1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Rèn luyện kỹ năng tiếng việt qua dạy học làm văn ở các trường THPT huyện tân kỳ luận văn thạc sĩ ngữ văn

102 704 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Rèn luyện kỹ năng tiếng việt qua dạy học làm văn ở các trường thpt huyện tân kỳ
Tác giả Nguyễn Đăng Khoa
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 441 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong sách giáo viên Ngữ văn 10 Tập 1 – Phần “Những vấn đề chung” [11], các tác giả đã nêu rõ 3 mục tiêu cơ bản của việc dạy Tiếng Việtcho HS THPT là hình thành một số kiến thức về ngôn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN ĐĂNG KHOA

RÈN LUYỆN KỸ NĂNG TIẾNG VIỆT QUA DẠY HỌC LÀM VĂN Ở CÁC TRƯỜNG THPT

HUYỆN TÂN KỲ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

NGHÖ AN – 2012

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Trong chương trình Ngữ văn THPT hiện nay, sự gắn kết giữa ba phân môntheo tinh thần tích hợp là vấn đề có tính nguyên tắc Ba phân môn Đọc - hiểu,Tiếng Việt và Làm văn không những được gộp lại trong một bộ sách, mà hơnthế, sự liên thông giữa tri thức của các phân môn là điều được thể hiện rõ trongkhâu biên soạn chương trình và sách giáo khoa Điều này tất yếu dẫn đến nhữngthay đổi căn bản về mục đích, định hướng và phương pháp dạy học của từngphân môn Việc dạy học các phân môn trong sự biệt lập tương đối như trước đây

đã không còn phù hợp nữa Chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn THPT hiệnhành đòi hỏi phải có sự phối hợp, gắn kết chặt chẽ các nội dung dạy học, các kĩnăng cần hình thành cho học sinh

Một trong những mục đích của dạy học Ngữ văn hiện nay là nâng cao kĩ

năng nghe, nói, đọc, viết cho học sinh Nếu như trước đây, môn Tiếng Việt đảm

trách việc rèn luyện những kĩ năng này, thì nay, cả ba phân môn đều có vai trònhất định trong vấn đề ấy Phần Đọc - hiểu hướng học sinh tới việc khám phá,hiểu biết các văn bản tồn tại ở dạng viết Phần Tiếng Việt cung cấp những trithức cơ bản về ngôn ngữ và tiếng Việt, để học sinh có thể vận dụng trong nói vàviết một cách có hiệu quả Phần Làm văn không chỉ nhằm kiểm tra tri thức vềvăn học và đời sống, mà còn là thước đo khả năng sử dụng tiếng Việt của họcsinh thể hiện qua văn bản được tạo lập Xét từ góc độ này, có thể thấy phầnTiếng Việt và phần Làm văn trong chương trình có quan hệ mật thiết với nhau.Những tri thức tiếng Việt sẽ góp phần giúp học sinh thực hiện tốt các bài làmvăn, ngược lại, qua các bài làm văn, giáo viên sẽ nắm bắt năng lực, trình độ sửdụng tiếng Việt của học sinh, từ đó, có hướng sửa chữa, rèn luyện và nâng caocác kĩ năng cần thiết cho các em

Trang 3

Tân Kỳ là một huyện miền núi của tỉnh Nghệ An Ở đây, có học sinhthuộc dân tộc Kinh và học sinh một số dân tộc thiểu số Do đó, việc dạy họctiếng Việt trong các trường THPT trên địa bàn Tân Kỳ khó khăn và phức tạp hơn

ở những địa phương chỉ có học sinh dân tộc Kinh thuần túy Thực tế này cũngđòi hỏi giáo viên phải tăng cường tích hợp ba phân môn trong dạy học Ngữ văn,nhằm nâng cao khả năng sử dụng tiếng Việt cho các đối tượng học sinh

Với những lí do trên đây, chúng tôi mạnh dạn đi vào nghiên cứu vấn đề

Rèn luyện kĩ năng tiếng Việt qua dạy học Làm văn ở các trường trung học phổ thông huyện Tân Kỳ Kết quả nghiên cứu sẽ góp phần giải quyết một số vấn đề

về phương pháp dạy học bộ môn đang được đặt ra khi thực hiện chương trình vàsách giáo khoa Ngữ văn hiện hành ở một địa phương cụ thể

Cho nên dù học được trong nhà trường bao nhiêu chăng nữa cũng chỉ làrất hạn chế Thế thì cái gì là quan trọng? Cái quan trọng là rèn luyện bộ óc, rènluyện phương pháp suy nghĩ, phương pháp học tập, phải tìm tòi phương pháp

Trang 4

vận dụng kiến thức, phải vận dụng tốt nhất bộ óc của mình…” [34, tr.132] LuậtGiáo dục 2005 cũng nêu rõ: “PP giáo dục phải nhằm phát huy tính tích cực, tựgiác, chủ động, tư duy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học nănglực tự học, khả năng thực hành, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên” [20, tr.9].

Đi theo hướng đó, đã có nhiều công trình nghiên cứu về PPDH hiện nay theoquan điểm “tích hợp” và “tích cực hoá” hoạt động học tập của HS

Công trình nghiên cứu “Những vấn đề cơ bản về chương trình và quá trìnhdạy học” [14] của tác giả Nguyễn Hữu Châu đã phân tích khá kỹ về phươngpháp dạy học tích cực.Tác giả đã nêu lên 5 nguyên tắc nhằm phát huy tính tíchcực nhận thức của HS Đó là: (1) việc dạy học phải được tiến hành ở mức độ khókhăn cao, (2) việc nắm vững kiến thức lý thuyết phải chiếm ưu thế, (3) việcnghiên cứu tài liệu đòi hỏi nhịp độ khẩn trương, (4) phải chăm lo tích cực đến sựphát triển trong học tập của tất cả HS, kể cả loại giỏi lẫn loại yếu, (5) làm cho

HS ý thức được bản thân quá trình học tập và nắm vững các phương pháp làmviệc để hiểu, ghi nhớ tài liệu học tập, hình thành kỹ năng, kỹ xảo và thực hiệnviệc tự kiểm tra sự lĩnh hội kiến thức [14, tr.194-197]

Một vài nhận xét

Các tác giả đều khẳng định tác dụng của dạy học theo hướng tích cực và

sự cần thiết phải đổi mới PPDH trong quá trình dạy học hiện nay Sự đổi mớinày sẽ diễn ra theo xu thế chuyển mô hình dạy học từ GV, vì GV sang dạy học vì

HS, hướng tới HS Có nhiều yếu tố chi phối việc dạy học theo hướng tích hợp,nhưng vấn đề cơ bản mà các tài liệu nhận thấy vẫn là phải bắt đầu từ người thầy

Chương trình SGK mới đã được triển khai nhưng thực tế, nhiều GV vẫnnhiều GV vẫn chưa nắm vững thế nào là dạy học theo hướng tích hợp và làm sao

để sử dụng một cách hiệu quả các PPDH phát huy tính tích cực của HS Cáccông trình nghiên cứu trên đã cung cấp một nền tảng lí luận cần thiết cho GV vềquan điểm “tích hợp” trong dạy học Trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu trên,

Trang 5

chúng tôi thấy tìm hiểu về rèn luyện khả năng sử dụng tiếng Việt trong giờ Làmvăn cho học sinh ở trường THPT theo quan điểm “tích hợp”.

2.2 Về mối quan hệ giữa Tiếng Việt và Làm văn

PPDH Tiếng Việt chủ yếu dựa vào chương trình Tiếng Việt ở phổ thôngnên khi chương trình có sự thay đổi thì PPDH cũng được điều chỉnh cho phùhợp Năm 2006, SGK Ngữ văn THPT được triển khai đại trà Trước đó, có một

số công trình nghiên cứu về PPDH Tiếng Việt nhưng là để áp dụng cho việc dạyTiếng Việt theo SGK cũ Khi SGK Văn học, Tiếng Việt, Làm văn được tích hợptrong một quyển sách Ngữ văn thì PP dạy học môn Tiếng Việt cũng cần đượcđổi mới Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp

10 THPT – môn Ngữ văn [6] nêu lên hai điểm cần chú ý về PP trong việc dạyhọc Tiếng Việt

Một là dạy học theo nguyên tắc tích hợp, chẳng hạn dựa trên cơ sở nhữngngữ liệu từ văn bản văn học, qua sự phân tích rút ra những nhận xét, kết luận vềcác hiện tượng ngôn ngữ Từ đó, vận dụng những kết luận đó vào phân tích vănbản văn học và ứng dụng vào môn Làm văn

Hai là phát huy tính tích cực, chủ động của HS trong học tập Đối vớiphần Tiếng Việt, điều này có cơ sở thuận lợi vì HS đã có vốn tiếng Việt nhờ kinhnghiệm [6, tr 77] Trong sách giáo viên Ngữ văn 10 (Tập 1) – Phần “Những vấn

đề chung” [11], các tác giả đã nêu rõ 3 mục tiêu cơ bản của việc dạy Tiếng Việtcho HS THPT là hình thành một số kiến thức về ngôn ngữ nói chung và tiếngViệt nói

Một vài nhận xét:

Các tài liệu trên đã chú ý phân tích về sự thể hiện của quan điểm “tíchhợp” trong chương trình Tiếng Việt và sự cần thiết của việc thay đổi PPDHTiếng Việt ở trường THPT hiện nay Nhìn chung, các tài liệu chỉ mới dừng lại ởviệc hướng dẫn khái quát về đổi mới PPDH Tiếng Việt theo hướng “tích hợp” và

“tích cực” chứ chưa nghiên cứu về các PPDH cụ thể của từng bộ phận trong môn

Trang 6

Tiếng Việt ở bậc THPT (ngữ pháp, văn bản, phong cách), và tích hợp dạy TiếngViệt trong giờ Làm văn.Do nhiều nguyên nhân, việc vận dụng các hướng dẫn vềPPDH Tiếng Việt trên vào trong thực tế dạy học ở trường THPT chưa đạt đượchiệu quả cao HS học ngữ pháp với một thời lượng khá nhiều nhưng vẫn nói, viếtcâu sai, lúng túng khi thực hiện các kỹ năng viết câu (tách, gộp, mở rộng và rútgọn, chuyển đổi trật tự bộ phận câu…), và không ứng dụng được các kiến thức

đã học vào trong hoạt động giao tiếp hàng ngày

2.3 Vấn đề rèn luyện các kĩ năng sử dụng tiếng Việt qua dạy Làm văn

Môn Ngữ văn có nhiều điều kiện thuận lợi để thực hiện việc tích hợp vìVăn học, Tiếng Việt, Làm văn đều có một yếu tố chung là tiếng Việt và dù dạyVăn học, Tiếng Việt hay Làm văn thì tất cả đều do một GV đảm nhiệm Nhưvậy, Tiếng Việt cũng là một môn học với những đặc trưng và mối liên hệ thểhiện rõ tính tích hợp Việc dạy Tiếng Việt trong nhà trường có mục tiêu vừacung cấp kiến thức, vừa hình thành kĩ năng sử dụng tiếng Việt

Kiến thức là cơ sở để thực hành các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết Việc thựchành giúp HS đối chiếu kiến thức đã học với thực tế giao tiếp, tự trau dồi khảnăng giao tiếp của mình Với mục tiêu có tính phức hợp như vậy, việc dạy họcTiếng Việt cần chú ý đến dạng tích hợp “ngang” và “dọc Cuốn: ”Phương phápdạy học Văn”, tập 2 (Phan Trọng Luận) và “Phương pháp dạy học tiếng Việt”(Lê A) có một phần dành riêng cho việc hướng dẫn PPDH LV và xem quan điểmgiao tiếp là cơ sở lí thuyết quan trọng đối với hoạt động DH phân môn này Sovới giáo trình Phương pháp dạy học Văn, giáo trình Phương pháp dạy học tiếngViệt giới thuyết kĩ hơn về lí thuyết giao tiếp, việc vận dụng quan điểm giao tiếpvào DH thực hành LV

Riêng đối với PP dạy thực hành LV, tác giả giáo trình cho rằng cần tạođược nhu cầu giao tiếp cho HS và tạo được môi trường giao tiếp tốt bởi HS luônmuốn được nói, được trình bày, được tranh luận những điều mà mình biết, mìnhnghĩ GV phải biết khơi gợi nhu cầu đó và tạo một môi trường giao tiếp tự nhiên

Trang 7

để các em có điều kiện bộc lộ mình Những gợi ý trong hai cuốn giáo trình chính

là những hướng dẫn quan trọng về mặt PPDH thực hành đối với cả sinh viên vànhững GV trực tiếp đứng lớp

Tuy nhiên, cả hai cuốn giáo trình mới dừng lại ở những gợi ý về mặtPPDH chứ chưa có sự triển khai cụ thể PP rèn luyện khả năng sử dụng tiếng Việtvào DHLV ở nhà trường phổ thông Việc vận dụng tích hợp giữa dạy học tiếngViệt vào dạy học Làm văn vẫn còn là một thử thách không nhỏ đối với năng lực

sư phạm của người giảng dạy Trong tài liệu “Tìm hiểu chương trình và sáchgiáo khoa Ngữ văn trung học phổ thông” [34], tác giả Đỗ Ngọc Thống đã giúp

GV THPT thấy được những yêu cầu của việc đổi mới chương trình Tiếng Việttrong SGK Ngữ văn và sự cần thiết của việc đổi mới PPDH Tiếng Việt theo quanđiểm “tích hợp” và “tích cực”

Theo tác giả, mục đích chính của việc dạy tiếng Việt ở THPT là “hànhdụng”, “tức là hình thành và rèn luyện cho HS khả năng vận dụng các đơn vịngôn ngữ trong tiếng Việt một cách tổng hợp và thành thạo trong nói cũng nhưviết theo một kiểu văn bản nào đó” [34, tr.139] Tác giả nhấn mạnh nguyên tắctích hợp trong giờ dạy học Tiếng Việt thể hiện ở chỗ “khi cung cấp tri thức vềmột đơn vị ngôn ngữ nào đó, người GV luôn hướng HS liên hệ với các tác phẩmvăn học đã và đang học, đặt đơn vị đó, yếu tố tiếng Việt đó trong văn cảnh cụ thểcủa tác phẩm, vận dụng một cách thành thạo để nghe hiểu, đọc hiểu, nói đúng vàviết đúng” [34, tr 141]

Trong sách giáo viên Ngữ văn 10 (Tập 1) – Phần “Những vấn đề chung”,các tác giả đã nêu rõ 3 mục tiêu cơ bản của việc dạy Tiếng Việt cho HS THPT làhình thành một số kiến thức về ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng, rènluyện và nâng cao các kỹ năng sử dụng tiếng Việt, giúp HS có ý thức thận trongkhi sử dụng tiếng Việt, chịu khó tự sửa chữa sai sót để lời nói, câu văn đượctrong sáng [11, tr.12] Về PPDH Tiếng Việt, các tác giả nhấn mạnh phươngchâm dạy tiếng Việt “bằng thực hành, thông qua thực hành và hướng tới thực

Trang 8

hành” [11, tr 14 Phương châm này cần áp dụng trong cả giờ dạy lý thuyết cũngnhư thực hành nhưng chưa đề cập đến vấn đề áp dụng thực hành vào các giờ họcphân môn khác của Ngữ văn như Làm văn.

Chính vì vậy, dựa trên những công trình về lí thuyết và thực hành Làmvăn và tiếng Việt cùng vơi định hướng đổi mới DH môn Ngữ văn hiện nay,chúng tôi tiếp tục đi sâu vào phương pháp rèn luyện kĩ năng sử dụng tiếng Viêttrong giờ dạy Làm văn, xem xét việc vận dụng quan điểm này và cố gắng thiết

kế thành quy trình dạy học thực hành các kĩ năng tiếng Việt và LV, bổ sung,hoàn thiện PPDH Tiếng Việt và PPDH LV, góp phần vào việc nâng cao hiệu quả

sử dụng tiếng Việt của học sinh hiện nay

3 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài hướng tới việc nghiên cứu hệ thống các bài học trong phần Làm văn

ở sách giáo khoa Ngữ văn THPT (cả cơ bản và nâng cao), hệ thống kĩ năng vềtiếng Việt cho học sinh, từ đó xác định vai trò của phần Làm văn đối với việc rènluyện các kĩ năng đó

Tìm hiểu việc dạy học Làm văn và Tiếng Việt theo tinh thần tích hợp,đánh giá hiệu quả việc rèn luyện tiếng Việt cho các đối tượng học sinh THPTqua dạy học Làm văn ở các trường THPT huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Đề tài hướng tới việc khai thác mối quan hệ giữa phần Làm văn và phầnTiếng Việt, cụ thể là qua dạy học Làm văn góp phần nâng cao khả năng sử dụngtiếng Việt cho học sinh trên một địa bàn cụ thể (huyện Tân Kỳ)

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhận thức về những nhiệm vụ của phần Làm văn trong chương trình Ngữvăn THPT; nghiên cứu các kĩ năng sử dụng tiếng Việt cần rèn luyện cho họcsinh và khả năng của phần Làm văn trong việc rèn luyện các kĩ năng đó

Trang 9

Khảo sát thực tế dạy học theo tinh thần tích hợp đối với phần Làm văn vàTiếng Việt ở các trường THPT huyện Tân Kỳ, thực trạng trình độ tiếng Việt củahọc sinh và hiệu quả của các phương pháp rèn luyện kĩ năng tiếng Việt cho họcsinh qua dạy học Làm văn.

Thực nghiệm và đề xuất một số giải pháp theo hướng nghiên cứu của đề tài

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phối hợp các phương pháp thuộc cả hai nhóm phươngpháp nghiên cứu lý thuyết và phương pháp nghiên cứu thực tiễn Cụ thể là:phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết, phương pháp mô hình hoá, phươngpháp quan sát, phương pháp điều tra, phương pháp thực nghiệm

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có hệ thống mốiquan hệ giữa phần Làm văn và phần tiếng Việt trong chương trình Ngữ vănTHPT, nêu những nội dung rèn luyện cụ thể các kĩ năng tiếng Việt khi thực hiệncác bài học Làm văn trên một địa bàn cụ thể Hy vọng qua đó sẽ góp phần rènluyện kỹ năng tiếng Việt trong giờ Làm văn cho học sinh cũng như nâng cao khảnâng sử dụng tiếng Việt của các em

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận

văn được triển khai trong ba chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu.

Chương 2 Một số kĩ năng tiếng Việt có thể rèn luyện cho học sinh qua

dạy học Làm văn ở THPT

Chương 3 Một số giải pháp và phương án thể nghiệm.

Trang 10

Chương 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN

CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Phần Làm văn trong chương trình Ngữ văn THPT

1.1.1 Tổng quan về chương trình Ngữ văn THPT

Chương trình Ngữ Văn THPT hiện nay là một chương trình được xâydựng theo nguyên tắc tích hợp Tích hợp ở đây được hiểu là sự gắn kết, phối hợpcác lĩnh vực tri thức gần với nhau của các phân môn Văn, Tiếng Việt và Làmvăn nhằm hình thành và rèn luyện tốt kĩ năng đọc, nói, nghe, viết cho học sinh.Theo tinh thần này khi dạy đọc - hiểu tác phẩm văn học cho học sinh, giáo viêncòn hình thành cho các em năng lực vận dụng một cách tổng hợp các tri thức và

kĩ năng không chỉ của Văn (bao gồm kiến thức Lịch sử văn học, lí luận vănhọc…) mà còn phải huy động kiến thức và kĩ năng khác, trước hết là kiến thứcTiếng Việt, kiến thức làm văn và các kiến thức văn hóa, lịch sử, nghệ thuật khác.Học Tiếng Việt cũng là để đọc hiểu văn bản cho tốt cũng như để nói và viết tiếngViệt hay hơn

Mục tiêu trực tiếp của môn Ngữ văn THPT là hình thành và rèn luyện chohọc sinh năng lực đọc - hiểu cũng như cách thức tạo lập các loại văn bản Chính

vì thế chương trình được xây dựng theo hai trục tích hợp: Đọc văn - Làm văn.Đây không phải là hai phân môn Văn học và Làm văn, mà là hai hoạt động chínhcần tập trung hình thành và rèn luyện cho học sinh trong môn học này Tất cả cáctri thức và kĩ năng ba phân môn đều tích hợp trong hai trục này

Chương trình hiện hành lựa chọn tác phẩm văn học theo thể loại và tổchức dạy học theo đặc trưng thể loại Chương trình vẫn dựa vào tiến trình lịch sửcủa dân tộc và thế giới nhưng ở mỗi giai đoạn sẽ lựa chọn ra các thể loại tiêubiểu để làm bản mẫu cho dạy học đọc - hiểu Căn cứ vào thành tựu của mỗi giai

Trang 11

đoạn văn học với hệ thống thể loại đã xác định, sẽ lựa chọn ra một số vấn đề trithức đọc văn để trang bị cho các em như là công cụ giúp học sinh đọc - hiểu cácvăn bản trong giai đoạn đó Theo tinh thần này, lịch sử văn học, lí luận văn họccoi như là công cụ để các em tiếp nhận tốt hơn văn bản hơn là coi tác phẩm chỉ

là một đối tượng nghiên cứu, một tri thức cần trang bị đầy đủ, toàn diện

Hệ thống các kiến thức dạy trong chương trình phổ thông hiện nay

(Theo chương trình chuẩn của Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam) như sau:

Ví dụ Chương trình Lớp 10:

 Chương trình Tiếng Việt:

+ Phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ:

Ngôn ngữ dạng nói và dạng viết

Phong cách ngôn ngữ sinh hoạt

Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật

+ Giao tiếp:

Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ

+ Một số kiến thức liên quan khác:

Khái quát về lịch sử tiếng Việt

Yêu cầu về sử dụng tiếng Việt

Một số yếu tố Hán - Việt thường dùng để cấu tạo từ

+ Củng cố một số kiến thức đã học:

Từ vựng, ngữ pháp, hoạt động giao tiếp, các biện pháp tu từ

 Chương trình Làm văn:

+ Những vấn đề chung về văn bản, tạo lập văn bản:

Hệ thống hóa kiến thức chung về văn bản đã học ở trung học cơ sở

+ Các kiểu văn bản và phương thức biểu đạt:

Ôn tập lại các kiểu văn bản đã học:

- Văn bản tự sự có yếu tố miêu tả, biểu cảm; cách tóm tắt văn bản tự sự

- Văn bản thuyết minh; cách tóm tắt văn bản thuyết minh

Trang 12

- Văn bản nghị luận; luận điểm, luận cứ, lập luận; cách làm bài văn nghị luận

- Luyện nói, viết đoạn văn, bài văn tự sự thuyết minh, nghị luận

Một số kiểu văn bản khác: quảng cáo, kế hoạch cá nhân

 Văn học

+ Văn bản văn học

 Văn học dân gian

- Sử thi: Đăm Săn ( đoạn trích chiến thắng Mtao - Mxây)

- Truyền Thuyết: An Dương Vương và Mị Châu, Trọng Thủy

- Truyện cổ tích: Tấm Cám

- Truyện Cười: Nhưng nó phải bằng hai mày; Tam đại con gà

- Đọc thêm truyện thơ: Tiễn dặn người yêu (trích đoạn Lời tiễn dặn)

- Ca dao: một số bài ca dao yêu thương tình nghĩa, ca dao than thân, ca daochâm biếm hài hước

 Văn học Việt Nam từ thế kỉ X đến hết thế kỉ XIX

- Thơ: Thuật hoài - Phạm Ngũ Lão; Bảo kính cảnh giới số 43 - Nguyễn Trãi;Nhàn- Nguyễn Bỉnh Khiêm; Độc Tiểu Thanh kí - Nguyễn Du

 Phú: Bạch Đằng giang phú - Trương Hán Siêu

 Ngâm khúc: Chinh phụ ngâm khúc

 Nghị luận: Đại cáo bình Ngô - Nguyễn Trãi; bài tựa sách “Tựa trích diễmthi tập”- Hoàng Đức Lương

 Sử kí: Hưng đạo Vương Trần Quốc Tuấn ( trích Đại Việt sử kí toàn thư Ngô Sĩ Liên)

- Truyện: Chức phán sự đền Tản Viên ( trích Truyền Kì mạn lục - NguyễnDữ)

 Truyện thơ Nôm: Trao duyên, Nỗi thương mình, Chí khí anh hùng ( tríchTruyện Kiều - Nguyễn Du)

 Văn học nước ngoài:

Trang 13

 Sử thi: Uy- lít- xơ trở về ( trích sử thi Ô-đi- xê)

 Tiểu thuyết chương hồi Trung Quốc: Hồi trống Cổ Thành, Tào Tháo uốngrượu luận anh hùng ( trích Tam quốc diễn nghĩa - La Quán Trung)

 Thơ: thơ Đường ( Hoàng hạc lâu tống Mạnh Hạo Nhiên chi Quảng Lăng,

-Lí Bạch; Thu hứng - Đỗ Phủ) và thơ hai-cư (Bài số 1,2,3,6)

 Lịch sử văn học

 Quá trình văn học: Khái quát văn học Việt Nam qua các thời kì lịch sử;Văn học dân gian Việt Nam; Văn học Việt Nam giai đoạn từ thế kỉ X đếnthế kỉ XIX

 Sơ lược về cuộc đời tác giả: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du

 Lí luận văn học

 Văn bản văn học

 Sơ lược về thể loại văn học: văn học dân gian, văn học trung đại

 Một số khái niệm văn học khác: Nhân vật trữ tình, cốt truyện, kết cấu.Chương trình Ngữ văn THPT chú trọng việc hình thành năng lực đọc -hiểu văn bản cho học sinh Chương trình hiện nay đã phần nào giải quyết đượcviệc nan giải mà chương trình Ngữ văn trước đó còn vướng mắc hạn chế đó làgiải quyết mâu thuẫn giữa việc truyền đạt một khối lượng kiến thức lớn cho họcsinh với một thời gian cho phép nhất định Bởi môn học này đã có thể thông quaviệc học cái gì mà tập trung trang bị và cung cấp cho người học cách học,phương pháp để tự mình có thể tự học

Cụ thể là chương trình Ngữ văn hiện nay cung cấp cho học sinh mỗi thểloại một tác phẩm tiêu biểu nhất Yêu cầu giáo viên dạy văn bản đại diện chotừng thể loại thật tốt, thật kĩ để học sinh có thể hiểu vẻ đẹp cụ thể của các tácphẩm ấy nhưng cũng giúp cho học sinh biết cách đọc, cách phân tích và tiếpnhận một bài ca dao, một truyện dân gian, một truyện ngắn hay một vở kịch, mộttiểu thuyết…để các em tự đọc, tự tìm hiểu và khám phá những tác phẩm tươngtự

Trang 14

Việc đọc - hiểu văn bản của học sinh cũng được chủ động hơn Công việc

ấy bao gồm: tiếp xúc văn bản, thông hiểu cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, nghĩahàm ẩn…thấy được vai trò, tác dụng của hình thức, biện pháp nghệ thuật ngôn

từ, các thông điêp tư tưởng, tình cảm, thái độ của người viết và cả giá trị tự thâncủa hình tượng nghệ thuật Đọc hiểu bắt đầu từ đọc chữ, đọc câu, hiểu nghĩa của

từ và sắc thái biểu cảm, hiểu nghĩa của hình thức câu, hiểu mạch văn, bố cục vànắm được ý chính, cũng như chủ đề của tác phẩm Lí giải là hiểu đặc sắc về nghệthuật và ý nghĩa xã hội nhân văn của tác phẩm trong ngữ cảnh của nó Trong quátrình học đọc, học sinh sẽ biết cách đọc để tích lũy kiến thức, đọc để lí giải, đọc

để đánh giá, sáng tạo, phát hiện Học sinh học cách trích câu, trích chi tiết, trích

ý, học cách thuyết minh, thuật lại nội dung văn bản đã học

Hệ thống văn bản được lựa chọn nhằm thực hiện việc đào tạo năng lực đọchiểu qua đó cung cấp tri thức văn học (lịch sử văn học, lí luận văn học), văn hóadân tộc, vừa giáo dục tư tưởng, tình cảm, rèn luyện kĩ năng đọc mà học sinh cóthể mang theo suốt đời sau khi tốt nghiệp THPT để có thể đọc hiểu nhiều loạivăn bản thông dụng trong đời sống Đọc văn theo tinh thần tiến bộ đó thực chất

là toàn bộ quá trình tiếp nhận, giải mã văn bản ( kể cả hiểu, cảm thụ) Muốn vậyhọc sinh phải được trang bị trên hai phương diện: những kiến thức để đọc văn vàphương pháp đọc văn Những kiến thức và phương pháp đọc văn thông qua cácvăn bản, tác phẩm cụ thể, tiêu biểu cho các thể loại ở từng giai đoạn lịch sử vănhọc

Do vậy nhiệm vụ quan trọng của môn Ngữ văn THPT là hình thành chocác em cách đọc văn, hiểu văn theo thể loại, để dần dần các em tự học, tự đọc,nâng cao văn hóa đọc của bản thân các em, tự các em có thể tiếp thu một cáchkhoa học, hệ thống Để dạy và học bộ môn này giáo viên không chỉ quan tâmđến văn bản mà còn phải chú ý đến kiến thức tiếng Việt với các cấp độ như: ngữ

âm, từ vựng, ngữ pháp, đoạn văn, văn bản Chính những đơn vị ngôn ngữ nàytạo nên thế giới hình tượng của tác phẩm văn học Do đó việc phân tích cảm

Trang 15

nhận tác phẩm văn học phải dựa vào kiến thức về tiếng Việt rất nhiều Như vậy

để cảm thụ tác phẩm văn học học sinh phải được trang bị đầy đủ các kiến thức vềlịch sử văn học, lí luận văn học, ngôn ngữ học, tiếng Việt… đó là những công

cụ, những chìa khóa giúp các em đọc hiểu tác phẩm

1.1.2 Nội dung phần Làm văn trong chương trình

Nội dung làm văn trong chương trình Ngữ văn THPT bao gồm:

 Chương trình Lớp 10:

- Những vấn đề chung về văn bản, tạo lập văn bản:

Hệ thống hóa kiến thức chung về văn bản đã học ở trung học cơ sở

- Các kiểu văn bản và phương thức biểu đạt:

Ôn tập lại các kiểu văn bản đã học:

Văn bản tự sự có yếu tố miêu tả, biểu cảm; cách tóm tắt văn bản tự sựVăn bản thuyết minh; cách tóm tắt văn bản thuyết minh

Văn bản nghị luận; luận điểm, luận cứ, lập luận; cách làm bài văn nghịluận

Luyện nói, viết đoạn văn, bài văn tự sự thuyết minh, nghị luận

- Một số kiểu văn bản khác: quảng cáo, kế hoạch cá nhân

 Chương trình lớp 11:

- Những vấn đề chung về văn bản, tạo lập văn bản:

Hệ thống hóa kiến thức về liên kết trong văn bản, đoạn văn đã học

- Các kiểu văn bản và phương thức biểu đạt:

+ Văn bản nghị luận: tóm tắt văn bản nghị luận; các thao tác lập luận; so

sánh, phân tích, bác bỏ, suy lí và bình luận; kết hợp các thao tác lập luận trongvăn nghị luận; viết đoạn văn, bài văn nghị luận

+ Một số kiểu văn bản khác: phỏng vấn, bản tin, tóm tắt tiểu sử

 Chương trình lớp 12:

Các văn bản và phương thức biểu đạt:

Trang 16

+ Văn bản nghị luận: vận dụng tổng hợp các thao tác nghị luận, nghị luận

xã hội, nghị luận văn học

+ Một số văn bản khác: phát biểu theo chủ đề, phát biểu tự do, đề cương

diễn thuyết, văn bản tổng kết

Phần Làm văn là một bộ phận không thể tách rời của chương trình Ngữvăn Làm văn và đọc văn là hai hoạt động quan trọng của việc dạy học Ngữ văntrong nhà trường phổ thông Đây chính là mối quan hệ giữa hình thành và pháttriển năng lực đọc - hiểu, tiếp nhận văn bản và tạo lập văn bản Một mặt giúp họcsinh hình thành và phát triển năng lực đọc văn bản, một mặt giúp học sinh hoànthiện năng lực viết văn bản Giữa hai năng lực này có mối quan hệ chặt chẽ vớinhau Những tri thức và kĩ năng của việc đọc văn không chỉ giúp cho học sinhtiếp nhận tác phẩm văn học mà còn giúp các em viết tốt hơn các loại văn bản Vàngược lại tri thức kĩ năng của làm văn không chỉ giúp các em viết các loại vănbản mà còn soi sáng thêm việc đọc - hiểu các loại văn bản

Phần làm văn như trên chúng tôi đã thống kê được cấu tạo đồng tâm vànâng cao dần những nội dung đã học ở THCS theo cấu trúc:

- Lớp 10: Ôn lại các kiểu văn bản đã học ở THCS và học thêm một số nộidung mới ở mức độ cơ bản nhận biết, chưa chuyên sâu Các kiểu văn bản ônluyện bao gồm các kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm, thuyết minh và nghịluận Các nội dung mới bao gồm hình thành và rèn luyện năng lực liên tưởng,tưởng tượng, khả năng quan sát, trải nghiệm đời sống Biết đọc và tích lũy kiếnthức, biết chọn sự việc và chi tiết tiêu biểu, biết lập ý theo các yêu cầu khácnhau…

- Lớp 11 và lớp 12: Tập trung ôn lại và mở rộng, nâng cao các tri thức và

kỹ năng về kiểu văn bản nghị luận Các nội dung ôn luyện như luận điểm và luậncứ; lập luận và các thao tác nghị luận (chứng minh, giải thích ); lập luận ( sosánh, phân tích, bác bỏ…); bố cục bài nghị luận và kỹ năng viết, mở bài, kếtluận, kĩ năng hoàn chỉnh bài văn

Trang 17

Ngoài ra việc học làm văn ở THPT còn học thêm một số văn bản hànhchính - công vụ Các văn bản này học nối tiếp chương trình THCS, không lặp lạicác văn bản đã học.

Nội dung làm văn THPT ôn lại các kiểu văn bản đã học ở THCS nhưngkhông phải là lặp lại mà là tập trung rèn luyện kĩ năng, yêu cầu vận dụng kiếnthức về các kiểu văn bản này vào những tình huống cụ thể, gắn với tác phẩm vănhọc đang học ở THPT và đặt ra những vấn đề xã hội, chính trị, đạo đức, tư tưởngliên quan nhiều đến cuộc sống của học sinh cấp học này

1.2 Phần Tiếng Việt trong chương trình THPT và các kĩ năng tiếng Việt cần rèn luyện cho học sinh

1.2.1 Các nội dung chính của phần Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT

Nội dung của phần Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT bao gồm:

 Chương trình Lớp 10:

+ Phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ:

Ngôn ngữ dạng nói và dạng viếtPhong cách ngôn ngữ sinh hoạtPhong cách ngôn ngữ nghệ thuật+ Giao tiếp:

Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ+ Một số kiến thức liên quan khác:

Khái quát về lịch sử tiếng ViệtYêu cầu về sử dụng tiếng ViệtMột số yếu tố Hán Việt thường dùng để cấu tạo từ+ Củng cố một số kiến thức đã học:

Từ vựng, ngữ pháp, hoạt động giao tiếp, các biện pháp tu từ

 Chương trình lớp 11:

+ Phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ:

Trang 18

Phong cách ngôn ngữ báo chíPhong cách ngôn ngữ chính luận+ Giao tiếp:

Ngữ cảnh+ Một số kiến thức khác:

Nghĩa của câu

Từ ngôn ngữ chung đến lời nói cá nhânĐặc điểm loại hình Tiếng Việt

Một số yếu tố Hán Việt được dùng để cấu tạo từ+ Củng cố và hoàn thiện kiến thức và kĩ năng đã học ở THCS:

Từ vựng, ngữ pháp, hoạt động giao tiếp, các biện pháp tu từ

 Chương trình lớp 12:

+ Phong cách ngôn ngữ và biện pháp tu từ:

Phong cách ngôn ngữ hành chínhPhong cách ngôn ngữ khoa học+ Giao tiếp: Nhân vật giao tiếp

+ Củng cố và hoàn thiện một số kiến thức và kĩ năng đã học ở THCS: Từvựng, ngữ pháp, hoạt động giao tiếp, các biện pháp tu từ

Bài học Tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn THPT thường có hai loại:bài học hình thành lí thuyết và bài học thực hành Dù lí thuyết hay thực hành thìbài học cũng có nội dung luyện tập qua luyện tập mà hình thành, củng cố lýthuyết Cấu trúc bài học tiếng Việt như sau:

Bài học về lý thuyết Tiếng Việt

+ Tên bài học: ví dụ Khái quát lịch sử Tiếng Việt - Ngữ văn 10 tâp 2+ Kết quả cần đạt: nêu những yêu cầu học sinh cần đạt được về kiến thức

và kĩ năng qua bài học

Trang 19

Ví dụ:

+ Nắm được một cách khái quát nguồn gốc, các mối quan hệ họ hàng,quan hệ tiếp xúc, tiến trình phát triển của tiếng Việt và hệ thống chữ viết củatiếng Việt

+ Thấy rõ lịch sử phát triển của tiếng Việt gắn bó với lịch sử phát triển củađất nước, dân tộc

+ Bồi dưỡng tình cảm quý trọng tiếng Việt - tài sản lâu đời và vô cùng quýbáu của dân tộc

+ Nội dung bài học: trình bày một cách ngắn gọn nội dung lí thuyết củabài học

+ Ghi nhớ: nêu lên những nội dung chính của bài học mà học sinh cần ghinhớ sau khi đã học bài học đó

+ Luyện tập: nêu câu hỏi và bài tập nhằm củng cố, khắc sâu các nội dung

Trang 20

Tính chất nâng cao của Tiếng Việt THPT còn thể hiện ở chỗ đưa vào một

số vấn đề tiếng Việt có tính chất khái quát như: Lịch sử tiếng Việt, Giữ gìn sựtrong sáng của tiếng Việt, các loại phong cách ngôn ngữ Chương trình TiếngViệt THPT đã có những tiết dạy học thực hành cụ thể, riêng biệt để nhằm củng

cố kiến thức lí thuyết các em đã học và nâng cao việc vận dụng kiến thức vàothực tế

1.2.2 Một số kĩ năng tiếng Việt cần rèn luyện cho học sinh THPT

Những kĩ năng tiếng Việt mà chương trình THPT muốn rèn luyện cho các

từ vựng, ngữ pháp, tu từ, văn bản, phong cách…đều được gắn bó chặt chẽ vớiviệc đọc - hiểu văn bản mà qua đó củng cố, ôn lại và nâng cao kiến thức TiếngViệt của các em

Tiếng Việt ở THPT hiện nay thực sự đã có những chuyển biến rõ nét trongviệc hoàn thiện và nâng cao việc sử dụng ngôn ngữ mẹ đẻ cho học sinh Từ việc

Trang 21

giúp học sinh hiểu được ý nghĩa của việc dùng từ ngữ trong từng văn cảnh khácnhau sẽ mang những sắc thái ý nghĩa khác nhau Bởi đây là một đặc trưng về sắcthái ý nghĩa của tiếng Việt, đặc trưng của ngôn ngữ đơn lập Mỗi từ ngữ tiếngviệt tuy cùng sử dụng vào cùng một văn cảnh nhưng lại mang sắc thái ý nghĩatình cảm khác nhau Chẳng hạn như cùng để nói một việc có người mới qua đờinhưng tiếng Việt có thể sử dụng các từ như: Chết (mang sắc thái trung hòa,không biểu lộ cảm xúc, dùng trong các văn bản khoa học hoặc khi thể hiện thái

độ chung chung), qua đời (thể hiện thái độ tôn trọng), đi đời, ngủm củ tỏi (thái

độ coi thường), hy sinh (tôn trọng những người có công với xã hội, với nhândân)…Vì vậy tùy theo thái độ tình cảm, ngữ cảnh, người giao tiếp mà ta lựachọn từ ngữ phù hợp

Kĩ năng nói đúng, viết đúng là kĩ năng tiếng Việt yêu cầu cơ bản nhất đốivới người sử dụng ngôn ngữ Chỉ khi nào người sử dụng tiếng Việt đáp ứng đúngyêu cầu này thì quá trình giao tiếp mới có thể diễn ra thuận lợi, dễ dàng, tránhgây hiểu lầm cho người tiếp nhận

1.3 Cơ sở của việc rèn luyện các kĩ năng tiếng Việt qua dạy học Làm văn ở THPT

1.3.1 Quan điểm tích hợp trong dạy học Ngữ văn hiện nay

Chương trình Tiếng Việt và Văn học mới của Việt Nam hiện nay đều xâydựng theo nguyên tắc tích hợp Theo nguyên tắc này ba phân môn: Văn, TiếngViệt và Làm văn được thống nhất lại thành một môn học và tích hợp trong mộtcuốn sách lấy tên là: Tiếng Việt đối với Tiểu học; Ngữ văn đối với cấp THCS vàTHPT

Môn Ngữ văn THPT dạy và học theo lịch sử văn học Trục tích hợp là cácthể loại cụ thể của từng thời kì Đây chính là cách biên soạn SGK văn học củanhiều nước khác Theo nguyên tắc tích hợp, nội dung dạy học phân môn TiếngViệt và Làm văn (Tập làm văn) được nhập lại làm một vì chúng có chung một

Trang 22

nhiệm vụ là cung cấp cho học sinh những tri thức và kĩ năng nhằm giúp các embiết cách thức tìm hiểu , phân tích, đánh giá cũng như cách thức tạo lập các kiểuvăn bản, bao gồm: văn bản tự sự, văn bản miêu tả; văn bản miêu tả, văn bản nghịluận, văn bản biểu cảm; văn bản thuyết minh, văn bản điều hành (văn bản hànhchính- công cụ) Khi đặt tên cho một kiểu văn bản là căn cứ vào hành động ngônngữ chủ yếu được dùng trong văn bản đó

Ví dụ trong văn bản tự sự chủ yếu dùng hành động kể việc, thuật việc (nóihoặc viết), còn văn bản miêu tả chủ yếu dùng hành động tả (nói hoặc viết)…Loạivăn bản điều hành rất đa dạng và phong phú, tùy mỗi dạng cụ thể mà xác địnhhành động ngôn ngữ cho phù hợp Ví dụ đơn từ chủ yếu dùng lập luận, thôngbáo, quảng cáo chủ yếu dùng miêu tả, thư từ, nhật kí chủ yếu là kể việc…

Trong thực tế thì ít khi có một văn bản nào lại chỉ dùng một hành độngngôn ngữ duy nhất mà thường đan xen nhau: trong tả có kể và trong kể có tả;ngay cả trong văn nghị luận vẫn có yếu tố kể, tả hoặc thể hiện tình cảm, thái độnhất định, tất nhiên không phải là chủ đạo Vì lấy các kiểu văn bản làm nội dungdạy học nên mọi yếu tố phải quy tụ vào hình thành cho học sinh năng lực tựkhám phá và tạo lập các văn bản đó Cụ thể là khi học một kiểu văn bản nào đóthì tất cả các cấp độ ngôn ngữ như: từ ngữ, ngữ pháp, đoạn văn, văn bản, hộithoại…đều được khai thác và vận dụng vào kiểu văn bản đang học

Ví dụ cũng là cung cấp kiến thức về từ vựng, nhưng không dạy từ vựngmột cách hệ thống như trước đây bao gồm: định nghĩa, phân loại, nguồn gốc, cấutạo từ, các biện pháp tu từ…mà tập trung khai thác và trả lời câu hỏi: từ trongvăn bản tự sự (nói hoặc viết) có đặc điểm của câu, đoạn văn và các kiểu văn bản.Nói một cách khác khi học một kiểu văn bản cụ thể thì tất cả các cấp độ ngônngữ đều được dạy và học theo yêu cầu của kiểu văn bản đó Như thế sẽ khôngtrình bày kiến thức tiếng Việt theo lối tuyến tính và tính hệ thống của tri thứctiếng Việt cũng không phải là mục đích chủ đạo

Trang 23

Mục đích chính của việc dạy tiếng Việt ở đây là hành dụng, tức là hìnhthành và rèn luyện cho học sinh khả năng vận dụng ngôn ngữ một cách linh hoạttrong một văn cảnh, một tình huống, một đối tượng và yêu cầu cụ thể nào đó,chứ không phải cung cấp cho các em một số mô hình lí thuyết việt cứng nhắc, cóthể đúng chỗ này mà sai chỗ khác Xây dựng chương trình theo các kiểu văn bảnnhư trên mở rộng khái niệm tập làm văn trong nhà trường Tập làm văn khôngcòn chủ yếu là viết bài nghị luận văn học nữa mà nghị luận văn học chỉ là mộttrong các dạng của kiểu Văn bản nghị luận Và ngay trong kiểu văn bản này, cácdạng khác như nghị luận về chính trị, đạo đức, xã hội, về kinh tế, văn hóa, môitrường cũng đều được coi trọng Hơn nữa Làm văn ( Tập làm văn) và Tiếng Việtđều lấy kiểu văn bản để tổ chức nội dung dạy học nên việc dạy lí thuyết văn bản(bao gồm định nghĩa, phân loại, đặc điểm, cách làm…) chỉ do một phân mônđảm nhiệm, chứ không giẫm đạp lên nhau như hiện nay

Làm văn theo tinh thần này sẽ có nhiều thời gian để tập trung cho việc rènluyện nhằm hình thành kĩ năng tạo lập các kiểu văn bản một cách năng độngsáng tạo theo những yêu cầu và các tình huống giao tiếp khác nhau Đó cũng làmột cách nhằm tăng cường tính thực hành, ứng dụng, thực hiện việc giảm tải.Như vậy cùng với tiếng Việt phân môn Làm văn lấy các kiểu văn bản làm nộidung chính để rèn luyện cho học sinh

Như trên đã trình bày, những kiểu văn bản này dựa vào các hành độngngôn ngữ chính là là hành động kể (tự sự); hành động tả ( miêu tả); hành độngthể hiện tình cảm, thái độ ( biểu cảm - đánh giá) và hành động bàn bạc, tranhluận ( lập luận - nghị luận), hành động giới thiệu (thuyết minh) Xét cho cùng tất

cả các dạng văn bản nói hoặc viết đều là sự vận dụng tổng hợp các hành độngngôn ngữ nêu trên Tuy vậy, văn bản ( nói hoặc viết) vận dụng chủ yếu một trongbốn hành động trên thì có tên gọi bằng hành động đó Các văn bản văn học cũngkhông nằm ngoài quy luật, tên gọi được xác định bằng các loại thể và những thểloại nhỏ

Trang 24

Như thế, tiếng Việt cũng như làm văn không chỉ lấy các văn bản văn họclàm ngữ liệu khác Ví dụ khi học về Văn bản miêu tả thì nội dung học và ngữliệu sẽ bao gồm:

- Miêu tả trong bài văn hoặc đoạn văn miêu tả ( văn bản văn học lấy hànhđộng tả là chủ yếu)

- Miêu tả trong các kiểu văn bản văn học khác: tự sự, biểu cảm, thuyếtminh, nghị luận

- Miêu tả trong các văn bản đời thường: tường trình, báo cáo, biên bản,thông báo, quảng cáo, viết thư…

Nguyên tắc tích hợp được thể hiện qua các khía cạnh như:

Thứ nhất, khi lựa chọn kiểu văn bản để tổ chức nội dung dạy học cho phân

môn tiếng Việt và lấy loại thể để xây dựng chương trình cho phân môn Văn thì

đã thể hiện bước đầu nguyên tắc tích hợp Bởi vì kiểu văn bản và loại thể vănhọc có sự tương đồng và mối quan hệ khăng khít Kiểu văn bản tự sự và văn bảnmiêu tả ở phân môn tiếng Việt tương đồng với tác phẩm tự sự ở phân môn Văn.Văn bản nghị luận của tiếng Việt và tác phẩm của Văn là trùng nhau Văn bảnbiểu cảm ở tiếng Việt tương đồng với tác phẩm trữ tình của phân môn Văn Tácphẩm kịch ở Văn gần như là sự tổng hợp của các kiểu văn bản tự sự miêu tả vàbiểu cảm…Như thế việc lựa chọn và xác định các nội dung dạy học của hai phânmôn này có nhiều điểm chung, tạo điều kiện để làm sáng tỏ cho nhau

Thứ hai, nguyên tắc tích hợp còn thể hiện trong quá trình tổ chức dạy học

và biên soạn sách giáo khoa Trước hết là ở giờ đọc - hiểu văn bản, khi ngườidạy một văn bản văn học cần hướng dẫn để học sinh khai thác tối đa các yếu tốngôn ngữ, thấy được ý nghĩa, vai trò và tác dụng của chúng trong việc biểu hiệnnội dung của tác phẩm văn học, tránh việc xa rời văn bản, chỉ phân tích nhữngnội dung xã hội đơn thuần Tất nhiên để tiếp nhận tốt các tác phẩm văn học thìcần phải huy động nhiều tri thức và kỹ năng văn học chứ không phải chỉ mìnhcác yếu tố ngôn ngữ (đây chính là yếu tố độc lập của Văn) Đồng thời ở những

Trang 25

những giờ văn này, cùng với việc chỉ ra vẻ đẹp cụ thể của tác phẩm được giảngdạy giáo viên cần hết sức chú ý giúp các em biết cách nhận thức phân tích, bìnhgiá một tác phẩm văn học theo một thể loại nhất định Làm như thế tức là đã tíchhợp nội dung và phương pháp dạy Làm văn, kiểu bài phân tích và bình giảng vàogiờ đọc- hiểu tác phẩm văn học

Nguyên tắc tích hợp trong giờ tiếng Việt thể hiện ở chỗ khi cuung cấp trithức về một đơn vị ngôn ngữ nào đó, người giáo viên luôn hướng dẫn học sinhliên hệ với các tác phẩm văn học đã và đang học, đặt đơn vị đó, yếu tố tiếng Việt

đó trong văn cảnh cụ thể của tác phẩm, vận dụng một cách thành thạo để nghehiểu, đọc hiểu, nói đúng và viết đúng Dĩ nhiên các đơn vị ngôn ngữ này khôngchỉ được xem xét trong các văn bản đã học mà còn được đặt trong nhiều tìnhhuống của cuộc sống thường nhật nữa Ngoài ra ở giờ tiếng Việt khi dạy về vănbản văn học: cấu trúc, đặc điểm, cách phân loại, cách làm…thì các tác phẩm vănhọc đã và đang học song hành sẽ là những ngữ liệu cần được khai thác, vận dụngtriệt để trong việc làm sáng tỏ kiến thức về văn bản, nhất là kiểu văn bản vănhọc

Đối với giờ Làm văn khi học một kiểu văn bản nào đó, trước hết giáo viêncăn cứ vào văn bản văn học đã lựa chọn ở phân môn Văn, coi như là một mẫu đểnghiên cứu, để tìm hiểu, học tập Lúc này bài văn (tác phẩm văn học) trở thànhngữ liệu và được khai thác theo những yêu cầu của việc rèn luyện kĩ năng làmvăn Nói cách khác tác phẩm văn học lúc này được soi sáng, phân tích và “mổxẻ” dưới một góc độ khác: góc độ xây dựng bố cục, kết cấu các ý, diễn đạt thànhvăn, trình bày như thế nào để đạt mục đích của một kiểu văn bản Như thế để tạolập một kiểu văn bản học sinh phải tận dụng tổng hợp kiến thức và kĩ năng củavăn học, tiếng Việt Ngược lại Làm văn giúp người học nghe hiểu, đọc hiểu vănbản tốt hơn Làm văn còn giúp cho học sinh nói hay hơn, viết đúng các kiểu vănbản thường gặp trong văn học và trong nhiều lĩnh vực cuộc sống

Trang 26

Xây dựng chương trình theo nguyên tắc tích hợp nên sách giáo khoa Ngữvăn THPT được tổ chức theo cấu trúc như sau:

Dựa vào chương trình để tổ chức các cụm bài học và bài học theo thể loại.Mỗi bài thường cố gắng khai thác cả ba nội dung: Văn, Tiếng Việt, Làm văn Banội dung này liên quan đến nhau, làm sáng tỏ cho nhau Số tiết của mỗi bài cóthể khác nhau, tùy theo nội dung cần khai thác ở các phân môn Bài đầu học mộtvăn bản văn học nào đó theo kiến thức và yêu cầu kĩ năng đọc - hiểu văn bản.Bài hai cũng dựa trên văn bản của bài một để dạy theo yêu cầu và kiến thức củanội dung tiếng Việt, bài ba là dựa vào văn bản đã học ở bài một dạy học kiếnthức và yêu cầu của nội dung làm văn

Tuy vậy do tính độc lập và những yêu cầu riêng của phân môn nên trongmỗi bài lại có hai phần Phần chung là chỗ để tích hợp còn phần riêng là để nhâncái riêng mà nói cái chung chưa nói, trình bày thêm những kiến thức và kĩ năng

do yêu cầu của phân môn đó đặt ra Việc biên soạn của SGK Ngữ văn THPT đãtheo tinh thần tích hợp rất rõ ràng, cụ thể thông qua việc lựa chọn văn bản vàcách hướng dẫn học tập

Việc lựa chọn văn bản để học chung cho cả ba môn vừa tiêu biểu cho thểloại vừa liên quan đến tri thức cần cung cấp của tiếngViệt và có thể làm “mẫu”cho Làm văn ở một kiểu văn bản hoặc liên quan đến văn bản nào đó Phầnhướng dẫn học tập cũng có những câu hỏi và bài tập cho phần chung và phầnriêng nói trên Câu hỏi cho phần chung là liên quan đến cả ba phân môn của mônNgữ văn, buộc học sinh phải huy động kiến thức của cả ba phân môn để giảiquyết Những câu hỏi và bài tập như thế sẽ giúp học sinh hình thành kiến thức vàrèn luyện kĩ năng một cách tổng hợp Những phần riêng sẽ là chỗ để giải quyếtnhững vấn đề như lí luận văn học, lịch sử văn học đối với văn cũng như vấn đềtính hệ thống của tri thức tiếng Việt Không những thế các vấn đề riêng của baphân môn còn được xâu chuỗi lại trong bài tổng kết hoặc ôn tập cuối năm cho

Trang 27

mỗi lớp ở cuối sách Ngoài ra nếu cần củng cố hoặc nâng cao các vấn đề trên cóthể dựa vào nội dung tiết học tự chọn.

1.3.2 Quan hệ hữu cơ giữa Làm văn và Tiếng Việt

Làm văn và Tiếng Việt có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau Làm vănhiện nay dạy cho học sinh biết cách tạo ra ý, làm phong phú ý và biết lập luậnphản bác để bảo vệ ý kiến của mình…Nghĩa là tăng cường chủ động, tích cựctrong suy nghĩ của người học Làm văn dạy cho học sinh năng lực vận dụng cácthao tác so sánh, lập luận, bác bỏ…một cách linh hoạt, sáng tạo Và còn yêu cầuhọc sinh không những sử dụng tốt các thao tác một cách riêng lẻ mà còn phải kếthợp chúng lại một cách thành thạo tổng hợp trong bài văn của mình, thấmnhuyễn đan xen giữa các thao tác cũng như phương thức biểu đạt trong một vănbản

Để làm được điều đó học sinh cần phải có kiến thức tiếng Việt một cáchvững chắc Nói cách khác hơn là phải biết sử dụng nhuần nhuyễn các yếu tố cấuthành tiếng Việt ở các cấp độ như: từ ngữ, ngữ âm, ngữ pháp, tạo câu, tạo đoạnvăn, tạo lập văn bản…thì mới có thể trình bày và bảo vệ những lí lẽ, những luận

cứ, luận điểm mà học sinh đưa ra trong bài văn của mình Ngoài ra việc sử dụngtốt tiếng Việt học sinh mới có thể tạo câu, sắp xếp ý hợp lý, khoa học để tạo nênđoạn văn và bài văn theo từng kiểu văn bản mà Làm văn yêu cầu

Ngoài ra Làm văn có những nguyên tắc chung như:

+ Nguyên tắc mục tiêu:

* Biết nhận diện các kiểu văn bản (nhận diện)

* Biết phân tích, đánh giá các văn bản theo đặc trưng (lí giải)

* Biết tạo ra các văn bản thông dụng đã học (vận dụng)

+ Nguyên tắc thực hành:

* Thực hành nhận diện

* Thực hành phân tích, lí giải, đánh giá

* Thực hành tạo lập văn bản

Trang 28

+ Nguyên tắc sư phạm: Từ dễ đến khó, từ nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến

* Cơ bản và chính xác ( Kiến thức và kĩ năng)

* Lặp lại và nâng cao

* Tích hợp và tích cực

+ Nguyên tắc thích hợp và thiết hợp

* Mục đích thiết thực và thích hợp

* Đề tài thích hợp và thiết thực

* Yêu cầu thích hợp và thiết thực ( nội dung và hình thức)

Để thực tốt các nguyên tắc giảng dạy làm văn trong nhà trường tức là đảmbảo học sinh tạo lập được các kiểu văn bản mà làm văn yêu cầu thì vai trò củaTiếng Việt là vô cùng quan trọng Tất cả các tri thức về từ vựng, ngữ pháp, tu từ,văn bản, phong cách…đều gắn chặt với việc tạo lập các kiểu văn bản

Qua đó học sinh cũng được ôn lại và củng cố, nâng cao những kiến thứctiếng Việt đã học So với việc đọc hiểu văn bản thì mối quan hệ giữa Làm văn vàTiếng Việt có mối quan hệ hữu cơ chặt chẽ hơn vì để sáng tạo ra những đơn vịngôn ngữ: từ ngữ, lời nói…hay cao hơn là sáng tạo ra đơn vị của văn bản: đoạnvăn thì học sinh phải vận dụng toàn bộ kiến thức Tiếng Việt mình đã biết, sửdụng từ ngữ để tạo nên câu, sử dụng câu tạo nên đoạn văn, sử dụng đoạn văn tạonên các kiểu văn bản

Mỗi kiến thức Tiếng Việt tác động rất lớn đến việc tạo lập nên đơn vịngôn ngữ để trình bày ý kiến của học sinh khi tạo lập văn bản Làm văn Nếu cáckiến thức Tiếng Việt có chỗ nào khiếm khuyết như: viết sai chính tả, dùng từ

Trang 29

không đúng văn cảnh, không hiểu đúng nghĩa của từ, cấu tạo câu vô nghĩa, cụtnghĩa…đều khiến cho việc trình bày suy nghĩ, ý kiến của học sinh hạn chế,không diễn tả đúng thậm chí không diễn tả được suy nghĩ, ý kiến của các em,dẫn đến không thể tạo nên các kiểu văn bản làm văn yêu cầu, không thể giảiquyết các vấn đề làm văn đưa ra.

1.4 Giới thiệu khái quát về giáo dục bậc THPT ở Tân Kỳ

1.4.1 Vài nét về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội huyện Tân Kỳ

Tân Kỳ là huyện trung du miền núi phía Tây tỉnh Nghệ An, cách thànhphố Vinh 90 km Huyện có đường Trường Sơn đi qua mà cột mốc số 0 huyềnthoại xuất phát từ đây Huyện lị là thi trấn Lạt Đây là huyện được UNESCO đưavào danh sách các địa danh thuộc Khu dữ trữ sinh quyển miền Tây Nghệ An

Diện tích: 725,7 km2 Địa hình đồi núi, đất đỏ bazan Có sông Hiếu chảyqua, hàng năm mang về một lượng phù sa rất lớn.Kinh tế chủ yếu sản xuất nôngnghiệp và tiểu thủ công nghiệp Các loại cây trồng như: Lúa, ngô lạc sắn, cây ăntrái, cao su

Nhà máy mía đường Sông Con hàng năm đạt doanh thu rất lớn mang lạinguồn thu đáng kể cho ngân sách của huyện

Nhà máy sản xuất phân vi sinh đóng trên địa bàn huyện đáp ứng nhu cầu

về phân bón cho sản xuất

Có 3 nông trường với các loại cây: Cao su, Cam, Vải

Ngói Cừa là sản phẩm nổi tiếng có chất lượng cao được tiêu thụ rộng rãikhắp các tỉnh Nghệ An, Thanh Hóa, Hà Tĩnh Người dân vùng sản xuất gạchngói có đời sống kinh tế rất cao

Dân số: 150.000 người gồm các dân tộc: Kinh, Thổ, Thái

Tân Kỳ có 1 thị trấn, 20 xã là huyện mới được thành lập năm 1963 đượctách ra từ hai huyện Nghĩa Đàn và Anh Sơn Dân cư chủ yếu di cư từ các huyệnmiền xuôi lên như Diễn Châu, Đô Lương, Hưng Nguyên, Yên Thành sinh sốngtập trung theo cụm dân cư

Trang 30

Mặc dù là huyện trung du miền núi nhưng tỉ lệ người dân tộc ít người rất

ít, chiếm khoảng 10% dân số, chủ yếu tập trung ở các xã Tiên Kỳ, Phú Sơn,Đồng Văn, Tân Hợp, Giai Xuân Kinh tế chủ yếu là Nông nghiệp: Trồng trọt:lúa, ngô, sắn; Cây ăn quả (cam, chanh, vải, mít, dưa hấu); Cây công nghiệp tiêu,mía đường, cao su (gần đây phát triển khá mạnh), dâu tằm Chăn nuôi: trâu, bò,lợn, gà, ba ba, rắn Khai thác khoáng sản: Đá vôi.Công nghiệp: Chế biến nôngsản, mía đường, bia hơi, phân vi sinh Dù kinh tế còn nghèo nhưng Tân Kỳ cónhiều tiềm năng để phát triển, nhất là kể từ khi đường mòn Hồ Chí Minh hoànthành

Tân Kỳ là một miền văn hóa đa sắc màu do cư dân ở các miền khác nhauđem lại Từ ngày khánh thành con đường Hồ Chí Minh chạy qua huyện, văn hóaTân Kỳ lại có điều kiện hướng ra bên ngoài nhiều hơn

1.4.2 Tình hình giáo dục THPT ở huyện Tân Kỳ

Song song với việc phát triển kinh tế, lĩnh vực văn hoá - xã hội cũng đãđược coi trọng Công tác giáo dục đào tạo luôn luôn được sự quan tâm của cáccấp uỷ Đảng, chính quyền Đội ngũ giáo viên từng bước được bổ sung cả về sốlượng và chất lượng (GV đạt chuẩn đạt 97,4% 2005 tăng lên 98% năm 2010 );tiếp tục duy trì và giữ vững phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cậpTHCS ; các trung tâm học tập cộng đồng của các xã được thực hiện có hiệu quảgóp phần xây dựng xã hội học tập; tỷ lệ tốt nghiệp các cấp phổ thông của huyệnhằng năm đạt khá cao

Năm học 2008 – 2009 tỷ lệ tốt nghiệp THCS đạt 98% và THPT đạt 82%

Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia cũng đạt khá Đến nay toàn huyện có đến 29trường, chiếm 39%; lực lượng lao động qua đào tạo cũng tăng dần qua các năm.Công tác văn hoá - thông tin - thể dục thể thao được nâng cao chất lượng Chínhsách xã hội - xoá đói giảm nghèo được thực hiện một cách đồng bộ Quốc phòng

- an ninh tiếp tục được giữ vững và không ngừng ổn định

Trang 31

Tân kỳ có 3 trường THPT đóng trên địa bàn:

+ THPT Tân Kỳ 1 đóng trên địa bàn thị trấn Lạt với vùng tuyển sinh các

xã phụ cận Học sinh chủ yếu là người Kinh.Tổng số: 32 lớp: 1400 học sinh

+ THPT Tân Kỳ 3 đóng ở xã Tân An tuyển sinh chủ yếu các xã Tân An,Đồng Văn, Phú Sơn, Tiên Kỳ, Nghĩa Phúc Có khoảng 5% học sinh dân tộc thiểusố.Số lượng 1 lớp, 1340 học sinh

+ THPT – DTNT (Nơi tôi công tác), đóng tại xã Tân Phú có vùng tuyểnsinh rộng hơn Quy mô 45 lớp với khoảng 1800 học sinh 10% là học sinh dântộc

Cả trường có 60 học sinh dân tộc nội trú được nhà nước cấp học bổng ăn ở

và học tập tại trường

Trang 32

Chương 2 MỘT SỐ KĨ NĂNG TIẾNG VIỆT CÓ THỂ RÈN LUYỆN

QUA DẠY HỌC LÀM VĂN Ở CÁC TRƯỜNG THPT

HUYỆN TÂN KỲ 2.1 Rèn luyện về ngữ âm, chính tả qua dạy học Làm văn

2.1.1 Rèn luyện ngữ âm

Muốn hiểu đúng tiếng Việt và sử dụng thành thạo tiếng Việt chúng ta phảihiểu rõ các yếu tố cấu tạo nên tiếng Việt đó chính là Ngữ âm của tiếng Việt Nộidung ngữ âm mà các em học sinh phổ thông cần nắm được đó là: nguồn gốc củatiếng Việt, cấu tạo của tiếng Việt Có hiểu rõ các bộ phận cấu tạo nên tiếng Việt

ta mới có thể sử dụng theo mục đích phát ngôn một cách hiệu quả Các đặc điểmchính của tiếng Việt:

Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập nhưng đa thanh Nghĩa là mỗi tiếng,mỗi chữ chỉ gồm có một vần, nên khi nói rời từng tiếng, khi viết rời từng chữ,các vần các chữ không dính kết lại với nhau như một số ngôn ngữ khác Câu thơlục bát của Nguyễn Du :

“Người đâu gặp gỡ làm chi Trăm năm biết có duyên gì hay không?” (Truyện Kiều)

Câu thơ trên gồm 14 vần, 14 âm tiết, viết và đọc tách bạch nhau, khôngdính kết lại với nhau Và tiếng Việt là một ngôn ngữ đa thanh nghĩa là nhiềuthanh điệu, nhiều dấu giọng Cụ thể là có 6 thanh điệu, được ghi bằng 5 ký hiệukhác nhau : dấu sắc (Á), dấu huyền (À), dầu hỏi (Ả), dầu ngã (Ã ), dấu nặng (Ạ).(Gọi tắt là 5 dấu 6 giọng) Không có dấu gọi là thanh - điệu “ngang”

Mỗi tiếng (mỗi âm tiết) có 3 yếu tố là âm đầu, vần và thanh điệu Ví dụtrong chữ TOÀN ta có: T là âm đầu, OAN là vần, thanh huyền Trong 3 yếu tố

đó, thì VẦN lại gồm 3 yếu tố khác : âm đệm + âm chính + âm cuối Trong vần

Trang 33

OAN, O là âm đệm, A là âm chính, N là âm cuối Vậy trong một âm tiết gồm tất

- Thanh điệu (là yếu tố ảnh hưởng lên toàn âm tiết)

+ Ví trí âm đầu: do các phụ âm đảm nhận, gọi là các phụ âm đầu Đặc

tính của các phụ âm là tự nó không phát ra âm thanh lớn được, mà cần kèm theomột nguyên âm, thì nó mới phát thành tiếng rõ ràng được Khi đọc các phụ âm,làn hơi phải vượt qua một vật cản nào đó do tác động của môi lưỡi phối hợp, rồimới đi ra ngoài theo đường miệng Các phụ âm đầu của tiếng Việt Nam : B, C,

* Phụ âm đầu lưỡi :

- đầu lưỡi + răng trên : t – th : tinh thần

- đầu lưỡi + hàm răng khít : x : xinh xắn

- đầu lưỡi + chân răng – vòm cứng: n – đ – l : nó đẹp lắm

- đầu lưỡi cong + vòm cứng : (l) – r – tr – s : rộn ràng, trong sáng

- đầu lưỡi rung + vòm cứng : r (r rung hơi khác với r mềm ở hàngtrên) : run rẩy, rung rinh

- đầu lưỡi bẹt + vòm cứng : d – gi : dòng giống

* Phụ âm mặt lưỡi :

- Mặt lưỡi + vòm miệng : ch – nh : chi nhánh

Trang 34

* Phụ âm cuống lưỡi :

- cuống lưỡi ngoài + vòm mềm : kh – g (gh) : khiêng gánh

- cuống lưỡi trong + vòm mềm : ng (ngh) – c (k,q) : ngông cuồng,nguy kịch quá

* Phụ âm thanh hầu :

- cuống lưỡi thụt về phía sau để thu hẹp thanh hầu : h : hầu hạ.Lưu ý :

- âm l có thể cấu âm ở cả 2 vị trí Đối với người thường đọc lộn l ra n, và n

ra l thì nên dùng l cong lưỡi để tập luyện Không nên cong lưỡi quá, sẽ không tựnhiên

- âm r mềm ở hàng trên đọc gần giống như chữ j trong tiếng Pháp Còn rrung thường gặp ở miền Trung, chỉ nên dùng để đọc các chữ diễn tả sự rungđộng như : rung rinh, run rẩy, run run … và để đọc các chữ r của tiếng La-tinhnhư Ma-ri-a, Ro-sa …

Có một số âm tiết không có phụ âm đầu như ăn, uống, an ủi … còn đa sốcác âm tiết đều có phụ âm đầu Muốn cho rõ tiếng, cần tập : “bật môi, đánh lưỡi”cho đúng cách Vai trò của lưỡi quan trọng nên người ta khuyên nên “đánh lưỡibảy lần trước khi nói” là vậy

+ Vần lại gồm 3 yếu tố khác : âm đệm + âm chính + âm cuối

* Âm đệm: Được ghi bằng bán âm u hoặc o Đây là âm làm tròn môi trước

khi đọc âm chính, làm cho âm tiết có âm sắc trầm tối (gọi là bán âm, vì mặt chữthì giống như nguyên âm, nhưng công dụng lại không giống như nguyên âm)

- Chính tả ghi bằng u trước các nguyên âm vừa hoặc hẹp (uê, uơ, uya)

- Chính tả ghi bằng o trước các nguyên âm rộng (oa, oe) trừ khi trước nó

là phụ âm q thì lại ghi bằng u (qua, que = koa, koe)

- Vì âm đệm là âm tròn môi, nên nó không đi trước các nguyên âm trònmôi o, ô, u nữa

Trang 35

- Khi phát âm, không được dừng lâu ở âm đệm, mà phải chuyển qua âmchính ngay.

* Âm chính : Vị trí âm chính do các nguyên âm đảm nhiệm

- Nguyên âm : là những âm tự nó phát ra âm thanh mà không cần nhờ tới

một âm nào khác : làn hơi từ phổi ra qua thanh đới mở - đóng tạo cao độ của âm

thanh, còn hình thể các khoang họng và khoang miệng khác nhau, do hoạt độngcủa lưỡi và hàm dưới, sẽ tạo ra các nguyên âm khác nhau (hình 11)

- Phân loại : có hai loại nguyên âm chính là nguyên âm đơn (a, ă, â, o, ô,

ơ, u, ư, e, ê, i/y) và nguyên âm phức (ia (iê), ưa (ươ), ua (uô))

* Dựa trên vị trí của lưỡi, người ta còn phân ra :

+ Nguyên âm hàng trước (lưỡi đưa ra trước, âm sắc sáng, bổng, môi bẹt) :

e, ê, i/y, iê (ia)

+ Nguyên âm hàng giữa (lưỡi nằm ở giữa, âm sắc trung hoà, môi khôngbẹt, không tròn) : a (ă), ơ (â), ư, ươ (ua)

+ Nguyên âm hàng sau (lưỡi rụt về sau, âm sắc tối, trầm, môi tròn) : o, ô,

u, uô (ua)

* Dựa trên độ mở của miệng, ta có 4 loại :

+ Nguyên âm rộng : e, a, o (âm lượng lớn)

+ Nguyên âm vừa : ê, ơ, ô (âm lượng vừa)

+ Nguyên âm hẹp : i, ư, u (âm lượng nhỏ)

+ Nguyên âm hẹp mở qua vừa : iê, ươ, uô (âm lượng nhỏ và lớn dần đếnvừa)

Trang 36

- Âm chính cùng với thanh điệu là hai yếu tố tối thiểu phải luôn luôn cómặt trong âm tiết, nếu không sẽ không có âm tiết : ả, ổ, ố …

* Âm cuối: Vị trí âm cuối do các bán âm cuối và phụ âm cuối đảm nhận.

* Bán âm cuối có 2 loại :

– Bán âm cuối bẹt miệng (lưỡi đưa ra trước) được ghi bằng i hoặc y :

+ Được ghi bằng y sau các nguyên âm ngắn ă, â : ăy, âu (hãy lấy :đáng lẽ ra chính tả phải ghi “hẵy” mới đúng ngữ âm)

+ Được ghi bằng i sau tất cả các nguyên âm còn lại mà không bẹtmiệng (tức là bán âm i không đi sau các nguyên âm hàng trước, bẹt miệng): ai ơi, ưi, ươi (ai # ăy) oi, ôi, ui, uôi

– Bán âm cuối tròn môi (lưỡi rụt vào trong) được ghi bằng u hoặc o :

+ Không đi sau các nguyên âm hàng sau (tròn môi)+ Được ghi bằng u sau các âm ngắn : âu, ău (trâu, tàu : đáng lẽchính tả phải ghi “tằu” mới đúng ngữ âm)

+ Được ghi bằng u sau các âm vừa và âm hẹp : du, ưu, ươu, êu, iu,iêu (yêu)

+ Được ghi bằng o sau các âm rộng a, e = ao, eo (ao # ău)Lưu ý: khi gặp ay thì phải phân tích là ăy, khi gặp au thì phải phân tích là ău

* Phụ âm cuối gồm 8 âm chia làm 4 cặp như sau:

– Phụ âm môi : m – p (đóng tiếng bằng 2 môi) : làm đẹp, rập rạp …

– Phụ âm đầu lưỡi : n – t (đóng lưỡi lên chân răng) : ban hát, sền sệt …– Phụ âm mặt lưỡi : nh – ch (đóng mặt lưỡi lên vòm miệng) : chênh chếch,rách, rình

Trang 37

- Khi vần có các âm cuối, thì âm chính ít nhiều bị ảnh hưởng – nó làm cho

độ mở của miệng giảm bớt, ngắn lại

- Các vần có âm cuối gọi là VẦN ĐÓNG, các vần không có âm cuối gọi làVẦN MỞ

Thanh điệu : Gồm có sáu thanh : (1) ngang, (2) huyền, (3) ngã, (4) hỏi, (5) sắc,

(6) nặng ; được ký hiệu phiên âm bằng số 1 – 6 theo thứ tự trên Thanh điệu làyếu tố thay đổi cao độ của âm tiết Nó ảnh hưởng lên toàn bộ âm tiết, nhưng khiviết nó được ghi trên hoặc dưới âm chính là nguyên âm đơn Gặp nguyên âmphức không kèm theo âm cuối thì nó được ghi trên yếu tố đầu của âm phức (thí

dụ : Chúa, chìa, chừa) Nếu nguyên âm phức có kèm theo phụ âm cuối thìthường ghi thanh điệu trên yếu tố thứ 2 của âm phức đó.Ví dụ : vướng, tiếng,chuồng

Phân loại dựa tên âm vực : có 2 loại cao và thấp Âm vực cao : thanhngang, thanh ngã, thanh sắc Âm vực thấp : thanh huyền, thanh hỏi, thanh nặng

Phân loại dựa trên âm điệu : có 2 loại bằng và trắc Âm điệu bằng : thangngang, thanh huyền Âm điệu trắc : (không bằng phẳng)

Có đối hướng (gãy) : thanh ngã, thanh hỏi

Không đối hướng : thanh sắc, thanh nặng

Như vậy trong phần ngữ âm tiếng Việt các em cần nắm được những nộidung chính đã học đó là ngôn ngữ tiếng Việt được cấu tạo bởi: âm đầu âm

Trang 38

chính, âm cuối, thanh điệu Khi gặp một từ ngữ nào đó trong tiếng Việt các emđều có thể phân tích từ thành những bộ phận nhỏ để cấu tạo nên từ.

Dạy làm văn sẽ giúp các em rèn luyện những khả năng về mặt ngữ âm đó

là phát âm đúng, nhuẫn nhuyễn các từ của tiếng việt thông qua yêu cầu thựchành văn bản làm văn, thực hành tạo lập văn bản, phát biểu thành lời, trình bàytrước lớp Thông qua việc học làm văn việc tạo lập từ của các em được củng cố,khắc sâu vào tâm trí các em hơn các yếu tố cấu tạo nên tiếng việt như: vần đầu,

âm chính, âm cuối, thanh điệu

2.1.2 Rèn luyện chính tả

Tiếng Việt là một ngôn ngữ đơn lập, do đó mỗi từ có ý nghĩa rất quantrọng cho việc hiểu nghĩa của nó Viết đúng, nói đúng tiếng việt sẽ làm cho ngônngữ được sử dụng hiểu qủa Tuy nhiên qua nhiều năm giảng dạy giáo viên cũngnhận thấy học sinh sử dụng tiếng việt còn mắc nhiều lỗi chính tả

Những lỗi học sinh thường mắc phải đó là đọc sai chính tả và viết saichính tả Thông qua việc dạy môn làm văn, giáo viên sẽ dần dần điều chỉnh giúphọc sinh nhận biết được những lỗi sai đó

Sửa lỗi nói sai chính tả qua giờ làm văn thông qua những buổi học tìmhiểu đề và trình bày ý kiến của bản thân Giáo viên cần lưu ý các lỗi nói saichính tả như nói sai thanh điệu: thanh ngã thành thanh hỏi…(lỗi sai đặc trưngcủa người miền Trung) Những trường hợp học sinh nói sai như vậy giáo viên sẽ

cố gắng chỉnh sửa cho học sinh ngay khi phát hiện lỗi sai và chú ý thêm đến các

em để có thể giúp các em thực hành giảm hạn chế và khắc phục lỗi sai đó

Học sinh khi phát biểu nhiều đọc nhiều cũng giúp học sinh tự tin thêm khi

sử dụng tiếng Việt, dần hoàn thiện về mặt ngôn ngữ nói của các em Trong giờtrả bài làm văn giáo viên cũng có thể yêu cầu các học sinh chưa nói đúng chính

tả ấy đọc những đoạn văn hay, những bài văn hay mà giáo viên muốn các họcsinh nghe để rút kinh nghiệm, để học cách trình bày ý đoạn của những bạn làm

Trang 39

tốt Việc đọc, nhìn mặt từ ngữ sẽ giúp các em khắc sâu những cách phát âmđúng từ đó sử lỗi phát âm của mình.

Lỗi sai nữa ở các em còn gặp phải đó là viết sai chính tả Ở lỗi sai nàychính ở việc làm văn sẽ phát hiện ra những lỗi sai của các em Các em thườngphạm lỗi sai này khi viết đoạn văn, văn bản hoàn chỉnh thể hiện rõ nhất Khi giáoviên chấm bài, kiểm tra vở viết các em, yêu cầu các em lên bảng viết…sẽ thấyđược những lỗi này Thông qua việc chấm những bài viết làm văn giáo viên sẽphát hiện các học sinh trong lớp mình có những lỗi sai chính tả nào, lỗi nào các

em mắc phải nhiều nhất, lỗi nào một vài trường hợp các em mắc phải Giáo viênghi nhận kĩ các lỗi đó và sử cho cả lớp vào giờ trả bài làm văn

Sai chính tả sẽ làm cho câu văn, đoạn văn không có nghĩa hoặc mangnhững nghĩa khác so với nghĩa các em cần trình bày Giáo viên nhấn mạnh vàcho ví dụ cụ thể để các em thấy rõ tác hại của việc viết sai chính tả để các em sữachữa, không mắc phải những lỗi ấy nữa Mặc dù đậy là một việc làm đơn giản,

có tính chất truyền thống bởi vì ngay từ những lớp nhỏ từ cấp tiểu học đến trunghọc cơ sở giáo viên đều có sửa lỗi chính tả cho học sinh thông qua giờ chính tảriêng hoặc vào giờ trả bài làm văn

2.2 Rèn luyện cách sử dụng từ ngữ qua dạy học làm văn

2.2.1 Rèn luyện về vốn từ ngữ

Từ vựng của một ngôn ngữ là tập hợp tất cả những đơn vị ngôn ngữ nào

có cấu trúc hình thức bền vững, có nghĩa hoàn chỉnh, lớn nhất về tính bắt buộcghi nhớ đối với các thành viên của cộng đồng và nhỏ nhất về khả năng trực tiếpkết hợp với nhau để tạo ra các đơn vị thông báo Để có thể sử dụng tốt tiếng Việt

và trình bày những vấn đề văn học một cách hiệu quả thì yêu cầu cần đặt ra làcác em phải có một vốn từ phong phú, đa dạng Vốn từ học sinh học được hìnhthành và nâng cao vốn từ vựng bằng cách học tập, lắng nghe mọi người xungquanh Ngôn ngữ các tiếp xúc hằng ngày càng nhiều và càng phong phú thì vốn

từ vựng càng phát triển Riêng trong giờ làm văn giáo viên có nhiều cách để xây

Trang 40

dựng và củng cố vốn từ vựng cho học sinh cũng như làm tăng thêm mối quan hệgiữa làm văn và tiếng Việt bằng những phương pháp như:

+ Đọc to: Đúng vậy, việc đọc to cho các em biết, cố gắng đọc những sách

mà có liên quan đến vấn đề mà bài làm văn yêu cầu Thông qua việc đọc đề bài,bài văn hay, đọc thêm ngữ liệu văn học,…giáo viên cũng phải dành nhiều thờigian cho việc thảo luận và để nâng cao vốn từ của học sinh

+ Vừa nói vừa lấy dẫn chứng cụ thể: Cách này rất hiệu quả Giáo viên cóthể sử dụng các tranh ảnh, phương tiện dạy học như máy chiếu, bảng biểu…đểgiới thiệu về những kiến thức làm văn mà giáo viên cần truyền đạt cho học sinh.Thông qua các hình ảnh hiện thực nàu sẽ khắc sâu từ vựng được diễn tả Ví dụtrong câu thơ “sông dài trời rộng, bến cô liêu” khi yêu cầu học sinh làm văn đểcảm nhận câu thơ trên giáo viên có thể khơi gợi những từ ngữ gợi tả ấy thôngqua một hình ảnh cụ thể là một bức tranh về sông nước trời mây, gợi tả nỗi buồnhiu hắt Hình ảnh ấy và những từ ngữ trong câu thơ sẽ khắc sâu vào tâm trí các

em để các em ghi nhớ và tiếp thu làm vốn từ của mình Việc diễn giải để các emhiểu từ là giáo viên đã chia sẻ kinh nghiệm và tri thức của mình về từ vựng đóvới các em

+ Tiếp theo là nói: Đừng bao giờ đánh giá thấp tầm quan trọng của cuộchội thoại hay và những thông tin bổ ích để phát triển từ vựng cho học sinh Giáoviên có thể yêu cầu các em mạnh dạn trình bày sự hiểu biết của các em về yêucầu của đề làm văn, hoặc một chi tiết nào đó mà bài văn cần phân tích rõ Việcgiáo viên giải thích từ hoặc yêu cầu một học sinh nào đó đã hiểu rõ nghĩa từ trìnhbày ý hiểu của mình cho cả lớp nghe sẽ giúp các em khác có ấn tượng về từ mới

đó, tiếp thu từ ngữ đó bằng kinh nghiệm của người khác

Cố gắng tăng vốn từ cho học sinh trung học phổ thông càng nhiều càngtốt: Học sinh các lớp này sẽ nhớ những từ dài, những từ khó nếu được nhắc lạitrong nhiều ngữ cảnh khác nhau để các em ghi nhớ từ Sử dụng nhiều từ ngữ có

ý nghĩa tương tự để mô tả thêm về từ để các em tiếp nhận từ mới thông qua vốn

Ngày đăng: 22/12/2013, 12:53

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A (2007), Phương pháp dạy học tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tiếng Việt
Tác giả: Lê A
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
2. Diệp Quang Ban (2010), Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn bản và liên kết trong tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2010
3. Diệp Quang Ban (2009), Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp, diễn ngôn và cấu tạo văn bản
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
4. Bộ giáo dục và đào tạo (1998), Phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh trong việc dạy học tiếng Việt, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực ngôn ngữ cho học sinh trong việc dạy học tiếng Việt
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
5. Bộ giáo dục và đào tạo (2006), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10, môn Ngữ văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 10, môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
6. Bộ giáo dục và đào tạo (2007), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 11, môn Ngữ văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 11, môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
7. Bộ giáo dục và đào tạo (2008), Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 12, môn Ngữ văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa lớp 12, môn Ngữ văn
Tác giả: Bộ giáo dục và đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
8. Nguyễn Gia Cầu (1994), Vấn đề hiện đại hóa phương pháp dạy học Văn, Nghiên cứu giáo dục, (4), 11-15 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề hiện đại hóa phương pháp dạy học Văn
Tác giả: Nguyễn Gia Cầu
Năm: 1994
9. Đỗ Hữu Châu – Nguyễn Thị Ngọc Diệu (2004), Ngữ pháp văn bản, NXB Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp văn bản
Tác giả: Đỗ Hữu Châu – Nguyễn Thị Ngọc Diệu
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2004
10. Phan Huy Đông (2003), Cách làm bài tập làm văn nghị luận (Dùng cho học sinh thi tốt nghiệp Phổ thông trung học và tuyển sinh Đại học – Cao đẳng), NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cách làm bài tập làm văn nghị luận (Dùng cho học sinh thi tốt nghiệp Phổ thông trung học và tuyển sinh Đại học – Cao đẳng)
Tác giả: Phan Huy Đông
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2003
11. Lê Thị Bích Hồng (2007), Dạy học “Nghĩa của câu” ở Trung học phổ thông theo tình huống giao tiếp Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Dạy học “Nghĩa của câu
Tác giả: Lê Thị Bích Hồng
Năm: 2007
12. Nguyễn Thanh Hùng (2007), Đề văn không chỉ là đề văn, Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đề văn không chỉ là đề văn
Tác giả: Nguyễn Thanh Hùng
Năm: 2007
13. Dương Thị Thanh Hương (2009), Bản chất của việc làm văn trong nhà trường phổ thông, Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất của việc làm văn trong nhà trường phổ thông
Tác giả: Dương Thị Thanh Hương
Năm: 2009
14. Vũ Thị Thanh Hương (2006), Từ khái niệm “năng lực giao tiếp” đến vấn đề dạy và học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông hiện nay, Ngôn ngữ (4), 1- 12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ khái niệm “năng lực giao tiếp” đến vấn đề dạy và học tiếng Việt trong nhà trường phổ thông hiện nay
Tác giả: Vũ Thị Thanh Hương
Năm: 2006
15. Đặng Thành Hưng (2002), Dạy học hiện đại – lí luận, biện pháp, kĩ thuật, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học hiện đại – lí luận, biện pháp, kĩ thuật
Tác giả: Đặng Thành Hưng
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2002
16. Nguyễn Thị Ly Kha (2008), Ngữ pháp văn bản và luyện tập làm văn, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp văn bản và luyện tập làm văn
Tác giả: Nguyễn Thị Ly Kha
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
17. Nguyễn Xuân Lạc (1993), Về chất lượng môn Văn, Nghiên cứu giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về chất lượng môn Vă
Tác giả: Nguyễn Xuân Lạc
Năm: 1993
18. Phan Trọng Luận (2002), Phương pháp dạy Văn, tập 2, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy Văn, tập 2
Tác giả: Phan Trọng Luận
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002
19. Nguyễn Đăng Mạnh (2003), Đỗ Ngọc Thống, Lưu Đức Hạnh, Muốn viết được bài văn hay, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Muốn viết được bài văn hay
Tác giả: Nguyễn Đăng Mạnh
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
20. Madeline Hunter – Robin Hunter (2005), Làm chủ phương pháp giảng dạy, NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làm chủ phương pháp giảng dạy
Tác giả: Madeline Hunter – Robin Hunter
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2005

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 3.1. Thống kê kết quả kiểm tra bài dạy thực nghiệm và đối chứng - Rèn luyện kỹ năng tiếng việt qua dạy học làm văn ở các trường THPT huyện tân kỳ luận văn thạc sĩ ngữ văn
Bảng 3.1. Thống kê kết quả kiểm tra bài dạy thực nghiệm và đối chứng (Trang 89)
Bảng 3.3. Thống kê kết quả kiểm tra bài dạy thực nghiệm và đối chứng - Rèn luyện kỹ năng tiếng việt qua dạy học làm văn ở các trường THPT huyện tân kỳ luận văn thạc sĩ ngữ văn
Bảng 3.3. Thống kê kết quả kiểm tra bài dạy thực nghiệm và đối chứng (Trang 89)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w