So sỏnh đặc điểm cõu văn trong truyện ngắn của Hồ Anh Thỏi và truyện ngắn của Nguyễn Việt Hà xét về cấu tạo 2.1.. Với cỏch tổ chức cõu văn phong phỳ và đa dạng, tỏc giả đó tạo dựnghỡnh ả
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
Lê thị lan hơng
So sánh đặc điểm câu văn trong truyện
ngắn hồ anh thái và truyện ngắn
nguyễn việt hà
CHUYÊN NGàNH: NGÔN NGữ HọC
Mã số: 60.22.01 LUậN VĂN THạC Sĩ NGữ VĂN
Ngời hớng dẫn khoa học:
gs ts đỗ thị kim liên
Vinh - 2011
Trang 2
Mục lục
Trang
Mở đầu 3
1 Lý do chọn đề tài 3
2 Mục đích, đối tợng, nhiệm vụ nghiên cứu 4
3 Lịch sử vấn đề 5
4 Phơng pháp nghiên cứu 9
5 Đóng góp của đề tài 9
6 Bố cục luận văn 9
Chương 1 Giới thuyết xung quanh đề tài 1.1 Ngụn ngữ truyện ngắn và truyện ngắn của Hồ Anh Thỏi, truyện ngắn của Nguyễn Việt Hà 11
1.2 Hồ Anh Thỏi – Nguyễn Việt Hà tỏc giả - tỏc phẩm 16
1.3 Xung quanh vấn đề định nghĩa câu 20
1.4 Quan niệm về cõu đơn – cõu ghộp hiện nay 24
1.5 Tiểu kết chương 1 25
Chương 2 So sỏnh đặc điểm cõu văn trong truyện ngắn của Hồ Anh Thỏi và truyện ngắn của Nguyễn Việt Hà xét về cấu tạo 2.1 Thống kờ định lợng 27
2.2 Đặc điểm cõu văn trong truyện ngắn của Hồ Anh Thỏi xột về mặt cấu tạo 29
2.3 Đặc điểm cõu văn trong truyện ngắn của Nguyễn Việt Hà xột về mặt cấu tạo 52
2.4 So sánh những điểm tơng đồng và khỏc biệt về cấu tạo cõu văn trong truyện ngắn của Hồ Anh Thỏi và Nguyễn Việt Hà 70
2.5 Tiểu kết chương 2 75
Chương 3 So sỏnh đặc điểm cõu văn trong truyện ngắn của Hồ Anh Thỏi
và truyện ngắn của Nguyễn Việt Hà xột theo mục đớch phỏt ngụn
Trang 3
3.1 Thống kê định lợng 773.2 Đặc điểm cõu văn trong truyện ngắn của Hồ Anh Thỏi xột theo mục đớch phỏt ngụn 80 3.3 Đặc điểm cõu văn trong truyện ngắn của Nguyễn Việt Hà xột theo mục
đớch phỏt ngụn 1013.4 So sánh những điểm tơng đồng và khỏc biệt về mục đớch phỏt ngụn trongtruyện ngắn của Hồ Anh Thỏi và truyện ngắn của Nguyễn Việt
Hà .117
3.5 Tiểu kết chương 3 122
Kết luận 124 Tài liệu tham khảo 128
MỞ Đầu
Trang 4
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Hồ Anh Thỏi và Nguyễn Việt Hà là hai cõy bỳt xuất hiện sớm, đểlại dấu ấn sõu đậm trong văn xuụi đương đại Việt Nam Tuy mỗi người cúphạm vi đề tài khỏc nhau, thể loại và số lượng tỏc phẩm khỏc nhau song họ đóđem đến cho văn học một luồng sinh khớ mới với những tỏc phẩm được viếtbằng văn phong mới, cảm hứng mới và cả những nội dung mới
Tỡm hiểu truyện ngắn của Hồ Anh Thỏi, ta cú thể bắt gặp ở ụng một lốiviết riêng, hay núi chớnh xỏc hơn ụng đã tạo một dũng riờng giữa nguồn vănxuụi đương đại Hồ Anh Thỏi đó đi sõu vào khai thỏc diễn biến tõm lý nhõnvật, ngụn ngữ độc thoại xen lẫn ngụn ngữ đối thoại, lời tỏc giả lẫn vào lờinhõn vật Với cỏch tổ chức cõu văn phong phỳ và đa dạng, tỏc giả đó tạo dựnghỡnh ảnh của những cảnh người, kiếp người trong từng thời điểm khỏc nhau.Bởi thế, chúng tôi tìm hiểu đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thái
để khẳng định đóng góp của ông trong quá trình phát triển, đổi mới của vănhọc nớc nhà, cũng nh sự đóng góp trên phơng diện ngôn ngữ
Tỏc giả Nguyễn Việt Hà bước vào văn học với một loạt truyện ngắn đãgây đợc tiếng vang trong dòng văn học đơng đại Việt Nam Qua lối viết văn linhhoạt, giàu tính hài hớc tác giả đã biểu hiện rõ những mặt trái chiều đang diễn ratrong xã hội Với cách tổ chức, sắp xếp những câu văn rất riêng, mô hình câu củaNguyễn Việt Hà đã biểu hiện sự xâm nhập mạnh mẽ giữa các lĩnh vực của đờisống xã hội Tìm hiểu về đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Việt Hà đểgóp phần khẳng định tác giả đã mang đến cho nền văn học hậu hiện đại mộttiếng núi riờng, một phong cỏch viết văn độc đỏo, hấp dẫn
1.2 Tìm hiểu đặc điểm cõu văn trong truyện ngắn của Hồ Anh Thỏi và Nguyễn Việt Hà là một công việc cần thiết chứa đựng những cỏi mới mẻ, độc đỏo, khác biệt ở hai nhà văn trẻ đầy tài năng này Với lý do trờn, chỳng tụi
chọn đề tài “So sỏnh đặc điểm cõu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thỏi và
Trang 5
truyÖn ng¾n Nguyễn Việt Hà” với hy vọng góp thêm một cái nhìn khái quát
và toàn diện hơn về phong cách ngôn ngữ của hai tác giả
2 Mục đích, đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Thông qua kết quả khảo sát – miêu tả theo hướng so sánh câu văn trongtruyện ngắn Hồ Anh Thái và Nguyễn Việt Hà về cấu tạo và mục đích phátngôn, luận văn nhằm góp phần nêu ra những điểm tương đồng và khác biệt vềcâu văn trong ngôn ngữ truyện ngắn của hai nhà văn trẻ này, đồng thời khẳngđịnh đóng góp của họ đối với sự phát triển ngôn ngữ truyện ngắn Việt Namđương đại
2.2 Đối tượng nghiên cứu.
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi lựa chọn đối tượng khảo sátnghiên cứu như sau:
a 10 truyện ngắn tiêu biểu của Hồ Anh Thái được in trong tập Nói
bằng lời của mình do nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản năm 2007 (§ể tiện
theo dõi chúng tôi đánh số La Mã theo quy íc)
I(1) – Hå Anh Th¸i
I(2)- NguyÔn ViÖt Hµ
I(1) Những cuộc kiếm tìm
II(1) Nói bằng lời của mình
III(1) Những cuộc săn đuổi
IV(1) Sao anh không đến
V(1) Mảnh vỡ của đàn ông
VI(1) Cuộc đổi chác
VII(1) Đến muộn
VIII(1) Kiếp người đi qua
IX(1) Thi nhân
Trang 6
X(1) Tiếng thở dài qua rừng Kim Tước
b 10 truyện ngắn tiờu biểu của Nguyễn Việt Hà trong tập truyện
Của rơi – Nhà xuất bản Phụ nữ, Hà Nội, 2004 (trong khuôn khổ luận văn này,
các tác phẩm đợc chúng tôi đánh số trang theo tài liệu su tầm) Bao gồm:
I(2) Người thi hộ
II(2) Mối tỡnh đầu
III(2) Mựa xuõn nấc thầm
IV(2) Mưa vào ngày cưới
V(2) Mói khụng tới nỳi
VI(2) Của rơi
VII(2) Những trang bỏo ma quỏi
VIII(2) Biển lạ
IX(2) Mắt của mưa
X(2) Thật bồ đoàn
2.3 Nhiệm vụ nghiờn cứu
Để thực hiện đề tài này, chỳng tụi đặt ra những nhiệm vụ sau:
a Thống kờ, phân loại cõu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thỏi và
Nguyễn Việt Hà từ đó đi sâu phân tích chúng về cấu tạo
b Phõn tớch, so sỏnh cõu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thỏi và truyện
ngắn Nguyễn Việt Hà về mục đớch phỏt ngụn
c Rỳt ra những điểm tương đồng và khỏc biệt giữa cõu văn truyện ngắn
của hai tỏc giả về cấu tạo và mục đớch phỏt ngụn
Trang 7đương đại Việt Nam Với những chiêm nghiệm chắt lắng của một cuộc đờisau 30 năm cầm bút, những tác phẩm của ông thực sự đã thu hút được sự chú
ý của nhiều thế hệ bạn đọc Bởi thế những bài viết, những công trình nghiêncứu xoay quanh sáng tác của ông là đa diện
Trong bài viết Giễu nhại những thị dân, tác giả Nguyễn Vĩnh Nguyên khi bình luận về tập truyện ngắn Bèn lèi vào nhà cười của Hồ Anh
Thái nhận xét: “ Những dòng thác ngôn từ tuôn lên giấy ồ ạt không bị giớihạn bởi những quy chuẩn mực thước ( ), nét độc đáo đặc sắc đậm chất HồAnh Thái trong việc lạ hoá cách diễn đạt trên 3 phương diện: Lối nói liệt kê,
bổ sung, tăng cấp, lèi nói nhấn mạnh và lèi nói bình dân thông tục ( ) HồAnh Thái đang đùa nghịch với ngôn ngữ Trong bàn tay anh ngôn từ trở nên
ngồn ngộn sức sống, linh hoạt và phong phú (Xem Giễu nhại những thị dân,
31, tr.221- 223)
Khi bàn về phong cách đa dạng của Hồ Anh Thái, tác giả Võ AnhMinh đã nhận xét: “Qua giọng điệu trần thuật của Hồ Anh Thái, không chỉthấy thực tế đời sống được phơi bày, mà còn thấy thái độ của anh trước đó,giọng điệu hiện thực lạnh lùng là sự nghiêm khắc trước cái xấu, cái ác; giọngđiệu hài hước là sự cười cît để thức tỉnh nhiều thói xấu đáng chê cười; giọngđiệu tâm tình, cảm thương là tấm lòng đồng cảm sẻ chia trước những thânphận, trước những nỗi đau và sau tất cả là những chắt lắng Hồ Anh Thái rút ra
từ đời sống qua giọng điệu triết lí đầy ưu tư với hạt nhân cơ bản của nó là
những vấn đề về con người” (Vâ Anh Minh, Dòng chảy Hồ Anh Thái, 32,
tr.272-273)
Trong bài viết Hồ Anh Thái, người mê chơi cấu trúc, PGS NguyễnĐăng Điệp cho rằng “trong văn học, giọng điệu không tự nhiên mà có Nóphải là một hiện tượng nghệ thuật được tổ chức công phu chặt chẽ Bản thângiọng điệu là một tổ hợp trong một tổ hợp hoàn chỉnh lớn hơn là tác phẩm
Trang 8
Việc tạo nờn giọng điệu trong tỏc phẩm vỡ thế cũng phải tuõn theo cỏch tổchức cấu trỳc nghệ thuật của nhà văn Sự thay đổi giọng điệu trong tỏc phẩmcủa Hồ Anh Thỏi cho thấy anh là người khụng muốn lặp lại mỡnh ” (30,tr.345).
Ngoài ra, chúng ta còn kể đến một số luận văn thạc sỹ, khoỏ luận tốtnghiệp của cỏc học viờn cao học cũng như sinh viờn đi vào nghiờn cứu truyệnngắn Hồ Anh Thỏi dưới gúc độ ngụn ngữ như: Nguyễn Thị Diệp Anh (2009),
Đặc điểm ngữ nghĩa lời chuyển thuật trong truyện ngắn Hồ Anh Thỏi; Hoàng Thị Thỳy Hằng (2007), Những cỏch tõn trong văn xuụi Hồ Anh Thỏi
Những đề tài trên đó xem xột truyện ngắn Hồ Anh Thỏi trờn bỡnh diệnngụn ngữ học, tuy nhiờn vẫn chưa bao quỏt hết được cỏc đặc điểm ngụn ngữtrong truyện ngắn Hồ Anh Thỏi Vì vậy, chỳng tụi mong muốn gúp một cỏinhỡn toàn diện hơn về ngụn ngữ truyện ngắn Hồ Anh Thỏi trờn bỡnh diện cõuvăn xột cả về cấu tạo và mục đớch núi, đặt trong sự đối sỏnh với cõu văn trongtruyện ngắn của Nguyễn Việt Hà
3.2 Lịch sử nghiờn cứu về truyện ngắn và cõu văn trong truyện
ngắn của tỏc giả Nguyễn Việt Hà
Nguyễn Việt Hà là cõy bỳt xuất sắc thuộc thế hệ những người khụng trảiqua chiến tranh Trờn con đường sỏng tỏc văn chương của mỡnh, ụng luụn tỡmkiếm một lối viết mới để tạo cho mỡnh một diện mạo mới giữa lũng cụng chỳng Bàn về phong cỏch của Nguyễn Việt Hà, nhà phờ bỡnh Nguyễn ChớHoan cho rằng: “Đú là một phong cỏch rừ ràng biểu hiện nổi bật trong hai đặcthự về hỡnh thức văn chương: Thứ nhất, đú là sự độc đỏo của từng cõu văn,mỗi cõu văn ở đõy đều hiển nhiờn mang một “bộ gen”của cỏi đặc thự phongcỏch này, nghĩa là mỗi cõu ở đõy đều mang cỏi õm hưởng của giọng núi củamột con người cụ thể, cỏc cõu ở đõy thực sự là cỏc phần tử hỡnh thành mộtthiờn truyện; đặc tớnh của cỏc cõu này như một nguyờn tắc cấu trỳc dẫn đến
Trang 9
đặc thù thứ hai là thuật kể chuyện cña tác giả đồng thời cũng là cấu trúc củacâu chuyện Toàn bộ những đặc tính cấu trúc trên đây là xuất phát từ / dựavào các câu văn, từng câu văn giống như thể con mắt của con chuồn chuồntạo nên bởi những con mắt nhỏ hơn sắp xếp bên trong một trật tự chặt chẽ Trong mô hình câu của Nguyễn Việt Hà biểu hiện một đặc tính khác của thờihiện đại: sự xâm nhập lẫn nhau ngày càng mạnh mẽ hơn giữa các lĩnh vực đờisống xã hội (Người Hà Nội, số 52, ngày 24/12/2004 http:// evan.vneps.net/New/phe- b 4/12/3B9A446 ).
Văn chương của Nguyễn Việt Hà đã thực sự đổi mới không chỉ ở nộidung mà ngay trong cách biểu hiện Một nhà xuất bản nhận xét: “Văn chươngcủa Nguyễn Việt Hà hấp dẫn giới trẻ Có lẽ, về mặt hình thức - cái vỏ ngôn từ
ấy mang lại ấn tượng cởi mở và hội nhập hiện đại Mặt khác nội dung của nóvới những tấn kịch “tự lột mặt nạ” chứa đựng một mối mâu thuẫn cũng hiệnđại nốt Mối mâu thuẫn giữa hình thức với nội dung ( ) Tất cả, đó là một vẻđẹp phong phú và nhất quán mà hiếm hoi văn chương đã tạo dựng được trongbối cảnh mà các chuyên gia mệnh danh là cuộc khủng hoảng của chủ nghĩahiện đại” (Người Hà Nội, số 52, ngày 24/12/2004 http:// evan.vneps.net/New/phe- b 4/12/3B9A446 )
Tác giả Mai Văn Phấn nhận xét: “Đọc Nguyễn Việt Hà ngỡ ông ởcạnh mình, nghe mình từng hơi thở, đọc được ý nghĩ, bóc mẽ đến tận cùng cáikhốn nạn của thằng người đang bập bềnh trong dòng đời ô tạp, trơ lì đến mứckhông thể trơ lì hơn Tôi từng mất ngủ bởi những chi tiết tưởng chừng như vôtình thoảng qua trong trang viết của ông T«i thấy được an ủi, bị lục vấn, bịhắt nước vào mặt Tôi phải ngồi dậy, cởi bỏ mặt nạ, soi gương, thèm cườivang, muốn thét lớn Dù Nguyễn Việt Hà có quan niệm truyện ngắn là bảnnháp của tiểu thuyết nhưng những trang viết của ông là quan niệm thẩm mĩ
Trang 10
riờng biệt, những trải nghiệm đời sống chỉ ụng mới cú, khụng cố tỡnh răn dạy,khụng ỏp đặt ” ( Nguồn: Mai Van Phan com)
Nhỡn chung, bài viết tìm hiểu truyện ngắn Nguyễn Việt Hà chỉ mớidừng lại ở những nhận định mang tớnh khỏi quỏt, hoặc đi sõu vào phõn tớchnhõn vật mà chưa cú một cụng trỡnh nào đi sõu vào nghiờn cứu đặc điểm cõuvăn của ông
4 Phương phỏp nghiờn cứu
Để thực hiện cỏc nhiệm vụ của đề tài, chỳng tụi sử dụng cỏc phươngphỏp sau đõy:
4.1 Phương phỏp thống kờ – phõn loại: Chúng tôi đã thống kê đợc
1827 câu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thái và 1826 câu văn trong truyệnngắn Nguyễn Việt Hà được dựng làm ngữ liệu miêu tả
4.2 Phương phỏp phõn tớch – miờu tả: Chúng tôi còn sử dụng phơngpháp phân tích, miêu tả câu trong tiểu nhóm về cấu trúc và ý nghĩa
4.3 Phương phỏp so sỏnh: Chúng tôi còn sử dụng phơng pháp so sánhnhằm phát hiện ra những điểm tơng đồng và khác biệt trong cách sử dụng cõuvăn của hai tỏc giả
5 Đóng góp của đề tài
Đề tài So sánh đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thái“So sánh đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thái
và truyện ngắn Nguyễn Việt Hà” là đề tài đầu tiờn tỡm hiểu tương đối đầy
đủ đặc điểm cõu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thỏi và Nguyễn Việt Hà Qua
so sánh, đề tài chỉ ra sự tương đồng và khỏc biệt giữa cõu văn trong truyệnngắn của hai tỏc giả về hỡnh thức cấu tạo và mục đớch phỏt ngụn
Trang 11Chương II: So sỏnh đặc điểm cõu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thỏi
và truyện ngắn Nguyễn Việt Hà về mặt cấu tạo
Chương III: So sỏnh đặc điểm cõu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thỏi
và Nguyễn Việt Hà xột về mục đớch phỏt ngụn
Trang 12
Ch¬ng 1
NHỮNG GIỚI THUYẾT XUNG QUANH ĐỀ TÀI
1.1 Ngôn ngữ truyện ngắn
1.1.1 Khái niệm truyện ngắn
Bàn về truyện ngắn có nhiều hướng ý kiến khác nhau
Trong Từ điÓn văn học truyện ng¾n được định nghĩa: Hình thức tự sự
loại nhỏ, truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn, tập trung
mô tả một mảng của cuộc sống, một biến cố hay vài biến cố xảy ra trong mộtgiai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó củavấn đề xã hội Cốt truyện thường diễn ra trong một khoảng thời gian hạn chế.Kết cấu của truyện ngắn cũng không chia thành nhiều tuyến phức tạp.Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liÒn một mạch, đọc một hơi không nghỉnên đặc điểm của truyện ngắn là có tính ngắn gọn để thể hiện nổi bật tưtưởng chủ đề, khắc họa nét tính cách nhân vật, viết truyện phải có trình độđiêu luyện, biết mạnh dạn tỉa tót và dồn nén Do đó trong khuôn khổ ngắngọn, những truyện ngắn thành công có thể đựợc biểu hiện những vấn đề xãhội có tầm khái quát rộng lớn [26, tr 10]
Trong Từ điển thuật ngữ văn học, truyện ngắn được coi là “Tác
phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung thể loại truyện ngắn bao trùm hÇu hÕt cácphương diện của đời sèng, viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơikhông nghỉ” [11, tr 134]
Trong Lí luận văn học, TrÇn §×nh Sö cho r»ng: Truyện ng¾n là hình
thức ngắn của tự sự, khuôn khổ ngắn nhiều khi làm cho truyện ngắn có vẻgần gũi với các hình thức truyện kể dân gian như truyện cổ, truyện cười,hoặc gÇn với những bài kí ng¾n Nhưng thực ra không phải, nó gÇn với tiểuthuyÕt hơn cả bởi là hình thức tự sự tái hiện cuộc sèng đương thời Nội dung
Trang 13
thể loại truyện ngắn có thể khác nhau: Đời tư, thế sự hay sử thi nhưng cáiđộc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn có thể kể về cả cuộc đời hay một đoạnđời, một sự kiện hay một chốc lát trong cuộc sống nhân vật, nhưng cái chínhcủa truyện ngắn không phải ở hệ thống sự kiện mà ở cái nhìn tự sự với cuộcđời [21, tr 397].
NÕu truyện vừa là thể loại văn xuôi tự sự có dung lượng cỡ trungbình, có vị trí đắc lực trong việc tái hiện các tấm gương anh hùng, các sựkiện có ý nghĩa lớn của đời sống thì truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ.Nội dung thể loại truyện ngắn có thể rất khác nhau: đời tư, thế sự hay sử thinhưng cái độc đáo của nó là dung lượng ngắn
Truyện ngắn nói chung không phải vì truyện của nó ngắn, mà vì cáchnắm bắt cuộc sống của thể loại Tác giả truyện ngắn thường hướng tới khắchọa một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hayđời sống tâm hồn con người Chính vì vậy trong truyện ngắn thường rất ítnhân vật, ít sự kiện phức tạp
Nếu nhân vật chính của tiểu thuyết thường là một thế giới thì nhânvật truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới Truyện ngắn thường khôngnhằm tới việc khắc họa những tính cách điển hình có cá tính và nhiều mặttrong tương quan với hoàn cảnh Nhân vật truyện ng¾n thường là hiện thâncho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại củacon người Do đó truyện ngắn lại có thể mở rộng diện nắm bắt các kiểu loạinhân vật đa dạng của cuộc sống, những kiểu loại mà trong tiểu thuyết thườnghiện ra thấp thoáng trong các nhân vật phụ
Là thể loại tự sự, truyện ngắn cũng như truyện vừa, truyện dài hiện đạiđều ít nhiều mang tính đặc tính tư duy tiểu thuyết Tuy nhiên khác với truyệnvừa, truyện dài, vốn là những thể loại mà quy mô cho phép chiếm lĩnh đờisống trong sự toàn vẹn đầy đủ của nó, truyện ngắn thường khắc họa một hiện
Trang 14
tượng, một đặc tính trong quan hệ con người, hay đời sống tâm hồn conngười.
Cốt truyện của truyện ngắn có thể là nổi bật hấp dẫn nhưng chứcnăng nói chung của nó là nhận ra một điều gì Cái chính của truyện ngắn làgây ấn tượng sâu đậm về cuộc đời và tình người Kết cấu của truyện ngắnkhông chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng trênnguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng Bút pháp trần thuật của truyện ngắnthường chấm phá Yếu tố quan trọng nhất của truyện ngắn là các chi tiết côđúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý tạo cho tác phẩmnhiều chiều sâu chưa nói hết Truyện ngắn rất gần gũi với đời thường, xúctích, dễ đọc, có tác dụng ảnh hưởng kịp thời trong đời sống
Tuy nhiên với truyện ngắn, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm
để phân biệt truyện ngắn với tác phẩm tự sự khác Truyện ngắn thời trung đạicũng rất ngắn gọn nhưng không phải là truyện ngắn như cổ tích, truyệncười Truyện ngắn hiện đại khác hẳn Đó là kiểu tư duy khá mới, vì vậy nóichung truyện ngắn đích thực xuất hiện muộn trong lịch sử văn học
Từ ý kiến của những nhà nghiên cứu, chúng ta có thể tóm lược nhữngđặc điểm chính về truyện ngắn như sau:
- Truyện ngắn là hình thức tự sự cỡ nhỏ, có thể từ vài trang đến vàichục trang
- Truyện ngắn không nhằm phác họa một số tính cách điển hình, trọnvẹn mà tập trung vào một biến cố, một sự kiện, một mảng đời nào đó và tất
cả được tập trung trong một khoảng không gian nhất định
- Nhân vật truyện ngắn rất đa dạng về nghề nghiệp, hoàn cảnh giađình và thường hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hộihoặc trạng thái tồn tại của con người
- Cốt truyện của truyện ngắn có chức năng chính là gây ấn tượng sâu
Trang 15
đậm về tình đời, tình người.
- Bút pháp trần thuật thường là chấm phá Yếu tố quan trọng nhất củatruyện ngắn là chi tiết có dung lượng lớn và hành văn mang ẩn ý tạo cho tácphẩm chiều sâu chưa nói hết Với những đặc điểm này thể loại truyện ngắn
đã có một vị trí quan trọng trong lòng công chúng Truyện ngắn trở nên gầngũi quen thuộc với nhiều thế hệ bạn đọc và có tác động không nhỏ đến đờisống con người
1.1.2 §Æc ®iÓm ngôn ngữ truyện ngắn
Nhà văn Nga, M.Gorki phát biểu: “Muốn học viết phải bắt đầu từtruyện ngắn, bởi viết truyện ngắn nó luyện cho tác giả phải biết tiết kiệm từngữ, biết cách viết cô đọng”
Ngôn ngữ truyện ngắn là ngôn ngữ nội tại tức là ngôn ngữ miêu tả vàđối thoại Ngôn ngữ truyện ngắn chứa đựng nhiều giọng điệu, nhiều phongcách khác nhau xen lẫn Chúng thường không tồn tại riêng lẻ mà hòa hợp,đan cài vào nhau Mỗi từ, mỗi câu trong truyện ngắn phải tự mô tả lấy mình,phải đẹp, phải linh hoạt giống như một sinh thể phải sống, phải cựa quậy để
mà tồn tại Đó là kiểu ngôn ngữ tự đối thoại, tự tranh luận hay nói cách khác
là ngôn ngữ lưỡng lự nước đôi khiến cho truyện ngắn hiện đại là truyệnngắn của những khả năng
Nhà văn Ma Văn Kháng nói: “Câu chữ tiêu dùng cho một truyệnngắn là cả một sự nỗ lực to lớn và như nó là yếu tố quyết định thành bạicủa một truyện ngắn Truyện ngắn hay ở văn Ai đó đã nói và tôi nhận rađúng vậy Bởi vì có những truyện ngắn, nội dung câu truyện hầu như không
có gì là quá ư đặc sắc mà sao đọc xong cứ mê li là thế Nào! Câu chữ đã húthồn ta đấy” Đặc điểm của truyện ngắn là xúc tích, dễ đọc, gần gũi với đờisống hàng ngày Có những câu truyện không có cốt truyện nhưng nó có sứcsống rất lâu trong suy nghĩ người đọc bởi chính khả năng sử dụng ngôn từ
Trang 16
của nhà văn, có những ngôn từ đã thực sù sống, cựa mình trong trang văn
ám ảnh người đọc, buộc họ phải trăn trở, day dứt, tìm tòi và khám phá
Nhà văn Nguyên Ngọc khi nói về ngôn ngữ truyện ngắn đã phát biểu:
“Truyện ngắn nào của Tsêkhôp cũng làm giàu đời sống tinh thần của ta vìchúng đánh thức dậy ở ta ý thức ham muốn, “giác ngộ” về sự việc phân vân,đắn đo hoặc nói như các nhà hiền triết Phương Đông biết tìm cái có trongcái không, cái không trong cái có”
Ta có thể thấy rằng ngôn ngữ trong truyện ngắn dù là độc thoại hayđối thoại thì khả năng mở của nó là rất lớn, với cách hành văn mang đầy ẩn
ý của nhà văn tạo cho tác phẩm có chiều sâu Như Nguyễn Đình Thi khẳngđịnh: “Chữ trong văn xuôi cần có men” Chính cái chất men càng độc đáo,sáng tạo thì dư vị tác phẩm càng hấp dẫn Bởi vậy mỗi nhà văn cần phải tạocái chất “men” cho riêng mình, để có thể tự làm mới mình trên những trangviết
Dưới cái nhìn về ngôn ngữ truyện ngắn ta có thể nhận thấy một số đặcđiểm cơ bản sau:
- Kết cấu truyện ngắn: Truyện ngắn là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ nên kếtcấu truyện ngắn không chia thành nhiều tầng tuyến, thường được xây dựngtrên nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng
- Chủ đề truyện ngắn: Nội dung thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hếtcác phương diện của đời sống
- Nhân vật trong truyện ngắn: Thường được miêu tả toàn diện từ ngoạihình, nội tâm đến ngôn ngữ
- Giọng điệu truyện ngắn: Giọng điệu truyện ngắn thường là lời văn kể
về một cái gì đó trong cuộc sống khách quan bên ngoài Nhà văn đóng vaitrò là người chứng kiến kể lại nên lời văn thường dùng hình thức văn xuôi
có vần, có nhịp
Trang 17
1.2 Hồ Anh Thái - Nguyễn Việt Hà tác giả, tác phẩm
1.2.1 Hồ Anh Thái – tác giả và tác phẩm
1.2.1.1 Vài nét về tác giả
Hồ Anh Thái sinh ngày 18101960 nguyên quán ở Quỳnh Đôi Quỳnh Lưu, Nghệ An nhưng ông sinh ra và lớn lên ở Hà Nội Ông theo bậcđại học nghành quan hệ quốc tế Sau khi tốt nghiệp, ông đã tham gia viếtbáo và làm công tác ngoại giao ở nhiều quốc gia Âu – Mĩ, đặc biệt là Ấn
-Độ Ông là một nhà ngoại giao, một nhà nghiên cứu Ên Độ, một giảngviên Hiện nay ông là tiến sỹ ngành văn hóa phương Đông, công tác tại bộngoại giao Việt Nam
Hồ Anh Thái bắt đầu viết văn lúc 18 tuổi, trong 30 năm cày ải trêncánh đồng chữ nghĩa, ông đã có hàng trăm truyện ngắn trên báo chí, đãxuất bản gần 30 tập truyện ngắn và tiểu thuyết Sách của ông được pháthành với số lượng lớn và được dịch ra trên 10 ngôn ngữ trong đó chủ yếu làtiếng Anh, Pháp, Thụy Điển Như vậy trong suốt 30 năm qua lúc nào ôngcũng viết, điều đó khẳng định tính chuyên nghiệp trong con người nhà văn
Hồ Anh Thái
Hồ Anh Thái hiện là chủ tịch Hội nhà văn Hà Nội, ủy viên ban chấphành hội nhà văn Việt Nam Ông sống một mình trong căn nhà nhỏ, sốngtrọn vẹn trên căn gác với bốn bề sách và băng đĩa Sách Tiếng Anh, sách Ấn
Độ rất nhiều Mảng đồ sộ là sách văn hóa Ên Độ trong đó lớn nhất là nhữngcuốn thơ cổ Ấn Độ Trên trang Xã luận.com đã nhận xét về con người HồAnh Thái: “Người đàn ông này không thuộc bất cứ đám đông nào Và dườngnhư anh cũng không có cả cái thú vui nhậu nhẹt của đàn ông Anh yêu vẻ côđơn đẹp đẽ của mình Anh như một hòn đá chìm trong lòng suối sâu, phảingắm rất lâu ngày nước lặng mới gặp Nhưng chỉ cần mỗi tác phẩm mới củaanh xuất hiện, ngay lập tức có những dư luận trái chiều Người khen cũng
Trang 18
nhiều người chê cũng lắm Nhưng tuyệt nhiên không có những lời nổi đóahay thanh minh Im lặng sống, im lặng viết Một mình Chỉ có những conchữ xôn xao ”
Khởi nghiệp viết văn Hồ Anh Thái nổi lên như một hiện tượng vớigiọng trẻ trung, tươi mới về đời sống thanh niên, sinh viên với những cuộcphiêu lưu, những khát khao khám phá đời sống Hồ Anh Thái đã góp phầntạo nên một động hình ngôn ngữ mới và giọng điệu văn xuôi khác hẳn so vớivăn xuôi 1945 – 1975 Thông điệp Hồ Anh Thái mang đến không lộ liễu màtoát lên từ tình thế, qua các biểu tượng thấm đầy chất ảo
Bước vào nghề viết văn với tuổi đời rất trẻ Hồ Anh Thái đã gặt háiđược nhiều thành công Năm 24 tuổi, ông đạt được giải thưởng truyện ngắn
1983 – 1984 của báo văn nghệ với tác phẩm Chàng trai ở bến đợi xe Năm
26 tuổi ông đạt giải thưởng văn xuôi 1986 – 1990 của Hội nhà văn Việt Nam
và Tổng liên đoàn lao động Việt Nam với tiểu thuyết Người và xe chạy dưới trăng Năm 1995, Hồ Anh Thái đạt giải thưởng của Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam với truyện ngắn Người đứng một chân Năm 1996, ông đạt giải thưởng của Hội nhà văn Việt Nam với tiểu thuyết Mười lẻ một đêm.
Năm 2002, Hồ Anh Thái lại xuất sắc nhận giải thưởng của Hội nhà văn Việt
Nam với tập truyện ngắn Tự sự 265 ngày
Như vậy với tài năng quan sát cuộc sống và vốn kiến thức uyên thâm,
Hồ Anh Thái đã có những đóng góp không nhỏ cho văn học thời kì đổi mới
1.2.1.2 Tác phẩm
Hồ Anh Thái có sở trường viết truyện ngắn với nhiều tập truyện nổitiếng đã được xuất bản như:
- Chàng trai ở bến đợi xe (truyện ngắn 1985)
- Những cuộc kiếm tìm (truyện ngắn 1988)
- Mảnh vỡ của đàn ông (truyện ngắn 1993)
Trang 19
- Người đứng một chân (truyện ngắn 1995)
- Tiếng thở dài qua rừng Kim Tước ( truyện ngắn 1998)
- Bốn lối vào nhà cười (truyện ngắn 2004)
- Sắp đặt và diễn (tập truyện ngắn 2007)
Bên cạnh những truyện ngắn nổi tiếng Hồ Anh Thái cũng rất thànhcông với mảng tiểu thuyết tiêu biểu như:
- Vẫn chưa tới mùa đông (tiểu thuyết 1986)
- Người và xe chạy dưới trăng (tiểu thuyết 1987)
- Người đàn bà trên đảo (tiểu thuyết 1988)
- Trong sương hồng hiện ra (tiểu thuyết 1989)
- Cõi người rung chuông tận thế (tiểu thuyết 2002)
- Mười lẻ một đêm (tiểu thuyết 2006)
- Đức Phật, nàng Sivitri và tôi (tiểu thuyết 2007)
1.2.2 Nguyễn Việt Hà - tác giả và tác phẩm
1.2.2.1 Vài nét về tác giả
Nguyễn Việt Hà tên thật là Trần Quốc Cường, sinh ngày 12-7-1962 tại
Hà Nội Hiện nay ông làm việc tại ngân hàng công thương Nguyễn Việt Hàxuất thân là một người con nhỏ bé của Hà Nội, với tuổi thơ phải nếm trảinhững nhọc nhằn, thiếu hụt của cuộc đời hè phố Bởi vậy trong sáng tác củaông có xuất hiện những âm thanh hỗn tạp của đô thị với những cảnh đời lam
lũ khác nhau
Nguyễn Việt Hà là cây bút đặc sắc thuộc thế hệ những người không trảiqua chiến tranh Trong tác phẩm của mình, Nguyễn Việt Hà luôn có cái nhìnsắc sảo về thành thị, thanh niên và giới trí thức Luôn thường trực trong tâmniệm của tác giả sự nỗ lực hàng đầu đó là không ngừng làm phong phú kĩthuật kể chuyện vượt lên trên cả nội dung và nghệ thuật để có thể đạt tới lốiviết như là chủ đề văn học Nhân dịp một trong những tác phẩm của ông
Trang 20
được xuất bản bằng tiếng Pháp trong tuyển tập Tầng trệt thiên đường, trung
tâm văn hóa Pháp tổ chức một chương trình giao lưu với nhà văn này
Trong cuộc gặp gỡ với Nguyễn Việt Hà, công chúng còn được nghe
đọc bằng song ngữ tác phẩm Mãi không tới núi trích trong tập truyện ngắn Của rơi và tác phẩm này đã được dựng thành bộ phim nhựa Với sự thông
minh, cá tính của nhà biên kịch Nguyễn Việt Hà cùng với thủ pháp dàn dựng
phá cách của đạo diễn Vương Đức tác phẩm Của rơi đã trở thành “của hiếm”
của điện ảnh Việt Nam
Nguyễn Việt Hà là cây bút trẻ sáng tạo độc đáo, ông có đóng gópkhông nhỏ cho sự phát triển của văn học đương đại Việt Nam Đằng saunhững sáng tác của ông là một câu hỏi lớn về cuộc nhân sinh khiến conngười ta phải bàng hoàng, trăn trở và day dứt Những mặt trái chiều của cuộcsống, những góc khuất trong sâu thẳm tâm hồn con người được Nguyễn Việt
Hà tái hiện rất sinh động và tinh tế Đó là không khí trì trệ nhàm chán ở một
số công sở, là những nhân vật trí trức có tài trong sáng nhưng bất cần, lậpdị Trước những cái hỗn tạp của cuộc sống đời thường được thể hiện rấtthành công, Nguyễn Việt Hà còn mang những giây phút trong trẻo, nhữngkhát khao, ước vọng để con người ta tự nhìn lại chính mình và có thể tìmthấy mình trong đó
Xoay quanh những tác phẩm của Nguyễn Việt Hà có nhiều ý kiến đánhgiá khác nhau nhưng phải khẳng định một điều Nguyễn Việt Hà là cây bút cótiềm năng sáng tạo lớn
Trang 21- Tạp văn: Nhà văn thỡ chơi với ai; Bốn sỏu tỏm; Một thoỏng văn học đương đại Trung Quốc.
Túm lại Nguyễn Việt Hà và Hồ Anh Thỏi là hai cõy bỳt trẻ với sứcsỏng tạo dồi dào đã phản ánh hiện thực một cách sâu sắc, đa chiều
1.3 Một số vấn đề về cõu
1.3.1 Cỏc hướng tiếp cận cõu hiện nay
Cho đến nay cú nhiều định nghĩa khỏc nhau về cõu Theo thống kờ của
bà A.Akhmanova cú trờn 300 định nghĩa về cõu Tuy vậy chỳng tụi quy vềnhững hướng như sau:
1.3.1.1 Hướng tiếp cận cõu theo quan điểm ngữ phỏp duy lớ
Cỏc nhà ngữ phỏp duy lớ nghiờn cứu cõu gắn liền với phỏn đoỏn Đạibiểu là Condillac (thế kỉ XVIII) ễng cho rằng: “ Mọi lời núi đều là phỏnđoỏn hay một chuỗi phỏn đoỏn Mà phỏn đoỏn diễn đạt bằng cỏc từ, chớnh làcỏi mà người ta gọi là mệnh đề Vậy một lời núi đều là mệnh đề hay mộtchuỗi mệnh đề” Quan điểm này chỉ phự hợp với việc nhận diện cõu về mặtlụgớc [15, tr.64]
1.3.1.2 Hướng tiếp nhận cõu dựa vào hoạt động giao tiếp
Đại biểu của hướng tiếp cận này là Trương Văn Chỡnh, ụng khụng trựctiếp đưa ra định nghĩa về cõu mà lựa chọn định nghĩa của A.Meillet: “Cõu là
tổ hợp dựng tiếng để diễn tả một sự tỡnh hay nhiều sự tỡnh cú quan hệ vớinhau, tổ hợp ấy tự nú tương đối đầy đủ ý nghĩa, và khụng phụ thuộc về ngữphỏp vào một tổ hợp nào khỏc” [15, tr.63]
Định nghĩa này chỳ trọng về mặt sự tỡnh nhưng lại chưa đề cập đến mặtcấu tạo cõu
1.3.1.3 Hướng tiếp cận cõu dựa vào hành động phỏt ngụn
Theo tỏc giả E.Sapir (1921) định nghĩa cõu dựa vào hành động phỏtngụn: “Cõu là một hành động ngụn ngữ diễn đạt một hành động của tư duy”
Trang 22
Việc định nghĩa câu dựa trên định hướng triển khai của tư duy đã dẫn đếnviệc phân loại câu theo cấu trúc nghĩa, cấu trúc đề - thuyết Tư duy chọn cái
gì làm xuất phát điểm thì đó là phần đề còn tư duy triển khai cái gì thì đó làphần thuyết” [15,tr.63]
1.3.1.4 Hướng tiếp cận câu dựa vào mặt ý nghĩa
Tác giả Arixtốt trước Công nguyên đã định nghĩa “Câu là một âm
phức hợp có ý nghĩa độc lập mà mỗi bộ phận trong đó cũng có ý nghĩa độclập” Còn học phái Alếchxandri, từ thế kỉ II-III trước Công nguyên đã địnhnghĩa “Câu là sự tổng hợp của các từ biểu hiện một tư tưởng trọn vẹn” [15,tr.64] Đây là định nghĩa thể hiện được chức năng ý nghĩa của câu Do kháđơn giản, dễ hiểu và hoàn chỉnh nên cho đến nay định nghĩa này vẫn được sửdụng khá phổ biến
Ở nước ta, thời kì đầu các nhà nghiên cứu ngữ pháp cũng chưa vượt rangoài phạm vi này Tác giả Trần Trọng Kim cho rằng: “Câu thành lập do mộtmệnh đề có ý nghĩa lọn hẳn hoặc hai hay nhiều mệnh đề [16, tr 27] Sau cáchmạng tháng Tám, tác giả Nguyễn Lân định nghĩa: “Nhiều từ hợp lại mà biểuthị một ý dứt khoát về động tác, tính tình hoặc tính chất thì gọi là một câu”.[16, tr 19] Như vậy hướng định nghĩa này quan tâm mặt ý nghĩa nhưng lại
bỏ qua mặt hình thức biểu thị câu cũng như cấu tạo câu
1.3.1.5 Hướng tiếp cận câu dựa vào mặt hình thức
Dùa vµo híng tiÕp cËn nµy, tiêu biểu là tác giả L.C Thompson Ôngcho rằng ở trong Tiếng Việt các câu được tách khỏi nhau bởi những ngữ điệukết thúc Một đoạn có một hay nhiều nhóm nghỉ, kết thúc bằng một ngữ điệukết thúc hay đứng sau một sự im lặng hay một đoạn khác cũng như vậy làmột câu Sự độc lập của những yếu tố như vậy là một câu Sự độc lập củanhững yếu tố như vậy, được phù hiệu hóa trong chữ viết bởi cách dùng mộtchữ hoa ở đầu câu và một dấu kết thúc ( dấu chấm, dấu hỏi, dấu chấm than ở
Trang 23
1.3.1.6 Hướng tiếp cận câu đồng thời dựa vào một số tiêu chí
Nhận thấy hạn chế của hai hướng trên, chỉ dựa đơn thuần vào tiêu chíhình thức, hoặc ý nghĩa, các nhà ngữ pháp đi sau đã có sự điều chỉnh địnhnghĩa câu dựa đồng thời vào hai tiêu chí: Hình thức và ý nghĩa Theo hướngnày có các tác giả: Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Phan Thiều, Lê Cận,Hoàng Văn Thung, Lê A, Hoàng Trọng Phiến, Hồng Dân Tác giả NguyễnKim Thản tuyên bố chọn định nghĩa của V.V Vinôgrađốp là xác đáng hơncả: “Câu không phải là những đơn vị sẵn có của ngôn ngữ Nó là những tổhợp được thành lập khi con người vận dụng ngôn ngữ để tư duy, giao tiếphay truyền đạt tư tưởng, tình cảm, thái độ Sự vận dụng ngôn ngữ như thếchính là lời nói” [15, tr 65]
Từ định nghĩa trên tác giả đi vào phân tích ba đặc điểm cấu tạo của câu là:
- Tính hoàn chỉnh không tách rời hoàn cảnh ngôn ngữ
- Không tách rời quy tắc ngữ pháp của một ngôn ngữ
- Câu phải có ngữ điệu
Định nghĩa trên dựa vào các mặt: Có cấu tạo theo một quy tắc ngữpháp, có ngữ điệu, không tách rời ngữ cảnh, có chức năng thông báo
UBKH Xã hội (1983) định nghĩa: “Câu là đơn vị dùng từ hay đúng hơn
là dùng ngữ mà cấu nên trong quá trình tư duy, thông báo; nó có nghĩa hoànchỉnh, có cấu tạo ngữ pháp, và có tính chất độc lập [15, tr 65] Định nghĩatrên dựa vào các mặt: dùng từ đặt ra theo một quy tắc ngữ pháp, có nghĩa, cóchức năng thông báo
Trang 24
Tác giả Diệp Quang Ban định nghĩa: “Câu là đơn vị của nghiên cứungôn ngữ có cấu tạo ngữ pháp (bên trong và bên ngoài) tự lập và ngữ điệu kếtthúc, mang một ý nghĩa tương đối trọn vẹn hay thái độ, sự đánh giá củangười nói, giúp hình thành và biểu hiện, truyền đạt tư tưởng, tình cảm Câuđồng thời là thông báo nhỏ nhất bằng ngôn ngữ” [1, tr 107] Định nghĩa nàyquan tâm đến các tiêu chí hình thức, ý nghĩa, cấu tạo, chức năng.
Tiếp thu ý kiến của các tác giả đi trước chúng tôi đã bổ xung, lựa chọnđịnh nghĩa về câu như sau: “Câu là đơn vị dùng từ đặt ra trong quá trình suynghĩ nhằm mục đích thông báo hay thể hiện thái độ đánh giá Câu có cấu tạongữ pháp độc lập, có ngữ điệu kết thúc và được gắn với một ngữ cảnh nhấtđịnh” [15, tr 66]
1.3.2 Câu trong văn bản nghệ thuật
Qua quá trình nghiên cứu chúng ta thấy rằng câu trong văn bản có sự
khác biệt với câu tách rời về cấu tạo ngữ pháp, ý nghĩa và mục đích sử dụng.
Mỗi loại câu được sử dụng trong một phong cách lại hoàn toàn khác nhau Vínhư câu trong văn bản hành chính lại hoàn toàn khác so với câu trong vănbản nghệ thuật
Ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật được xem là chất liệu xây dựnghình tượng Bản thân loại chất liệu này là sự tổng hòa của những kí hiệu haimặt - ngữ âm và ngữ nghĩa Với tài năng sáng tạo các tác giả thường hướng
sự chú ý vào tổ chức văn bản qua việc phát huy tác dụng đối với cấu trúctừng câu, từng đoạn cũng như cấu trúc toàn bộ văn bản nghệ thuật
Theo tác giả Đỗ Thị Kim Liên câu trong văn bản nghệ thuật có một sốđặc điểm như sau:
- Câu trong văn bản có tính đa dạng về cấu tạo: câu có đầy đủ thành phần,câu đơn phần, câu tối giản, câu mở rộng theo nhiều tầng bậc khác nhau Chúng
có thể nằm kề nhau, đan xen vào nhau hết sức đa dạng và phức tạp
Trang 25
- Cõu trong văn bản luụn cú sự chuyển đổi trật tự một cỏch linh hoạt và
nú phụ thuộc vào phong cỏch chức năng mà văn bản thể hiện
- Cõu trong văn bản thường chứa đựng nhiều tầng nghĩa, dựa vàochỉnh thể của văn bản đú ta cú thể suy ra cỏc tầng nghĩa đỳng của chỳng Tuynhiờn cõu trong văn bản bị chi phối bởi cõu đi trước và đi sau nú Cũng như vịtrớ của nú trong toàn văn bản
- Cõu trong văn bản nghệ thuật thường cú sự chuyển đổi về trật tựnhằm thể hiện những sắc thỏi tu từ khỏc nhau, gõy những cảm xỳc mới ởngười tiếp nhận [17, tr 314-362]
Nhỡn chung cõu trong văn bản nghệ thuật cú những đặc trưng riờng về
tổ chức cỳ phỏp, về nội dung ngữ nghĩa và cả những giỏ trị mà chỳng truyềntải Cõu trong văn bản nghệ thuật thường mang dấu ấn tỏc giả trong cỏch diễnđạt và chịu sự chi phối về ngữ nghĩa cũng như thể loại
1.4 Quan niệm về câu đơn câu ghép hiện nay–
Vấn đề phân loại câu đơn câu ghép hiện nay khá phức tạp do dựa vàonhững tiêu chí khác nhau, ở đây chúng tôi chỉ bàn đến sự phân loại câu dựavào mặt cấu tạo tức là dựa vào các thành tố cấu tạo nên câu để qua đó khảo sátcác kiểu câu do Hồ Anh Thái và Nguyễn Việt Hà sử dụng
Việc phân loại câu theo cấu tạo cho đến nay có thể quy về 3 hớngchính
Hớng 1: Phân chia câu thành 2 nhóm: Câu đơn và câu ghép Theo hớng
này có các tác giả: Trần Trọng Kim, Bùi Kỉ, Phạm Duy Khiêm trong “So sánh đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Hồ Anh TháiViệt Nam văn phạm” (1940), Nguyễn Lân trong “So sánh đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Hồ Anh TháiNgữ pháp Việt Nam” (1964).
a Câu đơn là câu chỉ có một kết cấu C-V làm nòng cốt
b Câu ghép là câu có từ 2 kết cấu C-V trở lên kể cả những kết cấu C-Vthuộc thành phần mở rộng (chủ ngữ, vị ngữ, trạng ngữ, định ngữ, bổ ngữ)
Hớng 2: Chia câu thành 3 nhóm gồm câu đơn, câu phức, câu ghép
Theo hớng này có các tác giả: Diệp Quang Ban (Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục, 1992), Hữu Quỳnh (Ngữ pháp Tiếng Việt, Nxb Trung tâm
TĐBKHN, 1996), Hoàng Trọng Phiến (gọi là câu trung gian)
Trang 26
a Câu đơn là câu chỉ có 1 kết cấu C-V làm nòng cốt.
b Câu ghép là câu có 2 kết cấu C - V trở lên, trong đó các C - V tồntại tách bạch nhau
c Câu phức là câu có từ 2 kết cấu C-V trở lên, trong đó C-V này bị baohàm trong C-V kia
Hớng 3: Chia thành 2 nhóm câu đơn và câu ghép
Theo hớng này có các tác giả: Nguyễn Kim Thản, Lê Xuân Thại, ĐỗThị Kim Liên, UBKH Xã hội
a Câu đơn là câu chỉ có một kết cấu C-V làm nòng cốt có thể có hoặckhông có các C-V khác làm thành phần câu
b Câu ghép là câu có 2 nòng cốt C-V trở lên tồn tại tách bạch nhau(hay không bị bao hàm trong C-V kia), nếu có bao hàm thì vẫn là câu đơn
Trong luận văn này, chúng tôi chọn phân loại câu theo hớng thứ 3 đểlàm cơ sở khảo sát và phân loại câu trong truyện ngắn Hồ Anh Thái vàNguyễn Việt Hà
1.5 Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 chỳng tụi đó trỡnh bày những vấn đề chớnh sau:
Ngụn ngữ truyện ngắn núi chung và ngụn ngữ truyện ngắn Hồ AnhThỏi - Nguyễn Việt Hà núi riờng Truyện ngắn của hai tỏc giả trẻ này cúnhững điểm nằm trong đặc điểm chung của truyện ngắn nhưng lại cú nhữngbiểu hiện riờng trong việc sử dụng cõu, trong cỏch xõy dựng hệ thống nhõnvật và tổ chức cỏc tỡnh tiết truyện độc đỏo, nhằm truyền tải nội dung chủ đề mới mẻ, hấp dẫn của dũng văn học đương đại
Phần tỏc giả và tỏc phẩm, chỳng tụi sơ lược về tiểu sử, về phong cỏchvới những tỏc phẩm xuất sắc trờn nhiều thể loại đó được cụng chỳng nồngnhiệt đún nhận
Về vấn đề cõu chỳng tụi đó điểm lại những hớng tiếp cận về cõu củanhiều tỏc giả và chọn cho mỡnh một định nghĩa phự hợp nhất làm cơ sở cho
Trang 27
việc tỡm hiểu và phõn loại cõu văn trong truyện ngắn của Hồ Anh Thỏi vàtruyện ngắn Nguyễn Việt Hà.
chơng 2
Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thái và Nguyễn Việt Hà xét về mặt cấu tạo2.1 Thống kê định lợng
2.1.1 Thống kê định lợng tổng số các câu đợc phân loại theo cấu tạo ngữ pháp trong truyện ngắn Hồ Anh Thái
Để làm rõ đặc điểm cấu tạo câu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thái,chúng tôi đã khảo sát 1827 câu văn tác giả trong 10 truyện ngắn đợc in trong
tập Nói bằng lời của mình và phân loại nh sau: (Xem bảng 2.1)
Bảng 2.1 Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp
Tác
phẩm
Tổng số câu Câu ghép
Câu đơn Bình thờng Đặc biệt
I 229 25 (10,92%) 193 (84,28%) 11 (4,80%)
II 218 48 (22,02%) 165 (75.69%) 5 (2,29%)
Trang 28
III 240 42 (17,50%) 186 (77,50%) 12 (5,00%)
IV 173 16 (9,25%) 148 85,55%) 9 (5,20%)
V 200 36 (18%) 158 (79%) 6 (3,00%)
VI 170 37(21,76%) 120 70,59%0 13 (7,65%)VII 9 1 (11,11%) 8 (8,89%) 0 (0%)
VIII 238 40 (16,81%) 188 (78,99%) 10 (4,20%)
I X 150 10 (6,67%) 128 (85,33%) 12 (8,00%)
X 200 40 (20,00%) 141 (70,50%) 19 (9,50%)
Tổng 1827 295 (16,15%) 1435 (78,54%) 87 (5,31%)Qua bảng 2.1, chúng ta nhận thấy, trong 10 truyện ngắn của Hồ AnhThái có sự chênh lệch nhau giữa câu đơn và câu ghép là rất lớn Câu đơn cótần số xuất hiện nhiều gấp hơn 5 lần so với câu ghép Cụ thể là: Câu đơn có
1522 câu chiếm 83,85%, trong khi đó câu ghép chỉ có 295 câu chiếm16,15% Trong nhóm câu đơn thì câu đơn bình thờng có tần số xuất hiện caohơn nhiều so với câu đơn đặc biệt Câu đơn bình thờng có 1435 câu chiếm78,54%, còn câu đơn đặc biệt chỉ có 87 câu chiếm 5,31% trong tổng số câu
2.1.2 Thống kê định lợng tổng số câu đợc phân loại theo cấu tạo ngữ pháp trong truyện ngắn Nguyễn Việt Hà
Chúng tôi đã thống kê đợc 1826 câu văn tác giả trong 10 truyện ngắn
của Nguyễn Việt Hà in trong tập Của rơi và phân loại nh sau:
Bảng 2.2 Phân loại câu theo cấu tạo ngữ pháp
Tác
phẩm
Tổng sốcâu
Câu ghép Câu đơn
Bình thờng Đặc biệt
I 140 14 (10,00%) 112 (80,00%) 14 (10,00%)
II 108 3 (2,78%) 87(80,55%) 18 (16,67%)III 206 54 (26.21%) 143 (69,42%) 9 (4,37%)
IV 169 26 (15,39%) 130 (76,92%) 13 (7,69%)
V 223 52 (23,32%) 163 (73,09%) 8 (3,59%)
Trang 29
VI 190 23 (12,11%) 150 (78,94%) 17 (8,95%)VII 225 61 (27,11%) 153 (68,00%) 11 (4,89%)VIII 215 43 (20,00%) 161 (74,88%) 11 (5,12%)
I X 158 52 (32,91%) 96 (60,76%) 10 (6,33%)
X 192 50 (26,04%) 141 (73,44%) 1 (0,52%)Tổng 1826 378 (20,70%) 1336 (73,17%) 112 (6,13%)
Qua bảng 2.2, chúng ta thấy trong 10 truyện ngắn của Nguyễn Việt Hàcũng có sự chênh lệch giữa câu đơn và câu ghép Câu đơn có 1448 câu chiếm79,30%, câu ghép chỉ có 378 câu chiếm 20,70% Trong nhóm câu đơn thì câu
đơn bình thờng có số lợng cao hơn nhiều so với câu đặc biệt Câu đơn bình thờng
có 1336 câu chiếm 73,17%, câu đơn đặc biệt có 112 câu chiếm 6,13%
2.1.3 Nhận xét
Qua bảng số liệu thống kê, chúng tôi nhận thấy, câu văn Hồ Anh Thái
sử dụng chủ yếu là câu đơn bình thờng và ít câu ghép Nhng trong câu văn của
Hồ Anh Thái xuất hiện nhiều câu văn dài Dù là câu đơn hay câu ghép, ôngvẫn a sử dụng những câu có mở rộng thành phần, câu có nhiều vế câu Cònnhững câu đợc đóng khung duy nhất một kết cấu C-V thờng ít xuất hiện.Những câu văn đặc biệt cũng xuất hiện không nhiều, trong 10 truyện ngắn chỉ
có 87 câu chiếm 5,31% Câu văn trong truyện ngắn Nguyễn Việt Hà cũng có
sự chênh lệch giữa câu đơn và câu ghép Câu đơn chiếm 79,30%, còn câughép chỉ chiếm 20,70% trong tổng số câu Nh vậy tần số xuất hiện của câu
đơn nhiều gấp gần 4 lần so với câu ghép Tuy nhiên cách tổ chức câu văn củaNguyễn Việt Hà cũng rất đa dạng, có cả câu ngắn dài xen kẽ nhau Câu ngắn
nhất có 2 âm tiết, ví dụ: Thái gạt tàn thuốc đúng chân mình Đau buốt
[ II, tr.7] Câu dài lên đến 61 âm tiết, ví dụ: Nếu một buổi tối nào đó, tôi đã quá chán ngồi Computer (tôi đang viết một phần mềm, hy vọng sẽ cho Bill Gate đi ăn mày) tôi sẽ nũng nịu ôm cổ mẹ, mẹ tôi sẽ đa tôi ba tờ một trăm nghìn và tôi sẽ đợc phép tự lái cái xe Camry ra một quán ba mà tôi thích.
[VII, tr.33] Nhng phổ biến vẫn là câu từ 12 đến 17 âm tiết
Đặt trong sự đối sánh giữa cấu trúc câu văn của Hồ Anh Thái vàNguyễn Việt Hà, ngời đọc nhận thấy có những điểm tơng đồng trong cách
Trang 30
biểu hiện nhng mục đích biểu hiện từ những cấu trúc câu đó lại khác nhau.Chính từ sự khác nhau này lại hình thành nên những riêng biệt, hấp dẫn trong phong cách của từng tác giả
2.2 Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thái xét về mặt cấu tạo
2.2.1 Câu đơn
2.2.1.1 Câu đơn bình thờng
Câu đơn bình thờng là loại câu có hai thành phần chủ ngữ và vị ngữgắn bó chặt chẽ với nhau thông qua mối quan hệ ngữ pháp C-V để cấu tạo nênmột chỉnh thể thống nhất
Qua bảng số liệu thống kê 2.1, chúng ta nhận thấy trong 10 truyệnngắn, Hồ Anh Thái đã sử dụng kiểu câu đơn với số lợng lớn Kiểu câu nàychúng tôi chia thành hai loại nhỏ:
- Loại 1: Câu đơn có một kết cấu C-V duy nhất làm nòng cốt
- Loại 2: Câu đơn có một kết cấu C-V và thành phần phụ mở rộng
Dới đây là bảng thống kê, phân loại câu đơn bình thờng trong 10 truyệnngắn của Hồ Anh Thái (Xem bảng 2.3)
Bảng 2.3 Phân loại câu đơn theo kết cấu C-V
Tác phẩm Tổng số câu 1 kết cấu C-V Một kết cấu C-V và TP phụ
Qua số liệu ở bảng 2.3, chúng tôi nhận thấy câu đơn một kết cấu C-V
đ-ợc sử dụng nhiều hơn câu đơn một kết cấu C-V có thành phần phụ mở rộng.Sau đây chúng tôi sẽ trình bày đặc điểm các loại câu đơn
a Câu đơn có một kết cấu C-V (làm nòng cốt)
a1 Câu đơn một kết cấu C-V (chỉ có một chủ ngữ và một vị ngữ)
Loại câu có một chủ ngữ và một vị ngữ này, xét về mặt cấu tạo, chủ ngữthờng do danh từ, ngữ danh từ đảm nhiệm Loại câu này có lợng từ không
Trang 31
nhiều nhng đã khái quát đợc nội dung thông tin về hành động, trạng thái của
sự vật, sự việc mà tác giả ngầm gửi vào đó
So với các loại câu khác, loại câu này chiếm 10,86% trong tổng số câu
đơn một kết cấu C-V Qua khảo sát câu tờng thuật, chúng tôi nhận thấy trong
10 truyện ngắn Hồ Anh Thái loại câu ngắn có chủ ngữ là danh từ và động từchỉ hoạt động làm vị ngữ là phổ biến
(5) Tôi hỏi lại [V(1), tr.93]
Xét về vị trí, loại câu này có khi nằm ở phần mở đầu của một đoạn vănnào đó của ngôn ngữ ngời dẫn truyện, có khi nằm ở giữa hoặc cuối đoạn củangôn ngữ ngời dẫn truyện Nhng câu văn ngắn này thể hiện dụng ý nghệ thuậtcủa tác giả nhằm tờng thuật lại những suy nghĩ, hành động và thái độ củanhân vật hoặc của chính ngời dẫn truyện trong cuộc sống đời thờng
a2 Câu đơn có nhiều vị ngữ
Trong văn của Hồ Anh Thái, kiểu câu này chiếm 44,22% trong tổng số câu đơn có một kết cấu C-V
Ví dụ:
(6) Cô bế con lên ngọn đồi trọc, nhìn xuống bao quát khắp làng, thấy cả mái nhà của những kẻ khốn kiếp đã bị cảnh sát bắt giam nhng đợc tha về vì Nilam chỉ khai là vô ý bị lửa bén vào tấm Sari lúc đang đun bếp, thấy cả mái nhà của cha mẹ mà cô quyết không trở lại sau một lần làm dâu tàn tật.
Trang 32
Thái sử dụng rất linh hoạt Điều này đã tạo nên một d vị khác lạ trong văn
Khảo sát truyện ngắn của Hồ Anh Thái, chúng tôi nhận thấy thành phần
bổ ngữ thờng đứng sau động từ hoặc tính từ trung tâm nhằm bổ sung về mặt ý
nghĩa cho động từ hay tính từ trung tâm đó Và khả năng mở rộng câu về phía
sau thờng phổ biến hơn Kiểu câu này có số lợng tơng đối lớn, chiếm tới
40,69% trong tổng số các câu đơn 1 kết cấu C-V
Việc sử dụng kiểu câu mở rộng vị ngữ có tác dụng làm nổi bật rõ đặc
điểm hành động, trạng thái của nhân vật Trong 10 truyện ngắn của Hồ Anh
Thái thì các truyện sử dụng câu văn mở rộng bổ ngữ chủ yếu nh: Tiếng thở dài
qua rừng Kim Tớc; Kiếp ngời đi qua; Cuộc đổi chác; Thi nhân
a4 Câu đơn 1 kết cấu C- V trong đó chủ ngữ có thành phần phụ
định ngữ
Các danh từ hoặc cụm danh từ thờng đứng ở vị trí đầu đóng vai trò là
chủ ngữ trong câu Do vậy tác giả đã sử dụng kiểu câu này nhằm mục đích mở
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy kiểu câu này xuất hiện không nhiều
trong sáng tác của Hồ Anh Thái, chỉ chiếm 4,23% trong tổng số câu đơn một
Trang 33
kết cấu C-V Mặc dù xuất hiện không nhiều trong các truyện ngắn, nhng kiểucâu này đã làm phong phú thêm ngôn ngữ tờng thuật của Hồ Anh Thái, khiếnngời đọc cảm thấy không lặp lại đơn điệu trong cách thể hiện Chính thànhphần phụ của chủ ngữ đã bổ xung ý nghĩa cho danh từ trung tâm làm cho hình
ảnh các nhân vật đợc hiện lên chi tiết cụ thể trong một hoàn cảnh nhất định
Nh vậy trong văn của Hồ Anh Thái, số câu văn mở rộng vị ngữ nhiều hơn số câu văn mở rộng chủ ngữ gấp hơn 9 lần
b Câu đơn một kết cấu C-V có thành phần phụ
Xét về thành phần phụ của câu có nhiều quan niệm khác nhau ở đây,
chúng tôi chọn cách phân loại thành phần phụ của Diệp Quang Ban [1, tr.100],gồm có 5 thành phần: Trạng ngữ, đề ngữ, giải thích ngữ, tình thái ngữ, chuyểntiếp
nh trạng ngữ chỉ so sánh, phơng tiện, nguyên nhân, điều kiện Sau đây là một
Trang 34(18) Làm nh không thấy vẻ tự ái của Lánh, tôi điềm nhiên ngồi nhấm
nháp hết hai ly cà phê [I(1), tr.16]
* Trạng ngữ so sánh
(19) Một toán trẻ con bám theo chúng tôi nh bám theo hai thằng ăn
cắp vặt [III(1), tr.251]
(20) Rồi cứ nh kẻ bị nhập đồng, nghe đợc câu nào ông để cho nó văng
ra cửa miệng câu ấy [X(1), tr.145]
* Trạng ngữ chỉ nguyên nhân
(21) Vì lo vun vén cho em, đã hai mơi tám tuổi, chị tôi vẫn bàn với
ng-ời yêu lui lại ngày cới [I(1), tr.17]
(22) Vì quá lo không hiểu Long sẽ ăn nói ra sao và tởng nh không có
theo dõi bạn [II(1), tr.29]
* Trạng ngữ chỉ phơng tiện
(23) Qua những câu chuyện kể, Hiển dần dần tham gia vào từng nét
sinh hoạt của gia đình Tuấn [IV(1), tr.61]
* Trạng ngữ chỉ điều kiện
(24) Nếu không có đợc ngời yêu nh Hạnh, tôi sẽ trở lại dành trọn thời
gian cho Nàng Toán học khô khan của mình“So sánh đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Hồ Anh Thái ” [I(1), tr.17]
Qua phân tích trên, thành phần phụ trạng ngữ đợc nhà văn Hồ Anh Thái
sử dụng nhiều nhất và đa dạng nhất trong truyện ngắn của mình Việc sử dụngtrạng ngữ với nhiều nhóm ý nghĩa nh vậy đã góp phần thể hiện góc nhìn đachiều khi phản ánh hiện thực của Hồ Anh Thái
(25) Chúng đấy, năm gã môn sinh đón đờng bắt nạt ngày Ahimsaka
mới đến ẩn viện [VIII(1), tr.152]
Trang 35
(26) Còn Long, sau khi tốt nghiệp Long đợc giữ lại trờng cùng với tôi,
và vẫn giữ nguyên cái dáng hơi nghiêng mặt về bên trái mỗi khi biểu diễn.
[II(1), tr.30]
b3 Câu đơn có thành phần phụ chuyển tiếp
Thành phần phụ chuyển tiếp đợc sử dụng trong văn Hồ Anh Thái nhằmmục đích nối kết câu chứa nó với câu trớc nó Thành phần này thờng do một
quan hệ từ mang nghĩa chuyển tiếp đảm nhận nh: Thì ra, thế mà, song, thế thì, nhng, rồi và đợc tác giả sử dụng tơng đối nhiều trong sáng tác của mình,
chiếm 16,25% trong tổng số câu đơn có các thành phần phụ
Ví dụ:
(27) Nhng sự cố chấp và ghen ghét của bậc thức giả họa chăng chỉ có
lũ rừng mới cuốn trôi đợc [VIII(1), tr.252]
(28) Thì ra cậu ta ngắm tôi từ nãy đến giờ [II(1), tr.20]
(29) Song ngài đã kịp kìm chế [IX(1), tr.263]
(30) Thế mà trong giấc mơ gã đã bay lợn, đã nhào lộn đã chói mắt trớc
vầng hào quang của nữ thần Thi ca và Học vấn [IX(1), tr.266]
b4 Câu đơn có thành phần phụ giải thích
Giải thích ngữ là thành phần phụ của câu nó thờng do từ, cụm từ, kếtcấu C-V chen vào giữa nòng cốt C-V chính, tách nòng cốt đó bằng ngữ điệu,nhằm làm sáng tỏ thêm về một phơng diện nào đó cho cả câu nh : bình chú, chú giải, giải thích [15, tr.322]
Trong truyện ngắn Hồ Anh Thái, thành phần phụ này mang tính độc lập
và đợc tách ra bằng một quãng ngắt trong câu (dấu phẩy, dấu ngoặc đơn, dấugạch ngang) nằm giữa hoặc cuối câu, có tác dụng bình chú, giải thích mộtcách chi tiết về tình cảm, nguồn gốc, tính chất cho cả câu hoặc cho một từ đitrớc Loại câu này chiếm 11,79% trong tổng số các câu đơn có thành phần phụ
mở rộng
Ví dụ:
(31) Trớc tiên Hiển đến nhà Cổn – anh chàng trấn lột mũ cối dạo nọ,
nay đã đi làm ăn tử tế [IV(1), tr.63]
(32) Ngời ta gọi Y là Angulimala (dây chuyền bằng ngón tay ngời).
[VIII(1), tr.254]
(33) Mà đâu đã hết, Ahimsaka còn đợc bà Devi, vợ thầy Chandra,
chăm chút đặc biệt [VIII(1), tr.251]
Trang 36
Kiểu câu đơn có thành phần phụ giải thích mặc dù chiếm số lợng khôngnhiều trong truyện ngắn Hồ Anh Thái nhng đã tạo nên một màu sắc riêng biệttrong các sáng tác của ông.
b5 Câu đơn có thành phần phụ tình thái
Tình thái ngữ là thành phần phụ của câu thờng đứng ở đầu câu (có thểgiữa hoặc cuối câu), tách nòng cốt C-V bằng ngữ điệu nhằm thể hiện tìnhcảm, cảm xúc của ngời nói hoặc dùng để gọi đáp [15, tr.319]
Hồ Anh Thái đã sử dụng kiểu câu đơn có thành phần phụ tình thái trongtruyện ngắn của mình nhằm thể hiện tình cảm, thái độ, cảm xúc, trạng thái,tâm lí nhân vật hoặc thái độ của ngời kể chuyện Kiểu câu này chiếm số lợng
ít nhất trong tổng số các câu đơn có thành phần phụ mở rộng là 2,5%
(34) Ôi trời, một gã trai nh thế [IX(1), tr.263]
(35) Chà, cô kĩ s ngành hóa thực phẩm trong khi chờ công tác nhanh
chóng biến thành bà chủ trại gà thế đấy [V(1), tr.62]
(36) Trời ơi, ma xui quỷ khiến thế nào tôi lại gặp một cô gái ghê gớm
làm vậy [I(1), tr.17]
* Tóm lại:
1 Trong 5 thành phần trên thì thành phần phụ trạng ngữ đợc tác giả sửdụng nhiều nhất 65,36%, tiếp theo là đến thành phần phụ chuyển tiếp chiếm16,25%, thành phần phụ giải thích chiếm 11,79%, thành phần phụ đề ngữchiếm 4,1%, thành phần phụ tình thái chiếm 2,5%
Dới đây chúng tôi xin đợc cụ thể hóa tỉ lệ giữa các dạng câu đơn trongtruyện ngắn Hồ Anh Thái
I 193 84 (5,85%) 109 (7,60%)
II 165 91 (6,34%) 74 (5,16%)III 186 119 (8,29%) 67 (4,67%)
IV 148 74 (5,16%) 74 (5,16%)
V 158 101 (7,04%) 57 (3,97%)
VI 120 82 (5,71%) 38 (2,65%)VII 8 7 (0,49%) 1 (0,07%)VIII 188 124 (8,64%) 64 (4,46%)
I X 128 87 (6,06%) 41 (2,86%)
X 141 106 (7,37%) 35 (2,44%)
Trang 37
Tổng 1435 875 (60,98%) 560 (39,02%)
2 So sánh cách sử dụng giữa câu đơn chỉ có một kết cấu C- V không
mở rộng thành phần phụ và câu đơn có mở rộng thành phần phụ, câu đơnkhông mở rộng thành phần phụ chiếm số lợng lớn hơn Mặc dù số lợng câu
đơn không mở rộng thành phần phụ đợc tác giả sử dụng nhiều hơn nhng lờivăn Hồ Anh Thái không ngắn, không cộc vẫn uyển chuyển, tinh tế bởi số lợngcâu đơn nhiều vị ngữ chiếm tới 44,22% trong tổng số câu đơn có 1 kết cấu C-
V Câu có thành phần bổ ngữ cho động từ, tính từ chiếm tới 40,69% trongtổng số câu đơn 1 kết cấu C-V Với việc sử dụng nhiều kiểu câu đơn nh đãtrình bày ở trên có tác dụng làm cho văn phong Hồ Anh Thái đa dạng, hấpdẫn
2.2.1.2 Câu đơn đặc biệt
Câu đơn đặc biệt có thể xem nh một điểm nhấn khá quan trọng trongsáng tác của Hồ Anh Thái Mặc dù kiểu câu này xuất hiện không nhiều trongsáng tác của ông nhng nó đã đợc sử dụng tinh tế, có tác dụng làm tăng giá trịbiểu đạt
Câu đơn đặc biệt có thể đợc chia làm 3 nhóm: Câu đặc biệt tự thân; câu
đặc biệt tỉnh lợc; câu đặc biệt tách biệt Do giới hạn của đề tài chỉ đi vào khảosát câu văn tác giả trong 10 truyện ngắn Hồ Anh Thái nên câu đặc biệt chỉxuất hiện ở 2 nhóm: Câu đặc biệt tự thân và câu đặc biệt tách biệt
Qua khảo sát, chúng tôi đã thống kê đợc 97 câu đặc biệt và phân loại
nh sau: (Xem bảng 2.5)
Bảng 2.5 Phân loại câu đặc biệt
Tác phẩm Tổng số câu Câu đặc biệt tự thân Câu đặc biệt tách biệt
I 11 9 (9,28%) 2 (2,06%)
II 5 5 (5,15%) 0 (0%)III 12 8 (8,25%) 4 (4,12%)
a Câu đặc biệt tự thân
Câu đặc biệt tự thân là loại câu thờng đi kèm với một ngữ cảnh nhất
Trang 38
định Loại câu này có 2 dạng:
- Loại 1: Lời mở thoại của một nhân vật nào đó
- Loại 2: Lời miêu tả, kể của nhà văn (ngời kể chuyện)
Kiểu câu này gồm 2 tiểu loại: Câu đặc biệt do danh từ hay cụm danh từ
đảm nhận; câu đặc biệt vị từ do động từ, cụm động từ, hay tính từ, cụm tính từtạo nên Đây là loại câu chiếm số lợng cao nhất trong các kiểu câu đặc biệt,chiếm 74,23%
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy câu đặc biệt tự thân đợc biểu hiệncác dạng sau:
a1 Câu do danh từ và ngữ danh từ làm nòng cốt dùng để biểu thị:
* Nêu thời gian
(37) Đang mùa hoa [X(1), tr.143]
* Chỉ sự tồn tại xuất hiện của sự vật hiện tợng
(38) Một thùng rác nữa [X(1), tr.148]
a2 Câu do động từ, ngữ động từ, tính từ, ngữ tính từ làm nòng cốt dùng để biểu thị:
* Biểu thị tình cảm, thái độ ngạc nhiên, xem thờng của ngời nói
(39) Giời ạ, quả là một tuyệt thế giai nhân [IV(1), tr.58]
(40) Ghê thay thói a dua của ngời đời [IX(1), tr.263]
(41) Lạ gì cái thứ con trai nh thế [X(1), tr.142]
* Biểu thị thái độ nghi vấn của ngời nói trớc một sự việc cụ thể
(42) Nhng có việc phải ra đờng thì biết bám vào đâu? [V(1), tr.98]
(43) Vừa làm lu manh nơi học thuật vừa làm lu manh chốn đờng chợ rừng xanh mà cũng dễ dàng thế a? [VIII(1), tr.252]
* Biểu thị một lời cầu khiến, đề nghị hoặc mệnh lệnh của ngời nói trớcmột sự việc cụ thể
(44) Thôi, hãy để cho cô lựa chọn [IV(1), tr.65]
(45) Nhất định không tìm kiếm gì nữa [I(1), tr.17]
* Biểu thị cách thức hành động của nhân vật
(46) Cứ ào ào nh nớc tràn qua đập [X(1), tr.144]
(47) Cũng ào một cái kéo nhau ra hết [V(1), tr.96]
(48) Sụp xuống chạm tay vào chân thầy Chandra tỏ ý kính cẩn rồi đứng dậy chắp tay xng danh cha mình cùng lời gửi gắm đứa con trai cho thầy
[VIII(1), tr.250]
Trang 39
* Biểu thị sự phủ định của nhân vật trớc một sự việc nào đó
b Câu tách biệt trong ngôn bản
Đây là kiểu câu mà cấu tạo của chúng chỉ có một từ hoặc một cụm từtrên bề mặt câu chữ tồn tại trong văn bản viết, nhờ mối liên hệ với những câulân cận Kiểu câu này hình thành do ngời viết tác nhân một bộ phận bất kì củacâu chính ra thành câu đơn phần, nhằm mục đích nhấn mạnh hoặc tạo giá trịriêng Loại câu này chiếm 25,77% trong tổng số các câu đơn đặc biệt
Trong quá trình khảo sát chúng tôi nhận thấy những loại câu đơn đặcbiệt tách biệt sau:
b1 Tách thành phần trạng ngữ chỉ thời gian
Ví dụ:
(52) Một ngày đầu mùa hạ Nắng tơi, nhng không gian vẫn cha hết
cái d vị của mùa xuân [IV(1), tr.65]
b2 Tách thành phần vị ngữ
(53) Nàng run rẩy Ngất ngây Mê cuồng [IX(1), tr.265]
(54) Miệng lỡi thị xoen xoét Lem lém [IX(1), tr.263]
(55) Thầy trởng khoa xớng nốt tên ngời thứ hai Là nó.
[VI(1), tr.156]
Với những câu tách thành phần vị ngữ, tác giả đã nhấn mạnh vào tínhcách, hành động, tâm trạng khác biệt của nhân vật Nh ở ví dụ (53) với việctách biệt những thành phần vị ngữ tác giả đã khắc họa nổi bật tâm trạng runrẩy, choáng ngợp của một nàng công chúa trớc vẻ đẹp quyền quý, cao sangcủa một chàng trai mà lần đầu tiên nàng gặp Hoặc ở ví dụ (54) tác giả đãnhấn mạnh tính cách trơ tráo, điêu toa của một ngời đàn bà khi bị ngời khácphát hiện việc làm đê tiện của mình Qua kiểu câu này, tác giả đã rất thànhcông trong việc khắc họa hình tợng nhân vật điển hình
b3 Tách thành phần giải thích
Trang 40
(56) Nàng mở băng nhạc đang nằm trong máy Michael Jackson!
độc lập với mục đích nhấn mạnh Qua các kiểu câu này ngời đọc nhận thấygiá trị biểu đạt của những câu đặc biệt đợc tác giả sử dụng rất hiệu quả nhằm khắc họa hình tợng nhân vật qua hành động, trạng thái, tính cách
2.2.2 Câu ghép
2.2.2.1 Khái niệm câu ghép
Xoay quanh vấn đề câu ghép có nhiều cách định nghĩa khác nhau và cónhiều cách phân loại khác nhau ở phần này, chúng tôi chọn định nghĩa củaDiệp Quang Ban về câu ghép để đi sâu mô tả câu ghép cụ thể
Theo Diệp Quang Ban thì: Câu ghép là câu chứa hai (hơn hai) kết cấuC-V, trong số đó không kết cấu C-V nào bao kết cấu C-V nào, mỗi kết cấuC-V diễn đạt một sự việc, và các sự việc này có quan hệ với nhau theo nhữngmối quan hệ nào đó [1, tr.143]
Về cách phân loại câu ghép có 4 dạng sau:
- Câu ghép có quan hệ từ liên kết bao gồm:
+ Câu ghép đẳng lập (1)
+ Câu ghép chính phụ (2)
- Câu ghép có phụ từ liên kết: Câu ghép qua lại (3)
- Câu ghép không có từ liên kết: Câu ghép chuỗi (4)
Câu ghép có đồng thời 2 quan hệ trở lên đợc chúng tôi xếp là câu ghéphỗn hợp
2.2.2.2 Số liệu thống kê – phân loại câu ghép trong truyện ngắn
Hồ Anh Thái
Trong quá trình khảo sát 10 truyện ngắn của Hồ Anh Thái, chúng tôi đãthống kê, phân loại đợc 295 câu ghép thuộc các kiểu câu khác nhau Sau đây
là bảng thống kê, phân loại câu ghép ( Xem bảng 2.6)
Bảng 2.6 Bảng phân loại câu ghép trong truyện ngắn Hồ Anh Thái