Trong Từ điển thuật ngữ văn học khái niệm hình tợng tác giả đợc định nghĩa là phạm trù thể hiện cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội,vai trò văn học của mình trong tác phẩm, một
Trang 1lời cảm ơn
Trong quá trình hoàn thành khoá luận chúng tôi có gặp phải một số khó khăn nhng nhờ đợc sự hớng dẫn nhiệt tình của thầy giáo Phạm Tuấn Vũ và sự giúp đỡ của các thầy cô giáo tôi đã dần khắc phục đợc và hoàn thành khoá luận đúng thời hạn
Qua đây tôi xin đợc bày tỏ tấm lòng biết ơn tới thầy hớng dẫn: Phạm Tuấn Vũ cùng các thầy cô giáo đã chỉ bảo nhiệt tình, định h- ớng cho chúng tôi mạnh dạn đi vào một hớng nghiên cứu còn mới mẻ nhng hứa hẹn nhiều hấp dẫn
Vinh, tháng 5 năm 2007
Tác giả:
Giản Thị Hồng Thắm
Trang 2Mở đầu
I Lý do chọn đề tài
1 Thi pháp học phân biệt tác giả và hình tợng tác giả Hai phạm trùnày có liên quan nhng không đồng nhất Nghiên cứu đề tài nhằm góp phầnnhận thức hai phạm trù này ở một tác giả lớn của văn học trung đại ViệtNam
2 Chúng ta đều biết thơ chữ Hán Nguyễn Trãi đợc sáng tác trongnhiều năm của cuộc đời thi sĩ, còn thơ Quốc âm chủ yếu sáng tác ở cuối
đời Nghiên cứu hình tợng tác giả ở hai tập thơ sẽ nhận thức đợc sự nhấtquán và cả đặc điểm riêng của hình tợng tác giả trong tiến trình sáng tạo
3 Hai tập thơ này có những sự khác biệt về văn tự, thể thơ, chất liệu
và thi pháp Nghiên cứu đề tài sẽ thấy đợc vai trò của các yếu tố đó trongviệc tạo nên hình tợng tác giả
II Lịch sử vấn đề
Theo Bakhtin, tác giả là trung tâm tổ chức nội dung và hình thức cáinhìn nghệ thuật trong tác phẩm, là ngời mang thế giới xúc cảm đặc thù và
tổ chức lại ngôn từ theo nguyên tắc nghệ thuật [4;106] Hình tợng tác giả là
một phạm trù của thi pháp học hiện đại Trong 150 thuật ngữ văn học Lai
Nguyên Ân cho rằng: tác giả với t cách là một phạm trù ngữ văn - Là ngờisáng tạo ra tác phẩm văn học để lại dấu ấn cá nhân của mình ở thế giớinghệ thuật do mình tạo ra…với sự phát triển của nhân tố cá nhân (đã có từvới sự phát triển của nhân tố cá nhân (đã có từvăn học cổ đại và càng rõ rệt ở thời cận đại, từ thời phục hng nhất là thờichủ nghĩa lãng mạn) Các phơng diện nội dung của nhân cách tác giả nhtính cách, thế giới quan, đặc biệt là lập trờng t tởng thẩm mỹ ngày càngnhập sâu vào cơ cấu nghệ thuật của tác phẩm [1;92]
Trong Từ điển thuật ngữ văn học khái niệm hình tợng tác giả đợc
định nghĩa là phạm trù thể hiện cách tự ý thức của tác giả về vai trò xã hội,vai trò văn học của mình trong tác phẩm, một vai trò đợc ngời đọc chờ
đợi…với sự phát triển của nhân tố cá nhân (đã có từ Hình tợng tác giả trong tác phẩm văn học gắn với ý thức của tác giả
về vai trò xã hội, t thế văn học rất đa dạng của mình Theo Từ điển thuật
ngữ văn học cơ sở tâm lý của hình tợng tác giả là hình tợng cái tôi trong
nhân cách mỗi ngời thể hiện gián tiếp Cơ sở nghệ thuật của hìnht ợng tácgiả trong văn học là tính chất gián tiếp của văn học nghệ thuật, văn bản cuảtác phẩm bao giờ cũng là lời của ngời trần thuật, ngời kể chuyện hoặc nhânvật trữ tình Nhà văn xây dựng văn bản đồng thời xây dựng ra hình tợng ng-
ời phát ngôn văn bản ấy với một giọng điệu nghệ thuật nhất định Hình tợng
Trang 3khi vai trò của cá tính sáng tạp của cái tôi cá nhân đợc ý thức đầy đủ[17;124]
Khi nghiên cứu hình tợng tác giả, chúng tôi luôn có ý thức phân biệttác giả lịch sử - một phạm trù xã hội pháp lý nằm ngoài khái niệm của thipháp học Đó là tác giả với tên họ, quê quán, hành trạng, thời đại…với sự phát triển của nhân tố cá nhân (đã có từcó gópphần đóng góp cho các khía cạnh t tởng, tâm lý trong tác phẩm là ngời nắmtác quyền
Nhìn chung hình tợng tác giả trong sáng tác văn học là vấn đề đã đợcnhiều nhà nghiên cứu bàn tới Có ngời xem hình tợng tác giả biểu hiện ởphơng diện ngôn ngữ, có ngời xem hình tợng tác giả trên tất cả các yếu tố
và cấp độ tác phẩm;từ cách quan sát, cách suy nghĩ, sự yêu ghét, trong lậptrờng đời sống đến giọng điệu lời văn Trong giọng điệu gồm giọng điệungời trần thuật và giọng điệu nhân vật Có ngời tập trung biểu hiện tác giả ởmấy điểm: Cái nhìn nghệ thuật của tác giả sức bao quát không- thời gian,cấu trúc cốt truyện, nhân vật và giọng điệu
Trong mấy thế kỷ qua đã có nhiều ý kiến dánh giá, cách tiếp cận
khác nhau về thơ văn Nguyễn Trãi nói chung và về hai tập thơ ức Trai thi
tập, Quốc âm thi tập nói riêng ở đây chúng tôi quan tâm đến những ý kiến
có liên quan đến vấn đề hình tợng tác giả
Nhìn một cách tổng quát các bài viết thờng đi vào một số bài thơ tiêubiểu trong hai tập thơ thể hiện con ngời cá nhân Nguyễn Trãi, đó là lòngyêu nớc, tình yêu thiên nhiên, là tâm trạng, thái độ tình cảm với triều đình,với vua, với đất nớc, với nhân dân
Về con ngời Nguyễn Trãi trong thơ đã có nhiều bài viết tập trung
khai thác Nguyễn Huệ Chi trong bài Niềm thao thức lớn trong thơ Nguyễn
Trãi khẳng định: Toàn bộ thi phẩm của ông là tất cả suy nghiệm của một
con ngời luôn luôn băn khoăn trớc tạo vật luôn luôn phát hiện những hiện ợng biến đổi khôn lờng và tìm kiếm những chân lý cha mấy ai tìm ra trongcuộc sống Nguyễn Trãi cơ hồ nh đã phải dằn vặt đau khổ rất nhiều trongquá trình cả một đời tìm tòi suy nghiệm ấy [5;34] Cũng trong một bài viết
t-về con ngời cá nhân trong Nguyễn Trãi, Nguyễn Hữu Sơn khẳng định
Nguyễn Trãi là con ngời suốt đời mang đầy mặc cảm và nỗi đau [34;75]
Lòng yêu nớc của Nguyễn Trãi đã trở thành một đề tài quen thuộc,
nó đợc thể hiện trong toàn bộ sự nghiệp văn chơng của ông, bàn về lòng yêu
nớc đợc thể hiện trong ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập đã có nhiều công trình nghiên cứu Tôn Quang Phiệt trong bài Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi đã
Trang 4viết: “Nguyễn Trãi gắn liền quân với thân nghĩa là vua với cha theo đúngthuyết quân, s, phụ…với sự phát triển của nhân tố cá nhân (đã có từCàng yêu nớc càng ghét thù, Nguyễn Trãi căm tức bọntôi con gian ác nỡ phản nớc theo giặc” [38;154]
Thơ văn Nguyễn Trãi còn mở ra cho chúng ta một khía cạnh thởngthức khác nữa và khía cạnh này đã chiếm một phần trọng yếu trong toàn bộtác phẩm của đại thi hào Đó là tình yêu thiên nhiên của ông Đó là tinhthần thởng thức say sa của ông trớc cảnh nớc non kỳ diệu Đó là lòng tự hàotrớc giang sơn cẩm tú của đất nớc ta, nhân dân ta, nó cũng là một khía cạnh
của lòng tự hào dân tộc Về đề tài thiên nhiên trong hai tập thơ ức Trai thi
tập và Quốc âm thi tập đã tập trung một số công trình nghiên cứu
Trong bài viết Tình yêu thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi Mai Trân
khẳng định: “Thơ về thiên nhiên chiếm phần phong phú nhất và cũng là
thành công nhất trong di sản thơ Nguyễn Trãi” [41;57] Các nhà nghiên cứu chủ yếu đi sâu vào một số bài thơ tiêu biểu trong Thời lệnh môn, Hoa mộc
môn, Cầm thú môn Tác giả Đặng Thanh Lê khẳng định: “Bức tranh thiên
nhiên trong ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập là một trong những bóng
dáng đẹp đẽ, phản ánh một con ngời cốt cách, một tài năng góp phần làmsáng tỏ khá nhiều vấn đề cơ bản trong thân thế, sự nghiệp, tâm hồn ngờianh hùng dân tộc, nhà đại thi hào dân tộc” [25;54]
Nh vậy vấn đề tác giả tiểu sử, tác giả - nhà t tởng xã hội thẩm mỹNguyễn Trãi đã đợc nhiều ngời quan tâm nghiên cứu và ngày càng có thêm
những kiến giải sâu sắc
Việc nghiên cứu thi pháp thơ Nguyễn Trãi nói chung và thi pháp ức
Trai thi tập và Quốc âm thi tập nói riêng tuy đã có một số công trình đề cập
đến song về cơ bản vẫn cha có một công trình nào thật chuyên sâu Về hớngnghiên cứu đi vào thi pháp chúng tôi quan tâm những bài:
Thể loại thơ trong Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi và thi pháp
Việt Nam - Phạm Luận [28].
Âm vang tục ngữ ca dao trong thơ Quốc âm của Nguyễn Trãi - Bùi
Văn Nguyên [32]
Tính hàm súc trong thơ chữ Hán Nguyễn Trãi - Đồ Văn Hỷ [21].
ức Trai thi tập và thơ chữ Hán đời Trần - Trần Thị Băng Thanh [40] Nguyễn Trãi và thể thơ Việt Nam trong Quốc âm thi tập - Phạm
Luận [27]
Nói đến thơ chữ Hán Nguyễn Trãi ngời ta thờng nói đến tính hàm
súc, sự cô đọng Đỗ Văn Hỷ trong bài Tính hàm súc trong thơ chữ Hán
Trang 5Nguyễn Trãi khẳng định: “Tính chất hàm súc mang lại cho thơ ức Trai một
vẻ đẹp bình đạm nhng sâu sắc, chất phác nhng đa đoan, trầm t nhng phẫn
nộ Đọc thơ ông nh thấy ngời ông, một con ngời lắng chìm nh một ẩn giả
phơ phơ đầu bạc ông câu cá, nhng bên trong lại có trái tim u ái rực cháy
nh ngọn lửa luyện đan Một con ngời tự cho mình là một ngời cày nhàn câu
vắng nhng Đêm đêm thức nhẫn buổi sơ chung chỉ bởi một lòng âu việc nớc.
Đọc thơ ông ta thấy tiếng nức than nhng trong đó ngầm chứa tiếng thét cămhờn Tính chất hàm súc trong thơ ức Trai là th thế đó, càng đọc càng có d
vị, lời hết nhng ý vẫn còn Nó góp phần làm cho thơ ức Trai trở thành bất tửtrên thi đàn dân tộc” [21;18]
III Mục đích nghiên cứu
1- Chỉ ra sự thống nhất và nét riêng của hình tợng tác giả ở hai tậpthơ
2- Lý giải sự thống nhất và những điểm riêng biệt này làm rõ vai tròcủa hoàn cảnh sáng tác (văn tự, thể thơ, chất liệu thơ) đối với việc tạo nênhình tợng tác giả ở mỗi tập thơ
IV Phơng pháp nghiên cứu
Khoá luận sử dụng các phơng pháp nghiên cứu: thống kê, tổng hợp,phân tích đặc biệt chú trọng phơng pháp so sánh
V Bố cục của khoá luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận khoá luận gồm 3 chơng:
Trang 61 Lý tởng nhân nghĩa, Lòng yêu nớc thơng dân Đêm ngày cuồn
cuộn nớc triều đông của Nguyễn Trãi
Trong bài thơ Nôm Thuật hứng (bài 5) Nguyễn Trãi viết:
Bui một tấc lòng u ái cũ
Đêm ngày cuồn cuộn nớc triều đông
Trong bài thơ chữ Hán Mạn hứng (bài 2) ông viết:
Nuỵ ốc, thê thân, kham độ Lão Thơng sinh tại niệm độc tiên u
(Nhà nhỏ nơng thân có thể qua tuổi giàLúc nào cũng nghĩ đến dân riêng ôm mối tiên u)
Tấm lòng u quốc, ái dân suốt đời cuồn cuộn nh nớc triều đông ấy của
Nguyễn Trãi đã thể hiện trong sự nghiệp cứu quốc cũng nh sự nghiệp văn học
của ông, đặc biệt là qua hai tập thơ ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập.
Nguyễn Trãi sống ở Thăng Long trong một gia đình văn hoá cao, haimôi trờng đó cần và đủ nuôi dỡng tinh thần và khí phách của ông Nhữngnăm thơ ấu Nguyễn Trãi đã chứng kiến xã hội Việt Nam cuối Trần đầy biến
động, trong hoàn cảnh đó ông không thể không đồng cảm với thân phụ(Nguyễn ứng Long) về cảnh ngời dân than thở không còn cách sống, núisông đồng ruộng khô khốc, ma không tới, quan lại vơ vét đến nỗi máu thịtcủa dân hao đến nửa phần:
Đạo huề thiên lý xích nh thiêu,
Điền dã hu ta ý bất liêu.
Hậu thổ sơn hà phơng địch địch, Hoàng thiên vũ lộ chính thiều thiều.
Lại t võng cổ hồn đa kiệt, Dân mệnh cao chi bán dĩ tiêu.
(Thôn c cảm sự ký trình Băng Hồ tớng công)
(Ruộng nơng ngàn dặm đỏ nh cháy,
Đồng quê than van không biết trông cậy vào đâu
Non sông của Hậu thổ đang nứt nẻ,
Ma móc của Hoàng thiên hãy còn xa vời
Trang 7Lới quan tham lại vơ vét hết kiệt,
Mỡ màng của dân đã cạn một nửa.)Trần Nguyên Đán, ông ngoại Nguyễn Trãi một đại công thần nhàTrần cũng nói về tấm lòng thơng dân nhng bất lực:
Đọc ba vạn cuốn sách mà trở thành vô dụng, Bạc đầu luống những phụ lòng thơng dân.
(Dịch thơ chữ Hán)Nhà Hồ thực hiện cải cách tiền tệ, thuế khoá, ra chính sách hạn điền,hạn nô, thi cử, lập trờng học ở các địa phơng, đề cao chữ Nôm, trong khôngkhí đó, với vị trí của ngời thực hành chính sách,nhận thức về các vấn đề vềxã hội chính trị, văn hoá, dân tộc trong Nguyễn Trãi có điều kiện chín muồi
và phát triển
Năm 1907 giặc Minh sang xâm lợc, nhà Hồ chống cự không nổi đã
để nớc ta thêm một lần bị đô hộ Vấn đề cứu nớc, vấn đề quyền sống dântộc đặt ra cấp thiết Khi Trần Ngỗi, Trần Quý Kháng khởi nghĩa không thấyNguyễn Trãi tỏ thái độ của mình phải chăng Nguyễn Trãi đã thấy nhà Trần,nhà Hồ không thể đảm đơng nhiệm vụ lịch sử mới? Vào khoảng những năm
1416 - 1420, Nguyễn Trãi tìm gặp Lê Lợi ở Lỗi Giang để dâng Bình Ngô sách,
từ đó ông đợc Lê Lợi dùng làm tham mu để trù tính việc quân, việc nớc Kháng
chiến chống Minh thắng lợi (năm 1427) Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo bất
hủ, bản tổng kết lịch sử dân tộc và lịch sử kháng chiến chống Minh mà tinhthần chủ đạo là tự hào dân tộc, khẳng định dân tộc
Điều phải khẳng định là Nguyễn Trãi suốt đời tận tuỵ cho lý tởngnhân nghĩa, mong mỏi đem ra thi hành cho dân chúng Mặc dù bị chèn ép
ông không chịu bó tay, không thèm luồn cúi trớc bọn quyền thần hốnghách, không thèm hợp tác với bọn hoạn quan dốt nát Trong thơ ông luôn
nhắc đến chí bình sinh đó của mình Bài Đoan ngọ nhật, số 31 là bài tiêu
Trang 8Có rợu ngâm cỏ xơng bồ là thức mới ngày tết.
Nhớ Vĩnh Phúc năm ấy dân biểu can vua,Thơng Linh Quân trấm minh ở sông Tơng
Không cần buộc chỉ ngữ sắc vào tay để trừ tà, Theo phong tục, cũng bện cây ngải làm hình ngời
Muốn đem nớc cỏ Lan chia khắp bốn biển,
Để gột rửa cho sạch cái dơ bẩn cũ của dân)
ý không ở chỗ ăn tết Đoan Ngọ mà ở chỗ Âu Dơng tu dâng sớ canvua Tống bãi chức nhiều vị đại thần trung nghĩa, ở chỗ vua Sở nghe kẻ xunịnh đày Khuất Nguyên xuống Giang Nam để cuối cùng ông phải ôm mốicô trung mà trầm mình ở sông Mịch La và ở chỗ chia nớc cỏ lan ra bốn biển
để gột rửa những cái dơ bẩn của dân
Trong bài Chu Công phu Thành Vơng đồ (Đề tranh vẽ Chu Công
giúp Thành Vơng) số 27, ông ví mình với Chu Công giúp Thành Vơng nhà
Chu; trong bài Mạn hứng I, ông nói mặc dù không làm nên sự nghiệp gì
nh-ng cha bao giờ từnh-ng một bữa ăn khônh-ng nhớ đến vua (Mạn hứnh-ng II), ônh-ng nói cha hề quên giúp vua thi hành nhân nghĩa Trong bài Mạn Hứng I ông nói cha hề quên chuyện vì dân một mình lo trớc Trong bài Thứ Cúc pha tặng
thi (Hoạ thơ tặng của Cúc Pha), số 35, ông mừng cho bạn đựơc trọng dụng
mà thẹn cho mình nh làn mây bay ra khỏi động Cúc Pha tức Nguyễn MộngTuân, đỗ thái học sinh năm Canh Thìn (1400) cùng khoa với Nguyễn Trãi
Sách Lịch triều hiến chơng loại chí cho biết: đời nhà Hồ ông ẩn náu, không
ra làm quan Đến thời đầu Lê, Thái Tổ cho ông là ngời ẩn dật còn sót lại,triệu ra làm t nghệp Quốc tử giám, thăng đễn chức tế tửu, đợc nhà vua trọngvọng, ban cho lễ u đãi tuổi già Nhân Cúc Pha có thơ tặng ông hoạ lại Lờithơ nghẹn ngào, cay đắng, khi so sánh mình với bạn:
Thái bình thiên tử chính sùng văn,
Hỷ kiến hoàng kim lịch ngoã phân.
Mỹ ngọc bất lao cầu thiện giá,
ỷ lan chung tự thổ thanh phân.
Tiển quân dĩ tác nghi đình phợng, Quỹ ngã ng đồng xuất tụ vân.
Lỡng nhã hôn hoa đầu cánh bạch, Quyên ai hà dĩ đáp quân ân.
(Thời thái bình, nhà vua chuộng văn chơng, Mừng thấy vàng đợc phân biệt với ngói, gạch
Trang 9Lan qúy rốt cuộc sẽ ngát hơng thơm.
Mừng bác đợc làm chim phợng chầu ở sân vua, Thẹn cho tôi giống đám mây trong hang núi bay ra.Tôi nay hai mắt đã mờ, đầu đã bạc,
Biết lấy gì báo đáp ơn va đợc mảy may)
Tấm lòng vì dân, vì nớc của ông luôn luôn là chất lửa trong lò Nhiệt
tình của ông đối với đời cha lúc nào vơi Yêu thơng dân, suốt đời lo nghĩthực hiện một phơng sách để đất nớc yên ổn, nhân dân no ấm là một nét lớntrong t tởng chính trị của Nguyễn Trãi Trong thơ ông đó là một điểm mới
so với thơ đời Trần Trần Minh Tông đã từng nói đến dân:
Sinh dân nhất thị bào đồng,
Tớng tiêu hà không hiểu ý Hán Cao Tổ,
Đã phí tiền lơng điểm xanh, đỏ cung vị ơng)
Dù sao Minh Tông cũng mới dừng lại ở ý khoan sức dân đừng bắtdân khốn cùng vì việc xây cung điện xa hoa Trần Nguyên Đán tiến thêmmột bớc : yên dân, lo cho dân những khi mùa màng thất bát:
Niên lai hạ hạn hu thu lâm, Hoà cáo miệu thơng hại chuyển thâm.
Tam vạn quyển th vô dụng xứ, Bạch đầu không phụ ái dân tâm.
(Nhâm dần niên lục nguyệt tác)
(Mấy năm nay hết mùa hè hạn lại mùa thu ma dầm, Lúa khô, mạ thối, tai hại càng nhiều
Đọc ba vạn quyển sách mà chẳng dùng đợc vào đâu, Đến lúc bạc đầu chỉ ôm suông rấm lòng yêu dân.)Nhng chỉ đến Nguyễn Trãi quan niệm về dân mới toàn diện sâu sắc
ông thấy rõ vai trò của ngời cùng dân trong việc dựng nớc và giữ nớc, ôngthông cảm với tình cảnh ngời dân trong chiến tranh loạn lạc:
Thần châu nhất tự khởi can qua, Vạn tính ngao ngao khả nại hà.
(Loạn hậu cảm tác)
(Thần châu từ buổi nổi cuộc can qua,
Trang 10Muôn dân nháo nhác biết làm thế nào?)
Về điểm này, Nguyễn Trãi cũng vợt thân phụ ông Nguyễn Phi Khanh
đã từng lo nghĩ đến cảnh ngời dân mất mùa đói kém mà vẫn bị quan ra sứcvơ vét đến cạn kiệt:
Lại t võng cổ hồn đa kiệt,
Dân mệnh cao chi bán dĩ tiêu
(Thôn c cảm sự ký trình Băng Hồ tớng công)
(Lới tham quan lại vơ vét hết kiệt
Mở mang của dân đã cạn mất nửa)Nguyễn Trãi cũng vợt Trần Nhân Tông, ông vua có quan điểm thândân nhất đời Trần Nguyễn Trãi và Trần Nhân Tông đều có cùng một bàithơ về đề tài khuê oán nhng thơ Nguyễn Trãi không viết về những cô gáikhuê các nhàn rỗi của Trần Nhân Tông, chỉ có một việc ngủ dậy cuốn rèmngồi ngắm hoa rụng cho đến khi mặt trời lặn về phía tây:
Thuỵ khởi câu liêm khán truỵ hồng, Hoàng ly bất ngữ oán đông phong.
Vô đoan lạc nhật tây lâu ngoại, Hoa ảnh chi đầu tận hớng đông.
(Ngủ dậy cuối rèm xem hoa rụng, Chim hoàng ly không hót, oán gió đông
Không dng mặt trời lặn xuống phía tây toà lầu, Bóng hoa đầu cành thảy đều ngoảnh về phía đông.)Nguyễn Trãi viết những ngời phụ nữ lao động có chồng chinh chiến
ngoài quan ải, tận đêm khuya còn phải đập vải ngoài sông (Bài Thôn xá
thu châm) và có lẽ đây là lần đầu tiên trong thơ Việt Nam tiếng chày nện
vải không chỉ là tiếng của mùa thu buồn mà còn là tiếng lòng của nhữngngời chinh phụ, là lời than phiền về cảnh ngộ vất vả của họ
rất nhiều lần Nguyễn Trãi nói đến dân, dân là thần dân, dân bảo vệ
ngôi vua, và cụ thể (khẳng định một chiều khác, nh là đối lập) ăn lộc nhờ
ơn kẻ cấy cày Sống hết mình vì nghĩa quân thân, lòng trung hiếu, ơn tri
ngộ, lại yêu dân đen hết mình, không điều kiện đó là những nỗi niềm songtồn, thờng trực trong Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi tất nhiên không thể vợt ra ngoài ý thức hệ phong kiến.Xã hội lý tởng đối với ông là xã hội phong kiến có vua sáng tôi lành vànhân dân đợc an c lạc nghiệp trong thôn cùng xóm vắng, không có mộttiếng hờn giận oán sầu ông không thế nào quan niệm đợc một chế độ xã
Trang 11không phủ nhận thuyết thiên mệnh thiêng liêng Ngời làm vua thay trời trịdân Đó là những thuyết giáo mà Nguyễn Trãi đã tiếp thu trong nhà trờngNho giáo Có điều là cuộc đấu tranh của dân tộc, của bản thân Nguyễn Trãi
đã vợt ra ngoài phạm vi những thuyết giáo ấy hay nói cho đúng hơn đã sáthơn những yêu cầu của đời sống dân tộc
Xuất phát từ thực tiễn đời sống dân tộc, Nguyễn Trãi đã đề ra nhữngyêu cầu đối với những kẻ cầm quyền, từ vua cho đến quan Theo NguyễnTrãi thì ngời làm vua phải hoà thuận tông thân, nhớ giữ một lòng hữu ái, th-
ơng yêu dân chúng, nghĩ làm những việc khoan nhân Theo Nguyễn Trãi thìphàm kẻ bề tôi giúp vua phàm ngời có chức vụ coi quân trị dân, đều phảidùng phép công bằng, làm việc cần mẫn thờ vua tận trung, đối dân tận hoà,
bỏ thói tham ô, trừ tệ lời biếng lấy điều lo của sinh dân làm điều lo củamình…với sự phát triển của nhân tố cá nhân (đã có từ Những quan điểm chính trị xã hội trên đây của Nguyễn Trãi đạt tớitầm cao nhất và rộng nhất của t tởng mà điều kiện lịch sử lúc bấy giờ chophép
Nguyễn Trãi mang trong mình hoài bão lớn lao, một tấm lòng u ái
khôn nguôi Đêm ngày cuồn cuồn nớc triều đông Thơ ông, cả thơ Nôm và
thơ chữ Hán, không biết bao nhiêu lần nói lên niềm tha thiết lớn nhất, cóthể nói là duy nhất đó của ông:
Nhất phiến đan tâm chân hống hoả, Thập niên thanh chức ngọc hồ băng.
(Thanh chức mời năm băng nậm ngọc,
Đơn tâm một mảnh lửa lò tiên.)
(Thơ chữ Hán - bài 62)
Bui một tấc lòng u ái cũ,
Đêm ngày cuồn cuộn nớc triều đông.
(Thơ chữ Nôm - Bài 50)
Chữ học ngày xa quên hết dạng, Chẳng quên có một chữ cơng thờng.
( Thơ chữ Nôm- Bài 82)
có lần Nguyễn Trãi tự so sánh mình với Trơng Lơng, lại có lần ông
tự thấy mình không sánh đợc với Trơng Lơng:
Kham hạ Trơng Lơng chăng khứng ở, Tìm tiên để nộp ấn phong hầu.
( Thơ chữ Nôm - Bài 162)
Trang 12Thực ra nhìn tấm lòng của ông đối với ngời cùng khổ, một tấm lòng
nh nớc triều ngày đêm cuồn cuộn, một tấm lòng luôn luôn nóng bỏng nhlửa trong lò ta thấy với tấm lòng ấy đâu kém gì Trơng Lơng
ở một bài thơ khác, sau khi gợi lên cảnh gió, trăng, mai, trúc cùngvới non cao nớc biếc, ông viết thêm:
Tiêu sái mấy lòng đà mạc đợc, Bảo chăng khứng mạc một lòng thơm,
( Thơ chữ nôm - Bài 97)
Lòng thơm là tấm lòng vì dân, vì nớc, với ông đó mới là điều quý nhất
Nh vậy qua ức trai thi tập và Quốc âm thi tập đã thể hiện đợc tấm
lòng yêu nớc, thơng dân, một phơng diện trong lý tởng chính trị xã hội củaNguyễn Trãi Khác với những nhà nho cùng thời luôn đặt trung quân lênhàng đầu, ở Nguyễn Trãi t tởng trung quân rất lớn song ông luôn đặt u quốc
ái dân lên hàng đầu Đó chính là cái cốt lõi của lý tởng nhân nghĩa mà suốtcả cuộc đời Nguyễn Trãi luôn theo đuổi
2 Niềm thao thức lớn trong thơ Nguyễn Trãi
Hình ảnh đậm nét để lại trong ức trai thi tập và Quốc âm thi tập là
một Nguyễn Trãi suy t, thao thức vì nhiều lẽ Mời năm xiêu bạt nh cánhbèo, trong loạn lạc muốn đem nớc mắt pha máu mà rửa mộ tổ tiên nhng tấtcả chỉ là phơng sách ớc muốn suông
Phải nói rằng hai tập thơ của ức Trai, cha từng có bài thơ nào làm để
mà chơi Toàn bộ thi phẩm của ông là tất cả suy nghiệm của một con ngờiluôn luôn băn khoăn trớc tạo vật, luôn luôn phát hiện những hiện tợng biến
đổi khôn lờng và tìm kiếm những chân lý cha mấy ai tìm ra trong cuộcsống Nguyễn Trãi cơ hồ nh đã dằn vặt đau khổ rất nhiều trong cả một đờitìm tòi suy nghiệm ấy Tất nhiên, có lúc nắm đợc quy luật của đời sống,
ông bỗng trở lên ung dung thích thảng, ông cất lên tiếng cời:
Phúc nhiều xa bởi nơi ta tích, Xuân đến tự nhiên mọi vật tơi.
(Bảo kính cảnh giới, 11)
Nhng thật ra đấy là tiếng cời chi chút có phần châm biếm trong thơ
ức Trai Điều thờng thấy trong thơ ông là một niềm thao thức khôn cùng,một cái nhìn chất chứa bao nhiêu dấu hỏi về cuộc đời Qua thơ ức Trai, tanhận ra không hiếm những lần ông trắng đêm không ngủ Có khi, chỉ vì tấmlòng yêu nớc thơng dân của một con ngời biết lo trớc cái lo của thiên hạ:
Binh sinh độc bão tiên u niệm,
Trang 13Toạ ủng hàn khâm dạ bất miên.
(Hải khẩu dạ bạc hữu cảm, 2)
(Binh sinh riêng ôm tấm lòng tiên u, Ngồi quàng một mảnh chăn lạnh thâu đêm không chợp mắt)
Có khi nhà thơ bắt gặp đợc tạo vật một sức mạnh nào đấy làm ông vôcùng xao xuyến, và nỗi thao thức thâu đêm của ông ở trờng hợp này phản
ánh ý thức tích cực chờ đón một cái gì lớn lao đang xảy tới:
Tiên lại ngữ thu kinh thảo mộc, Ngọc thằng đê Hán chuyển kiền khôn ! Cao trai độc toạ hồn vô mị,
Hảo bả tân thi hớng chí luân.
(Thu dạ dữ Hoàng Giang Nguyễn Nhợc Thuỷ đồng phú)
(Sáo tiên báo hiệu mùa thu làm kinh động cỏ cây,Sao ngọc thằng hạ thấp gần sông Ngân hán, chuyển cả trời đất.Một mình ngồi chốn th phòng không sao ngủ đợc,
Đem câu thơ mới hớng vào chí mình mà nói)
Nguyễn Trãi thao thức, dằn vặt xô gối không ngủ đến trời sáng Đó là
trạng thái thao thức, trào sôi nhiệt huyết của một ngời ham muốn hành
động, muốn làm chim bằng cỡi gió lên chín vạn dặm làm chim phợng hót ánh
sáng mặt trời Nhng cũng có khi ông không ngủ chỉ vì lòng ông thốt nhiên nặng
trĩu một thứ tiếng âm thâm, u uất của từng giọt ma đêm bên ngoài:
Tịch mịch u trai lý, Chung tiêu thính vũ thanh.
Tiêu tao kinh khách chẩm,
Điểm tích sổ tàn canh.
Cảnh trúc xao song mật, Hoà chung nhập mộng thanh.
Ngâm d hồn bất mị,
Đoạn tục đáo thiên minh.
(Thính vũ)
(Vắng vẻ trong căn phòng u tịch,Thâu đêm nghe tiếng ma
Rả rích lạnh lùng làm kinh động gối của ngời khách,Từng giọt, từng giọt nh đếm canh tàn
Xuyên qua khóm trúc, tiếng ma dày nhặt gõ vào cửa sổ,Tiếng ma hoà lẫn với tiếng chùa mà vẫn đi vào
giấc mơ trong trẻo
Trang 14Sau khi ngâm thơ xong vẫn không ngủ đợc,Tiếng ma dứt rồi lại nối cho mãi đến sáng ngày).
Cũng là đơn độc, suốt đêm không ngủ nhng bây giờ có gì đấy nh bứtrứt, nh trỗi dậy trong cái không gian vừa động (trời ma một không gian rộng)vừa vắng lặng (phòng vắng, một không gian hẹp) [30;168] Chỉ qua việc ngồilặng trong một phòng suốt đêm thâu để nghe những tiếng ma đứt rồi lại nốicũng đủ thấy đợc tâm sự của nhà thơ bức thiết đến thế nào
Quả tình thơ Nguyễn Trãi vẫn tiếp tục cái chất suy tởng vốn là đặcsắc của những bài văn ông sáng tác giai đoạn trớc mà tính t tởng nhất quántập trung từ đầu đến cuối, hai tập thơ chữ Hán và chữ Nôm của con ngời vĩ
đại này, lại nh mang theo ít nhiều biểu hiện t tởng và tình cảm không thốngnhất, thậm chí còn trở nên mâu thuẫn phức tạp
Con ngời thi nhân trong thơ Nguyễn Trãi một mặt có tầm nhìn củamột triết gia hiểu thấu đợc mọi xu thế tiến triển của sự vật, biết hớng vềnhững nhân tố mới đang nảy sinh, nhng rồi mặt khác cũng con ngời thinhân ấy lại có cái thái độ ngao ngán khi thấy mình bất lực trớc những thếlực tối tăm đang ngự trị trong xã hội
Con ngời hành động trong thơ Nguyễn Trãi, ở những hoàn cảnh đấy
là con ngời tìm thấy hớng đi vào đấu tranh không mỏi:
Quân tử hãy lăm bền chí cũ, Chẳng âu ngặt, chẳng âu già.
Bui có một lòng trung mấy hiếu,
Mai chăng khuyết, nhuộm chăng đen.
(Thuật hứng - bài 24)
Trang 15Sẽ còn mãi một Nguyễn Trãi trằn trọc suy t, thao thức suốt mấy đêm
không ngủ bởi tấm lòng yêu nớc thơng dân vẫn đêm ngày cuồn cuộn nớc
triều đông Chính điều này đã khiến cho bao thế hệ càng thêm tôn kính
Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi có lúc cũng muốn lên tiên:
Tạc dạ nguyệt minh thiên tự thuỷ,
Mộng kỳ hoàng hạc thớng tiên đàn.
(Mộng Sơn Trung)
(Đêm hôm qua trăng sáng trời nh nớc,Mơ thấy cỡi hạc vàng bay lên đàn tiên.)
Nhng tìm về núi cũ hay lên tiên hay yên tâm với việc cày nhàn câu vắng…với sự phát triển của nhân tố cá nhân (đã có từ
bằng cách nào đi nữa thì rốt cuộc Nguyễn Trãi vẫn không lãng quên đợc mọichuyện của cõi trần Tai ông vẫn lắng nghe tiếng vọng ấm của cuộc đời:
La ỷ dập dùi hàng chợ họp, Cửa nhà bịn rịn tổ ong tàng
(Thuật hứng, 10)
Tâm hồn ông vẫn sôi lên khi nghĩ đến đám dân xanh đầu:
Dải ốc thê thân kham độ lão,
Thơng sinh tại niệm độc tiên u.
(Thuật hứng, bài 3)
(Nơng thân dới mái nhà lụp xụp có thể tạm qua lúc tuổi già,
Nhng nghĩ đến đám dân xanh đầu, thì một mình lại cứ phải
Trang 16của Xuân Diệu) nó tạo nên những hình tợng bất hủ, những tấm lòng son,những đôi mắt mở to trong đêm dài và tất cả những hình tợng ấy chung
đúc thành một con ngời cụ thể, con ngời thơ ức Trai, con ngời có tầm suynghĩ sâu rộng khó lẫn lộn với bất cứ con ngời nào trong lịch sử cũng nhtrong Văn học
II Sự khác biệt ở lý tởng chính trị-xã hội trong hai tập thơ ức
trai thi tập và quốc âm thi tập
1 Sự thể hiện lý tởng xã hội chính trị của Nguyễn Trãi trong ức
của nó) đợc tập hợp lại trong tập thơ ức Trai thi tập Phần lớn thơ văn
Nguyễn Trãi bị mất mát vì năm 1442 Nguyễn Trãi bị vu oan và bị tru di tamtộc, thơ văn của ông không ai đợc phép học tập và tàng trữ chỉ ngời nàokhâm phục Nguyễn Trãi, biết rõ vụ oan khuất của Nguyễn Trãi mới để tâm
và mạo hiểm để lại thơ văn Nguyễn Trãi mà thôi Mà cũng không sao giữ
đ-ợc đầy đủ Mãi đến năm 1467, Lê Thánh Tông mới nhận định ức trai tâm
thợng quang Khuê tảo (Lòng ức trai sáng nh sao Khuê) và đã làm một việc
đầy ý nghĩa là cho su tầm thơ văn Nguyễn Trãi, từ đó chúng ta mới có đợcnhững vần thơ của thi hào đáng kính này
Qua các bài thơ chữ Hán trong tập thơ ức Trai thi tập chúng ta bắt
gặp những vần thơ viết về vua, qua đó thể hiện đợc tấm lòng trung quân,một khía cạnh trong lý tởng xã hội chính trị của Nguyễn Trãi ông là ngời
đầu tiên đánh giá công tội của họ Hồ, ngời đầu tiên đa Hồ Quý Ly ra toà
án lịch sử Nhng Nguyễn Trãi cũng là ngời phát hiện sớm nhất ở Hồ Quý
Ly một nhân cách anh hùng đó dờng nh là mâu thuẫn mà thực ra lại rấtlogíc biện chứng
ở bài Long Đại Nham (Núi Long Đại) sau khi miêu tả cảnh quan hàohùng, kỳ vĩ của núi Hàm Rồng, nơi Hồ Quý Ly từng đóng đồn chống quânThế Bồng Nga vào cớp phá Thanh Hoá đầu năm 1382, Nguyễn Trãi viết:
Hồ trung nhật nguyệt thiên nan lão, Thế thợng anh hùng thứ nhất thì.
(Trong bầu nhật nguyệt, trời luôn trẻMột thủa anh hùng tiếng để đời)
Trang 17ở đây Nguyễn Trãi gọi Hồ Quý Ly là thế thợng anh hùng là anh
hùng nhất thì (anh hùng trên đời, anh hùng một thuở)
ở bài Thần Phù hải khẩu (Cửa biển Thần phù) sau những nét búthoành tráng miêu tả cảnh trí Thần Phù kỳ vĩ và mỹ lệ, Nguyễn Trãi viết:
Thiên địa đa tình khôi cự tẩm,
Huân danh thử hội tuởng đơng niên.
(Trời đất đa tình mở vụng biển lớn,Công danh hội âý, nhớ lại năm nào)
ở đây Nguyễn Trãi nhớ lại hội công danh của Hồ Quý Ly lấy đá lấpngả sông thông với cửa Thần phù để chống quân Minh
ở bài Quá thần phù hải khẩu (Qua cửa biển Thần Phù) cũng vớiniềm suy tởng trớc cảnh nớc non tơi đẹp, gió mát trăng trong, Nguyễn Trãiviết về ngời xa:
Giang san nh tạc anh hùng thệ,
Thiên địa vô tình sự biến đa.
(Non sông từ đó anh hùng vắng,Trời đất lòng nào sự biến kinh)
Qua một số bài thơ trên có ý kiến có rằng Nguyễn Trãi chỉ suy tởngchung về anh hùng quá khứ, chỉ cảm thán chung về non sông, đất nớc, conngời với một cảm quan lịch sử, một tâm trạng hoài cổ Điều này khôngphải là không có căn cứ Song chúng ta cũng có thể khẳng định đợc rằngnhững câu thơ trên của Nguyễn Trãi có suy tởng về Hồ Quý Ly, suy tởngchung về anh hùng quá khứ và cũng có sự gửi gắm tâm sự riêng t của nhàthơ
Tuy nhiên vị vua mà Nguyễn Trãi dành nhiều tâm huyết, chiếm phầnnhiều những vần thơ của thi nhân không phải là Hồ Quý Ly, mà là Lê Lợi,ngời anh hùng của nghĩa quân Lam Sơn thuở nào Khi Nguyễn Trãi gặp LêLợi ở Lỗi Giang, hoặc ở một địa điểm nào đó trong miền Thanh Hoá, dâng
kế Binh Ngô thì Lê Lợi có lẽ đang chuẩn bị hay bắt đầu khởi sự, không lấydanh nghĩa phục Trần hay phục Hồ gì cả Lê Lợi chỉ là một vị hào trởng ởmột vùng hẻo lánh xứ Thanh, nhng có tính khẳng khái, hào hiệp, dùngquyền mu để trừ gian vì lòng nhân nghĩa mà ra sức giữ gìn thế nớc yên ổn.Ngày đêm xem binh th để vì dân đen mà đấu tranh Những vần thơ ca tụng
Lê Lợi trong buổi đầu này thật nhiều và nhiệt thành:
Quyền mu bản thị dụng trừ gian,
Nhân nghĩa duy trì quốc thế an.
(Hạ quy Lam Sơn I - bài 20)
Trang 18ức Tích Lam Sơn ngoạn võ kinh, Đơng thì chí dĩ tại thơng sinh
(Hạ quy Lam Sơn II - bài 21)
Cần nhấn mạnh điều này: Nguyễn Trãi không phải nh phần lớn nhànho cuối Lê chạy theo Chiêu Thống sang Tàu rớc giặc về dày xéo quê hơng
xứ sở, mà cứ đinh ninh là ái quốc bởi vì đã trung quân, Nguyễn Trãi đề cao
Lê Lợi thật ra là nhắc đến cái chí của mình thuở ấy Đọc những bài ông làm
khi thoát khỏi Đông Quan, nh bài Thính vũ (Nghe ma), Thôn xá thu châm (ở nhà thôn nghe tiếng châm mùa thu), Hải khẩu dạ bạc hữu cảm (Đêm đậu
thuyền ở cửa biển), chúng ta thấy những nỗi băn khoăn lo lắng y nh thể củachính ông Nằm suốt đêm nghe ma rơi, trằn trọc không ngủ cho đến sáng.Ngồi ôm chân lạnh thức suốt đêm trong một chiếc thuyền, vì ơn nớc cha
đền vì cha đạt đợc chí bình sinh lo trớc thiên hạ, vui sau thiên hạ
Tình cảm của Nguyễn Trãi dĩ nhiên rất sâu sắc đối với dân, với nớc
và với vua, vì lúc bấy giờ trong nhận thức của những ngời yêu nớc chânchính, nớc với dân với vua là một ái quốc, ái dân không thể tách rời vớitrung quân Huống chi vua nh Lê Lợi thì thật là một minh quân, đáng choNguyễn Trãi kính phục Từ tay không và với chí khí kiên cờng bất khuất,
Lê Lợi xây dựng một lực lợng để đánh lại hàng chục vạn quân xâm lợc nhà
Minh Binh Ngô sách của Nguyễn Trãi đã đợc Lê Lợi đồng ý và thực hiện.
Lê Lợi ngời đại tài về chính trị về quân sự, cho nên Nguyễn Trãi đã tâm đầu
ý hợp với vua Vì thế Nguyễn Trãi hết lòng giúp vua để báo thù nhà trả nợnớc Sau 10 năm bị quân Minh giam hãm, Nguyễn Trãi đã mạo hiểm trốn ra
để vào Lam Sơn theo Lê Lợi, Nguyễn Trãi đã làm việc trung thần chọn vua
mà thờ nh chim khôn chọn cây mà đỗ
Trong bài Đề kiếm Nguyễn Trãi đã viết rằng từ xa rồng thần đã nằm
sẵn ở Lam Sơn, việc đời đã nắm trong tay và tin rằng:
Quốc thù tẩy tận thiên niên sỉ, Kim qũy chung tàng vạn thế công.
(Thẹn nớc ngàn năm nay rửa sạch,Rơng vàng muôn thuở chứa công to.)
Nguyễn Trãi nhớ đến vua trong nhiều trờng hợp Trong bài Đề chùa
Đông Sơn có câu:
Quân thân nhất niệm cửu anh hoài.
(Quân thân một niệm để trong lòng)Trong lúc đêm đỗ thuyền cửa biển, tác giả cũng nhớ đến vua:
Trang 19Tuế nguyệt vô tình song mấn bạch,
Quân thân tại niệm thốn tâm đan.
(Hải khẩu hữu bạc dạ cảm - bài 1)
(Năm tháng lãng đi hai mái tóc bạc,Quân thân nghĩ tới tấc lòng son.)Nguyễn Trãi gắn liền với thân, nghĩa là vua với cha theo đúng thuyếtquân, s phụ ông để vua trên cha, theo ý phụ thân ông đã từ giã ở NamQuan mà đi tìm vua ở Lam Sơn Cha Nguyễn Trãi đồng thời lại là thầy họccủa Nguyễn Trãi đã bị giặc bắt và chết trong tay giặc Nguyễn Trãi luônluôn tôn kính cha và vua tức phải đuổi giặc ngoại xâm, dành độc lập cho n-
ớc nhà, đa lại hoà bình cho nhân dân
Những năm cuối đời Lê Lợi (Lê Thái Tổ) tỏ ra nghi ngờ các vị côngthần trong đó có Nguyễn Trãi, ông từng bị bỏ ngục, sau này tuy đợc phụcchức song chỉ là h danh Trong thơ chữ Hán của mình Nguyễn Trãi đã khắchoạ Lê Lợi – Tấm lòng trung quân của Nguyễn Lê Thái Tổ với những phẩm chất tốt đẹp, với lòng tôn kính
Nguyễn Trãi rất trung quân, tuy nhiên lòng trung quân của NguyễnTrãi không phải là ngu trung, ngợc lại lòng trung quân của ông luôn luôngắn liền với lòng ái quốc, u dân Đó là khát khao nớc nhà độc lập, nhân dân
đợc ấm no, hạnh phúc
1.2 Niềm hân hoan chiến thắng, lòng say mê thực hiện lý tởng chính trị xã hội của Nguyễn Trãi
ức Trai thi tập là một tác phẩm đặc sắc của Nguyễn Trãi cũng là tập
thơ hay vào bậc nhất của dòng thơ chữ Hán Việt Nam [40;21] Tập thơ đãgiúp ngời đọc hiểu thêm nhiều điều về thân thế, tâm hồn và tài năng củaNguyễn Trãi, đồng thời cũng đánh dấu bớc chuyển của chặng đờng thơ chữHán Việt Nam từ thời Trần sang thời Lê Nguyễn Trãi vừa kế thừa nhữngthành tựu thơ đời Trần, vừa đa vào những nét mới, nét riêng của ông và thời
đại ông Chính vì vậy ức Trai thi tập gần gũi với thơ đời Trần mà lại mới
mẻ Gần gũi vì không kể những đề bài, đề tài đã trở thành cổ điển cho thơ
chữ Hán nói chung nh Mạn thuật, Tức sự, Ngẫu hứng, Tùng, Trúc, Cúc,
Mai ở đây ngời đọc còn gặp lại những quan niệm đã đợc nhân dân ta xây
dựng từ những thế kỷ trớc, gặp lại những cảnh, những ngời, những sự kiệnlịch sử và đôi khi cả những môtíp nghệ thuật từng quen thuộc trong thơ đờiTrần Đó là lòng yêu đất nớc thiết tha, ý thức về một quốc gia hoàn toàn
độc lập, tự chủ Đó cũng là tình yêu đằm thắm đối với cảnh sắc thiên nhiêncủa tổ quốc mà mỗi tấc đất, dòng sông, ngọn núi đều gắn với những tranglịch sử anh hùng của dân tộc, vận mệnh của đất nớc và công sức khai phá
Trang 20giữ gìn của ngời dân bao thế hệ ở phần thơ chữ Hán này Nguyễn Trãi gửilại nét hào hùng kiên nghị, khí phách cuả các nhà thơ thời chống quânNguyên thế kỷ XIII, Nguyễn Trãi cũng gửi lại tính triết lý sâu sắc màphóng khoáng, táo bạo của tinh thần thiền thời Thịnh Trần, đồng thời với sựtiếp thu nét u t, thơng dân băn khoăn về trách nhiệm kẻ sĩ của nhà thơ cuốiTrần mà nổi bật hơn cả là Trần Nguyên Đán, Nguyễn Phi Khanh Ngời
đọc đã gặp ở thơ ức Trai lòng vững tin vào tiền đồ dân tộc khi đuổi xong
giặc Minh, bài Hạ Quy Lam Sơn:
Sóc tẩm dĩ thanh kinh lãng tức, Nam châu vạn cổ cựu giang san.
(Yêu khí phơng bắc đã tan, sóng kình đã lặng, Nam châu vẫn non nớc xa nghìn thủa)
Đánh giặc để non sông xa muôn thuở vững bền, đó là chân lý mà Trần Quang Khải từng tuyên bố khi ông theo xe vua về kinh s (tụng giá
hoàn kinh s) và Trần Nhân Tông cũng khẳng định lúc ông trở về lễ Thái
Miếu sau khi đánh tan giặc Sát Thát Ngời đọc cũng gặp ở Nguyễn Trãiniềm hân hoan đợc thấy bốn biển thanh bình:
Hồ Việt nhất gia kim hạnh đổ,
Tứ minh tòng thử tức kình ba.
(Quá Thần Phù hải khẩu)
(Hồ Việt một nhà may đợc thấy,
Từ nay bốn biển lặng tăm kênh)
Các thi sĩ đời Trần cũng đã từng nói đến niềm vui ấy, bởi đó chính là
ớc nguyện tha thiết của nhân dân ta, một dân tộc đã trải nhiều hy sinh mấtmát; đối với họ không gì lớn hơn là đợc cùng dân nớc láng giềng sống trongcảnh thái bình và tôn trọng lẫn nhau
Hồ Việt nhất gia kim nhật sự, Biên dân tòng thử lạc tăm canh
(Thơ Nguyễn Trung Ngạn)
(Hồ Việt một nhà là câu chuyện hôm nay, Ngời dân biên giới từ đây đợc vui với dâu tằm, cày cấy)
Cạnh đó với những bài Hạ quy Lam Sơn, Đề kiếm, Nguyễn Trãi trực
tiếp ca ngợi vị vua anh hùng Lê Lợi và cũng là ca ngợi cuộc kháng chiếncủa dân tộc, ở đây ông đã tóm tắt một cách tài tình mục đích đờng lối củacuộc kháng chiến:
Quyền mu bản thị dụng trừ gian,
Trang 21Nhân nghĩa duy trì quốc thế an.
(Hạ quy Lam Sơn)
(Quyền mu vốn dĩ để trừ gian, Nhân nghĩa giữ gìn thế nớc an.)
ức tích Lam Sơn ngoạn võ kinh,
Đơng thời chí dĩ tại thơng sinh.
(Hoạ hơng tiên sinh vận giản ch đồng chí)
(Ngắm nhìn ánh sáng muốn học chim phợng gáy với vừng đông)Trong nhiều hình tợng thơ tiêu biểu cho tấm lòng âu việc nớc vẫn đi
về dới ngòi bút ức Trai không thể không nhắc đến một hình tợng đặc sắc:tấm lòng son của ông, tấm lòng đỏ thắm nh gỗ vang phơi phới nh ngọn lửathuỷ ngân trong lò:
Nhất phiến đan tâm chân hống hoả,
Thập niên thanh chức ngọc hồ băng.
(Mạn hứng - bài 2)
(Một tấm lòng son nung nấu ngọn lửa luyện đơn bằng thuỷ ngân,Mời năm chức quan thanh đạm nh băng giá đựng trong bình ngọc).Tấm lòng son của Nguyễn Trãi là tấm lòng vì dân, vì nớc Nó vẫn
luôn thờng trực trong con ngời ông, làm thành làn sóng Đêm ngày cuồn
cuộn nớc triều đông.Tâm hồn Nguyễn Trãi là sự hài hoà giữa những nét lý
tởng, vơn đến gần tự nhiên thanh cao và những nét bình thờng của cuộc đờithực, ông có nhiều hình bóng của một tiên nhân ẩn sĩ, nhng ngay trong cáitiên cốt vẫn có phần chan chứa tình đời Cho nên ta có thể khẳng địnhNguyễn Trãi vốn là ngời sống rất lạc quan Lạc quan trong cách nhìn Mộttiếng khua động của lá cây ông cũng nghe nh tiếng chiêng:
Tây phong hám thụ hởng đề tranh.
(Thu hạ khách cảm - bài 1)
(Gió tây thổi lá cây rung lên nh tiếng chiêng)Ngỡ nh cảnh trí đất nớc qua con mắt nhà thơ không làm sao có thểbuồn đợc, dù lòng ông vốn đang rất buồn:
Trang 22Thiên phong xuy khởi lăng hoa bôn,
Bán lâm tàn chiếu sự yên thụ,
Cách thuỷ cô chung đảo nguyệt thôn.
(Chu trung ngẫu thành)
(Gió trời thổi tới, hoa sóng phun lên
ánh sáng tàn nửa rừng sang qua chòm có khói, Tiếng chuông ở cách sông nện trong xóm có trăng)
Tâm hồn Nguyễn Trãi lúc này đang phơi phới niềm lạc quan yêu đời,
ông đang hân hoan trong niềm vui chiến thắng nên cảnh vật ở đây cũng thậtvui tơi
Từ núi Lam xa xăm, cờ nghĩa dựng lên từ trong tay của Bình Định
V-ơng Lê Lợi, Nguyễn Trãi cV-ơng quyết đi theo và đợc vua Lê trọng dụng Mộtchân trời mới mở ra trớc mắt Những bài thơ làm trong thời gian này trongnhững giây phút cao hứng đã biểu hiện khí phách hiên ngang và những t t-ởng cao quý của Nguyễn Trãi Những bài thơ hồi ức làm ra sau khi cụ bị hạngục lần thứ nhất vẫn còn phảng phất cái khí hùng của một thời vô cùnggian nan nhng cũng vô cùng oanh liệt
Ra đi kháng chiến Nguyễn Trãi tự ví nh chim bằng biển Bắc tung gió
vút lên chín vạn dặm (Cửu vạn đoàn phong ký tích tằng – Tấm lòng trung quân của Nguyễn Mạn hứng II ) và
không ngại nguy hiểm, dám thăm dò hang cọp (Đơng niên hổ huyệt ngã
tằng khuy- Núi Long Đại) rồi trên dới mời năm giúp Lê Lợi dẹp giặc và
dựng nớc, ngọn lửa hăng say hăm hở vẫn luôn bừng cháy trong tim cụ vàrực lên trong những câu thơ nh:
Nghĩa khí tảo không thiên chớng vụ,
Tráng hoài hô khởi bán phàm phong.
(Qua biển - bài 20)
(Nghĩa khí quét tan mù vạn núi, Tráng hoài kêu dậy gió lng buồm.) Hay là:
Vũ trụ đốn thanh trần hải nhạc,
Phong ba bất động thiết tâm can.
(Đất bụi sạch bài trong vũ trụ
Gan vàng giữ vững trớc phong ba.)
(Chơi Vân Đồn - Bài 18)
Nh chúng ta đã biết các bài thơ chữ Hán đợc Nguyễn Trãi đợc sángtác trong nhiều năm của cuộc đời thi sĩ, tuy nhiên tập trung nhiều nhất vẫn
Trang 23trong quãng thời gian trớc trong khi tham gia khởi nghĩa Lam Sơn đặc biệt
là trong thời gian làm quan dới triều Lê, nhất là khi ông đang đợc trọng
dụng, thế nên những phần lớn các bài thơ trong tập thơ ức Trai thi tập khi
nói đến lý tởng xã hội chính trị thì làm nổi bật đợc tấm lòng trung quân, áiquốc, u dân Đặc biệt là ta thấy đợc con ngời Nguyễn Trãi hiện lên là mộtngời lạc quan, yêu đời khát khao đem lý tởng của mình cống hiến cho đờinhằm để xây dựng đất nớc Nguyễn Trãi say sa trong niềm vui hân hoan chiếnthắng Vì vậy có nhiều bài đủ nói lên đợc khát vọng về lý tởng chính trị xã hộicủa Nguyễn Trãi về giai đoạn sau khi có một số bài nói lên tâm trạng thấtvọng, bế tắc của Nguyễn Trãi song số lợng ít, hơn nữa tâm trạng này tập trung
khắc hoạ trong những bài ở Quốc âm thi tập
2 Sự thể hiện lý tởng chính trị-xã hôị của Nguyễn Trãi trong
Quốc âm thi tập
2 1 Thái độ hờ hững, an nhàn của Nguyễn Trãi
Qua ức Trai thi tập ta thấy đợc con ngời cá nhân của Nguyễn Trãi
một ngời mang trong mình niềm say mê khát vọng công danh, ớc mơ đợc
đem sức mình cống hiến tài năng của bản thân để xây dựng một triều đạiphong kiến tốt đẹp Lúc này Nguyễn Trãi đang say sa trong niềm vui chiếnthắng hơn nữa địa vị chính trị của ông lúc này đang đứng ở thế cao, đợc vuatrọng dụng Thế nên thơ ông lúc này phần lớn thể hiện niềm yêu đời, thái
độ lạc quan, đầy nhiệt huyết những mong đem tài sức của mình xây dựngmột nền chính trị vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn Tuy nhiên càng vềcuối đời ông càng có nhiều tâm sự Nguyễn Trãi lúc nhà Lê đang lo đánhdẹp thì đợc vua trọng dụng, nhng khi thiên hạ đã đại định thì nhà vua, cókhi nghe tôi nịnh bạc tôi trung Các vụ án Trần Nguyễn Hãn, Phạm VănXảo làm cho mọi ngời bất bình và Nguyễn Trãi cũng khó yên thân ChínhNguyễn Trãi cũng đã từng bị Lê Lợi bỏ tù một thời gian
Lê Lợi qua đời, Lê Thái Tông lên ngôi, nịnh thần đắc chí mà ngờitrung trực nh Nguyễn Trãi lại bị dèm pha đủ cách cho đến lúc phải từchức.Trong thơ Nguyễn Trãi bên cạnh những lời hùng tráng khảng khái,
yêu nớc, yêu dân tỏ ra ý chí lo trớc thiên hạ và uy vũ không thể khuất phục
vẫn nhiều lúc có t tởng an nhàn, nhàn tản, t tởng chán đời, t tởng tin vào sốmệnh tin, vào trời là vì lẽ đó Những vần thơ thể hiện thái độ này chủ yếu
tập trung trong Quốc âm thi tập
Trong mỗi độc giả chúng ta ai ai cũng chẳng thể nào quên đợc một
Nguyễn Trãi với bao niềm trăn trở, tấm lòng u ái vì dân, vì nớc cứ Đêm ngày
Trang 24cuồn cuộn nớc triều đông Con ngời lo đời ấy, u ái ấy về cuối đời bị hám vào
cảnh chớng tai gai mắt, nhìn bọn gian thần lũng đoạn chốn triều quan, vì vậy
mà phải dấu tấm lòng son của mình sau một cái vỏ ngoài hờ hững:
Dẫu phải dầu chăng mặc thế,
Đắp tai biếng mảng sự vân vân.
Nguyễn Trãi con ngời từng hết lời ca tụng vơng triều, tụng ca thánh
đế, tụng ca xã tắc sơn hà lại có lúc dờng nh chán ngán hết thảy, muốn chối
(Mạn thuật - bài 11)
Nguyễn Trãi tin vào thiên mệnh:
Mới biết doanh h đà có số,
Ai mà cãi đợc đạo trời.
(Tự Thán - bài 15)
Từ niềm tin vào thiên mệnh, Nguyễn Trãi có thái độ an phận thủ thờng:
ở chỗ nề hay học cổ nhân,
Lánh mình cho khỏi áng phong trần.
Chim kêu, cá lội, yên đời phận, Câu quạnh cây nhàn dỡng mỗ thân.
(Mạn thuật - bài 7)
Những thái độ ấy là thái độ của một ngời đã chán chờng cuộc đời, hếtmuốn can thiệp vào những chuyện đời rắc rối Là tâm trạng của một ông già
về hu muốn yên vui cảnh già, tận hởng cuộc sống
2.2 T tởng bi quan yếm thế, sự bế tắc và một khối mâu thuẫn trong con ngời Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi có những ớc vọng tốt đẹp và ông đã luôn cố gắng mong
đem chút tài sức của mình để xây dựng non sông đất nớc Nhng những cốgắng của Nguyễn Trãi dần dần sụp đổ và ông trở nên đơn độc Thực tế lịch
sử, nhng điều mà ông không thể d liệu, ngày càng hiện diện một cách bi
đát, chua chát nh Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo, những bậc khai quốccông thần, thác oan Chính Nguyễn Trãi cũng vào tù ra tội, sống nơm nớpgiữ thân, đã thốt lên một tiếng kêu công lý thấm đợm nỗi buồn và trách
Trang 25móc Tội cho ai nấy cam đành phận và rồi cũng phải chấp nhận sự đạm bạc
đó nh một lẽ thờng, một lẽ thờng ứa máu:
Mựa trách thế gian lòng đạm bạc, Thế gian đạm bạc ấy lòng thờng.
Thế nhng tất cả những sự liên luỵ đến bản thân và đến từng cá nhân cụthể nh vậy cha phải là điểm khởi đầu cho tâm sự bi kịch của Nguyễn Trãi
Nguyễn Trãi đặt mình trớc dân tộc, lịch sử, trớc nhân dân để hành
động, chính vì vậy sự đổ vỡ của lý tởng Nguyễn Trãi mang tính bi kịch lớn.Bao nhiêu kiến thức cổ kim đúc rút từ sách vở, từ thực tế cuộc sống, từtrong các truyền thống dồn nén Nguyễn Trãi hình thành và thực hiện một d
đồ tơng lai, cuối cùng đành phải làm Chim hồng tránh tên lánh nạn.
Nguyễn Trãi đã góp công lớn cho cuộc kháng chiến vĩ đại, đã làm cho nớcnhà đi vào quỹ đạo phát triển, nhng với ông việc giải phóng đất nớc chỉ là
phần đầu của công việc Dần dần Nguyễn Trãi nhận thấy mình độc tiên u và
vu khoát (ảo tởng) thêm vào đó là sự đụng chạm phải thực tế đau lòng của
xã hội chuyên chế xấu xa đã làm Nguyễn Trãi phản tỉnh:
Say hết tấc lòng hồng hộc, Hỏi làm chi sự cổ câm (kim).
Chẳng khó gì trong việc khẳng định Nguyễn Trãi là một nhà Nho
đích thực qua rất nhiều câu thơ Chính ông cũng nói rằng ông một đời
phỏng dạng đạo tiên nho
Lúc trẻ rừng nho nức hơng thơm, Lòng hãy cho bền đạo Khổng môn.
(Tự thán - bài 41) Quét đất thiêu hơng giảng ngũ kinh.
(Tức sự - bài 1)
Nhng có lúc ông muốn bỏ cả thi th để tu thân khác:
Chỉn xá lui mà thủ phận, Lại tu thân khác, mặc thi th.
(Mạn thuật - bài 21)
Trang 26Trong thơ chữ Hán ông tiếc đã bị cái mũ nhà nho làm cho lỡ đời:
Ta d cửu bị Nho quan ngộ, Bản thị canh nhàn điếu tịch nhân.
(Than ôi mũ áo lầm ta mãi Vốn khách câu thanh với cuốc nhàn.)
(Đề Từ Trọng phủ Anh ẩn đờng)
Lòng ham đạo thiền của ông cũng rất rõ:
Trúc thông hiên vắng trong khi ấy, Năng mỗ sơn tăng làm bạn ngâm.
(Ngôn chí - bài 4)
Cảnh tựa chùa chiền, lòng tựa thâỳ,
Có thân có phải lợi danh vây…
(Ngôn chí - bài 2)
Ông ao ớc đợc sống an nhàn trong một thế giới vô kỷ, vô công, vôdanh, Hề thị phi tề vạn vật nh Trang tử:
Am trúc hiên mai ngày tháng qua, Thị phi nào đến cõi yên hà ?
(Ngôn chí - bài 3)
Mâu thuẫn thờng trực của Nguyễn Trãi là mâu thuẫn giữa xuất và xử,lánh trần hay nhập thế Một mặt ông muốn cởi tục, tìm thanh nhng mặtkhác lại vẫn đeo đẳng:
Bui có một niềm chăng nỡ trễ, Đạo làm con với đạo làm tôi.
Đây là vấn đề đặt ra thờng xuyên cho nhà nho xa nay Nhng vớiNguyễn Trãi thì vấn đề trở thành day dứt, đau đớn
Một mặt, ông muốn an phận an lòng hởng thân nhàn:
Lễu nhàn vô sự ấy lâu dài,
Nằm ở chẳng từng khuất nhiễu ai.
(Tự thán - bài 14)
Tuyết đợm chè mai câu dễ động,
Từ vi bóng nguyệt hứng đêm dài …
(Tự thán - bài 14)
Đó là nơi lý tởng để nghỉ ngơi thân xác và tâm hồn, rất khó đạt tới:
Một phút thanh nhàn trong buổi ấy, Nghìn vàng ớc đổi đợc hay chăng ?
(Tự thán - bài 7)
Trang 27Dới công danh đeo khổ nhục, Trong dại dột có phong lu.
(Ngôn chí - bài 2)
Hai chữ công danh chẳng dám cóc, Một trờng ân ái những hăm he.
Miệng thế nhọn hơn chông mác nhọn, Lòng ngời quanh nữa nớc non quanh.
Há kể thân nhàn, tiếc tuổi tàn.
(Tự thán-bài 2)
Đây không giản đơn là mâu thuẫn của t tởng Nho giáo với t tởng Phật
- Lão hay lựa chọn xuất xử nói chung và chính là biểu hiện của ý thức về sốphận cá nhân, về bản lĩnh con ngời của một ý thức muốn công hiến cho xãhội bất chấp hiểm nguy làm cho sự day dứt của nhà thơ mang tính chất bikịch cá nhân không lối thoát
Thơ Nguyễn Trãi cho chúng ta thấy ông là một ngời vô thanh khiết,thiết tha vì đất nớc, vì nhân dân Bị gièm pha, bị chèn ép, ông rất đau khổkhông phải đau khổ, vì những thiệt hại mà sự gièm pha chèn ép gây ra chobản thân mà chính vì thấy đạo mình không dùng đợc, những hoài bão tríquân trạch dân những ớc vọng “trị quốc bình thiên hạ” của mình không đợcthực hiện Nhiều ngời nhận thấy thơ Nguyễn Trãi có nhiều t tởng yếm thế biquan, trong thơ Nguyễn Trãi buồn nhiều hơn vui Nhìn chung thơ chữ Hánthì đầy giọng trầm hùng não nuột; thơ quốc âm thì nhiều chất luân lý, mỉamai [31;19]
Nguyên nhân gì đa Nguyễn Trãi đến chỗ bi quan yếm thế ? Nh trên
đã nói ngay từ buổi đầu hoà bình lập lại, những t tởng địa vị, danh lợi, kèncựa bè phái, tham ô hởng lạc và nghi kỵ lẫn nhau đã nảy sinh trong nội bộtriều đình nhà Lê Đến cả Lê Lợi con ngời anh hùng sáng suốt biết baotrong kháng chiến, thì lúc này cũng tỏ ra đa nghi, sợ sệt cho ngôi báu, chodòng họ của mình Ông để cho bọn gian thần xúc xiểm, đến nỗi ngay nhữngnăm thứ hai, thứ ba của triều đại mình, ông đã giết luôn hai công thần, hai
Trang 28đại tớng tài giỏi là Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo, chỉ vì lý do mộtngời là dòng dõi nhà Trần, một ngời là ngời Kinh lộ Nguyễn Trãi là ngờichính trực không hay khuất phục trớc bất kỳ uy vũ nào, nhng trong trờnghợp này, ông đành bất lực vì xét ra trong hai tội này mà ngời ta quy cho haingời đó thì ông lại có cả hai T tởng bi quan yếm thế của ông phát sinh từ
đó ngày càng có cơ hội phát triển khi Lê Nguyên Long con Lê Lợi một ôngvua hơn mời tuổi, với sự chấp chính quái gở của một lũ quan thần thô lỗ,thiển cận nh Lê Vấn, Lê Sát và vây cánh của chúng Sự giết hại công thần,chèn ép ngời trung trực lại tiếp tục tiếp diễn với một đà ngày càng tăngnhanh Nguyễn Trãi bị dồn vào thế cô lập và vào hoàn cảnh luôn luôn phảinơm nớp lo sợ cho an toàn, cho tính mạng của mình
Với thơ Nôm Nguyễn Trãi ta bắt gặp một con ngời có ý thức cao với
đức tài lý tởng đại dụng, khôn khéo, sâu sắc, tự tin, dũng cảm, tự khẳng
định, chống lại thói phàm tục của ngời đời, không trùng khít hoàn toàn vớikhuôn mẫu nào hết Một con ngời Nguyễn Trãi chứa đầy những mâu thuẫngiữa xuất và xử, giữa nhân thế và lãnh đời, giữa sự an nhàn và khát vọng lậpcông Tất cả đều góp phần khắc hoạ nên hình tợng Nguyễn Trãi trong thơ: “Một nhân cách lớn hết sức phong phú” [35;98]
Trang 29Chơng II
Sự tơng đồng và khác biệt trong việc sử dụng chất liệu văn hoá, văn học Trung Quốc
I Sự tơng đồng trong việc sử dụng chất liệu văn hoá, văn học
Trung Quốc ở hai tập thơ ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập
Nh chúng ta đã biết sự ảnh hởng của văn hoá, văn học Trung Quốc
đối với đời sống nói chung và đối với Văn học Việt Nam trung đại nói riêng
là rất lớn Trải qua hơn một nghìn năm Bắc thuộc, chúng ta đã đánh bại đợc
âm mu đồng hoá của giặc phơng Bắc song trong quá trình tồn tại và pháttriển bên cạnh nhau đã có sự tiếp thu.Trong các tác phẩm văn học ở nớc ta,văn hoá, văn học Trung Quốc đã trở thành chất liệu quan trọng, khơi nguồncảm hứng sáng tạo Tuy nhiên trong quá trình vận dụng các nhà thơ, nhàvăn đã có những sáng tạo để tạo nên sự phong phú, hấp dẫn, tạo sức sốngcho tác phẩm của mình
Nguyễn Trãi sinh ra trong một gia đình quý tộc, ông ngoại là quan t
đồ Trần Nguyên Đán, cha là Nguyễn Phi Khanh đã từng thi đỗ và làm quan,bản thân Nguyễn Trãi cũng đã từng theo nghiệp lêù chõng, từng thi đỗ vàlàm quan ông chịu ảnh hởng của nền giáo dục phong kiến, chịu ảnh hởngcủa Nho học, chính vì vậy trong thơ văn ông có những chất liệu văn hoá,văn học Trung Quốc thì cũng không có gì lạ
Từ lúc nhỏ Nguyễn Trãi đã nổi tiếng:
Thanh niên phơng dự ái Nho Lâm
(Mạn thành - bài 79)
(Rừng Nho tuổi trẻ ngát hơng thơm)
Thiếu niên trờng ốc tiếng h bay.
(Tự Thán - bài 75)
Và ông thi đỗ thái học sinh (tiến sĩ) lúc mới hai mơi tuổi ông chịu
ảnh hởng của Nho học, còn có sự ảnh hởng của Phật giáo và Đạo giáo Điềunày đã đợc thể hiện trong hai tập thơ chữ Hán và chữ Nôm của ông Nhànho có quan niệm hành tàng, xuất xử, nhng là một học thuyết nhập thế Phật
và Đạo, tu Phật tu tiên đều là xuất thế Xuất thế thì sống ở chùa, ở quán vớiPhật, với tiên, xa trần tục gần thiên nhiên Nhà Nho trong lúc tàng, xử cũngsống đời sống thôn dã, trong sạch Họ gặp nhau ở điểm quý trọng thiênnhiên và trau dồi đạo đức cao thợng Họ cũng gặp nhau ở tâm lý chuộngthiết thực, ít bay bổng siêu hình và phong cách sống cân đối giữa thiên tạo
và nhân tạo của ngời Việt Chính tinh thần rộng mở ấy đã đa Nguyễn Trãi
đến nhận xét:
Trang 30Niên lai xuất xử lợc tơng đồng.
(Hoạ vần ông ngòi làng)
(Mấy năm nay xuất và xứ đại khái giống nhau)
Vị xuất gia thời thả trú gia.
(Hoạ bài Yên Hà)
(Cha xuất xử thì hãy ở nhà)
Trong nguồn chất liệu văn hoá, văn học Trung Quốc thì ảnh hởng sâu
đậm nhất đối với các nhà thơ, nhà văn Việt Nam nói chung và với NguyễnTrãi nói riêng đó chính là thơ Đờng, các tác giả thơ Đờng, thi pháp thơ Đ-ờng ở tập thơ chữ Hán, dấu ấn những ảnh hởng đó khá rõ nét Toàn bộ tập
thơ chỉ trừ hai bài là Đề Hoàng ngự sử mai tuyết hiên và Côn Sơn ca đợc
viết theo thể thơ Đờng Luật nh bát cú, ngũ ngôn, thất ngôn, tứ tuyệt
Sáng tác thơ của Nguyễn Trãi hiện còn gồm hơn một trăm bài viếtbằng chữ Hán và 254 bài bằng chữ Nôm Làm thơ bằng tiếng Việt khi đócha phổ biến trong văn học dân tộc, khi văn học chữ Nôm cha hình thành đ-
ợc lối thơ riêng, Nguyễn Trãi vẫn phải dùng thể thơ luật Đờng nh khi sángtác bằng thơ chữ Hán Thơ Nôm của Nguyễn Trãi có những bài rất đúngquy cách niêm luật thơ Đờng và hay, nh bài 158 diễn tả tâm tình nhữngngày về hu bắt buộc ở Côn Sơn; cũng có câu luật Đờng rất đẹp, đã đi vào trínhớ ngời đọc:
Nớc biếc non xanh thuyền gối bãI,
Đêm thanh nguyệt bạc khách lên lầu
(Bài 153)
Nguyễn Trãi đã vận dụng thi pháp đời Đờng một cách thành thạo.Thi sĩ đã thử thách ngòi bút của mình theo hai hớng tiếng Hán và tiếng Việt
và đã đạt đợc những thành công vẻ vang
Trong Quốc âm thi tập có 71 bài viết theo thể Luật Đờng, (48 bài
thất ngôn bát cú, 23 bài tứ tuyệt) Quy cách của các bài thơ Nôm này không
có gì khác quy cách của hầu hết những bài thơ chữ Hán trong ức Trai thi
tập nghĩa là đều theo Đờng luật niêm, luật, vần rất nghiêm chỉnh, câu chữ
đối nhau rất cần xứng Thể thất ngôn trong các bài thất ngôn bát cú ở thơchữ Hán:
Trang 31Thể thất ngôn tứ tuyệt, thơ Nôm Nguyễn Trãi cũng có những bài màkết cấu niêm luật hoàn chỉnh, vững chắc:
Tiếc thiếu niên qua lật hẹn lành
Hoa hoa nguyệt nguyệt huống vô sinh
Biên xanh nỡ phụ cỡi đầu bạc,
Đầu bạc xa nay có thủa xanh.
học Trung Quốc ở ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập
II Sự khác biệt trong việc sử dụng chất liệu văn hoá, văn học
Trung Quốc ở hai tập thơ ức Trai thi tập và Quốc âm thi tập
1 Thể thơ
Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi về hình thức không phức tạp, phần lớn
là bài thất ngôn bát cú, nh các bài: Ký hữu (Gửi bạn), Mạn hứng, Oán thán
(Than nỗi oan) Trong các bài này phần nhiều các đề mục là một bài
Nh-ng cũNh-ng có một số đề mục có từ hai đến năm bài Ngoài ra còn có một số ít
là ngũ ngôn bát cú, nh các bài Du Sơn tự (Chơi chùa núi), Dục Thuý Sơn (Núi Dục Thuý), Tặng hữu nhân (Tặng ngời bạn) và thất ngôn tứ tuyệt nh các bài: Mộng sơn trung (Chiêm bao trong núi) Vãn Lập (Buổi chiều đứng)
Đề Đông Sơn tự (Đề chùa Đông Sơn “Thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi đều
theo đờng Luật, niêm luật, vần đối nghiêm chỉnh, câu, chữ đối nhau rất cânxứng” [38;357], chẳng hạn những câu sau:
Về thơ ngũ ngôn:
Nhật mộ viên thanh cấp, Sơn không trúc ảnh trờng.
(Du Sơn tự)
Về thể thất ngôn trong các bài thất ngôn bát cú nh:
Hộ ngoại điểu đề tri khách chí, Đinh biên mộc lạc thức thu thâm.
(Tức hứng)
(Ngoài cửa chim kêu hay khách đến, Bên nhà cây rụng biết thu sầu.)
Trang 32Trong ức Trai thi tập Nguyễn Trãi giữ khuôn khổ thơ luật Đờng,
niêm luật nghiêm minh, đối ngẫu cân xứng Từ đầu chí cuối chỉ có hai bài
làm theo thể khác, bài Đề Hoàng ngự sử mai tuyết hiên thể trờng thiên cổ thể, và bài Côn Sơn ca thể trờng đoản cú Nh vậy là vì khi phải dùng những
thể thơ có dung lợng lớn Còn những bài còn lại là loại thơ suy t xuất phát
từ nhjững bài thơ hùng hồn, bi tráng hoặc phóng túng, khoáng đạt Nội tâmcủa Nguyễn Trãi ít khi thảnh thơi, thoải mái mà luôn u uất, đau buồn,không có những nỗi vui mừng cuống quýt, hoặc không có những ảo tởngviển vông để cho trí tởng tợng bay bổng ngoài trời mà dùng âm điệu du d-
ơng, uyển chuyển, nhẹ nhàng của khúc hát Phần lớn những bài trong ức
Trai thi tập là ngũ ngôn, thất ngôn tứ tuyệt hoặc bát cú Thế nhng đọc lên
không có cảm giác bằng phẳng, đều đều, dễ chán, bài nào cũng vì cảm xúc
mà viết ra, không bài nào viết chơi, hoặc là gặp cảnh sinh tình, hoặc có cảm
hứng mà thành lời, ông hay đặt tên bài là Mạn Hứng, Mạn thành, Tức sự,
Tức hứng, Khách cảm, Hữu cảm, Ngẫu thành, những bài hoạ vẫn ngời nọ
ngời kia cũng nói lên nỗi lòng mình, chứ không phải thơ làm lúc trà d tửuhậu
Nếu nh trong ức Trai thi tập thể loại thơ thờng tuân thủ theo thơ ờng luật nh bát cú, tứ tuyệt, thất ngôn, ngũ ngôn thì thể loại trong Quốc âm
Đ-thi tập của Nguyễn Trãi có thể thấy thơ Nôm Hàn luật (bát cú hoặc tứ tuyệt)
đã khá thành thục Nhng có điều đáng chú ý là trong số 254 bài thì chỉ có
48 bài thất ngôn bát cú và 23 bài thất ngôn tứ tuyệt, tổng cộng là 71 bài thơluật Số bài thơ luật chỉ là 71/254 tức là cha đợc 2/7 tổng số các bài trong
tập thơ ấy 183 bài thơ còn lại của Quốc âm thi tập là những bài ít nhiều có
thể cách tự do Nói đúng hơn là những bài thơ tám câu hoặc bốn câu mà cấutrúc đối xứng thì ít nhiều giống thơ luật, nhng số âm trong câu lại có thể sáuhoặc bảy (lục ngôn xen kẽ thất ngôn)
Cho đến nay chúng ta cha đủ tài liệu để trở về nguồn gốc của thể thơ
6 lời này Trớc Quốc âm thi tập cha có tập thơ nào ghi lại đợc thể thơ 6 lời
xen 7 lời Theo sử sách, đến thời Trần, Hàn Thuyên có làm văn tế Nôm đuổicá sấu, nhng bài văn của ông cũng không giữ lại đợc
Do lấy tiếng Hán, chữ Hán làm phơng tiện chính thức giao lu văn hoátrong và ngoài nớc nên các thể thơ Đờng, nhạc phủ, phú lục, văn sách đãsớm du nhập vào nớc ta, khi có tiếng Nôm các nhà thơ Việt Nam ứng dụngngay Điều đó cũng dễ hiểu và dễ tìm nguồn gốc Nhng với thể 6 lời thìtrong Kinh Thi, Sở từ và các thể thơ khác cũng không tìm thấy ở Kinh Thi
Trang 33đó đây chỉ thấy mấy câu thơ 6 lời xen vào không đáng kể với khối lợng batrăm bài Những câu 6 trong các bài xen với các câu 3, 4, 7, 9 lời chứ không
phải cách xen 6 lời và 7 lời trong Quốc âm thi tập Thể thơ 6 lời 7 lời có thể
là do các nhà nho ta tự sáng tạo ra Trong Việt Nam văn học sử yếu, ông
D-ơng Quảng Hàm gọi thể này là loại lục ngôn, ông định nghĩa: “Thơ lụcngôn là thể thơ có các câu lục ngôn xen các câu thất ngôn”
Xen kẽ câu sáu và câu 7 nh vậy thờng tạo đợc cảm giác đột ngột và
(Bảo kính cảnh giới - bài 17)
Có trờng hợp thì không phải chỉ câu sáu mà lại có cả câu năm xenvới câu bảy:
Hễ kẻ làm quan đã có duyên, Tới lui mặc phận tự nhiên.
Thân xa hởng hoả chăng còn ớc, Chí cũ công danh đã phỉ nguyền.
Trang 34Trẻ hoà sang ấy phúc, Giữ đợc trọng là tiên.
Cho về cho ở đền ơn chúa,
Lọ phải chon chăn đến cửa quyền.
(Thuật hứng - bài 8)
Ta gặp trong Quốc âm thi tập những câu 7 tiếng có lối ngắt nhịp 3/4
khác lối ngắt nhịp của thể thơ Đờng (4/3) Loại thơ này thờng sóng hàngtrong cùng một bài thơ:
Vừa sáu mơi d tám chín thu,
Lng gầy da sỉ tớng lù khù.
(Bài 15)
Đất thiên tử dỡng tôi thiên tử,
Đời thái binh ca khúc thái bình.
(Bài 81)
Đứng về mặt ý nghĩa, một câu thơ thờng có khả năng phân tích bằngnhững lối ngắt nhịp khác nhau Nhng cũng có trờng hợp chỉ có một lối:
Vừa sáu mơi d tám chín thu.
Câu thơ có giọng đùa Đã vừa lại có d: mình mới 51, 52 tuổi nhng đã
có dáng dấp ông lão 60
Câu thơ không thể ngắt:
Vừa sáu mơi d / tám chín thu
Ai cũng biết Nguyễn Trãi mất khi 63 tuổi
Hoặc:
Trúc Tờng Hủ nên thêm tiết cứng, Mai Lâm Bô đâm đợc câu thần.
Hai câu thơ chỉ có một lối ngắt nhịp 3/4 Do ngắt nhịp khác nên cáctiếng thanh bằng, thanh trắc cũng không theo trật tự của thể luật Đờng
Trang 35Điều này dẫn đến hệ quả là thất niêm theo thể luật Đờng vốn đợc tuân thủtrong thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi Ta xem câu tiếp theo trong bài 81
Mai Lâm Bô đâm đợc câu thần,
Trợng Phu non vắng là tri kỷ.
Trong thơ Nôm Nguyễn Trãi hiện tợng viết khác quy cách niêm luậtthơ Đờng dễ thấy và cũng rất phổ biến Dùng câu 6 xen với câu 7 tiếngtrong bài thơ bát cú cũng nh tứ tuyệt Nhiều khi bài chỉ dùng một hai câusáu tiếng nhng cũng có một số ít bài dùng tới 7 câu 6 tiếng Câu 6 tiếng cókhi ở dòng đầu, có khi lại đợc bố trí ở giữa hay cuối bài Đây hẳn không
phải là điều vô tình vì có tới non 3/4 số bài trong Quốc âm thi tập tác giả
dùng lối pha câu lục ngôn với câu thất ngôn này Đặng Thai Mai nhận xét:
“Đây là một điểm đáng chú ý trong kỹ thuật viết thơ của Nguyễn Trãi rõràng có một sự cố gắng để xây dựng một lối thơ Việt Nam, trong đó có 6tiếng dùng xen với những câu 7 tiếng, khắc hẳn với quy cách niêm luật thơ
Đờng” [31;59]
Trong bố cục bài thơ thể 6 - 7 của Nguyễn Trãi, vị trí câu 6 tiếngkhông cố định, dùng nó vào dòng thứ mấy, dờng nh tùy thuộc vào nội dung
ý tứ, cảm xúc của từng bài thơ Chẳng hạn về đề tài Tùng tác giả viết ba bài
tứ tuyệt liên hoàn, mỗi bài có một câu 6 tiếng Bài 1 đợc dùng ở dòng 2, bài
2 ở dòng 3, bài 3 ở dòng 4 Sự phân lợng câu 6 tiếng trong các dòng nh sau:
Trong 159 bài bát cú có 391 câu 6 tiếng : dòng 1: 50 câu, dòng 2: 43câu, dòng 3: 56 câu, dòng 4: 56 câu, dòng 5: 54 câu, dòng 6: 54 câu, dòng7: 37 câu, dòng 8: 41 câu
Trong 25 bài tứ tuyệt có 35 câu 6 tiếng: dòng 1: 8 câu, dòng 2: 9 câu;dòng 3: 8 câu; dòng 4: 10 câu
Đúng là “Câu thơ lục ngôn đã đợc sử dụng ở những vị trí khác hẳnnhau’’ (Đặng Thai Mai)
Đại bộ phận các bài thơ nôm trong Quốc âm thi tập từ đầu đến cuối
chỉ dùng vần bằng, trừ bài 126 và bài 200, bảy câu đầu không nhập vần, vẫn
đợc hiệp ở chữ cuối câu 1 và chữ cuối các câu chẵn Nếu thế xét về vị trí
hiệp vần, thơ trong Quốc âm thi tập không có gì khác với thơ chữ Hán làm
theo luật Đờng của tác giả Nhng về luật dùng chữ để hiệp vần giữa thơNôm với thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi lại khác nhau rất căn bản Luậtdùng chữ hiệp vần trong thơ chữ Hán làm theo luật Đờng đều có căn cứ từQuảng vận, bộ vận th đợc biên soạn ở đầu đời Tống Luật dùng chữ hiệp