+ Trong cuộc sống đời thường: Hết lòng giúp đỡ người khác không chỉ một lần mà làsuốt cả cuộc đời.Dẫn chứng: Nhà bác học Pax-tơ hạnh phúc khi cứu được em bé và tìmđược thuốc chủng ngừa;
Trang 1MỘT SỐ ĐỀ NGHỊ LUẬN XÃ HỘI
I NGHỊ LUẬN VỀ TƯ TƯỞNG ĐẠO LÍ:
Câu 1: “Người hạnh phúc là người đem đến hạnh phúc cho nhiều người khác”
(Đi-đơ-rô) Suy nghĩ của em về câu nói trên?
- Hạnh phúc là mục đích mà cả nhân loại hằng ao ước muôn đời Hạnh phúc làgì? Sống như thế nào để có hạnh phúc
- Đi-đơ-rô, nhà tư tưởng lớn của nước Pháp đã có câu trả lời đáng cho mọi người suynghĩ
- Hạnh phúc là gì? Câu nói có ý nghĩa gì?
+ Có nhiều cách trả lời khác nhau: Là sự thoả mãn những khao khát trong đời sống; là sựthành công sau những thất bại để đạt được mục đích đã được đặt ra
+ Điều chung nhất của hạnh phúc: Sự mãn nguyện, cảm thấy mình đã sống đúng với ýnghĩa của sự sống
- Đánh giá ý nghĩa câu nói
+ Câu nói đã khẳng định một số lối sống đúng đắn, tốt đẹp Hạnh phúc của một các nhânphải gắn liền với hạnh phúc của người khác
+ Đây cũng là lối sống mà các bậc hiền triết ngày xưa, dân tộc ta luôn đề cao Dẫn
chứng: Đạo phật khuyên người ta yêu thương muôn loài, dân tộc khuyên “Thương người
như thể thương thân…”;
- Sống như thế nào là đem đến hạnh phúc cho nhiều người?
+ Là làm được những viện to lớn, thoả mãn niềm mong ước của nhiều người, của nhânloại Dẫn chứng: nhà phát minh, một bậc anh hùng giải phóng dân tộc
+ Trong cuộc sống đời thường: Hết lòng giúp đỡ người khác không chỉ một lần mà làsuốt cả cuộc đời.Dẫn chứng: Nhà bác học Pax-tơ hạnh phúc khi cứu được em bé và tìmđược thuốc chủng ngừa; một bà xơ chăm sóc những người bị bệnh phong,…
+ Đạo lí của câu nói đòi hỏi hành động tích cực: không chỉ yêu thương mà còn “đem lại
hạnh phúc” cho nhiều người Đòi hỏi sự quên mình, lấy hạnh phúc của mọi người làm
hạnh phúc của mình, có thể xả thân vì hạnh phúc của mọi người
- Ít nhất một lần trong đời, ai cũng đặt câu hỏi: Hạnh phúc là gì? Sống như thế nào
để có hạnh phúc?
- Hãy một lần nghĩ và làm theo phương châm của Đi-đơ-rô
Câu 2: Anh (chị) hãy trả lời câu hỏi sau của nhà thơ Tố Hữu:
“ Ôi ! Sống đẹp là thế nào, hỡi bạn? ”
- Tố Hữu tuổi thanh niên đã “Bâng khuâng đi kiếm lẽ yêu đời”, “Bâng khuâng
đứng giữa hai dòng nước” và đã chọn lí tưởng Cộng sản, chọn lối sống đẹp, “là con của vạn nhà” Vì vậy, ông rất chú ý đến lối sống, “sống đẹp”.
- Cho nên trong những khúc ca của lòng mình, Tố Hữu đã tha thiết gieo vào lòng người,nhất là thế hệ trẻ, câu hỏi:
“Ôi! Sống đẹp là thế nào, hỡi bạn.”
Trang 2
+Giải thích “Sống đẹp”?
- Sống đẹp là sống có lí tưởng (mục đích sống) đúng đắn, cao cả, tâm hồn, tình cảm lànhmạnh, nhân hậu, trí truệ (kiến thức) mội ngày mở rộng sáng suốt, hành động tích cực,lương thiện
- Một tập thể có lối sống đẹp là một tập thể đoàn kết, yêu thương giúp đỡ lẫn nhau trongcuộc sống
- Với thanh niên, học sinh muốn trở thành người “ sống đẹp” cần:
+ Chăm chỉ học tập, khiêm tốn học hỏi, biết nuôi dưỡng hoài bão, ước mơ
+ Thường xuyên tu dưỡng và rèn luyện đạo đức, có tinh thần bao dung, độ lượng
- Những tấm gương hi sinh cao cả vì lý tưởng: Hồ Chí Minh, Nguyễn Trãi, Trần BìnhTrọng, Lê Văn Tám, Võ Thị Sáu…
“Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình”
+ Chủ yếu thể hiện qua lối sống, hành động
+ Sống không đẹp: Những con người vì lợi ích riêng tư mà quên đi lợi ích chung của xã
hội: bóp méo sự thật; nịnh bợ cấp trên, hạ uy tín của người khác nhằm trục lợi cho mình,chia rẽ tập thể
- Đối với học sinh không nghe lời thầy, lừa cha mẹ để đi vào con đường xấu, sống không
- Khẳng định ý nghĩa của lối sống đẹp: là chuẩn mực đạo đức, nhân cách của con người
- Nhắc nhở mọi người coi trọng lối sống đẹp, sống cho xứng đáng; cảnh tỉnh sự mất nhâncách của thế hệ trẻ trong đời sống nhiều cám dỗ hiện nay
Câu 3 : Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường, không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên định, mà không có phương hướng kiên định thì không có cuộc sống?
(Lép-Tôn-xtôi) Anh (chị) hiểu câu nói ấy thế nào và có suy nghĩ gì trong quá trình phấn đấu tu dưỡng lí tưởng của mình.
- Giải thích lí tưởng là gì? (Điều cao cả nhất, đẹp đẽ nhất trở thành lẽ sống mà người
ta mong ước và phấn đấu thực hiện.)
- Tại sao không có lí tưởng thì không có phương hướng?
+ Không có mục tiêu phấn đấu cụ thể
+ Thiếu ý chí vươn lên để giành điều cao cả
Trang 3
+ Không có lẽ sống mà người ta mơ ước
- Tại sao không có phương hướng thì không có cuộc sống?
+ Không có phương hướng phấn đấu thì cuộc sống con người sẽ tẻ nhạt, sống vô vị, không có ý nghĩa, sống thừa
+ Không có phương hướng trong cuộc sống giống người lần bước trong đêm tối không nhìn thấy đường
+ Không có phương hướng, con người sẽ hành động mù quáng nhiều khi sa vào vòng tội lỗi (chứng minh)
- Suy nghĩ như thế nào?
- Con người phải sống có lí tưởng Không có lí tưởng, con người thực sự sống không có
ý nghĩa
+ Vần đề đặt ra hoàn toàn đúng
- Phê phán những người sống không có lí tưởng
- Lí tưởng của thanh niên ngày nay là gì? (Phấn đấu có nội lực mạnh mẽ, giỏi giang đạt đỉnh cao trí tuệ và luôn kết hợp với đạo lí
- Làm thế nào sống có lý tưởng
- Câu nói của Lép Tôn-xtôi đã để lại nhiều nghĩa thật sâu sắc và đầy tính nhân văn khiông đã nhấn mạnh sự quan trọng của lí tưởng đối với mỗi người qua việc ví lí tưởng vớiphương hướng kiên định và cuộc sống
- Cuộc sống ngày càng khác đi, mỗi người chúng ta cần có một lí tưởng để thực hiệntrong cuộc đời, luôn phấn đấu để hoàn thành lí tưởng của mình: Trở thành một công dân
có ích cho xã hội, đóng góp sức mình vì sự nghiệp chung của dân tộc Để mỗi ngày trôiqua, sẽ có thêm một ngày mới được chiếu sáng bởi lí tưởng cuộc đời
I NGHỊ LUẬN VỀ HIỆN TƯỢNG ĐỜI SỐNG:
Câu 1: Bày tỏ suy nghĩ về tình trạng ô nhiễm môi trường hiện nay.
- Ngày nay, môi trường rất cần thiết đối với cuộc sống của con người Môi trường cung cấp cho con người những điều kiện thiết yếu để sống: ăn, ở, mặc, hít thở…Nếu không có những điều kiện đó con người không thể sống, tồn tại và phát triển được
- Môi trường bị ô nhiễm ảnh hưởng không tốt đến sức khoẻ và cuộc sống của con người
- Để đảm bảo sự phát triển bền vững, con người cần phải sống thân thiện với môi trường, giữ gìn, bảo vệ môi trường trong sạch
- Cuộc sống sẽ ra sao nếu tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn còn tiếp diễn?
- Vai trò của môi trường đối với đời sống con người:
+ Môi trường là không gian sinh sống cho con người và thế giới sinh vật
+ Môi trường chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của conngười
+ Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải của đời sống và sản xuất
+ Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người
- Thực trang ô nhiễm môi trường:
+ Môi trường tự nhiên (đất, nước, không khí,…) bị ô nhiễm, bị huỷ hoại nghiêm trọng(chứng minh)
Trang 4
+ Nạn thải chất thải từ nhà máy, khu công nghiệp ra sống (chứng minh).
+ Nạn tàn phá rừng bừa bãi (chứng minh)
+ Môi trường xã hội cũng bị ô nhiễm( chứng minh những địa bàn nghiện hút, cờ bạc,…)ảnh hưởng xấu tới môi trường sống
- Tác hại của ô nhiễm môi trường:
+ Ảnh hưởng đến sức khoẻ con người (chứng minh)
+ Không khí bị ô nhiễm, nguy hại đến sự sống con người và sinh vật (chứng minh)
+ Ảnh hưởng tới môi trường sinh thái (chứng minh)
- Nguyên nhân gây tình trạng ô nhiễm môi trường:
+ Do sự thiếu ý thức của con người
+ Chưa có công nghệ xử lí chất thải
+ Sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hoá diễn ra nhanh
- Giải pháp khắc phục tình trạng ô nhiễm môi trường:
+ Làm tốt công tác tuyên truyền, giáo dục môi trường cho học sinh phổ thông
+ Tăng nguồn khinh phí cho công tác tuyên truyền, giáo dục về môi trường
- Nhiệm vụ của đoàn viên, thanh niên
- Ô nhiễm môi trường đang là vấn đề nóng bỏng của nhân loại trên toàn thế giới
- Bảo vệ môi trường là bảo vệ cuộc sống của chính chúng ta
Câu 2 : Bảo vệ rừng là bảo vệ sự sống của con người.
- Rừng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc bảo vệ môi trường sống của chúng ta
- Rừng là lá phổi của hành tinh vừa lá máy điều hoà khí hậu, làm cho môi trường sống
của chúng ta xanh, sạch, đẹp hơn Vì vậy " bảo vệ rừng là bảo vệ cuộc sống của con
- Vai trò của rừng trong bảo vệ môi trường sống của con người:
+ Rừng là lá phổi của hành tinh chúng ta vì nó hút khí CO2 và cung cấp O2, trong khi tất
cả các sinh vật trên trái đất đều hút dưỡng khí và thải thán khí:
.Nếu không có cây xanh, muôn loài sẽ ngạt thở (Mỗi năm tất cả cây cối trên mặt đất vàdưới biển hấp thụ 175 tỉ thấn thán khí và mỗi tấn thán khí biến thành 2,7 tấn dưỡng khí) Đất nhờ cây xanh cũng được thở vì nó ngăn chặn quá trình bốc hơi nước, giữ độ ẩm chođất
Không khí nhờ có cây xanh cũng thoáng mát hơn vì cây xanh giữ độ ẩm không khíthông qua việc hạn chế bốc hơi nước, kiểm soát gió và lưu thông gió
+ Rừng là máy điều hoà khí hậu vĩ đại của chúng ta vì rừng có khả năng ngăn mặn và lọcbức xạ mặt trời (Ngồi dưới gốc cây bàng, ta có thể bớt được 4 lần cái nóng da cháy thịtcủa mùa hè)
+ Rừng góp phần cải thiện khí hậu bằng cách làm sạch môi trường và không khí:
.Cây cối như một cái máy lọc khí độc trong không khí
.Cây cối là hàng rào cách li tiếng động, hấp thụ và hắt lại những sóng âm thanh tránhkhỏi chấn động thần kinh cho con người
+ Rừng góp phần hình thành cảnh quan đẹp, hùng vĩ, nguồn đề tài sáng tác cho văn họcnghệ thuật và là nơi trú ngụ của nhiều loài động vật quý
+ Rừng điều hòa nhiệt độ, cân bằng thời tiết, giữ mạch nước ngầm, giữ màu mỡ cho đất,chống xói mò, che chắn giông bão, hạn chế lũ lụt
+ Rừng cung cấp nhiều tài nguyên quý giá: thực phẩm, cây thuốc quý, gỗ, quặng mỏ…và
là căn cứ địa cách mạng thời chống giặc ngoại xâm
- Những hậu quả nghiêm trọng khi phá rừng:
+ Không khí bị ô nhiễm, thiếu dưỡng khí cho sự sống
Trang 5
+ Thiên tai nghiêm trọng: trái đất nóng lên, hạn hán, lũ lụt, bão tố, động đất, song thần…+ Đất đai bị sa mạc hóa.
+ Động, thực vật quý hiếm bị tuyệt chủng
+ Thiếu nước sạch, cạn kiệt mạch nước ngầm
+ Thiếu lương thực, đói nghèo, bệnh tật
+ Đói nghèo làm hủy hoại nhân cách, đạo đức con người
+ Chiến tranh giành nguồn nước, lương thực lan tràn, nhân loại bị diệt vong
- Những biện pháp bảo vệ rừng:
Đối với Nhà nước:
+ Phối hợp chặt chẽ giữa Nhà nước, các ban ngành và nhân dân
+ Tuyên truyền, vận động cấp kinh phí đứng mức cho kế hoạch trồng rừng
+ Xử lí thật nặng những kẻ phá hoại rừng
+ Không được khai thác rừng bừa bãi, không có kế hoạch
+ Tăng cường lực lượng kiểm lâm, quân đội để bảo vệ rừng
+ Có chế độ đãi ngộ, khen thưởng đúng mức cho những người có công bảo vệ rừng
Đối với bản thân:
+ Mạnh dạn tố cáo những kẻ phá hoại rừng
+ Tích cực trồng rừng và kêu gọi mọi người cùng trồng rừng Theo như lời Bác Hồ đã
nói: Vì lợi ích mười năm trồng cây Vì lợi ích trăm năm trồng người”.
- Nhận thức được vai trò quan trọng của rừng đối với môi trường sống
- Mỗi người cần phải có ý thức trồng vây, chăm sóc, giữ gìn cây cối trong nhà mình, trênđường phố, những nơi công cộng
- Đặc biệt là phải bảo vệ rừng vì bảo vệ rừng là bảo vệ sự sống của chúng ta
Câu 3 : Trong lời kêu gọi nhân ngày thế giới phòng chống AIDS, nguyên Tổng thư
kí Liên hợp quốc Cô-phi An-nan viết: “Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm chúng ta và họ.Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết”.
Anh/chị hiều lời kêu gọi trên như thế nào? Hãy phát biểu suy nghĩ của mình
về điều đó.
- Giới thiệu và dẫn câu nói Cô-phi An-nan: “Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có
khái niệm chúng ta và họ Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết”.
- Phát biểu khái quát suy nghĩ của mình về câu nói đó
+ Giải thích HIV/AIDS là gì?
- HIV là vi rút gây ra suy giảm miễn dịch ở người Sau khi nhập cơ thể, HIV tồn tại trongcác dịch máu, tinh dịch, dịch âm đạo, sữa mẹ…HIV tấn công hệ thống miễn dịch của cơthể (hệ thống tự nhiên bảo vệ cơ thể) Đây là hệ thống giúp cơ thể chống lại bệnh tật
- AIDS là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người Đây là tình trạng sức khỏekhi cơ thể của người nhiễm HIV mất khả năng chống lại bệnh tật, do đó họ bị rất nhiềubệnh tấn công, dẫn tới tử vong
- HIV/AIDS đang đe dọa tính mạng con người và cả tương lai của nhân loại, ảnh hưởngnghiêm trọng đến nền kinh tế và xã hội Hiện nay chưa có thuốc điều trị khỏi AIDS màchỉ có thuốc làm chậm quy trình nhiễm HIV chuyển sang AIDS
+ Sự khốc liệt của AIDS được thể hiện như thế nào?
*Trên thế giới:
- Số người nhiễm HIV/AIDS hiện rất cao và đang có xu hướng tăng lên rất nhanh(khoảng 10 người bị nhiễm HIV trong 1 phút)
Trang 6
- Năm 1990 có một người nhiễm HIV, đến năm 2000 có 9087 người Và theo số liệuthống kê (31-08-2003) đã có 70780 người nhiễm HIV đã có tới 1084 người chết vì AIDS,
- Năm 2006, có tới 4,3 triệu người nhiễm HIV và 2,5 triệu người chết vì đại dịch này, mộtcon số thật khủng khiếp
* Ở Việt Nam:
- Năm 2006 có khoảng 135171 bệnh nhân nhiễm HIV, trong đó có 29134 người đãchuyển sang giai đoạn AIDS AIDS đã cướp đi sinh mạng của 41418 người Số ngườinhiễm HIV/AIDS chủ yếu ở tuổi vị thành niên, độ tuổi lao động (20 – 49 tuổi)
+ “Chúng ta” ở đây là ai? Và “họ” là những ai?
- Chúng ta là chỉ số đông, cộng đồng trong xã hội, cụ thể ở đây là tất cả mọi người trênthế giới Họ là những người nhiễm HIV/AIDS,
+ Câu nói của Cô-phi An-nan nghĩa là thế nào?
- Nghĩa là không nên có sự phân biệt, kì thị giữa những người bị bệnh AIDS và những
người không bị bệnh này: không nên biến họ thành những người thuộc chiến tuyến bênkia…Cần phải coi họ là cùng phía với mình – chúng ta
- Hãy giao tiếp và hỗ trợ những người sống chung với HIV/AIDS Đối xử với họ như vớitất cả mọi người Họ cần có cơ hội học tập, làm việc và tham gia các hoạt động trongcộng đồng như tất cả mọi người
+ Tại sao “Trong thế giới khốc liệt của AIDS là không có khái niệm chúng ta và họ”?
-Vì những người bị bệnh AIDS cũng chỉ là nạn nhân, họ vốn là đồng loại của chúng ta
- Những người nhiễm HIV/AIDS đã chịu quá nhiều thiệt thòi, đau khổ và bất hạnh dobệnh tật Vì thế họ cần được cảm thông, chia sẻ, không nên xa lánh, phân biệt, ruồng bỏhọ
- Dù AIDS là căn bệnh thế kỉ, hiểm nghèo, nhưng có những hiểu biết đầy đủ về việcphòng chống nó, chúng ta vẫn không sợ lây lan, truyền nhiễm trực tiếp từ những người bịbệnh, họ không có gì đáng sợ
+ Tại sao trong thế giới đó “im lặng là chết”?
- Im lặng ở đây chính là thái độ dửng ưng, thờ ơ thiếu trách nhiệm với căn bệnh thế kỉ; làkhông lên tiếng đấu tranh chống lại thái độ phân biệt, kì thị đối với bệnh nhân AIDS; làkhông tham gia tuyên truyền, phòng chống lại căn bệnh hiểm nghèo này…
Vì vậy, im lặng trong hoàn cảnh này chính là để co cái chết hoành hành, cái chết
do bệnh AIDS và cái chết so chính sự ghẻ lạnh, ruồng bỏ gây nên Người bệnh có thểchưa chết do nhiễm HIV/AIDS mà đã chết từ sự đối xử tàn nhẫn của những người xungquanh
- Lời kêu gọi của Cô-phi An-nan là những lời đầy tâm huyết và đầy trách nhiệm của mộtngười đứng đầu tổ chức Liên hiệp quốc, một tổ chức quốc tế lớn nhất toàn cầu
- Lời kêu gọi ấy cho thấy ông rất thấu hiểu sự nguy hiểm của căn bệnh này: AIDS là kẻthù chung của toàn nhân loại
+ Lời kêu gọi ấy cũng cho thấy sự cảm thông, đồng cảm sâu sắc của ông đối với nhữngbệnh nhân AIDS
- Lời kêu gọi khẩn thiết nêu lên một phương châm hành động: tất cả nhân loại đoàn kết
để chống lại bệnh AIDS…
*Liên hệ bản thân:
- Nhận thức đầy đủ sâu sắc hơn về căn bệnh AIDS
- Trách nhiệm của bản thân trước căn bệnh thế kỉ
- Khẳng định ý nghĩa lời kêu gọi của Cô-phi An-nan: Mọi cá nhân, mọi quốc giaphải nâng cao tinh thần trách nhiệm, tích cực hành động để chiến thắng căn bệnhHIV/AIDS
Trang 7
*ĐỀ : Suy nghĩ của anh/chị trước nguy cơ bùng nổ đại dịch HIV/AIDS?
DÀN BÀI GỢI Ý:
I MỞ BÀI:
- Giới thiệu đại dịch AIDS?
- Phát biểu suy nghĩ về sự bùng nổ đại dịch AIDS
II THÂN BÀI:
1 Giải thích:
- HIV là vi rút gây ra suy giảm miễn dịch ở người Sau khi nhập cơ thể, HIV tồn tại trongcác dịch máu, tinh dịch, dịch âm đạo, sữa mẹ…HIV tấn công hệ thống miễn dịch của cơthể (hệ thống tự nhiên bảo vệ cơ thể) Đây là hệ thống giúp cơ thể chống lại bệnh tật
- AIDS là hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải ở người Đây là tình trạng sức khỏekhi cơ thể của người nhiễm HIV mất khả năng chống lại bệnh tật, do đó họ bị rất nhiềubệnh tấn công, dẫn tới tử vong
- HIV/AIDS đang đe dọa tính mạng con người và cả tương lai của nhân loại, ảnh hưởngnghiêm trọng đến nền kinh tế và xã hội Hiện nay chưa có thuốc điều trị khỏi AIDS màchỉ có thuốc làm chậm quy trình nhiễm HIV chuyển sang AIDS
- HIV lây qua 3 đường chính: đường máu, mẹ truyền sang con khi mang thai và đườngtình ục Nguy hiểm hơn, ở giai đoạn đầu, bệnh không bộc lộ các dấu hiệu rõ rệt, ngườibệnh khó có thể nhận biết mình mắc bệnh nên họ có thể làm lây nhiễm cho người khácmột cách vô ý thức
3.Nguyên nhân:
- Do tện nạn xã hội: Mại dâm, ma túy (quan hệ tình dục không lành mạnh, không an toàn,
sử dụng chung bơm kim tiêm trong quá trình chích ma túy…)
- Do thiếu hiểu biết, kém bản lĩnh hoặc do tai nạn nghề nghiệp (bác sĩ, công an, quản giáotại trạm giam) mà bị lây nhiễm hoặc truyền bệnh cho người khác
- Do kì thị của xã hội với căn bệnh này khiến người bị bệnh mặc cảm, giấu bệnh, từ đólàm lây bệnh cho người khác một cách vô tình hoặc cố ý
Trang 8
chính thái độ kì thị, xa lánh đó của mọi người trong cộng đồng làm nảy sinh tâm lí oánhận và muốn trả thù đời, càng làm tăng khả năng lây nhiễm của AIDS.
5 Đề xuất:
- AIDS không phải là tệ nạn xã hội Vì vậy, cần có hiểu biết đúng đắn và đầy đủ về bệnhHIV/AIDS cũng như cơ chế truyền bệnh của nó để không kì thị, xa lánh những ngườimắc bệnh
- Tránh phân biệt đối xử với bệnh nhân AIDS, thm chí cần cảm thông, chia sẻ, khuyếnkhích họ vượt qua mặc cảm để tiếp tục sống có ích
- Tích cực đấu tranh phòng chống các tệ nạn xã hội như một cách ngăn chặn sự bùng phátcủa đại dịch AIDS
III KẾT BÀI :
- Khẳng định sự bùng nổ đại dịch AIDS
- Trách nhiệm của bản thân trước căn bệnh thế kỷ
ĐỀ: “Vào đại học, có phải là con đường tiến thân duy nhất?”
1 MỞ BÀI:
- Tình hình hiện nay: Mỗi năm hàng triệu gia đình, học sinh đi thi
- Phải chăng: Vào đại học là con đường tiến thân duy nhất tuổi trẻ ngày nay?
2 THÂN BÀI:
- Luận điểm 1: Vào đại học đó là con đường tiến thân đẹp đẽ và đáng mơ ước.
+ Luận cứ 1: Nền kinh tế tri thức ngày nay cần phải có trí thức chuyên ngành mới có thể
tham gia vào hệ thống sản xuất và các dịch vụ xã hội
+ Luận cứ 2: Tuổi trẻ thời kì tốt nhất cho việc tiếp thu tri thức.
+ Luận cứ 3: Nhân dân Việt Nam vốn có truyền thống hiếu học.
- Luận điểm 2: Không phải bất kì ai sau khi học xong trung học, cũng phải vào đại học Có nhiều lí do:
+ Luận cứ 1: Hoàn cảnh gia đình khó khăn
+ Luận cứ 2: Nguyên do chủ quan: sức khoẻ, trình độ.
- Luận điểm 3: Còn có con đường nào khác?
+ Luận cứ 1: Không nên coi con đường vào đại học phải đạt được bằng bất cứ giá nào.
+ Luận cứ 2: Nếu vì hòan cảnh: Có thể vừa học vừa làm.
+ Luận cứ 3: Có thể chọn ngành học thấp hơn, sau đó liên thông lên đại học.
+ Luận cứ 4: Chọn nghề chuyên môn và học tốt nghề nghề ấy, trở thành người thợ lành
nghề
- Luận điểm 4: Rút ra bài học cho bản thân.
+ Luận cứ 1: Dù tiến thân bằng con đường nào, cũng phải coi việc học là công việc suốtđời
+ Luận cứ 2: Không ngừng học tập để bổ sung kiến thức…
Trang 9ĐỀ: Có một lần nào đó, đang đi trên đường, em chợt nhìn thấy một cảnh tượng ngộ nghĩnh: Hai người đàn ông đi xe đạp chẳng may đụng xe vào nhau, cả hai người ngã Sau đó, cả hai cùng đứng dậy, mỗi người nhìn thoáng vào xe mình, gật đầu chào nhau và đựng xe đi tiếp Em nghĩ gì về câu chuyện đó?
* DÀN BÀI GỢI Ý:
1 MỞ BÀI:
- Kể lại câu chuyện theo đề bài
- Từ câu chuyện gợi chúng ta suy nghĩ gì?
2 THÂN BÀI:
- Luận điểm 1: Một câu chuyện tưởng buồn mà thành vui.
+ Thật không vui khi phải chứng kiến một tai nạn giao thông dù nhỏ, nhất là trong mộtbuổi sáng đẹp trời
+ Nhưng thật bất ngờ, tình huống được giải quyết một cách nhanh chóng và giản dị nhưvậy
+ Điều vui nhất: họ đã có cách ứng xử thật văn hoá
- Luận điểm 2: Từ câu chuyện nhỏ, gợi cho ta những điều lớn hơn.
+ Ta cũng có khi lâm vào tình huống như vậy, nhưng cách ứng xử thì khác hẳn: cãi vả,cho mình là người có lí, có thể xông vào không nhịn được…
+ Đã có không ít những trường hợp dẫn đến kết quả đáng buồn, đáng tiếc Ngay cả bảnthân mình cũng như vậy
- Luận điểm 3: Từ đây, ta cần có văn hoá ứng xử.
+ Mỗi con nngười ngày nay trong xã hội, mỗi cách ứng xử của mình đều có tác động đếnngười khác
+ Ứng xử của hai người trong câu chuyện trở thành cách ứng xử rất đẹp đáng được nêugương Nhường nhịn nhau thi ta sẽ không thiệt hại gì
+ Từ tình huống ta suy ra: còn biết bao tình huống khác đòi hỏi ta phải có cách ứng xử có
văn hoá: nhường cho người khác như nhường ghế cho người già, phụ nữ, trẻ em khi đi
xe, biết xin lỗi, biết cảm ơn, không gây mất trật tự nơi công cộng…
+ Xã hội sẽ trở nên tốt đẹp hơn khi có những cách ứng xử như vậy
Trang 10ĐỀ: “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh được đánh giá là một văn kiện lịch sử vô giá, một áng văn chính luận mẫu mực Anh/ chị hãy phân tích bản Tuyên ngôn để làm sáng tỏ nhận định trên.
* DÀN BÀI GỢI Ý:
I MỞ BÀI:
- Chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc, phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, dân tộc tathừa cơ vùng lên giành lại chính quyền Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại quảng trường BaĐình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản “Tuyên ngôn độc lập” khai sinh ra nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa
- Bản “Tuyên ngôn độc lập” không chỉ là một văn kiện có giá trị lịch sử mà còn là một
áng văn chính luận hào hùng, mẫu mực; một áng văn tràn đầy tâm huyết, khát vọng cháybỏng về độc lập, tự do của Người và của cả dân tộc Nó có sức mạnh thuyết phục to lớn,làm rung động hàng triệu trái tim yêu nước Việt Nam
II THÂN BÀI:
A
“Tuyên ngôn độc lập” là một văn kiện lịch sử vô giá:
- Trong bối cảnh lịch sử của nước ta lúc bấy giờ, bản “Tuyên ngôn độc lập” ra đời
mang một ý nghĩa lịch sử to lớn, nó là một văn kiện trọng đại, là mốc son chói lọi tronglịch sử dân tộc Nó đánh dấu sự chấm dứt, sự sụp đổ hoàn toàn của chế độ thực dân,phong kiến, khép lại một thời kì lịch sử tăm tối, nô lệ hàng trăm năm dưới ách đô hộ củathực dân Pháp, mở ra một kỉ nguyên mới - độc lập tự do cho Tổ quốc, hạnh phúc, ấm nocho nhân dân
- Mặt khác, với nội dung khái quát sâu sắc, trang trọng cùng tầm vóc của tư tưởng, tầmvăn hóa lớn, bản Tuyên ngôn ra đời đã khẳng định được vị thế bình đẳng, lập trườngchính nghĩa của dân tộc Việt Nam trên trường quốc tế, vừa mang ý nghĩa nhân đạo củanhân loại trong thế kỉ XX; đồng thời, đập tan luận điệu xảo trá của bọn thực dân đế quốc,vạch trần dã tâm quay trở lại xâm lược cùng bản chất tàn bạo của chúng trước dư luậnquốc tế
B
“Tuyên ngôn độc lập” là một áng văn chính luận mẫu mực, đặc sắc:
- “Tuyên ngôn độc lập” không chỉ là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn mà còn là
một văn bản chính luận đặc sắc, nối tiếp tự nhiên các “áng hùng văn” trong quá khứ và
có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất chính luận với chất văn chương
- Sức mạnh và tính thuyết phục của tác phẩm được thể hiện chủ yếu ở hệ thống lập
luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực và văn phong sắc sảo, giàu tính thẩm
mĩ của Hồ Chí Minh Điều đó trước hết được thể hiện ở:
1 Cách nêu vấn đề và khẳng định chân lí khách quan của vấn đề:
* Vì sao mở đầu bản Tuyên ngôn, Người lại viện dẫn hai trích đoạn trong hai bản Tuyên ngôn của nước Mĩ và Pháp? Mục đích và ý nghĩa của việc trích dẫn đó là gì?
Mục đích của việc trích dẫn: Người nhằm nêu lên vấn đề Nhân quyền, Dân quyền
-quyền của con người và -quyền của mỗi quốc gia, mỗi dân tộc Người dẫn:
“Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyền không ai
có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.” (Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mĩ).
“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi” (Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp,
1791)
Trang 11
+ Từ những “lời bất hủ” của hai nước, Người “suy rộng ra” câu ấy có ý nghĩa là: Tất
cả mọi người sinh ra trên trái đất đều có quyền bình đẳng Tạo hóa cho họ những quyềnkhông ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự
do, quyền bình đẳng và quyền mưu cầu hạnh phúc “Đó là những lẽ phải không ai chối
cãi được”.
+ Hai bản Tuyên ngôn của Mĩ và Pháp - thế kỉ XVIII – là di sản tư tưởng của nhânloại, đánh dấu buổi bình minh của cuộc cách mạng tư sản, lật đổ chế độ phong kiến và cócông lao nêu lên thành nguyên tắc pháp lí, quyền cơ bản của con người thì không có lí gìnhững quyền ấy chỉ thuộc về hai nước
=> Vì vậy, Người đã lấy hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng của lịch sử nhân loại để mở đầucho bản Tuyên ngôn của nước Việt Nam, để khẳng định quyền của người Việt Nam, dân
tộc Việt Nam trước nhân dân thế giới “Suy rộng ra”, đó là chân lí khách quan, là lẽ phải,
không ai chối cãi được.’
- Cách viện dẫn của Người mang lại ý nghĩa rất sâu sắc: vừa khôn khéo, vừa kiênquyết, vừa sáng tạo
+ Khôn khéo, kiên quyết ở chỗ: lấy “gậy ông đập lưng ông” Người vừa tỏ ra tôn
trọng những danh ngôn bất hủ của họ, vừa nhắc nhở họ đừng phản bội lại tổ tiên mình,
đừng làm vấy bùn lên lá cờ “tự do, bác ái” mà họ đã giương cao trong các cuộc cách
mạng vĩ đại của dân tộc họ
+ Khôn khéo và sáng tọ ở chỗ: Người viện dẫn hai bản Tuyên ngôn nổi tiếng thế giới
có nghĩa là Người đã đặt ba cuộc cách mạng giải phóng dân tộc của ba nước ngang hàngnhau; ba nền độc lập và ba bản Tuyên ngôn ngang hàng nhau
Đó là mạch ngầm văn bản khiến cho bất cứ ai tinh tế trong nhận định phải giật mình vì
sự thâm thúy, sâu sắc của Người Trong bản Tuyên ngôn “Bình Ngô đại cáo” của
Nguyễn Trãi khi xưa, người anh hùng đã khẳng định chủ quyền độc lập của mỗi quốc gia:
Đinh, Lí, Trần cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên xưng đế một phương, thật
rạch ròi, rõ ràng và đối xứng Đó là chân lí bất khả xâm phạm của mỗi nước
Trong bản Tuyên ngôn của Hồ Chí Minh cũng vậy, Người đặt quyền của ba nước làngang hàng nhau là thể hiện niềm tự tôn, tự hào dân tộc, khẳng định vị thế của một đấtnước đầy kiêu hãnh trước thế giới
Đó là hành động cách mạng táo bạo, tài tình trong xử thế chính trị của Người
+ Sáng tạo ở chỗ: Người đã nâng vấn đề Nhân quyền, Dân quyền lên tầm vóc cao
hơn, rộng hơn Từ quyền bình đẳng, tự do, hạnh phúc của cá nhân lên thành vấn đề quyền
của các dân tộc: “suy rộng ra Tất cả dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân
tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do ”
Cụm từ “Suy rộng ra” thật thông minh, chặt chẽ, đanh thép như: “Một phát súng lệnh
khởi đầu cho sự tan rã của hệ thống thuộc địa thế giới” (Nguyễn Đăng Mạnh), là đòn
đánh phủ đầu vào âm mưu tái chiếm của Pháp và sự can thiệp của các thế lực vào nềnđộc lập, tự chủ của Việt Nam; đồng thời, tranh thủ sự đồng tình rộng rãi của dư luận quốctế
Nhà xuất bản Sự thật năm 1967 cũng viết: “Cống hiến lớn nhất của Hồ Chí Minh là ở
chỗ, Người đã nhìn quyền lợi của con người thành quyền lợi của dân tộc Như vậy, tất cả mọi dân tộc đề có quyền quyết định lấy vận mệnh của riêng mình.”
Cách viện dẫn bằng những danh ngôn bất hủ, nổi tiếng của hai cường quốc, đó là hành động táo bạo, là tài nghệ sáng suốt của Hồ Chí Minh Người đã đưa ra những lí lẽ
ngắn gọn, sắc sảo, “lạt mềm buộc chặt”; những bằng chứng; những chân lí không ai chối
cãi được
Trang 12
Tất cả kết tinh từ tầm tư tưởng, văn hóa lớn của Hồ Chí Minh nói riêng và của
nhiều thế kỉ đấu tranh vì độc lập, tự do, vì Nhân quyền, Dân quyền của dân tộc và của cảnhân loại nói chung Có thể nói đoạn mở đầu bản Tuyên ngôn tiêu biểu cho vẻ đẹp vănchương chính luận mẫu mực
2 Cách tác giả luận tội kẻ thù:
- Người lên án, tố cáo tội ác của thực dân Pháp đối với Đông Dương
+ Người vạch trần bản chất lợi dụng lá cờ “tự do, bác ái” để cướp nước ta, áp bức
đồng bào ta của bọn chúng Đó là hành động phi nghĩa, phi nhân đạo
+ Người tố cáo những hành động:
Bóc lột về kinh tế: chúng bóc lột nhân ta đến tận xương tủy, cướp không ruộng đất,
hầm mỏ, nguyên liệu; độc quyền in giấy bạc, xuất cảng và nhập cảng; đặt ra trăm thứthuế khóa nặng nề cho nông dân; không cho các nhà tư sản của ta ngóc đầu lên; côngnhân bị bóc lột tàn nhẫn
Đàn áp về chính trị: chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút quyền tự do
nào, chúng thi hành những luật pháp dã man, chia để trị, chúng tắm các cuộc khởi nghĩacủa ta trong những bể máu
Nô dịch về văn hóa: chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học, thi hành chính sách
ngu dân, dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm suy nhược giống nòi của ta
Tội ác chúng gây ra ở mọi mặt đời sống, ở mọi đối tượng nông dân, công nhân, thợ
thủ công Kết quả là bọn chúng đã gây ra nạn đói khủng khiếp “từ Quảng Trị đến Bắc Kì,
hơn hai triệu đồng bào ta bị chết đói”
+ Người nhắc đi nhắc lại bằng các điệp ngữ và các động từ mạnh chỉ hành động tội ác
khác nhau của chúng: chúng thi hành , chúng lập ra , chúng chém giết , chúng tắm ,
chúng ràng buộc , chúng dùng , chúng độc quyền , chúng đặt ra , chúng không cho , chúng bóc lột
+ Kết hợp với giọng điệu đanh thép liên hoàn, trùng điệp làm nổi bật lên tội ác chồngchất của giặc
- Người vạch trần bản chất hèn nhát, xảo trá, vô liêm xỉ của thực dân Pháp Thực
dân Pháp đã từng huênh hoang “bảo hộ”, “khai hóa văn minh” cho nước ta, Người
chứng minh:
+ Mùa thu năm 1940: Nhật xâm lược nước ta thì Pháp quỳ gối đầu hàng, Pháp đã bỏ
chạy, đầu hàng, kết quả là trong 5 năm, Pháp bán nước ta hai lần cho Nhật Vậy là “bảo
hộ” hay hèn nhát? Là có công hay có tội?
+ Người khẳng định: chúng ta lấy lại nước từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp.
Sự thật là từ năm 1940 ta là thuộc địa của Nhật chứ không phải của Pháp Nhật đầu hàng
Đồng minh, ta nổi dậy giành chính quyền: “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái
vị” Ta đánh đổ chúng dựng lên chế độ Dân chủ Cộng hòa.
Người láy đi láy lại hai chữ “sự thật ”, “sự thật là ”, “sự thật là ”, vì không có lí
lẽ nào có sức thuyết phục cao hơn là lí lẽ của sự thật Sự thật còn là những bằng chứngxác đáng không ai có thể bác bỏ được
- Bản Tuyên ngôn ca ngợi cuộc đấu tranh chính nghĩa và tinh thần nhân đạo của
dân tộc ta Người đưa ra những mặt đối lập làm nổi bật bản chất giữa ta và địch:
+ Khi phát xít Nhật vào Đông Dương thì Pháp đầu hàng, trong khi đó thì ta tiến hànhkháng Nhật
Trang 13
+ Trong khi thực dân Pháp đầu hàng Nhật và không hợp tác với ta mà ngược lại cònkhủng bố, giết chết số đông tù chính trị của ta ở Yên Bái và Cao Bằng.
+ Khi người Pháp thua chạy, ta đã “giúp, cứu, bảo vệ” tính mạng và tài sản cho họ.
Như vậy thì ai đã bảo hộ cho ai? Những hành động ấy chẳng phải đã chứng minh bản chất vô nhân đạo, hèn nhát của chúng và tinh thần chính nghĩa, thái độ khoan hồng,
nhân đạo của ta?
=> Với cách lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, bằng chứng xác thực, Người đã vạch rõ tội ác bản chất tàn bạo, hèn nhát, huênh hoang của giặc; đồng thời ca ngợi tinh thần chính nghĩa, anh dũng, nhân đạo của nhân dân ta.
3 Tuyên ngôn của bản Tuyên ngôn:
- Người đã sử dụng câu văn chỉ có chín chữ mà tóm lược đầy đủ các sự kiện: “Pháp
chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị” Người đã dựng lại cả một giai đoạn lịch sử đầy
biến động và vô cùng oanh liệt của dân tộc, đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần mộttrăm năm, đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Việt Nam Dânchủ Cộng hòa như một tất yếu lịch sử Đó cũng chính là lời tuyên bố khai sinh ra nướcViệt Nam độc lập
- Tất cả các sự kiện trên là “sự thật” nên Người đã ràng buộc các nước Đồng minh phải công nhận nền độc lập của Việt Nam: “Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã
công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng ở các Hội nghị Tê-hê-răng và Cựu Kim Sơn”, “quyết không thể không công nhận quyền độc lập của dân tộc Việt Nam” Đó là
cách nói “lạt mềm buộc chặt”, đánh vào lòng tự trọng của họ và buộc họ phảo ủng hộ
nền độc lập của Việt Nam
- Người còn tuyên bố thoát li, xóa bỏ mọi hiệp ước, mọi đặc quyền của Pháp trên đấtnước Việt Nam
- Người khẳng định quyền độc lập của một dân tộc đã phải đổi bằng xương máu của
mình “Dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”
- Người còn cảnh báo đối với kẻ thù: để bảo vệ thành quả thì dân tộc Việt Nam quyếtđem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để bảo về, giữ vững quyền tự do,độc lập ấy
=> Lời kết như sấm truyền cảnh báo cho kẻ thù từ ngàn xưa vọng về tinh thần bất khả xâm phạm của dân tộc: “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm - Nhữ đẳng hành khang thủ bại hư”
4 “Tuyên ngôn độc lập” là áng văn sắc sảo mà giàu tính thẩm mĩ, có sức thuyết phục, lay động hàng triệu trái tim yêu nước Việt Nam:
- Khi luận tội kẻ thù, Người thể hiện thái độ căm phẫn “chúng lập ra chúng thẳng
tay ”
- Người xót thương khi nói đến nỗi đau của dân tộc “Chúng chém giết tắm các
cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu nòi giống ta suy nhược dân ta nghèo, thiếu thốn, nước ta xơ xác, tiêu điều ”.
- Tình cảm tha thiết, mãnh liệt; thái độ kiên quyết khi Người nói đến quyền được
hưởng độc lập, tự do của dân tộc cũng như quyết tâm đến cùng bảo vệ nền độc lập ấy:
“Sự thật là sự thật là chúng tôi tin rằng quyết không thể một dân tộc một dân
tộc, dân tộc đó ” Điệp ngữ được nhấn đi nhấn lại toát lên khát vọng, ý chí mãnh liệt
của Người cũng như của cả dân tộc Việt Nam
- Giọng điệu khi nồng nàn, tha thiết, khi xót xa thương cảm, khi hừng hực căm
thù, khi hào sảng khích lệ Tất cả tạo nên “áng hùng văn” của thời đại mới - thời đại Hồ
Chí Minh
Trang 14
III KẾT BÀI:
“Tuyên ngôn độc lập” là một kiệt tác bằng cả tài hoa, tâm huyết của Hồ Chí Minh,
Người đã thể hiện khí phách của cả dân tộc trước trường quốc tế Tác phẩm được đánhgiá là văn bản chính luận mẫu mực bởi kết cấu chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, hùng hồn, thấutình đạt lí Câu văn gọn gàng, trong sáng một cách kì lạ, có sức lay động hàng triệu trái
tim người Việt Nam và cả thế giới “Tuyên ngôn độc lập” rất xứng đáng là áng văn muôn
đời
ĐỀ: Phân tích đoạn thơ sau trong bài Việt Bắc của Tố Hữu:
“Ta về, mình có nhớ ta
Ta về, ta nhớ những hoa cùng người
Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi
Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ con em gái hái măng một mình Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.”
DÀN BÀI GỢI Ý:
I MỞ BÀI:
- Hoàn cảnh sáng tác bài thơ: Tháng 10 năm 1954, sau thắng lợi của cuộc kháng chiến
chống Pháp, thủ đô Hà Nội được giải phóng, Tố Hữu rời rừng núi Việt Bắc trở về HàNội Nhà thơ đã dành cho cuộc chia li này một trong những bài thơ đặc sắc nhất: bài thơ
Việt Bắc (tập thơ Việt Bắc – 1955).
- Dẫn vào đoạn thơ: Nhắc lại những kỉ niệm từng gắn bó với Việt Bắc, Tố Hữu có
những đoạn thơ tưởng có thể đặt vào một trong những hợp tuyển những bài ca dao ngợi
ca quê hương đất nước:
“ Ta về, mình có nhớ ta
……
Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”
II THÂN BÀI:
a Nhận xét chung về nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ:
- Cũng như cả bài thơ, đoạn thơ được viết theo thể lục bát của dân tộc, một thứ lục bátvới những lời thơ dể hiểu, giản dị và giàu hình ảnh như ca dao Đặc biệt, trong đoạn thơnày, cũng như toàn bài thơ, cảm xúc của nhà thơ được thể hiện qua những lời đối thoạigiữa kẻ ở với người đi trong một cuộc tiễn đưa Đại từ dùng để xưng hô là cặp đại từ
“mình – ta”, gợi nhớ những câu ca quen thuộc ngày xưa:
- Trong bài thơ của Tố Hữu, hai đại từ “mình – ta” được luân chuyển vị trí, khi thì là
người ở, khi thì là người ra đi Riêng trong đoạn thơ này, ta là người ra đi là Tố Hữu,
Trang 15
mình là người ở lại, là Việt Bắc Người ra đi muốn hỏi người ở lại: không biết sau khi ta
về xuôi rồi, người ở lại có còn nhớ ta nữa chăng?
- Đây chỉ là câu hỏi mang tính tu từ, hỏi để tạo cái cớ cho người ra đi khẳng định về
chính mình Người ở lại có thể hiểu rằng: Sau khi ta về xuôi rồi, không biết người ở lại
có còn nhớ đến ta không, riêng ta sẽ nhớ mãi
- Nỗi nhớ được gói trong ba tiếng “hoa cùng người”:
+ Hoa ở đây vừa mang nghĩa chính, vừa mang nghĩa hoán dụ: Hoa là hoa mà cũng là
thiên nhiên nói chung
+ Từ “cùng” tạo nên một sự liên kết mật thiết: giữa thiên nhiên và con người Việt Bắc là
một sự gắn bó, có hoa là có người, có người là có thiên nhiên
- Với nỗi nhớ trong sự gắn đó ấy, Tố Hữu tạo nên bốn câu thơ cặp lục bát, vẽ ra bốn bức
tranh, bức nào cũng có “hoa cùng người” Từ “nhớ” trở đi trở lại, xuyên suốt đoạn thơ.
c Bức tranh thứ nhất: Việt Bắc với những đường nét, màu sắc tiêu biểu.
“Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”.
- Hai câu thơ, câu trên là hoa, thiên nhiên Việt Bắc: Rừng Việt Bắc với những màu sắctiêu biểu là màu xanh Đúng là hình ảnh của một vùng đất với núi rừng trùng điệp, hìnhảnh luôn luôn hiển hiện trong kỉ niệm của người đến Việt Bắc
- Cái hay trong bức tranh còn là hình ảnh hoa chuối đỏ tươi, một hình ảnh quen thuộckhác của thiên thiên Việt Bắc Màu đỏ tươi của hoa chuối làm cho cảnh thiên nhiên trởnên rực rỡ Cả hai màu xanh và đỏ hoà hợp
- Nhớ hoa cùng người, từ thiên nhiên, nhà thơ nhớ đến con người quen thuộc của Việt
Bắc Đây chính là hình ảnh của con người lao động trong cuộc sống thường ngày Conngười trên đèo cao, được mặt trời chiếu sáng, nắng lấp lánh ánh thép nơi chiếc dao gàithắt lưng
d Bức tranh thứ hai: Việt Bắc mùa xuân.
“Ngày xuân mơ nở trắng rừng Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”.
- Thiên nhiên cũng là rừng nhưng là một thứ rừng mang vẻ đẹp đặc trưng của mùa xuân
Việt Bắc, rừng mơ đang giữa mùa hoa “Nở trắng rừng” là cả một không gian bát ngát
màu trắng, thứ màu trắng tinh khuyết của những cánh hoa mơ
- Hoà hợp với vẻ đẹp thuần khiết và dịu dàng ấy của ngày xuân, hình ảnh con người tuyvẫn là người lao động bình dị, nhưng công việc gợi lên không khí tĩnh lặng, thanh bình:
“chuốt giang”, “đan nón” Nhà thơ làm rõ không khí ấy bằng hình ảnh và cả thanh điệu:
“chuốt” – “từng sợi giang”.
e Bức tranh thứ ba, mùa hạ:
“Ve kêu rừng phách đổ vàng Nhớ cô em gái hái măng một mình”.
- Rừng trong tranh lúc này là “rừng phách”, lại là rừng phách với màu vàng.
- Cấu trúc của câu thơ (“Ve” – “kêu rừng phách đổ vàng”) còn như cho phép người đọc
hiểu rằng: tiếng ve kêu khiến rừng phách đổ sang màu vàng, bởi cái màu vàng của rừngphách nhẹ quá, lung linh quá Thật ra, theo đúng lo-gích, nghĩa của câu thơ là nghe tiếng
ve kêu, thấy rừng phách đổ vàng
- Câu thơ gợi một không gian lấp lánh màu vàng: Màu vàng trên cao, mùa vàng phủ đầymặt đất, mùa vàng lơ lửng giữa trời…
Trang 16
- Giữa màu vàng ấy, có những bước chân của một cô gái nhỏ Việt Bắc đang hái măngtrong rừng Thật tĩnh lặng và đáng yêu.
+ Tố Hữu không chỉ nói cô gái, mà nói là “cô em gái”, rất trìu mến.
+ Tố Hữu gọi việc lấy măng là “hái măng”, giống như việc hái hoa hái quả Thật ra, việc
lấy măng rừng không phải là việc nhẹ nhàng như hái hoa hái quả
+ Hình ảnh “cô em gái” còn thêm hai tiếng “một mình”, khiến cho bức tranh càng tăng
thêm vẻ yên bình
g Bức tranh thứ tư, mùa thu Việt Bắc:
“Rừng thu trăng rọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”.
- Bức tranh rất đặc biệt: rừng, không rõ rừng gì, chỉ biết là “rừng thu” Màu của rừng cũng là màu của “trăng rọi hoà bình”, màu của ánh trăng toả xuống lá rừng.
- Bốn tiếng “trăng rọi hoà bình” gợi lên hai liên tưởng: Ánh trăng dịu dàng, yên ả toả
xuống rừng thu; cũng có thể hiểu là ánh trăng chiếu rọi phong cảnh hoà bình, trong mộtđêm thu hoà bình sau khi chiến tranh vừa kết thúc
- Giữa cảnh rừng thu ấy, con người xuất hiện trong bức tranh cũng rất độc đáo: không
thấy hình dáng hay màu sắc, chỉ nhận ra từ âm thanh: “tiếng hát”.
+ “tiếng hát ân tình thuỷ chung”: Thật hợp với bức tranh dưới ánh trăng thu.
+ Liên tưởng: Một đêm trăng thu sau ngày hoà bình trở lại, nhân dân Việt Bắc hội tụ dướiánh trăng thanh bình, những đôi trai gái vui rừng được hát với những câu hát ân tình, traonhau những lời hò hẹn thuỷ chung
- Kết thúc bộ tranh tứ bình bằng một bức tranh đầy đủ nhân hậu, lạc quan Ta có thể thấycảnh và người Việt Bắc chuyển từ quá khứ sang hiện tại Người đọc có thể nhận ra ý đồnghệ thuật của nhà thơ vì sao không kết cấu bộ tranh tứ bình theo trình tự bốn mùa xuân,
hạ, thu, đông để rồi cuối bức tranh phải là mùa đông Nhà thơ giã từ biệt Bắc giữa mùathu Kỉ niệm sau cùng, đẹp nhất là mùa thu, là phong cảnh hoà bình
III KẾT BÀI:
- Chỉ với mười câu thơ, tạo nên bốn bức tranh như một bộ tranh tứ bình quen thuộc, giản
dị trong sáng Tố Hữu đã ghi lại những gì đẹp nhất, đáng nhớ nhất để nhớ mãi Việt Bắc
- Đây cũng là cái tài và cũng là cái tâm của nhà thơ
ĐỀ: Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu:
“Mình về mình có nhớ ta
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?
Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”.
Trang 17
* DÀN BÀI GỢI Ý:
I.MỞ BÀI:
- Việt Bắc là đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp, đây chính là căn cứ địa vữngchắc của Trung ương Đảng và Chính phủ trong suốt 15 năm thuở còn kháng Nhật Nơiđây, đồng bào các dân tộc Việt Bắc đã cưu mang, che chở cho Đảng, Chính phủ, cho bộđội những ngày kháng chiến vô cùng gian khổ Và cũng chính nơi đây đã lập nên chiếnthắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu
- Tháng 10 năm 1954, những người kháng chiến từ căn cứ Việt Bắc trở về xuôi, Trungương Đảng và Chính phủ về Hà Nội Liệu những người chiến thắng có giữ tấm lòng thủychung ân nghĩa với mảnh đất đã từng cưu mang, gắn bó không? Đấy là vấn đề tư tưởng
lớn đặt ra cho các cán bộ và chiến sĩ Tố Hữu đã viết bài thơ Việt Bắc để đáp lại nỗi niềm
ấy
Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu và cũng là thi phẩm xuất sắc của văn học Việt
Nam thời kì chống Pháp; là khúc tình ca, anh hùng ca về cách mạng, về cuộc khángchiến, về con người kháng chiến, mà cội nguồn sâu xa của nó là tình yêu quê hương đấtnước; là niềm tự hào về sức mạnh của nhân dân, là truyền thống nhân nghĩa, đạo lí thủychung của dân tộc Việt Nam
- Một trong những đoạn gây xúc động lòng người là phần đầu của bài thơ Bằng lối đối
đáp và cách sử dụng đại từ “mình – ta” quen thuộc của ca dao, đoạn thơ giống như một
lời hát giao duyên đằm thắm, thiết tha, thể hiện tâm trạng luyến lưu giữa đồng bào ViệtBắc và người cán bộ kháng chiến trong ngày chia tay ngậm ngùi
II.THÂN BÀI:
1 Cấu tứ của đoạn thơ: (sắc thái tâm trạng của cái tôi trữ tình – nhà thơ và những người
tham gia kháng chiến)
- Đoạn thơ nằm trong cấu tứ chung của cả bài thơ, đó là tâm trạng đầy xúc động bâng khuâng của người đi kẻ ở, cả hai đã từng sống và gắn bó suốt mười lăm năm, có
biết bao kỉ niệm ân tình ân nghĩa, sẻ chia đắng cay ngọt bùi trong cuộc kháng chiến đầygian khổ
- Tố Hữu đã khéo léo thể hiện ân tình ân nghĩa ấy dưới hình thức đối đáp của hai nhân
vật trữ tình “mình – ta” trong ca dao truyền thống, tưởng như rất riêng của tình yêu
đôi lứa nhưng lại hóa thành một vấn đề lớn trong mối quan hệ ân tình của đồng chí, đồngbào, của tình yêu quê hương, đất nước Lời đối đáp giao hòa đồng vọng trong tâm hồnmỗi người vì cả hai đều là người kháng chiến
- Nhà thơ sáng tạo hai đại từ “mình – ta” là thủ pháp nghệ thuật độc đáo, tài hoa, góp
phần vào sự phân đôi và thống nhất của chủ thể trữ tình Mình là ta, ta là mình, là
những người kháng chiến, là đồng bào Việt Bắc, là nhà thơ Tất cả thâm nhập, chuyểnhóa vào độc thoại, đối thoại, diễn tả chung tâm trạng, tâm tư, tình cảm của nhà thơ và củanhững người tham gia kháng chiến
Họ đã sống gắn bó, tình nghĩa, sướng khổ có nhau; cùng chung kỉ niệm và mong ước,cùng chung cảm xúc buổi phân li; cùng xúc động, băn khoăn, dằn vặt giữa cái đã qua vàcái sắp tới; giữa phần đi và phần ở trong mỗi con người
2 Bốn câu đầu: là lời ướm hỏi ngọt ngào, tình tứ của người ở lại:
“Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng Mình về mình có nhớ không
Trang 18
Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn?”
- Người ở lại rất nhạy cảm, sợ bạn mình sẽ thay đổi tình cảm khi về thành nên luôn luôngợi nhắc những kỉ niệm sâu nặng:
“Mình về mình có nhớ ta Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”
+ Hai câu thơ này gợi nhắc đến câu ca dao:
“Mình về có nhớ ta chăng
Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”
Câu thơ trong Truỵên Kiều của Nguyễn Du cũng nói về điều này:
“Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình”
Tố Hữu đã vận dụng yếu tố truyền thống của văn học dân tộc để thể hiện tình cảm gắn
bó thuỷ chung của đồng bào đối với cách mạng
Câu hỏi nhằm gợi đến những tình nghĩa “thiết tha mặn nồng” của đồng bào Việt Bắc
và người cán bộ kháng chiến trong suốt “mười lăm năm” chiến đấu gian khổ, thiếu thốn
và rất hào hùng ở chiến khu Việt Bắc
+ Đồng bào Việt Bắc lại tiếp tục hỏi:
“Mình về mình có nhớ không Nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn?”
+ Câu thơ vừa gợi lên cảnh vật núi rừng Việt Bắc, vừa là lời nhắc nhở khéo léo về nỗinhớ cội nguồn cách mạng
Việt Bắc là căn cứ địa của cách mạng, là cái nôi nuôi dưỡng, che chở cho Đảng, choChính phủ, bộ đội ta trước và trong cuộc kháng chiến chống Pháp
Việt Bắc còn là cội nguồn của chiến thắng: Trước cách mạng tháng Tám, từ Việt Bắc tatiến về giải phóng thủ đô Hà Nội thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà; sau Cáchmạng tháng Tám, từ Việt Bắc ta tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp và kết thúc bằngchiến thắng Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu
=> Bằng thể thơ lúc bát quen thuộc, cặp đại từ “mình – ta” của ca dao, điệp từ “nhớ”
dồn dập khiến cho hai câu hỏi của đồng bào Việt Bắc trở nên ngọt ngào, tha thiết, khéoléo; không chỉ hỏi người cán bộ kháng chiến để nhắc lại những kỉ niệm sâu nặng, mà hỏicũng là để khẳng định tấm lòng thuỷ chung son sắt của mình với cách mạng
3 Bốn câu còn lại: thể hịên chân thực tâm trạng luyến lưu, nghẹn ngào, xúc động giữa người cán bộ kháng chiến và đồng bào Việt Bắc trong ngày chia tay:
“Tiếng ai tha thiết bên cồn Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân li Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
- “Tiếng ai tha thiết bên cồn” là những lời hỏi han ân cần, tha thiết của đồng bào Việt
Bắc, gợi biết bao kỉ niệm trong mười lăm năm gắn bó với người cán bộ kháng chiến
- Trong những câu thơ này, mặc dù người cán bộ không trực tiếp trả lời những câu hỏi
đặt ra của đồng bào Việt Bắc: “Mình có nhớ ta”, “Mình có nhớ không” nhưng tâm trạng
“bâng khuâng trong dạ bồn chồn bước đi” đã thể hiện những tình cảm luyến lưu, bịn rịn
và tấm lòng yêu thương quý mến của người cán bộ kháng chiến với đồng bào Việt Bắc
- “Cồn”, “áo chàm” gợi không khí con người và cảnh vật Việt Bắc thân thương.
- “Áo chàm” là hình ảnh hoán dụ có giá trị khắc hoạ trang phục truyền thống của đồng
bào Việt Bắc, nhưng cũng để nói lên rằng toàn dân Việt Bắc đều ân cần tiễn đưa nhữngngười cán bộ về miền xuôi
Trang 19
- Đặc biệt hình ảnh “Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay” có giá trị biểu cảm rất lớn Ngày
chia tay, không phải người cán bộ và đồng bào Việt Bắc không có gì để nói nhưng vì quánghẹn ngào xúc động nên không nói được thành lời
=> Như vậy, người cán bộ kháng chiến ra đi nhưng vẫn nhớ Việt Bắc, nhớ “tiếng ai tha
thiết bên cồn”, nhớ “áo chàm”, nhớ tình cảm của người Việt Bắc dành cho người kháng
chiến Tất cả nỗi nhớ đó nói lên được tấm lòn thuỷ chung son sắt của người cán bộ khángchiến đối với đồng bào Việt Bắc và quê hương cách mạng
3 KẾT BÀI:
- Đoạn thơ thể hiện được tấm lòng thuỷ chung son sắt giữa người ra đi và người ở lại.Những tình cảm trong sáng đó rất tiêu biểu cho chủ nghĩa yêu nước, anh hùng của nhândân ta trong cuộc kháng chiến chống Pháp
- Thể thơ lục bát êm đềm, sâu lắng, cách dùng đại từ “mình – ta” thân mật, điệp từ
“nhớ” lặp lại nhiều lần làm cho giọng điệu đoạn thơ ngọt ngào da diết diễn tả được chiều
sâu tâm hồn và tình cảm con người Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp
-ĐỀ: Phân tích đoạn thơ sau đây trong bài Việt Bắc của Tố Hữu:
Những đường Việt Bắc của ta,
Đêm đêm rầm rập như là đất rung.
Quân đi điệp điệp trùng trùng,
Ánh sao đầu súng, bạn cùng mũ nan.
Dân công đỏ đuốc từng đoàn,
Bước chân nát đá, muôn tàn lửa bay.
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày, Đèn pha bật sáng như ngày mai lên Tin vui chiến thắng trăm miền, Hoà Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về Vui từ Đồng Tháp, An Khê, Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng.
DÀN BÀI THAM KHẢO:
I MỞ BÀI
- Việt Bắc là một bài thơ hay của Tố Hữu và là một thành tựu xuất sắc của nền thơ kháng
chiến chống Pháp 1945 – 1954
- Nội dung cảm xúc của bài thơ là nỗi nhớ - một nỗi nhớ hướng tới nhiều đối tượng cụ
thể vừa khác biệt vừa thống nhất với nhau Ở đoạn thơ sau, nỗi nhớ như xoáy vào nhữngngày tháng hào hùng của cuộc kháng chiến
(… Trích dẫn… )
II THÂN BÀI:
- Trong tám câu thơ đầu, nhà thơ vẽ lại rất sống động hình ảnh những đêm Việt Bắc
trong mùa chiến dịch Ban ngày kẻ thù đánh phá ác liệt, nhưng ban đêm ưu thế thuộc về
chúng ta Hai từ “của ta” nằm cuối câu thứ nhất thể hiện rõ ý thức làm chủ của người
kháng chiến đối với quê hương, đất nước
+ Khí thế trận bừng bừng của quân ta được miêu tả hết sức chân thực bằng những hìnhảnh gân guốc, khoẻ khoắn; bằng những từ tượng hình, tượng thanh chính xác; bằng một
so sánh thoáng nhìn qua không có gì mới mẻ nhưng thực chất lại có ý vị: “Đêm đêm rầm
rập như là đất rừng”, “Sau Toàn quốc kháng chiến trong vô số hình ảnh quanh ta thì hình ảnh con đường, những con đường đập mạnh vào mắt ta, tâm óc ta nhiều nhất Con đường đã là một sự” (Nguyễn Tuân-Đường vui).
Trang 20
+ Nét lãng mạn trong đời sống kháng chiến cũng được nói tới bằng hình ảnh vừa giàu ý
nghĩa tả thực, vừa thấm đẫm tính tượng trưng: “ánh sao đầu súng, bạn cũng mũ nan”.
+ Tuy mô tả cảnh ban đêm, nhưng bức tranh thơ Tố Hữu giàu chi tiết nói về ánh sáng:
ánh sáng của sao trời, của lửa đuốc, của đèn pha…Sự so sánh “Đèn pha bật sáng như
ngày mai lên” tuy có vẻ cường điệu nhưng phản ánh đúng niềm phấn chấn tràn ngập lòng
người kháng chiến
- Để thể hiện không khí chiến thắng, tác giả lặp lại nhiều lần từ “vui” và đưa vào thơ một
loạt địa danh thuộc cả 3 miền Bắc, Trung , Nam, quyện hoà, xoắn xuýt với nhau So vớinhững nhà thơ khác như Quang Dũng, Hoàng Cầm, cách sử dụng địa danh của Tố Hữuvẫn có những nét riêng độc đáo
ĐỀ: Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
Áo bào thy chiếu anh về đất
thơ Tây Tiến.
- Cả bài thơ đoạn nào cũng hay, nhưng tập trung nhất, như làm nên cái hồn cho cả hai bàithơ chính là khổ thơ này:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
………
Hồn về Sầm Nứa, chẳng về xuôi”
II THÂN BÀI:
a Trước khi đi vào phân tích đoạn thơ, ta cần biết một chút về nguyên mẫu của nhân vật này.
- Đầu năm 1947, sau khi cuộc kháng chiến toàn quốc vừa bùng nổ, một đơn vị bộ độiđược thành lập, từ Hà Nội hành quân về biên giới phía Tây, có nhiệm vụ vừa cùng với bộđội Lào kháng chiến, vừa chặn đánh mũi tên tiến quân của giặc Pháp từ Thượng Lào vàonước ta Những ngày đầu kháng chiến, cuộc sống của anh bộ đội đã cực kì gian khổ,những ngày hành quân giữa núi rừng biên giới phía Tây càng gian khổ bội phần
Trang 21
- Điều đặc biệt nhất của đoàn quân Tây Tiến là hầu như tất cả người trong đơn vị đều từ
Hà Nội ra đi, cái chất chung của đơn vị là “chất Hà Nội” Quang Dũng, vốn đã sống
nhiều năm ở Hà Nội, trở thành một đại đội trưởng của đơn vị Đoàn quân Tây Tiến tồn tạikhông lâu, chỉ đến đầu năm 1948 thì hoàn thành nhiệm vụ, được rút về nước, giải thể đểthành lập đơn vị mới
- Riêng Quang Dũng, chuyển công tác sang làm văn hoá văn nghệ tại Quân khu Chính ởđây, nơi một làng quê có tên là Phù Lưu Chanh, vào khoảng cuối năm 1948, nhớ về đơn
vị cũ, Quang Dũng đã viết bài thơ Nhớ Tây Tiến, về sau đổi thành Tây Tiến
b Bức chân dung người chiến sĩ với những nét độc đáo cả ngoại hình lẫn nội tâm.
- Đây là hai nét về ngoại hình của họ:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc Quân xanh màu lá dữ oai hùm
- Giống như một lời định nghĩa, Tây Tiến là một đoàn binh của những người không mọc
tóc Thật độc đáo, đến như là quái dị Nhưng ở đây, đằng sau sự độc đáo ấy là sự thật củacuộc đời, hào hùng và bi thương
+ Có một thời của cuộc kháng chiến chống Pháp, gian khổ thiếu thốn đến vô cùng, anh
bộ đội còn có những tên gọi rất ngộ nghĩnh: Vệ trọc, Vệ túm Vệ trọc bởi vì thiếu ăn, đau
ốm, tóc rụng hết, phải trọc đầu Vệ túm bởi vì áo quần rách rưới, phải túm trước túm sau.
+ Quang Dũng không nói về trọc mà nói không mọc tóc vì cách nói này độc đáo hơn,đậm chất Tây Tiến hơn, ngộ nghĩnh mà cũng ngang tàng hơn Nhà thơ như muốn nói, anh
bộ đội ở đâu cũng gian khổ, thiếu thốn, nhưng không đầu bằng Tây Tiến Hơn nữa,những con người Tây Tiến là những con người đặc biệt không mọc tóc
+ Cách nói của Quang Dũng là sự thể hiện tinh thần lãng mạn của những con người luônluôn coi thường gian nan, có thể đùa cợt với gian nan, lấy gian nan làm chất men, chấtthơ cho cuộc sống
- Thêm một nét độc đáo nữa trong ngoại hình của những người chiến sĩ:
Quân xanh màu lá dữ oai hùm
Đã “đoàn binh không mọc tóc”, bây giờ lại còn là “quân xanh”, tức đoàn quân màu
xanh
+ Có người hiểu rằng, đây là cách nói màu xanh của lá nguỵ trang mà các anh bộ đội tavẫn khoát lên người trong khi hành quân Nhưng nếu chỉ như thế thì đâu còn là nét riêngcủa bộ đội Tây Tiến, thì còn gì là mạch cảm xúc độc đáo của bài thơ
+ Quân xanh đây chính là màu xanh của người bị bệnh sốt rét lâu ngày
+ Thường thì với màu xanh này, người ta vẫn thường nói “xanh như lá”, Quang Dũng chỉ đổi một từ thôi: xanh màu lá, nghĩa là xanh màu của sự sống Chính vì vậy mà nét tiếp
theo mà tác giả khắc hoạ về những người chiến sĩ là dữ oai hùm, có cái oai phong dữ dộicủa hùm beo, của những đoàn quân mạnh như thơ cổ từng ca ngợi:
Tam quân tì hổ khí khôn Ngưu
(Khí thế của ba quân như hùm beo át cả sao Ngưu trên trời)
(Phạm Ngũ Lão - Thuật Hoài)
- Từ hai nét về ngoại hình, Quang Dũng nói lên tâm hồn của người lính Tây Tiến cũngbao gồm hai nét:
Mắt trừng gởi mộng qua biên giới Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
+ Đó là hai nét tương phản đầy chất lãng mạn trong nội tâm người chiến sĩ: Qua biên giới
thì mắt trừng gởi một, nhớ về Hà Nội thì mơ dáng kiều thơm Đây đúng là con người mẫu
Trang 22
của văn học lãng mạn, say mê sự nghiệp anh hùng nhưng cũng hào hoa, đa tình trongcuộc.
+ Điều này thật đúng là tâm hồn chiến sĩ Tây Tiến, những chàng trai Hà Nội, dũng cảmtrong chiến đấu, nhưng cũng rất hào hoa, lãng mạn trong cuộc sống đời thường
c Đây là đoạn thơ hiếm gặp trong thơ kháng chiến, nhưng là đoạn thơ làm cho bức chân dung người chiến sĩ Tây Tiến trở nên trọn vẹn:
- Nỗi nhớ của Quang Dũng là một câu thơ rất buồn:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ
+ Nhịp thơ chậm, mỗi từ đều gợi lên cảm xúc buồn
+ Từ câu thơ, hiện lên một bức tranh rất buồn: Một vùng đất biên cương, rải rác nhữngnấm mồ hiu quạnh…
+ Hình ảnh này đã có sẵn từ Chinh phụ ngâm khi nói về người tử trận với những nấm
mồ:
Non Kì quạnh quẽ trăng treo Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò Hồn sĩ tử gió ù ù thổi Mặt chinh phu trăng dõi dõi soi….
- Từ câu thơ rất buồn, Quang Dũng đến một câu rất đẹp, không phải nói về cái chết mànói về lẽ sống của con người:
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh
+ Như một lẽ sống, câu thơ còn vang lên như một lời thề trước lúc lên đường của cácchiến sĩ Tây Tiến: sẵn sàng chiến đấu dũng cảm, sẵn sàng hi sinh
+ Cái chết không còn sự mất mát, một nỗi đau, mà là một sự tự nguyện Câu thơ khôngchỉ nói về những người đã chết mà còn nói về những người đang sống, đầy sự cổ vũ
- Nhà thơ nói tiếp về một sự việc mà có lẽ nhiều người không dám nói:
Áo bào thay chiếu anh về đất
+ Sự thật ẩn chứa trong câu thơ là gì? Thiếu cả chiếu, người chiến sĩ Tây Tiến được maitáng với chiếc áo đang mặc trên người Đây là những điều rất dễ gây ra cảm xúc ngậmngùi
+ Cách nói của Quang Dũng: không chỉ vì thiếu chiếu mà vì đã có áo bào thay chiếu Áo
bào là chiếc áo mà các võ tướng ngày xưa mặc lúc ra trận Được mai táng cùng với chiếc
áo bào, hình ảnh thiêng liêng mà anh hùng Cách nói của Quang Dũng có vẻ lãng mạnnhưng sự lãng mạn ở đây là rất cần thiết và rất phù hợp
- Đoạn thơ kết lại bằng một câu thơ như tiễn đưa hồn các chiến sĩ về với đất mẹ:
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
+ Câu thơ gợi ấn tượng: Sau khi người chiến sĩ “về đất”, tất cả núi rừng đều lặng im để
lắng nghe tiếng gầm vang vọng của dòng sông Mã
+ Nhà thơ gọi “khúc độc hành”, bởi thông thường, khi vĩnh biệt những chiến sĩ anh hùng
vẫn có dàn quân nhạc tấu những khúc quân hành Đây không có quân nhạc, không cónhững khúc quân hành thì đã có khúc độc hành của dòng sông Mã
+ Đây là khúc nhạc hùng tráng muôn đời của núi rừng miền Tây Bắc, của đất nước quêhương mãi mãi ca ngợi và nhớ thương những con người anh hùng
+ Có thể khẳng định: Trong thơ Việt Nam chưa có bài thơ nào viết về sự hi sinh mất mátvới những câu thơ hùng tráng như vậy
d Khổ thơ cuối kết lại bài thơ mà cũng là lời khẳng định về người chiến sĩ Tây Tiến:
- Khổ thơ với những câu thơ khẳng định phẩm chất đẹp nhất, đều đọng lại đẹp nhất củađoàn quân Tây Tiến:
Trang 23
Tây Tiến người đi hông hẹn ước
+ “Đi không hẹn ước” là đi mà không nghĩ đến ngày về, là sẵn sàng một đi không trở lại.
+ Đó là tinh thần của tráng sĩ Kinh Kha sang Tần:
Phong tiêu tiêu hề Dịch thuỷ hàn Tráng sĩ nhất khứ hề, bất phục hoàn
(Gió hiu hắt chừ, sông Dịch lạnh têTráng sĩ một đi chừ, chẳng trở về)+ Đó là tinh thần của người li khách trong thơ của Thâm Tâm:
“Li khách! Li khách!Con đường nhỏ
Chí nhớn chưa về bàn tay không, Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm, mẹ già cũng đừng mong,”
Đó cũng là tinh thần của người chiến sĩ Việt Nam từng được vang lên trong những câuhát vào những năm kháng chiến:
Đoàn Vệ quốc quân một lần ra đi
Là có sá chi đâu ngày trở về
Ra đi, ra đi bảo tồn sông núi
Ra đi, ra đi, thà chết chớ lùi.
+ Điều tuyệt đẹp ở đây là tinh thần ấy không phải là của riêng ai, mà là của cả đoàn quânTây Tiến
- Tinh thần một đi không trở lại còn được nhà thơ khắc sâu thêm một lần nữa:
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
+ “một chia phôi”: Khẳng định dứt khoát, quyết chí ra đi, không lưu luyến bịn rịn, không chút băn khoăn bao giờ trở lại Từ “một” ở đây như một cánh tay giơ lên để khẳng định
một lời thề
+ Nhà thơ như đang nhớ đến những ngày đầu, những bước chân đầu tiên rời mảnh đấtđồng bằng quê hương để đến với Tây Tiến Con đường trước mặt trùng điệp núi non,
thăm thẳm mịt mù ở phía chân trời Kết quả của câu thơ còn cho ta hiểu rằng, đường lên
thăm thẳm, mà cũng là thăm thẳm một chia phôi, chỉ có chia phôi, chỉ nghĩ đến chia phôi,
phảng phất chút buồn nhưng cũng rất hùng tráng và cảm động
- Hai câu thơ cuối vang lên như là lời khẳng định sự trường tồn của đoàn quân Tây Tiến:
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi.
+ Lời khẳng định ấy bắt đầu bằng việc nhắc đến những con người Tây Tiến, nhắc đến
mùa xuân ấy, mùa xuân đã trở thành bất diệt.
+ Sầm Nứa hay còn quen gọi là Sầm Nưa, là tên một địa danh của Lào, kề biên giới
Việt-Lào, thuộc địa bàn hoạt động của đoàn quân Tây Tiến Mãi mãi những người Tây Tiến
không baio giờ có thể quên được mảnh đất Tây Tiến, những tháng ngày Tây Tiến
+ Tại sao ở đây nhà thơ không dùng từ “lòng” hay một từ nào khác như tâm hồn, trái tim…mà dùng từ “hồn”? Bởi con người ta có hai phần: phần hồn và phần xác; xác thì có thể chuyển dịch, có thể rời xa, có thể mất đi, hồn thì mãi mãi vẫn còn Nhắc đến hồn là
nhắc đến những gì thiêng liêng nhất của con người, phần sâu thẳm nhất, đẹp nhất nơi mỗicon người
+ Nói về con người, Quang Dũng thật sự muốn khẳng định mình: Mãi mãi không quênTây Tiến, mãi mãi là người lính Tây Tiến Những người đồng đội Tây Tiến dù mất haycòn, vẫn còn sống mãi trong tâm hồn nhà thơ
Trang 24
III KẾT BÀI:
- Tây Tiến là một đơn vị bộ đội có thời gian tồn tại rất ngắn ngủi, chỉ hơn một năm trời.
Thế mà cho đến nay, trải qua hơn 60 năm, kỉ niệm về nó thật hào hùng, có lẽ không baogiờ có thể phai được
- Vì sao vậy? Chỉ cần đọc lại những câu thơ của Quang Dũng đã viết về người chiến sĩ
trong bài Tây Tiến, bất kì người đọc nào cũng có được câu trả lời.
ĐỀ: Phân tích đoạn thơ sau trong bài Tây Tiến của Quang Dũng:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi
Mường Lát hoa về trong đêm hơi
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
DÀN BÀI GỢI Ý:
I MỞ BÀI:
- Hoàn cảnh ra đời bài thơ Tây Tiến: tại Phù Lưu Chanh, năm 1948, sau khi đoàn quân
Tây Tiến được giải thể
- Vị trí bài thơ: một bài thơ bất hủ trong thơ viết về anh bộ đội kháng chiến.
II THÂN BÀI:
a Mấy nét ban đầu về cái hay của bài thơ “Tây Tiến”:
- Bài thơ chọn thể “hành” của thơ cổ phong: cổ kính mà lại phóng khoáng, như nén chặt
mà lại bay bổng Thể thơ rất phù hợp với cảm hứng của nhà thơ về Tây Tiến: gian khổ
mà lãng mạn, anh hùng mà hào hoa
- Từ “Nhớ Tây Tiến” đến “Tây Tiến”, một sự chuyển đổi rất hay Hai tiếng “Tây Tiến” gợi hơn nhiều, nhan đề còn nghe như một khẩu lệnh: Tây Tiến!
b Mở đầu cho một kỉ niệm độc đáo:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
- Sông Mã xa rồi: điệu thơ trầm lắng Thế là đã xa Tây Tiến, không chỉ là trong thời gian
mà cả trong không gian, đã xa không bao giờ trở lại Mở đầu bài thơ bằng bốn tiếng rấtbuồn, như một nỗi nhớ tiếc khôn nguôi
- Tây Tiến ơi!: Nhà thơ gọi về Tây Tiến, lúc Tây Tiến chỉ còn kỉ niệm, nhà thơ như muốn
gọi về tâm hồn mình, đánh thức nỗi nhớ của mình
- Nhớ chơi vơi:
+ Trước hết, sau tiếng gọi Tây Tiến ơi ở câu thơ trên, hai tiếng chơi vơi như vang từ vách
đá dội về
+ Nhớ chơi vơi là nhớ như thế nào? Một nỗi nhớ không nhìn thấy được, không cân đo
đong đếm được nhưng mênh mông đầy ắp, lúc nào cũng lơ lửng trong tâm hồn.
+ Nhớ chơi vơi: nỗi nhớ như chưa từng có trong thơ, có lẽ chỉ có trong ca dao:
Ra về nhớ bạn chơi vơi
Trang 25
Nhớ chiếu bạn trải, nhớ nơi bạn nằm
- Nỗi nhớ chơi vơi ấy, đầu tiên là dành cho nhớ về rừng núi: miền đất Tây Tiến là cả mộtvùng rừng núi bao la, một niềm đất hoàn toàn lạ lùng đối với những người lính Tây Tiếnnhững chàng trai Hà Nội ra đi
c Miền đất Tây Tiến, cả một vùng rừng núi mà thiên nhiên như muốn vượt lên những tầm vóc bình thường: đẹp một cách phi thường, dữ dội một cách phi thường:
Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi Mường Lát hoa về trong đêm hơi Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm Heo hút cồn mây súng ngửi trời Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
- Những làn sương, những chiều hơi núi, những cơn mưa như chưa từng gặp bao giờ:
+ Sương ở Sài Khao dày đặc đến lấp đoàn quân mỏi (lấp là che lấp, mà cũng là vùi lấp)
+ Hơi núi ở Mường Lát khuất che ánh sáng, hoa như về trong đêm hơi
- Ấn tượng đèo cao đốc thẳm ngự trị trên từng bước hành quân: dốc đã lên khúc khuỷu, lại còn thêm dốc thăm thẳm, đường dốc quanh co uốn lượn như lên tận trời Đúng là lên
đến tận trời:
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
+ Đi trên đường mà như đi giữa mây trời, đặt chân lên những cồn đất mà như đặt lênnhững cồn mây
+ Mấy tiếng Súng ngửi trời nghe thật lạ, đến cây súng, một vật vô tri mà như cũng giật
mình bỗng ngửi thấy mùi trời
Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
+ Câu thơ sừng sững như hai vách núi dựng đứng
+ Thế rồi bất ngờ xô đến một bầu trời Tây Tiến trong mưa Cả câu thơ bày tiếng thanh bằng, đọc lên như ngẩn ngơ tự mình đứng trước cơn mưa Tây Tiến: mưa trắng xoá bốn
bề, miền Pha Luông như huyền ảo, bồng bềnh giữa một đại dương mưa
d Trên bức tranh ấy, hình ảnh người chiến sĩ Tây Tiến như một sự tương phản lãng
mạn.
Anh bạn dãi dầu không bước nữa Gục lên súng mũ bỏ quên đời Chiều chiều oai linh thác gầm thét Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
- Thiên nhiên có sự mặc cảm dữ dội, mà đe doạ: chiều chiều thì thác gầm thét, đêm đêm thì cọp trêu người.
- Người chiến sĩ Tây Tiến cứ hiên ngang mà bước đi trong cuộc hành quân, chỉ khi nàokhông bước nữa, thí cứ thế mà bỏ quên đời! Hiên ngang, anh hùng quá, không phải thiênnhiên chiến thắng con người mà con người vượt lên thiên nhiên, khinh thường thử thách
- Mạch thơ bổng chuyển sang một sự tương phản khác, bất ngờ hơn: Tây Tiến với một kỉniệm ấm lòng người:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói Mai Châu mùa em thơm nếp xôi
+ Tây Tiến không chỉ có thiên nhiên dữ dội, mà còn có tình người, còn có Tây Tiến cơm
lên khói.
Trang 26
+ Nhớ ôi: nhớ đến nôn nao, như còn muốn hít sâu vào lồng ngực làn khói thơm của bát
cơm nóng ngày nào!
+ Câu thơ như một câu hát Sáu tiếng thanh bằng, cho một từ nếp thanh trắc bật lên.
+ Giữa cuộc hành quân mà có bát cơm nóng, đã đáng nhớ, đây còn là bát cơm cùng với
Mai Câu mùa em.
III KẾT BÀI:
- Lịch sử như tình cờ mà có đoàn quân Tây Tiến chỉ hoạt động, tồn tại hơn một năm.
- Rồi cũng như tình cờ ấy mà đoàn quân ấy có một vị đại đội trưởng đồng thời là một nhàthơ tài hoa Quang Dũng, thế rồi thơ Việt Nam có một bài thơ với những câu thơ như mộtlần đi không trở lại với người Việt Nam
ĐÊ: Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng:
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
* DÀN BÀI GỢI Ý:
I MỞ BÀI:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm:
- Giới thiệu đoạn trích: Đoạn trích thuộc phần hai của bài thơ, là hồi ức của Quang Dũng
về những đêm liên hoan văn nghệ và cảnh sông nước miền Tây thơ mộng
II THÂN BÀI:
- Trái ngược với đoạn thơ mở đầu bài thơ, thiên nhiên và con người miền Tây trong đoạnthơ này là một thế giới khác Đó là những nét vẽ mềm mại, uyển chuyển, tài hoa, tinh tế,thấm đẫm chất thơ, chất nhạc, chất hào hoa, lãng mạn của Quang Dũng
- Trước hết là những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm liên hoan văn nghệ:
"Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ"
+ Với nét vẽ khỏe khoắn, mê say, Quang Dũng dẫn ta vào một đêm liên hoan văn nghệ.Đây là những kỉ niệm đẹp, hấp dẫn nơi xứ lạ, một đêm liên hoan văn nghệ hiếm có giữa
binh đoàn Tây Tiến và nhân dân địa phương Cảnh ấy thực mà như mơ, vui tươi mà sốngđộng
+ Cả doanh trại bừng sang dưới ánh lửa đuốc bập bùng, tưng bừng hân hoan như một
ngày hội, ngày cưới ("Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa") Trong ánh đuốc lung
linh, kì ảo, trong âm thanh réo rắt của tiếng khèn, những cô gái Thái lộng lẫy, rực rỡtrong bộ trang phục lạ, dáng điệu e thẹn, tình tứ trong vũ điệu đậm sắc màu dân tộc đãthu hút hồn vía của những chàng trai Tây Tiến
+ Cảnh vật, con người như ngả nghiêng, ngất ngây, bốc men say rạo rực vì vui sướngđược sống trong những giây phút bình yên Dư âm của chiến tranh tàn khốc dường như bịđẩy lùi xa để chỉ còn lại những tâm hồn lãng mạn trong tiếng nhạc, hồn thơ Đây làkhoảnh khắc hiếm hoi trong thời chiến để rồi ngày mai các anh lại bước vào máu lửa
Trang 27
- Cảnh thiên nhiên, con người miền Tây cũng thật trữ tình, thơ mộng để lại trong tâm hồn thi sĩ kí ức khó phai:
Sau những ngày được nghỉ ngơi, được giao lưu với nhân dân nơi mà đoàn quân dừngchân, các chàng trai Tây Tiến lại phải ra đi:
"Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Có nhớ dáng người trên độc mộc Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa"
+ Cảnh thơ mộng trữ tình của sông nước miền Tây được nhà thơ diễn tả qua những chitiết: trên sông, chiều sương giăng mắc mênh mang kì ảo, dòng sông trôi lặng tờ mangđậm sắc màu cổ tích, có dáng người mềm mại, uyển chuyển đang lướt trên con thuyềnđộc mộc, hoa đôi bờ đong đưa theo dòng nước như vẫy chào tạm biệt người ra đi…
+ Cảnh đẹp như mộng lại như tranh, chỉ vài nét chấm phá mà tinh tế, tài hoa: QuangDũng không tả mà chỉ gợi, cảnh thiên nhiên không phải là vô tri vô giác, mà phảng phất
trong gió trong cây như có hồn người: "Có thấy hồn lau nẻo bến bờ" Câu thơ gọi nhớ đến những câu thơ trong bài "Lau mùa thu" của Chế Lan Viên:
"Ngàn lau cười trong nắng Hồn của mùa thu về
Hồn mùa thu sắp đi Ngàn lau xao xác trắng"
Hay trong một bài thơ khác:
"Hạnh phúc màu hoa huệ Nhớ thương màu hoa lau Biệt li màu xé rách
Lãng quên không có màu"
"Hồn lau" trong thơ của Quang Dũng cũng là "hồn lau" của biệt li phảng phất một chút
buồn nhưng không xao xác, xé rách, lãng quên mà đầy nỗi nhớ thương, lưu luyến Nỗi
nhớ thương, lưu luyến đó đã được nhà thơ thể hiện trong những từ ngữ như "có nhớ", "có
thấy" Tình yêu đối với cỏ cây, hoa lá, dòng sông, dáng người… đã làm cho cuộc sống
đầy hi sinh, gian khổ của những người lính có thêm nhựa sống Bốn câu thơ làm hiện lênbức tranh thủy mặc nhưng lại không tĩnh tại mà sống động, thiêng liêng
+ Chất nhạc trong đoạn thơ ngân nga như tiếng hát Nhạc điệu ấy dường như cất lên từ
tâm hồn ngất ngây, mê say, lãng mạn của "cái tôi" trữ tình giàu cảm xúc - Quang Dũng Giáo sư Trần Đình Sử đã nhận xét: "Đọc đoạn thơ này, ta như lạc vào thế giới của cái
đẹp, của cõi mơ, của cõi nhạc" Bức tranh thiên nhiên nhờ vậy càng trở nên thơ mộng,
đắm say lòng người
III KẾT BÀI:
- Với cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã đưa người đọc trở về với hoài niệm năm xưa,
để được sống lại với những giây phút bình yên hiếm có của thời chiến tranh Đặc biệt làbốn câu thơ sau như đưa người đọc vào thế giới cổ tích với dòng sông huyền thoại, vớithế giới của cái đẹp, của cõi mơ, của cõi âm nhạc du dương; chất thơ, chất nhạc, chất họathấm đẫm, quyện hòa đến mức khó mà tách biệt
- Quả không hổ danh là một nghệ sĩ đa tài với những câu thơ xuất thần, Quang Dũng đãdâng hiến cho người đọc những dòng thơ, những giây phút ngất ngây, thi vị
Trang 28
ĐỀ: Phân tích đoạn thơ sau trích trong bài Đất Nước ( trường ca Mặt đường khát vọng) của nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm:
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
(…) Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”
DÀN BÀI GỢI Ý:
I MỞ BÀI:
- Giới thiệu sơ lược về tác giả và tác phẩm: Nguyễn Khoa Điềm tốt nghiệp khoa Văn
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, đi bộ đội, làm thơ, viết trường ca Mặt đường khát
vọng tại chiến khu Thừa Thiên.
- Vị trí đạon trích: Đất Nước là tên một chương trong bản trường ca, xuất bản năm
1974, nói lên những cảm nhận về Tổ quốc trong những năm tháng ác liệt của cuộc khángchiến
II THÂN BÀI:
a Mấy nét chung về đoạn thơ:
- Cũng như toàn chương Đất Nước, đoạn thơ được viết rất giản dị: lời thơ giống như lời
nói dân dã trong cuộc sống đời thường; những câu thơ tự do, có nhịp điệu nhưng không
có vần, không giống một thể thơ nào thường gặp
- Chất liệu để biểu đạt là những sự việc lấy từ cuộc sống quen thuộc hoặc từ nguồn vănhọc dân gian, nhưng ẩn chứa những ý nghĩa sâu xa, nói lên những điều rất giản dị nhưngcũng rất to lớn về Đất Nước mình
b Tự hào về Đất Nước mình có lịch sử lâu đời.
- Câu thơ mở đầu rất giản dị:
Khi ta lớn lên Đất Nước đã có rồi
+ Giống như một câu nói bình thường Không giống như đang viết một câu thơ, mà nhàthơ chỉ muốn nói lên một điều bình thường, một cảm nhận mà bất kì ai cũng có thể nóilên một chân lí đã trở thành lẽ bình thường
+ Một niềm tự hào và biết ơn mênh mông
- Khẳng định chân lí bằng những chứng cớ hiển nhiên mà bất kì ai cũng biết Chứng cớthứ nhất:
Đất Nước có trong những cái ngày xửa ngày xưa thường kể
+ Những từ quen thuộc khi bắt đầu kể một câu chuyện đời xưa
+ Từ “ngày xửa ngày xưa…” đã có Đất Nước.
- Từ lâu đã có đất nước Việt Nam, bởi đã có bản sắc văn hoá Việt Nam:
Đất Nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn.
+ “miếng trầu bây giờ bà ăn”: điều giản dị, đó là tập quán của nhân dân Việt Nam đã có
từ mấy ngàn năm
+ Có văn hoá Việt Nam tức là đã hình thành một đất nước Việt Nam
- Đất nước Việt Nam đã khẳng định sự trưởng thành:
Đất Nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc
+ Cây tre là hình ảnh quen thuộc từ ngàn đời
+ Biết trồng tre mà đánh giặc, nhân dân Việt Nam thực sự đã trưởng thành trong ý thức
về chủ quyền dân tộc
- Từ lâu đời, đã hình thành những vẻ đẹp Việt Nam:
Tóc mẹ thì bới sau đầu Cha mẹ thương nhau bằng gừng cay muối mặn.
Trang 29
+ Bới sau đầu là một nét đẹp, quen thuộc của người phụ nữ Việt Nam.
+ Gừng cay muối mặn chính là sự bền vững, thuỷ chung.
Tay bưng đĩa muối chén gừng Gừng cay muối mặn xin đừng quên nhau
- Từ lâu đời, con người Việt Nam đã biết thành thạo trong việc tạo nên cửa nhà để ổnđịnh nơi sinh sống:
Cái kèo, cái cột thành tên
+ Cái kèo, cái cột là tên gọi những bộ phận quan trọng trong cấu trúc một ngôi nhà
truyền thống Việt Nam
+ Cái kèo, cái cột cũng đã trở thành tên gọi mà người Việt Nam xưa dùng đặt cho con
cái Đó là những tên gọi không có trong chữ Hán, những tên gọi thuần tuý Việt Nam.Như vậy, đã có một thứ ngôn ngữ Việt Nam từ lâu đời
- Điều quan trọng hơn nữa là:
Hạt gạo phải một nắng hai gương xay, giã, dần, sàng
+ Câu thơ như gói trọn cả quy trình lao động vất vả để làm nên lúa gạo Từ nghìn xưa,con người Việt Nam đã tự mình làm ra nguồn sống cho mình
+ Từ nghìn năm, con người Việt Nam đã tạo dựng cho đất nước mình một nền văn minhlúa nước Việt Nam, nền văn minh sông Hồng
- Đóng lại đoạn thơ bằng lời khẳng định ngắn gọn:
Có lẽ cha ông xưa, khi bắt đầu tạo dựng nên đất nước, đã nhận ra Đất và Nước là hai yếu
tố đầu tiên để tạo thành Đất Nước Muốn có Đất Nước thì phải có Đất và Nước.
+ Đất Nước không ở đâu xa, Đất Nước là Đất và Nước ở ngay bên ta, ngay dưới mỗi
bước chân ta
+ Từ thuở ấu thơ, cuộc đời ta đã gắn cùng Đất Nước Nơi anh đến trường, đó là Đất của
Đất Nước, nơi em tắm, đó là Nước của Đất Nước.
- Tíêp theo một ý thơ độc đáo và thú vị:
Đất Nước là nơi ta hò hẹn Đất Nước là nơi em đánh rơi chiếc khăn trong nỗi nhớ thầm.
+ Gợi nhớ một bài ca dao quen thuộc:
Khăn thương nhớ ai Khăn rơi xuống đất Khăn thương nhớ ai Khăn vắt trên vai…
+ Một nỗi nhớ trong tình yêu, một chốn để hò hẹn cho những người yêu nhau cũng cầnđến Đất và Nước của Đất Nước
- Đất Nước rất gần mà Đất Nước cũng rất xa:
Đất là nơi “con chim phượng hoàng bay về hòn núi bạc”
Nước là nơi “con cá ngư ông móng nước biển khơi”.
+ Những nơi thật xa, tận bên kia chân trời, tận bên kia mặt biển