhất(66.48tạ/ha), HànQuốc có năng suất cao thứ hai(65.56tạ/ha) Việt Nam và Thái Lan là hai nước có sảnlượng gạo xuất khẩu lớn nhất thế giới lại có năng suất thấp, năng suất thấp nhất làThái Lan(29.26 tạ/ha) do nước này chủ yếu chú trọng đến chất lượng của gạo hơn lànăng suất Còn đối với Nhật Bản và Hàn Quốc do diện tích ít nên họ chú trọng đếnnăng suất để đáp ứng với nhu cầu về gạo trong nước.

1.1.2 Tình hình nghiên cứu

Hiện nay trên thế giới có nhiều hướng nghiên cứu khác nhau về cây lúa do đặcđiểm của mỗi vùng, mỗi quốc gia Nhưng hướng chủ đạo nhất là tập trung theo hướngthu thập, bảo tồn vật liệu khởi đầu và chọn tạo, khảo nghiệm các đặc tính sinh học củacác giống lúa đã có sẵn và từ đó làm tiền đề để nghiên cứu ra các giống mới có năngsuất và phẩm chất ngày càng tốt hơn các giống trước Các nước này quan tâm quỹ gencây trồng nói chung và cây lúa nói riêng Đầu năm 1924 Viện nghiên cứu cây trồngtoàn Liên Xô(VIR) đã được thành lập với nhiệm vụ chính là thu thập, đánh giá và bảotồn nguồn gen cây trồng Ngân hang gen của Viện bảo tồn tới 150000 mẫu giống câytrồng và cây dại có họ hàng thân thuộc đã được thu thập và cung cấp miễn phí cho cácchương trình hợp tác, các chương trình chọn tạo giống của các quốc gia mà nhữngloại cây trồng các quốc gia đó cần nhưng chưa có điều kiẹn thu thập, bảo tồn Trongchương trình hợp tác Việt - Xô giai đoạn 1983 - 1987, Viện nghiên cứu giống câytrồng VIR đã dưa vào Việt Nam 2259 mẫu lúa và nhiều loại cây trồng khác như đậu

đỗ, cà chua, ớt, đay, bông (Theo Nguyễn Hữu Nghĩa và cộng sự 1986)

Sang thập kỷ 60 của thế kỷ XX đã ra đời nhiều viện và trung tâm nghiên cứucây trồng quốc tế ra đời như: Viện nghiên cứu lúa quốc tế(IRRI) thành lập năm 1960tại Los Banos - Philippin, trung tâm nghiên cứu ngô và lúa mì quốc tế(CMMYT)thành lập năm 1966 tại Mêhicô, Trung tâm nghiên cứu nông nghiệp nhiệt đới(CIAT)thành lập năm 1967 tại Pamira, Côlômbia Ngoài việc nghiên cứu chọn tạo giống, kỹ

Trang 14

thuật canh tác, hệ thống trồng trọt tại các cơ sở này còn có một trung tâm bảo tồn gencác loại cây trồng rất lớn trong đó có lúa

Năm 1962, Viện nghiên cứu lúa quốc tế đã tiến hành thu thập nguồn gen câylúa phục vụ cho công tác cải tiến giống lúa và đến năm 1977 chính thức khai trươngngân hàng gen cây lúa quốc tế IRG(Interational Rice Genbank) Tại đây một tập đoànlúa gồm hơn 80000 mẫu, trong đó các giống lúa Châu Á O.Sativa chiếm tới 95%,Oryza Glabẻrima chiếm 1.4%, có 21 loài hoang dại chiếm 2.9% Hiện nay còn có

2194 mẫu đang ở thời kỳ nhân hạt chuẩn bị đăng ký vào ngân hàng gen cây lúa[3].Các mẫu gen được bảo quản rất cẩn thận trong kho lạnh, có thể sức nảy mầm tới 100năm

Sự ra đời của Viện lúa quốc tế IRRI và các trung tâm nghiên cứu giống câytrông, trong đó có cây lúa thì đã làm cho tình hình sản xuất lúa ở nhiều nước có tiếntriển hơn nhiều Tuy nhiên, các giống lúa ở các Viện và trung tâm nghiên cứu này làcác giống lúa thuần có chất lượng cao nhưng lại có năng suất thấp, và năng suất nàykhông thể vượt hơn được nữa Cho nên đã không đáp ứng được nguồn lương thực chongười dân khi dân số ngày càng tăng cao Để giải quyết vấn đề lương thực trong tìnhhình này đã có nhiều nhà khoa học nghiên cứu và khai thác ưu thế lai của cây lúa nên

đã cho ra đời giống lúa lai

Cây lúa là loại cây tự thụ phấn điển hình, hầu hết là tự thụ phấn chỉ có mộtphần rất nhỏ là giao phấn Vì thế mà có rất nhiều quan điểm khac nhau về ưu thế laitrên cây lúa do không biết trên cây lúa co ưu thế lai hay không Nhưng qua một thờigian với sự nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế gới, nhiều thực nghiệm đãchứng minh rằng lúa có ưu thế lai, ưu thế lai của lúa được biểu hiện qua các đặc tínhhình thái, biểu hiện sinh lý và năng suất

Năm 1926, J W Jone (Mỹ) là người đầu tiên đưa ra vấn đề ưu thế lai ở lúa trênnhững tính trạng số lượng và năng suất khi khảo sát giống lúa ở Đài Loan Tiếp sau

đó có nhiều công trình nghiên cứu xác nhận ưư thế lai ở cây lúa và năng suất, các yếu

Trang 15

tố cấu thành năng suất (Anony Mous, 1977; Li, 1977; Lin và Yuan, 1980 ), về sựphát triển của bộ rễ (Anony Mous, 1974; Tian và cộng sự, 1980 ), về một số đặc tínhnhư cường độ quang hợp, cường độ hô hấp, diện tích lá (Lin và Yuan, 1980; Deng,1980; MC Donal; Wu và cộng sự, 1980 )[1] Nhiều nhà khoa học của Nhật, Ấn Độ,Trung Quốc, Philippin, Pkistan, Malaisia, Liên Xô cũ, Italia, Hàn Quốc tập trungnghiên cứu về ưu thế lai trên cây lúa Trong số đó phải kể đến Viên Long Bình, giáoviên trường trung cấp nông nghiệp An Giang, Hồ Nam, Trung Quốc nay là việntrưởng Viện nghiên cứu lúa lai tỉnh Hồ Nam cùng cộng sự đã không ngừng tiếp tụcnghiên cứu và đã nghiên cứu thành công lúa lai theo phương thức ba dòng Sau hailam thí nghiệm (1974 – 1975) đến 1976 thì lúa lai được đưa vào sản xuất đại trà.Giống lúa laic ho năng suất cao hơn giống bố mẹ tư 20 – 30%, có khi đến 50% Ông

đã cống hiến cho nền khoa học nông nghiệp Trung Quốc và thế giới những thành tựuxuất sắc ở thế kỷ XX Viên Long Bình đã được nhà nước Trung Quốc tặng thưởngbằng phát minh đặc biệt độc nhất và 4 giải thưởng quốc tế[6]

Lúa lai được nghiên cứu đầu tiên ở Trung Quốc, là ông Yuan LongPing đã dàycông nghiên cứu Vào năm 1964, ông tìm thấy một cách tình cờ một loại lúa vớinhững đặc tính tốt hơn nhiều so với những loại lúa khác Sự phát hiện này đã cổ vũông và ông bắt đầu nghiên cứu giống lúa “đặc biệt” này Năm 1973, Yuan hợp tác vớinhững người khác để đưa vào trồng thử nghiệm loại lúa lai có đặc tính tốt Lúa củaông cho năng suất cao hơn 20% với những giống thường khác Trong những năm tiếptheo, nghiên cứu của họ tạo bước đột phá với việc cho ra đời công nghệ sản xuất lúahạt dài, không dính như hạt nếp Ông đã góp phần đưa Trung Quốc trở thành nướcsản xuất lúa hàng đầu thế giới Với thành công và đóng góp này Yuan Longping đượccoi là “cha đe của lúa lai” Năm 1979, công nghệ lúa lai được áp dụng tại Mỹ và trởthành trường hợp chuyển bản quyền sở hữu trí tuệ đầu tiên trong lịch sử TrungQuốc[12]

Trang 16

Năm 1976, Trung Quốc bắt đầu đưa lúa lai ra sản xuất đại trà, cấy được

144800 ha chiếm 0.4% diện tích trồng lúa, năng suất đạt 42 ta/ha tăng 7.2 tạ/ha so vớilúa thường[6]

Hiện nay, kỹ thuật sản xuất lúa lai của Trung Quốc đã phát triển ở mức độ cao.Năng suất hạt lai F1 đạt bình quân 2.5 tấn/ha trên phạm vi cả nước Nhiều dòng CMS

có tỷ lệ thụ phấn chéo cao từ 80 – 90% như: II-32A, ZhiA, You-IA (Yuan Longping,1995) và có phẩm chất hạt tốt đã được tạo ra Bên cạnh đó hiện nay Trung Quốc đãnghiên cứu thành công lúa lai dòng cho năng suất cao hơn lúa lai 3 dòng khoang20% Họ đang nghiên cứu để hoàn thiện quy trình công nghệ sản xuất giống và đi sâuvào nghiên cứu lúa lai 1dòng[6]

Trung quốc đang tiếp tục đạt được tiến bộ mới trong phát triển công nghệ sảnxuất lúa lai Tiếp theo thành công sản xuất lúa lai ba dòng vào những năm 70, lúa laihai dòng được thương mại hóa vào năm 1995 Sau khi được thương mại hóa, việc ứngdụng đưa vào sản xuất lúa lai hai dòng phát triển nhanh chóng và đạt tới diện tích 2,6triệu ha và chiếm gần 20% tổng diện tích trồng lúa lai Năng suất của lúa lai hai dòngcao hơn từ 5-10% so với năng suất lúa lai ba dòng Năm 1996, Trung quốc tiến hànhchương trình nghiên cứu siêu lúa lai và đã cho ra đời những giống lúa có ưu thế vềnăng suất cao hơn khoảng 20% so với lúa lai ba dòng Diện tích dự định dành chonhững giống siêu cao sản này là 240 ngàn ha (năm 2000) với năng suất trung bình 9,6tấn/ha Vào năm 2002, diện tích siêu lúa lai tăng đến 1.4 triệu ha với năng suất trungbình 9.1 tấn/ha Các giống siêu hai dòng P64S/E32 và siêu ba dòng II-32A/Ming86đạt năng suất kỷ lục 17.1 tấn/ha vào năm 1999 và 17.95 tấn/ha vào năm 2001 Chấtlượng gạo của lúa lai cũng được chú ý đảm bảo trong quá trình nghiên cứu, thửnghiệm và đưa vào sản xuất Trung Quốc tập trung phát triển các giông siêu thế hệthứ hai với mục tiêu đạt năng suất 12 tấn/ha khi đưa vào sản xuất đại trà Các nhàkhoa học Trung quốc cho rằng lúa siêu có một tương lai phát triển sáng sủa khi đãphủ diện tích tới 13 triệu ha hàng năm và làm tăng năng suất thêm 2.25 tấn/ha[11 ]

Trang 17

Từ thành công của Trung Quốc thì viện nghiên cứu lúa quốc tế IRRI, từ năm

1979 thì các chương trình nghiên cứu và phát triển lúa lai được bắt đầu bằng việcnhập nội các dòng CMS hàng đầu của Trung Quốc nhằm tạo ra các giống lúa laic hocác nước nhiệt đới ngoài Trung Quốc

Ở Hàn Quốc (theo Moon, 1998; Moon và cộng sự, 1994), dự án hợp tác nghiêncứu với IRRI đã đóng vai trò quan trọng đáng kể trong sự phát triển lúa lai Nhiều tổhợp lúa lai 3 dòng đã được tạo ra qua các đợt so sánh thí nghịêm tư năm 1990 –

1992, thì các giống này đạt năng suất 9.1 - 12.1 tấn/ha vượt trung bình 21% so với cácgiống lúa thuần tốt nhất

Còn ở Ấn Độ là một nước mạnh về sản xuất nông nghiệp đã khởi xướng pháttriển và sử dụng công nghệ lúa lai từ năm 1970 Nhưng do những điều kiện khác nhau

mà mãi đến tận cuối 1989, với sự ủng hộ của nhà nước và các tổ chức quốc tê (nhưFAO, IRRI) thì chương trình nghiên cứu, phát triển lúa lai mới được tăng cường Từ

1994 đến 1996 đã có 11 giống lúa lai 3 dòng được công nhận và đua vào sản xuất trêndiện rộng Trong đó có 6 giống của các cơ quan nhà nước là: APHR-1, APHR-2,MGR-1, KRH-1, CNRH-3 và DRRH-1 Các thử nghiệm trên đồng ruộng thì nhữnggiống lúa này cho năng suất cao hơn lúa thuần từ 16 – 44% (Siddiq) Năm tổ hợp lúalai của các công ty tư nhân gồm: PHB 71, 6201, 7207, MPH 516 và MPH 517 Riêng

6201 đã được thử nghiệm ở miền bắc Việt Nam và đạt năng suất 7.2 tạ/ha, cao nhấttrong thí nghiệm trình diễn giống lúa lai vụ Xuân 1997

Ngoài ra trên thế giới việc nghiên cứu và phát triển lúa lai đã được triển khai

và đã đạt được những kết quả nhất định, như ở các nước: Nhật Bản, Hàn Quốc,Malaisia, Philippin, CHDCND Triều Tiên, Thái Lan Hiện nay thì cá giống lúa laikhông còn xa lạ đối với người nông dân trên toàn thế giới nữa, bởi nó mang lại hiệuqur cao trong nghề sản xuất lúa trên toàn thế giới

1.2 Tình hình sản xuất và nghiên cứu lúa ở Việt Nam

1.2.1 Tình hình sản xuất

Trang 18

Đất nước ta thời xa xưa thường được gọi là nước có “nền văn minh lúa nước”điển hình, đất nước ta đi lên được một phần quan trọng không thể thiếu được trongnền kinh tế nước nhà đó là nông nghiệp Trong nền nông nghiệp đó thì cây trồng lấylương thực chủ yếu cảu Việt Nam là cây lúa Cây lúa đã xuất hiện ở Việt Nam hàngngàn năm nay và không thể thiếu được trong đời sống của con người Việt Nam.

Từ thời Hùng Vương nền kinh tế bao gồm nhiều ngành, nghề, trong đó “nôngnghiệp trồng lúa nước” chiếm địa vị chủ đạo, phổ biến rộng rãi khắp lãnh thổ từ trung

du đến đồng bằng, ven biển Từ trước những năm 1980 do trình độ sản xuất còn đanglạc hậu, chủ yếu dùng giống địa phương nên năng suất của lúa còn rất thấp không đápứng đủ nhu cầu trong nước

Sau khi đổi mới chính sách kinh tế năm 1986, thì nền kinh tế của đất nước tatiến triển rõ ràng, nền nông nghiệp cũng cũng phát triển rầm rộ Nhờ áp dụng cáccông nghệ kỹ thuật và có những chính sách khuyến khích của nhà nước mà Việt Nam

từ một nước phải nhập khẩu gạo đã trở thành nước có gạo xuất khẩu Trước năm 1990nước ta còn phải nhập khẩu khoảng 700000 tấn đến 1.5 triệu tấn lương thực thì saunăm 1990 lượng gạo xuất khẩu của nước ta ngày càng tăng[4]

Việt Nam đã vươn lên đứng thứ hai thế giới về xuất khẩu gạo trong nhiều nămliên tiếp Năm 2005, tuy gặp nhiều khó khăn về thiên tai như hạn hán, bão lụt nhưngxuất khẩu gạo nước ta đã đạt mức kỷ lục 5.16 triệu tấn Đó quả là một bước tiến rấtthành công của nền nông nghiệp Việt Nam trong lĩnh vực sản xuất cây lương thực

Bảng1 3 Tình hình sản xuất lúa Việt Nam 2000 – 2005

Chỉ tiêu

Năm

Diện tích(Triệu ha)

Năng suất(Tạ/ha)

Sản lượng(Triệu tấn)

Trang 19

2005 7.32 4.88 35.79

(Nguồn: FAO.Statistics Division 2007)

Qua số liệu ở bảng 3 ta thấy rằng, diện tích trồng lúa của Việt Nam càng ngàycàng giảm, còn năng suất thì lại tăng lên đáng kể qua từng năm do vậy mà sản lượnglúa của Việt Nam tăng lên qua các năm mà không giảm Năng suất lúa nước ta năm

2005 đạt 4.88 tạ/ha cao hơn năng suất lúa thế giới và gấp 1.66 lần năng suất lúa TháiLan(2.92tạ/ha)

Lúa lai được nhập nội vào nước ta từ năm 1989, đó là một số giống lúa lai củaTrung Quốc đem vào sản xuất ở các xã miền núi phía Bắc đã cho năng suất cao Dovậy, diện tích lúa lai của nước ta đã mở rộng nhanh chóng từ 100ha năm 1991 lên đến230000ha năm 2000 và 621303 ha vào năm 2004 Việt Nam đã trở thành nước thứ haitrên thế giới (sau Trung Quốc) sản xuất thành công lúa lai trên diện rộng[3]

Trong vụ Mùa 2003 và vụ Xuân 2004, nước ta co 621303 ha lúa lai, chiếm9.04% diện tích lúa của cả nước So với giai đoạn 2000 – 2001 diện tích lúa lai tăngthêm gần 185000ha Khoảng 94% diện tích lúa lai của cả nước tập trung ở miền Bắc.Qua nhiều năm sản xuất trên diện rộng đã cho thấy rằng lúa laic ho hiệu quả cao trong

vụ Đông Xuân

Bảng1.4 Diện tích, năng suất lúa lai Việt Nam 2003 2004

Diệntích(ha)

Năngsuất(tạ/ha)

Diệntích(ha)

Năngsuất(tạ/ha)

Diệntích(ha)

Năngsuất(ta/ha)

Trang 20

Ở nước ta, diện tích lúa lai chọn tạo trong nước là rất thấp, đa số diện tíchđược gieo trồng bằng các giống lúa lai nhập nội từ Trung Quốc, trong đó các giốngchủ lực là: Nhị ưu 838, Nhị ưu 63, D ưu 527, Bắc ưu 903, Bắc ưu 64, Bồi tạp sơnthanh…[5].

Xu hướng hiện nay của nền sản xuất lúa trong nước là đi theo hướng giống lúachất lượng để phục vụ cho xuất khẩu và cho tiêu dùng trong nước nhằm nâng cao giátrị của ngành trồng lúa, đây là một hướng đang được các địa phương và người nôngdân quan tâm Ở đồng bằng sông Cửu Long có tỷ lệ gieo trồng giống lúa chất lượngngắn ngày và giống đặc sản dài ngày tăng cao, chiếm trên 55% diện tích trồng lúa, đãgóp phần nâng cao giá trị gạo xuất khẩu của nước nhà qua những năm qua Trong cơcấu giống lúa vụ Đông Xuân, vùng đồng bằng sông Cửu Long các giống lúa cực ngắnngày và ngắn ngày đóng vai trò then chốt, chiếm khoảng 70% cơ cấu lúa của toànvùng Tỷ lệ giống lúa cao sản, chất lượng cao chiếm đa số khoảng 55%, các giống lúathơm, lúa nếp chiếm 15%, còn lại 30% số giống lúa có chất gạo trung bình hoặc thấp[NNVN, số 71, 9/4/2007] Các vùng trồng lúa khác trong cả nước cũng đang dichchuyển theo hướng tăng giống chất lượng nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường nội địa vàbữa cơm hàng ngày của người dân trong nước

Nghiên cứu, đánh giá về hiện trạng sản xuất lúa lai ở Đồng Bằng sông Hồngbao gồm Nhị ưu 838 và Dân ưu 527 (Trung Quốc), TH 3-3 (Việt Nam) và giống lúacải tiến là Bắc Thơm 7 và Khang dân, và nhận ra được là lúa lai của Trung Quốc yêucầu nhiều phân hoá học hơn, nhưng năng năng suất cao hơn nhiều so với lúa thuần.[7]

Ở xã Hậu Mỹ Trinh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang đã sản xuất thử nghiệm0.2ha giống lúa lai F1PAC 807 trong vụ đông 2008 với năng suất đạt 5.2tấn/ha Đây

là thử nghiệm đầu tiên của tỉnh, để góp phần đa dạng hoá cơ cấu giống lúa hiện nay.Giống lúa lai F1 PAC 807 có thòi gian sinh trưởng vụ Thu Đông 2008 khoảng 90

Trang 21

ngày Ưu điểm cua giống lúa này là dễ trồng và hiệu quả cao hơn giống lúa đang canhtác tại vùng này[13].

Trong vụ sản xuất Hè thu 2008, Trung tâm khuyến nông Quãng Ngãi đã triểnkhai mô hình khuyến nông cây lúa với tổng diện tích 86ha, trong đó: Mô hình sảnxuất lúa lai 40 ha, sử dụng giống lúa lai B-TE1 tại các huyện: Mộ Đức 20 ha, BìnhSơn 10ha, Nghĩa Hành 10ha với 292 hộ nông dân tham gia mô hình Trong 46 ha cònlại sử dụng giống lúa thuần ĐB6 tại các huyện: Nghĩa Hành 16 ha, Sơn Tịnh 10 ha,Đức Phổ 10 ha, Trà Bồng 5 ha với 418 hộ nông dân tham gia[14]

Mục tiêu quan trọng của sản xuất lúa gạo trong những năm tới là cần nhanhchóng nâng cao chất lượng lúa gạo, giảm giá thành sản xuất , chế biến để nâng caosức cạnh tranh trong xuất khẩu, đồng thời giữ vững an ninh lương thực quốc gia Đểthực hiện mục tiêu trên đòi hỏi phải tiến hành đồng loạt các biện pháp quản lý, quyhoạch, kế hoạch, khoa học kỹ thuật, đầu tư cùng các chính sách kinh tế - xã hội phùhợp , trong đó cải thiện phẩm chất lúa gạo, tạo ra giống lúa mới cho năng suất caophẩm chất tốt có ý nghĩa quan trọng trong nghề sản xuất lúa của nước ta

1.2.2 Tình hình nghiên cứu

Từ trước cho đến bây giờ nền kinh tế Việt Nam, dù có phát triển và rất ổn địnhthì không thể thiếu được nền sản xuất nông nghiệp đã xuất hiện từ lâu đời Nền sảnxuất nông nghiệp là chỗ dựa vững chắc cho các nền kinh tế khác phát triển Nôngnghiệp có phát triển tốt thì mới thúc đẩy được các ngành kinh tế khác phát triển Câylúa là một cây lương thực có vị trí quan trọng ở Việt Nam Từ lâu cây lúa ở nước ta dãđược quan tâm, đầu tư để phát triển nghề sản xuất lúa Kế thừa, phát huy những thànhtựu khoa học của thế gới và được sự quan tâm của Đảng, nhà nước công tác nghiêncứu thu thập, bảo tồn, chọn lọc, và khảo nghiện giống các Viện, các trung tâm nghiêncứu, các trường đại học, các trạm trại: Như Viện nghiên cứu Đồng Bằng sông CửuLong, Viện KHKT NNVN, Viện cây lương thực và cây thực phẩm, Viện di truyền,

Trang 22

Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Trung Ương, ĐH NN1… đã đạt được nhữngthành tựu đáng kể.

Đã có nhiều loại giống lúa được lai tạo ra trong nước, từ các Trung tâm, vàviện nghiên Cứu đã lai tạo ra cho năng suất cao và phẩm chất tốt như: Việt lai 20…Trước đây chúng ta nhập nội giống lúa lai hoàn toàn của Trung Quốc, nhưng bây giờchúng ta đã tự tạo ra được các loại giống lúa lai hai dòng, ba dòng có năng suất cao,phù hợp với đièu kiện thiên nhiên ở nước ta, có sức chịu đựng với điều khí hậu bất lợitốt Chúng ta dã tự lai tạo ra được giống mới ở trong nước nên thuận tiện hơn trongviệc bố trí thời vụ gieo trồng, giảm được giá thành của hạt giống do vậy mà việc sảnxuất ra lúa gạo có nhiều thuận tiện hơn rất nhiều, làm cho giá của lúa giảm hơn nângcao sức cạnh tranh với lúa gạo xuất khẩu của các nước xuất khảu gạo trên thế giới

1.2.2.1 Công tác bảo tồn nguồn gen lúa ở Việt Nam

Thu thập, bảo tồn nguồn gen có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo tồnnguồn gen lúa Bảo tồn gen có tác dụng thu thập các loại có gen quý của các giốngcây trồng để bảo tồn lưu giữ làm vật liệu nghiên cứu cho các công trình nghiên cứu laitạo giống lúa mới Lưu giữ các loài quý hiếm có chất lượng cao, chống chịu được vớiđiều kiện ngoại cảnh bất lợi đó là các loại gen quý hiếm có tác dụng rất lớn trongcông việc lai tạo ra giống mới phù hợp với điều kiện ở mỗi vùng

Theo nhận định của Lư Ngọc Trĩnh (1997), trên lãnh thổ việt Nam có khoảng

14600 loài thực vật bậc cao, trong đó đang khai thác và sử dụng là 700 loài cây trồngthuộc 10 chi thực vật tại ngân hàng gen quốc gia ở Hà Nội hiện có bảo quản 1300mẫu giống lúa, 8000 mẫu cây trồng nông nghiệp ngắn ngày

Cây lúa, với các quốc gia thu thập các mẫu giống lúa không chỉ để bảo tồn tạingân hàng gen quốc gia mà các cơ quan nghiên cứu còn thu thập về để sử dụng

Năm 1988, Viện cây lương thực và cây thực phẩm đã thu thập tới 3691 giốnglúa Trong đó có 3186 mẫu thu từ 30 nước khác nhau trên thế giới, 500 mẫu giống địaphương Từ nguồn vật liệu đa dạng đó, các nhà chọn tạo giống Viện cấy lương thực

Trang 23

và cây thực phẩm đã tạo ra được 15 giống chịu phèn, 23 giống kháng rầy và 385giống chống đạo ôn (Vũ Tuyên Hoàng và cộng sự, 1988).

Tại khu đồng bằng sông Cửu Long, đợt khảo sát năm 1992 đã thu về 1447 mẫugiống lúa địa phương, trong đó 1335 giống lúa mùa trung và mùa muộn, 112 giốngmùa sớm, 50 giống lúa nổi và 4 loại lúa hoang dại (Theo Bùi Chỉ bửu và cộng sự)

Năm 1975, Việt Nam chính thức hợp tác với IRRI trong chương trình thửnghiệm giống lúa quốc tế (IRTP) trước đây và nay là chương đánh giá nguồn gen câylúa (INGER) Trong chương trình hợp tác này, Việt Nam đã nhận được 279 tập đoànlúa gồm hàng ngàn mẫu giống mang nhiều đặc điểm nông sinh học tốt, năng suất cao,chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh bất thuận như: hạn hán, ngập úng, chua,mặn, phèn [10]

Hiểu được tầm quan trọng của việc bảo tồn gen cho nên nhiều năm qua các cơquan chức năng, các trung tâm, các viện nghiên cứu giống cây trồng đã thu thập đượcrất nhiều mẫu lúa để đưa vào ngân hàng gen quốc gia Và thông qua các chương trìnhhợp tác quốc tế, một số lượng lớn ngồn gen lúa đã được bổ sung vào ngân hàng genquốc gia Nhờ công tác bảo tồn mà hiện nay các giống lúa đặc sản, các giống lúa cócác kiểu gen, các tính trạng tốt, quý hiếm vẫn còn được duy trì và trồng rộng rãi ởnhiều nơi Ở miền bắc có các giống lúa nổi tiếng như: tám thơm, tám Xoan Trực Thái,tám Xoan thái bình, nếp cái hoa vàng Ở miền Nam nổi tiếng với các giống lúa như:Nàng thơm nhà bè, Ngàng hương, Ngàng thơm Chợ Đào, lúa thơm Bình Chánh

Các loại lúa chất lượng thương có thời gian sinh trưởng dài hơn các loại lúathường, nhất là các loại lúa chất lượng cao như các loại lúa thơm Nhưng các loại lúathơm này lại cho năng suất thấp, dễ nhiễm sâu bệnh nhưng giá trị lúa lại cao hơn gấp

2 - 3 lần lúa thường Vì thế chọn tạo ra giống lúa thơm có thời gian sinh trưởng ngắn,

có khả năng chống chịu sâu bệnh, có giá trị lúa cao là một hướng nghiên cứu đangđược các nhà khoa học quan tâm

Trang 24

Việt Nam chúng ta là một nước có sản lượng lúa gạo cao, về xuất khẩu là nướcxuất khẩu gạo đứng thứ 2 thế giới Tuy nhiên, chất lượng hạt gạo của nước ta cònkém, khả năng cạnh tranh yếu do vậy mà gạo xuất khẩu của nước ta thường phải bánvới giá rẻ hơn gạo của các nước khác với cùng loại gạo như Thái Lan, Mỹ Bởi vậy

mà mục tiêu của ngành sản xuất lúa gạo Việt Nam hiện nay là nâng cao chất lượnglúa gạo và hạ giá thành để nâng cao khả năng cạnh tranh trong xuất khẩu nhưng đồngthời phải đảm bảo an ninh lương thực quốc gia

1.2.2.2 Một số kết quả nghiên cứu, chọn tạo và khảo nghiệm giống lúa thuần của Việt Nam trong những năm qua

Giống lúa thuần là giống lúa có khả năng chống chịu với điều kiện khí hậu tốt,nhưng lại chống chịu với sâu bệnh kém, năng suất thấp nhưng bù lại là lúa thuần cóchất lượng cao hơn các loại lúa thường rất nhiều Vì hiện nay mục tiêu của ngành sảnxuất lúa nước nhà là nâng cao chất lượng lúa gao cho nên việc nghiên cứu và chon tạogiống lúa thuần có chất lượng đang được các nhà nghiên cứu rất quan tâm

Giáo sư Viện sĩ Vũ Tuyên Hoàng cùng cộng sự thuộc Viện cây lương thực vàcây thực phẩm đã nhiều năm nghiên cứu chọn tạo giống lúa có hàm lương proteincao Đây là một hướng đi độc đáo và hấp hẫn trong lĩnh vực nghiên cứu giống lúa Từnăm 1998, các nhà chọn tạo giống lúa theo hướng này đã đưa vào mạng lưới khảonghiệm quốc gia các giống P1, P4, P6, P8 có hàm lượng protein khoảng từ 10 – 11%[4]

Đến nay, Viện cây lương thực và cây thực phẩm đã tạo a được nhiều giống lúa

có chất lượng mới như: AC5, AC10, PC 286, PC5 [8]

Năm 2004, Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Trung Ương đã khảonghiệm 34 giống lúa mới tại 13 điểm cho 3 vùng sinh thái: Trung du và miền núi phíaBắc, Đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung Bộ Các giống được đánh giá có triển vọnglà: DT36, CH207, CH208, DT37, DDB6, PC5, AC5, T10, HT2, Nếp DDN20, PhúcTiên

Trang 25

Trong hai vụ Đông Xuân 2003 – 2004 và Hè Thu 2004, phòng khảo nghiệmgiống cây trồng quốc gia phía nam đã tiến hành khảo nghiệm 51 giống lúa Gồm cácgiống lúa thuộc nhóm A1 cựu ngắn ngày và nhóm A2 ngắn ngày của các cơ quanchọn tạo giống phía Nam như: Viện lúa đồng bằng song Cửu Long, Viện khoa học kỹthuật miền Nam, trường đại học Cần Thơ

Qua khảo nghiệm cho thấy:

Nhóm A1: Những giống lúa năng suất cao ổn định, chống chịu sâu bệnh khá, hạt gạodài, trong là các giống: MO2495, MO2280, MO4498, MO2514, MO2008 là giống lúanếp dạng hình đẹp, năng suất cao

Nhóm A2: MTL341và MTL339 là những giống năng suất cao, ổn định, chống chịusâu bệnh khá, hạt gạo dài[2]

Năm 2005, Trạm khảo nghiệm giống cây trồng miền Trung và Tây Nguyênđưa vào khảo nghiệm 78 giống lúa mới, trong đó có 62 giống lúa thuần Kết quả khảonghiệm đã xác định được các giống lúa thuần triển vọng cho sản xuất trong vùnggồm:

- Các giống triển vọng qua 3 vụ khảo nghiệm gồm: Phúc Tiến là giống ngắn ngày vàBM9926, BM2001 là giống dài ngày

- Các giống có triển vọng qua 1- 2 vụ khảo nghiệm: Khang dân đọt biến, DB6,MO4495, Q5TB là giống trung ngày và BM2002, BM2003 là giống dài ngày

Cũng trong năm 2005, Trung tâm khảo nghiệm giống cây trồng Trung Ương

đã tiến hành khảo nghiệm 44 giống lúa thuần mới ở phía Bắc Trong đó có 3 giốngdài ngày, 16 giống trung ngày, 11 giống ngắn ngày, 12 giống chất lượng và 2 giốnglúa nếp

Vụ Xuân 2005, khảo nghiệm cơ bả 30 giống, kết quả đã xác định được cácgiống triển vọng qua 3 vụ khảo nghiệm là: N99, CH207, và Ch208, các giống có triểnvọng qua 2 vụ khảo nghiệm là: Khang dân đột biến và QS17 Các giống N87-2,

Ngày đăng: 22/12/2013, 12:54

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới - So sánh một số giống lúa lai hai dòng có triển vọng cho năng suất cao trong vụ đông xuân 2007   2008 tại trạm khảo nghiệm giống cây trồng yên thành   nghệ an
Bảng 1.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới (Trang 11)
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất lúa của một số nước Châu Á - So sánh một số giống lúa lai hai dòng có triển vọng cho năng suất cao trong vụ đông xuân 2007   2008 tại trạm khảo nghiệm giống cây trồng yên thành   nghệ an
Bảng 1.2. Tình hình sản xuất lúa của một số nước Châu Á (Trang 12)
Bảng 1.5. Tình hình sản xuất lúa của huyện Yên Thành 1996 – 2006 - So sánh một số giống lúa lai hai dòng có triển vọng cho năng suất cao trong vụ đông xuân 2007   2008 tại trạm khảo nghiệm giống cây trồng yên thành   nghệ an
Bảng 1.5. Tình hình sản xuất lúa của huyện Yên Thành 1996 – 2006 (Trang 31)
Bảng 2.1. Tên và nguồn gốc các giống lúa - So sánh một số giống lúa lai hai dòng có triển vọng cho năng suất cao trong vụ đông xuân 2007   2008 tại trạm khảo nghiệm giống cây trồng yên thành   nghệ an
Bảng 2.1. Tên và nguồn gốc các giống lúa (Trang 35)
Bảng 2.2. Tiêu chuẩn xếp loại hình dạng, kích thước hạt gao. - So sánh một số giống lúa lai hai dòng có triển vọng cho năng suất cao trong vụ đông xuân 2007   2008 tại trạm khảo nghiệm giống cây trồng yên thành   nghệ an
Bảng 2.2. Tiêu chuẩn xếp loại hình dạng, kích thước hạt gao (Trang 41)
Bảng 3.2. Một số chỉ tiêu về mạ của các giống - So sánh một số giống lúa lai hai dòng có triển vọng cho năng suất cao trong vụ đông xuân 2007   2008 tại trạm khảo nghiệm giống cây trồng yên thành   nghệ an
Bảng 3.2. Một số chỉ tiêu về mạ của các giống (Trang 44)
Bảng 3.3. Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng - So sánh một số giống lúa lai hai dòng có triển vọng cho năng suất cao trong vụ đông xuân 2007   2008 tại trạm khảo nghiệm giống cây trồng yên thành   nghệ an
Bảng 3.3. Thời gian hoàn thành các giai đoạn sinh trưởng (Trang 47)
Bảng 3.4. Động thái tăng trưởng chiều cao của các giống thí nghiệm - So sánh một số giống lúa lai hai dòng có triển vọng cho năng suất cao trong vụ đông xuân 2007   2008 tại trạm khảo nghiệm giống cây trồng yên thành   nghệ an
Bảng 3.4. Động thái tăng trưởng chiều cao của các giống thí nghiệm (Trang 50)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w