1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bài tập lớn quản lý dự án đầu tư xây dựng CSHT GTVT ở việt nam

31 41 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quản Lý Dự Án Đầu Tư Xây Dựng CSHT GTVT Ở Việt Nam
Tác giả Bùi Thị Khánh Ly
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế
Chuyên ngành Kế Toán
Thể loại Bài Tập Lớn
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 179 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các phương pháp quản lý mới hiện nay: - Quản lý chất lượng tổng thể Total quality management - Đúng thời gian Just in time - Kỹ thuật cạnh tranh Comcurent engineering 1.1.2.1.Khái niệm q

Trang 1

Chính vì lý do đó mà em chọn đề tài: “Quản lý dự án đầu tư xây dựng CSHT GTVT ở Việt Nam”

2.Mục đích nghiên cứu:

Trên cơ sở nghiên cứu và phát triển lý luận chung về quản lý dự án và quản lý

dự án xây dựng,em sẽ áp dụng vào phân tích tình hình đầu tư xây dựng CSHT GTVT

ở Việt nam để làm rõ một số tồn tại và có một số kiến nghị, giải pháp góp phần hoànthiện lý luận và nâng cao chất lượng quản lý đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ở ViệtNam

3.Phương pháp nghiên cứu:

Dựa vào các nguồn thông tin tìm hiểu kết hợp với phương pháp tiếpcận,thống kê số liệu-phân tích-tổng hợp-so sánh-đối chứng

4.Bố cục:

Nội dung đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Lý luận chung về dự án và quản lý dự án

Chương 2: Thực trạng quản lý dự án đầu tư xây dựng CSHT GTVT ở Việt NamChương 3: Các giải pháp nhằm hoàn thiện một số vấn đề trong quản lý đầu tưxây dựng CSHT GTVT ở Việt Nam

Trang 2

PHẦN B: NỘI DUNG CHƯƠNG 1:

LÝ LUẬN CHUNG VỀ DỰ ÁN,QUẢN LÝ DỰ ÁN 1.1.Tổng quan về dự án và quản lý dự án:

1.1.1 Tổng quan về dự án đầu tư:

1.1.1.1.Khái niệm về dự án:

Trên phương diện phát triển, có hai cách hiểu về dự án: Cách hiểu “tĩnh” vàcách hiểu “động” Theo cách hiểu “tĩnh” thì dự án là hình tượng về một tình huống(một trạng thái) mà ta muốn đạt tới Theo cách hiểu thứ hai: “ Dự án là một lĩnh vựchoạt động đặc thù, một nhiệm vụ cần phải được thực hiện với phương pháp riêng,nguồn lực riêng và theo một kế hoạch tiến độ nhằm tạo ra một thực thể mới”

Trên phương diện quản lý: “Dự án là những nỗ lực có thời hạn nhằm tạo ra mộtsản phẩm hoặc dịch vụ duy nhất”

1.1.1.2.Đặc trưng cơ bản của dự án:

- Dự án có mục đích, kết quả xác định Tất cả các dự án đều phải có kết quảđược xác định rõ Mỗi dự án bao gồm một tập hợp nhiều nhiệm vụ cần được thực hiện.Mỗi nhiệm vụ cụ thể lại có một kết quả riêng, độc lập Tập hợp các kết quả cụ thể củacác nhiệm vụ hình thành nên kết quả chung của dự án

- Dự án có chu kì phát triển riêng và có thời gian tồn tại hữu hạn.Dự án khôngkéo dài mãi mãi Mọi dự án đều có chu kì sống.Chu kì sống của dự án được coi là biếnđộng vì nó diễn ra theo các giai đoạn rất khác nhau, chúng được phân biệt bằng bảnchất các hoạt động của chúng cũng như bằng số lượng và loại nguồn lực mà chúng đòihỏi

- Dự án liên quan đến nhiều bên và có sự tương tác phức tạp giữa các bộ phậnquản lý chức năng với quản lý dự án.Để thực hiện thành công mục tiêu của dự án, cácnhà quản lý dự án cần duy trì thường xuyên mối liên hệ với các bộ phận quản lý khác

- Môi trường hoạt động “va chạm” Môi trường quản lý dự án có nhiều quan hệphức tạp nhưng năng động

- Tính bất định và rủi ro cao Hầu hết các dự án đòi hỏi quy mô tiền vốn, vật tư

và lao động rất lớn để thực hiên trong một khoảng thời gian nhất định Mặt khác, thờigian đầu tư và vận hành kéo dài nên các dự án đầu tư phát triển thường có độ rủi ro

Trang 3

cao Tuy nhiên các dự án không chịu cùng một mức độ không chắc chắn, nó phụ thuộcvào: Tầm cỡ của dự án, mức độ hao mòn của dự án, công nghệ được sử dụng, mức độđòi hỏi của các ràng buộc về chất lượng, thời gian, chi phí, tính phức tạp và tính khôngthể dự báo được của môi trường dự án…

Ngoài các đặc trưng cơ bản trên, dự án còn có một số đặc trưng như:

+ Tính giới hạn về thời gian thực hiện

+ Bị gò bó trong những ràng buộc nghiêm ngặt: yêu cầu về tính năng của sảnphẩm dịch vụ, yêu cầu về chức năng của công trình, các chỉ tiêu kỹ thuật, các địnhmức về chất lượng sản phẩm hoặc dịch vụ, thời hạn bàn giao… Các rang buộc trênphụ thuộc vào bối cảnh của dự án

1.1.2.Quản lý dự án:

Có hai lực lượng cơ bản thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của phương pháp quản

lý dự án là (1) nhu cầu ngày càng tăng về những hàng hóa và dịch vụ sản xuất phứctạp, chất lượng cao trong khi khách hàng càng “khó tính”; (2) kiến thức của con người(hiểu biết tự nhiên, xã hội, kinh tế, kỹ thuật…) ngày càng tăng

Các phương pháp quản lý mới hiện nay:

- Quản lý chất lượng tổng thể (Total quality management)

- Đúng thời gian (Just in time)

- Kỹ thuật cạnh tranh (Comcurent engineering)

1.1.2.1.Khái niệm quản lý dự án:

Quản lý dự án là quá trình lập kế hoạch, điều phối thời gian, nguồn lực và giámsát quá trình phát triển của dự án nhằm đảm bảo cho dự án hoàn thành đúng thời hạn,trong phạm vi ngân sách được duyệt và đạt được các yêu cầu đã định về kỹ thuật vàchất lượng sản phẩm dịch vụ, bằng những phương pháp và điều kiện tốt nhất cho phép

Quản lý dự án bao gồm ba giai đoạn chủ yếu Đó là việc lập kế hoạch, điều phốithực hiện mà nội dung chủ yếu là quản lý tiến độ thời gian, chi phí và thực hiện giámsát các công việc dự án nhằm đạt được những mục tiêu xác định

Lập kế hoạch Đây là giai đoạn xây dựng mục tiêu, xác định công việc, dự tínhnguồn lực cần thiết để thực hiện dự án và là quá trình phát triển một kế hoạch hànhđộng thống nhất, theo trình tự logic, có thể biểu diễn dưới dạng các sơ đồ hệ thốnghoặc theo các phương pháp lập kế hoạch truyền thống

Trang 4

Điều phối thực hiện Đây là quá trình phân phối nguồn lực bao gồm tiền vốn,lao động, thiết bị và đặc biệt quan trọng là điều phối và quản lý tiến độ thời gian

Giám sát là quá trình theo dõi kiểm tra tiến trình dự án, phân tích tình hình thựchiện, báo cáo hiện trạng và đề xuất biện pháp giải quyết những vướng mắc trong quátrình thực hiện Cùng với hoạt động giám sát, công tác đánh giá dự án giữa kỳ cuối vàcuối kỳ cũng được thực hiện nhằm tổng kết rút kinh nghiệm, kiến nghị các pha sau của

dự án

1.1.2.2.Mục tiêu của quản lý dự án:

Mục tiêu cơ bản của quản lý dự án nói chung là hoàn thành các công việc dự

án theo đúng yêu cầu kỹ thuật và chất lượng, trong phạm vi ngân sách được duyệt vàtheo tiến độ thời gian cho phép

Ba yếu tố: thời gian, chi phí và mức độ hoàn thiện công việc có quan hệ chặtchẽ với nhau.Trong quá trình quản lý dự án thường diễn ra hoạt động đánh đổi mụctiêu Đánh đổi mục tiêu dự án là việc hy sinh một mục tiêu nào đó để thực hiện tốt hơnmục tiêu kia trong điều kiện thời gian và không gian cho phép, nhằm thực hiện tốt nhấttất cả các mục tiêu dài hạn của quá trình quản lý dự án Nếu công việc dự án diễn ratheo đúng kế hoạch thì không phải đánh đổi mục tiêu Tuy nhiên, kế hoạch thực thicông việc dự án thường có những thay đổi do nhiều nguyên nhân khách quan và chủquan khác nhau nên đánh đổi là một kỹ năng quan trọng của nhà quản lý dự án

1.1.2.3.Đặc điểm của quản lý dự án:

- Tổ chức quản lý dự án là một tổ chức tạm thời Tổ chức quản lý dự án đượchình thành để phục vụ dự án trong một thời gian hữu hạn

- Quan hệ giữa chuyên viên quản lý dự án với phòng chức năng trong tổ chức.Công việc của dự án đòi hỏi có sự tham gia của nhiều phòng chức năng Người đứngđầu dự án và những người tham gia quản lý dự án, là những người có trách nhiệm phốihợp mọi nguồn lực, mọi người từ các phòng chuyên môn nhằm thực hiện thắng lợimục tiêu của dự án Tuy nhiên, giữa họ thường nảy sinh mâu thuẫn về vấn đề nhân sự,chi phí, thời gian và mức độ thỏa mãn các yêu cầu kỹ thuật

1.1.2.4.Nội dung của quản lý dự án:

- Quản lý kế hoạch dự án:

Là một bộ phận của quản lý dự án, nó bao gồm các quy trình cần thiết để đảm

Trang 5

bảo rằng các thành phần khác nhau của dự án được phối hợp hoàn toàn thích đáng Nóđảm bảo dung hòa giữa các mục tiêu ( xung đột lẫn nhau) của dự án và các lựa chọn đểthỏa mãn mong chờ của các bên liên quan đến dự án.

- Quản lý thời gian:

Quản lý thời gian bao gồm các quy trình cần thiết để đảm bảo dự án hoàn thànhđúng lúc: xác định sắp xếp các hoạt động,ước tính thời gian thực hiện hoạt động,xâydựng lịch làm việc và kiểm soát lịch trình dự án

- Quản lý chi phí:

Quản lý chi phí bào gồm các quy trình cần thiết để đảm bảo rằng dự án đượchoàn thành với kinh phí đã đựợc phê duyệt: lập kế hoạc nhân lực,ước tính chi phí,dựthảo ngân sách và kiểm soát chi phí.Chi phí của dự án quyết định bởi chi phí cácnguồn cần thiết để hoàn thành tất cả các nhiệm vụ của dự án

- Quản lý chất lượng:

Quản lý chất lượng bào gồm các quy trình cần thiết để đảm bảo rằng dự án sẽthỏa mãn những sự cần thiết phải thực hiện dự án (lý do tồn tại) Nó bao gồm toàn bộcác hoạt động của chức năng quản lý chung như xác định chính sách chất lượng, mụctiêu về chất lượng và trách nhiệm quản lý thực hiện các mục tiêu này bằng cách lập kếhoạch chất lượng, kiểm soát chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng với

hệ thống chất lượng

- Quản lý nguồn nhân lực:

Quản lý nguồn nhân lực bao gồm các quy trình cần thiết để đạt được hiệu quảnhất việc sử dụng nhân lựuc tham gia dự án, bao gồm tất cả các bên tham gia dự án:Nhà tài trợ, khách hàng, nhà thầu, cá nhân tham gia…

- Quản lý thông tin:

Quản lý thông tin bao gồm các quá trình cần thiết để đảm bảo tính kịp thời từ

Trang 6

việc phất thông tin, phổ biến thông tin, thu thập thông tin, lưu trữ thông tin và việc sẵnsang cung cấp thông tin của dự án Nó cung cấp những liên kết giữa mọi người Tất cảmọi người có liên quan đến dự án đều phải được chuẩn bị để giữ và nhận thông tin của

dự án,phải hiểu được những thông tin nào lien quan đến họ

- Quản lý rủi ro:

Quản lý rủi ro bao gồm các quy trình liên quan đến việc xây dựng, phân tích đốiphó lại rủi ro của dự án Nó bao gồm việc làm tăng lên đên tột độ các kết quả củanhững sự kiện có tác động tốt đến dự án và làm giảm tối thiểu hậu quả của những sựkiện có ảnh hưởng xấu đên dự án

- Quản lý đấu thầu:

Quản lý đấu thầu bao gồm các quy trình cần thiết để được cung cấp các hanghóa và dịch vụ từ bên ngoài tổ chức thực hiện dự án

1.2 Quản lý dự án xây dựng:

1.2.1.Tổng quan về dự án xây dựng

1.2.1.1.Khái niệm:

Sản phẩm đầu tư xây dựng là các công trình xây dựng đã hoàn thành (bao gồm

cả việc lắp đặt thiết bị công nghệ ở bên trong) Sản phẩm xây dựng là kết tinh của cácthành quả khoa học - công nghệ và tổ chức sản xuất của toàn xã hội ở một thời kỳ nhấtđinh Nó là một sản phẩm có tính chất liên ngành, trong đó những lực lượng tham giachế tạo sản phảm chủ yếu: các chủ đầu tư, các doanh nghiệp nhận thầu xây lắp, cácdoanh nghiệp tư vấn xây dựng, các doanh nghiệp sản xuất thiết bị công nghệ, vật tưthiết bị xây dựng, các doanh nghiệp cung ứng, các tổ chức dịch vụ ngân hàng và tàichính, các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan

1.2.1.2.Những đặc điểm kinh tế kỹ thuật của dự án xây dựng:

Ngành xây dựng có những đặc thù nếu được xem xét riêng thì cũng có ở cácngành khác, nhưng khi kết hợp chúng lại thì chỉ xuất hiện trong ngành xây dựng, vì thếcần được nghiên cứu riêng Các đặc thù ở đây chia làm bốn nhóm: bản chất tự nhiêncủa sản phẩm, cơ cấu của ngành cùng với tổ chức quá trình xây dựng; những nhân tốquyết định nhu cầu; phương thức xác định giá cả Những đặc điểm sản phẩm xây dựng

có ảnh hưởng lớn đến phương thức tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế trong ngànhxây dựng, làm cho việc thi công xây lắp công trình xây dựng có nhiều điểm khác biệt

Trang 7

so với việc thi công các sản phẩm của các ngành khác Sản phẩm xây dựng với tư cách

là các công trình xây dựng hoàn chỉnh thường có đặc điểm sau:

Sản phẩm mang nhiều tính cá biệt, đa dạng về công dụng, cấu tạo và cả vềphương pháp chế tạo Sản phẩm mang tính đơn chiếc vì phụ thuộc vào đơn đặt hàngcủa chủ đầu tư, điều kiện địa lý, địa chất công trình nơi xây dựng

Sản phẩm là những công trình được xây dựng và sử dụng tại chỗ Vốn đầu tưxây dựng lớn, thời gian kiến tạo và thời gian sử dụng lâu dài

Sản phẩm thường có kích thước lớn, trọng lượng lớn Số lượng, chủng loại vật

tư, thiết bị xe máy thi công và lao động phục vụ cho mỗi công trình cũng rất khácnhau, lại luôn thay đổi theo tiến độ thi công Bởi vậy giá thành sản phẩm rất phức tạpthường xuyên thay đổi theo từng khu vực, từng thời kỳ

Sản phẩm có liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện cung cấp các yếu tốđầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm, cả về phương diện sử dụng công trình

Sản phẩm xây dựng liên quan đến nhiều cảnh quan và môi trường tự nhiên, do

đó liên quan đến lợi ích của cộng đồng, nhất là đến dân cư của địa phương nơi đặtcông trình

Sản phẩm mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hóa - nghệ thuật

và quốc phòng Sản phẩm chịu nhiều ảnh hưởng của nhân tố thượng tầng kiến trúc,mang bản sắc truyền thống dân tộc, thói quen tập quán sinh hoạt… Có thể nói sảnphẩm xây dựng phản ánh trình độ kinh tế khoa học - kỹ thuật và văn hóa trong từnggiai đoạn phát triển một đất nước

Sản phẩm xây dựng thuộc phần kết cấu nâng đỡ bao che không trực tiếp tácđộng tới đối tượng lao động trong quá trình sản xuất sản phẩm Đặc điểm này đòi hỏingười thiết kế phải chọn những giải pháp kết cấu, giải pháp bố cục mặt bằng hợp lý,tiết kiệm

1.2.2.Quản lý dự án xây dựng

1.2.2.1.Khái niệm:

Quản lý đầu tư trong xây dựng là tập hợp những tác động của nhà nước, chủđầu tư đến toàn bộ quá trình đầu tư xây dựng kể từ bước xác định dự án đầu tư xâydựng đến khi thực hiện dự án tạo ra công trình bàn giao đưa vào sử dụng để đạt đượcmục tiêu đầu tư đã xác định

Trang 8

1.2.2.2.Nội dung quản lý dự án xây dựng:

- Quản lý trong khâu quy hoạch,khảo sát thiết kế,lập dự án:

- Quản lý việc xác định chủ trương đầu tư:

- Quản lý trong khâu thẩm định,phê duyệt dự án đầu tư,tổng dự toán

- Quản lý trong khâu kế hoạch hóa đầu tư

- Quản lý trong công tác đấu thầu xây dựng

- Quản lý trong công tác chuẩn bị xây dựng

- Quản lý trong khâu tổ chức thực hiện

- Quản lý khâu nghiệm thu thanh toán

1.2.2.3.Nguyên tắc quản lý dự án đầu tư xây dựng:

Đầu tư xây dựng công trình phải phù hợp với quy hoạch tổng thể phát triển kinh

tế xã hội, quy hoạch phát triển ngành, quy hoạch xây dựng

Đầu tư xây dựng công trình phải đảm bảo an ninh, an toàn xã hội và an toànmôi trường

Đầu tư xây dựng công trình phải phù hợp với các quy định của pháp luật về đấtđai và pháp luật khác có liên quan

Ngoài những nguyên tắc trên thì tùy thuôc theo từng nguồn vốn sử dụng cho dự

án mà quản lý nhà nước đối với dự án còn phải theo nguyên tắc sau:

- Đối với dự án sử dụng vốn ngân sách: Nhà nước quản lý toàn diện quá trìnhđầu tư xây dựng từ việc xác định chủ trương đầu tư, lập dự án, quyết định đầu tư, lậpthiết kế, tổng dự toán, lựa chọn nhà thầu, thi công xây dựng đến khi nghiệm thu, bàngiao đưa công trình vào khai thác sử dụng

- Đối với dự án sử dụng vốn tín dụng nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng đầu tưphát triển của nhà nước và vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước: Nhà nướcchỉ quản lý về chủ trương và quy mô đầu tư Doanh nghiệp có dự án đầu tư tự chịutrách nhiệm tổ chức thực hiện và quản lý dự án theo quy định của pháp luật

- Đối với dự án sử dụng vốn khác kể cả vốn tư nhân: Chủ đầu tư quyết địnhhình thức đầu tư và nội dung quản lý dự án Riêng trường hợp dự án sử dụng vốn hỗnhợp từ nhiều nguồn vốn thì các bên góp vốn thỏa thuận về phương thức quản lý

Trang 9

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DỰ ÁN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CSHT

GIAO THÔNG VẬN TẢI Ở VIỆT NAM

2.1 Đánh giá tổng quan công tác đầu tư xây dựng CSHT GTVT 5 năm 2005-2009

2.1.1.Đặc điểm tình hình:

Nền kinh tế nước ta vẫn giữ được nhịp độ tăng trưởng cao, tạo điều kiện thuậnlợi cho đầu tư xây dựng CSHT GTVT phát triển Nhà nước ban hành nhiều cơ chếchính sách tạo tiền đề cho việc tăng cường công tác quản lý tổ chức lại bộ máy, giảiphóng năng lực sản xuất và mở rộng các hình thức huy động vốn Chính phủ tiếp tục

ưu tiên đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng giao thông vận tải nhằm làm tăng năng lực vàchất lượng dịch vụ vận tải Ngoài việc tập trung tăng thêm vốn đầu tư cho giao thôngvận tải từ các nguồn đặc biệt, vay tín dụng ưu đãi, phát hành trái phiếu chính phủ,chính phủ đặc biệt quan tâm chỉ đạo, giải quyết kịp thời những khó khăn vướng mắclớn như trả nợ khối lượng hoàn thành, ứng trước vốn kế hoạch, tháo gỡ khó khăn về tàichính cho các doanh nghiệp… giao trách nhiệm đến cho các địa phương trong công tácbảo vệ hành lang đường bộ, an toàn giao thông, giải phóng mặt bằng… Quốc hội,Chính phủ đã có các nghị quyết về chống đầu tư dàn trải, chống thất thoát, nợ đọngtrong xây dựng cơ bản Tuy vậy thời gian qua ngành giao thông vận tải cũng gặp nhiềukhó khăn Mặc dù nhà nước tăng vốn đầu tư nhưng các dự án trong nước vẫn thiếu vốnnghiêm trọng Nhiều dự án dở dang phải tạm đình hoãn, các dự án quan trọng, cấpbách không có vốn để triển khai

2.1.2.Thành tựu đạt được trong 5 năm:

Từ năm 2005 đến nay, cả nước đã mở mới được 11.874 km đường giao thôngnông thôn và nâng cấp được 32.546 km; xây dựng 2.365 cầu/ 53.352md cầu các loại

và 14.125/353.140 m cống Tổng số vốn huy động được là 13.942 tỷ đồng; Huy độngđược hơn 48 triệu ngày công lao động Ngành Giao thông vận tải đã và đang triển khai

dự án giao thông nông thôn 3 tại 33 tỉnh miền Bắc, miền Trung và Duyên hải NamTrung bộ với tổng mức vốn đầu tư 150 triệu USD để xây dựng khoảng 2.150 - 4.150

km đường giao thông nông thôn

Về đường bộ đã nâng cấp hệ thống trục dọc gồm quốc lộ 1 từ Lạng Sơn đến

Trang 10

Cần Thơ cùng với các cầu lớn và hầm Hải Vân,đường Hồ Chí Minh.Hệ thống quốc lộhướng tâm tới các đô thị lớn Hà Nội, TP Hồ Chí Minh cũng đã được hoàn thành gồm:Quốc lộ 5, Quốc lộ 10, Quốc lộ 2, đoạn Quốc lộ 18 đường Xuyên Á, Quốc lộ 51, Quốc

lộ 13, các dự án, đoạn tuyến trên các vành đai các tuyến ngang nối Quốc lộ 1 vớiđường Hồ Chí Minh, Tây Nguyên, các tuyến Quốc lộ khu vực Đồng bằng Sông CửuLong và các Quốc lộ khác trên phạm vi cả nước

Về đường sắt khôi phục 19 cầu trên tuyến đường sắt Thống Nhất, 4 hầm quađèo Hải Vân và từng bước nâng cấp các tuyến đường sắt chủ yếu, nâng cao năng lực,đảm bảo an toàn và đã rút ngắn thời gian chạy tàu trên những tuyến đường quan trọng

Về cảng biển hoàn thành nâng cấp cảng Cần Thơ để phát triển giao thông vậntải phục vụ phát triển kinh tế - xã hội đồng bằng Sông Cửu Long Xây dựng mới cầutầu cảng Quy Nhơn, cầu tầu 2 vạn tấn cảng Nha Trang, cầu cảng bến số 5, 6, 7 CảngCái Lân, Cầu Lìn ke, cảng Ninh Phúc, đài thông tin Duyên Hải Việt Nam, nâng cấp

hệ thống đèn biển…

Về đường sông hoàn thành việc nâng cấp 2 tuyến đường thủy phía Nam, tuyếnQuảng Ninh - Cô Tô, nâng cấp nhà máy đóng mới và sửa chữa phương tiện thủy,cảng Việt trì, Thanh thải chướng ngại vật trên sông Trung ương quản lý, xây dựngcảng Ninh Phúc, xây dựng cảng Long Bình, nâng cáp mở rộng bến Xà Lan1.000DWT, tuyến vận tải thủy Đổng Tháp Mười và tứ giác Long Xuyên

Về hàng không cải tạo hệ thống cảng hạ cánh, đường lăn cảng hàng không quốc

tế Tân Sơn Nhất, nhà ga cảng hàng không Cam Ranh, nhà ga Cảng hàng không PhúBài…, đường cất hạ cánh cảng hàng không Côn Sơn( Bà Rịa - Vũng Tàu), nhà ga vàđường cất hạ cánh các cảng hàng không Vinh, Điện Biên Phủ, Pleiku…

Hiện nay, nhiều dự án, công trình giao thông vận tải đang được triển khai trênkhắp đất nước như: Đường Hồ Chí Minh (giai đoạn 2), đường cao tốc Nội Bài – LàoCai, đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng (Quốc lộ 5B), các dự án đường bộ cao tốc Bắc– Nam, cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong, dự án cải tạo luồng cho tàu biển cótrọng tải lớn vào sông Hậu…

Với những nỗ lực trong thời gian qua, hệ thống CSHT GTVT được nâng cấpmột bước đáng kể, kể cả vùng núi, vùng sâu vùng xa Nhiều tuyến giao thông quantrọng, nhiều cầu lớn, bên cảng, sân bay được hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng

Trang 11

phát huy tốt hiệu quả Diện mạo CSHT GTVT đất nước, nhất là ở một số đầu mốigiao thông quan trọng như Hà Nội, Hồ Chí Minh, Hải phòng, Quảng Ninh, Đà Nẵng

đã mang dáng dấp của một hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông hiện đại

2.2.Những tồn tại trong công tác quản lý dự án đầu tư xây dựng CSHT GTVT ở nước ta hiện nay:

2.2.1 Những tồn tại:

1,5 % là con số mà các Bộ, ngành, địa phương đưa ra về thất thoát và lãng phítrong XDCB; 10% là con số các chuyên gia kinh tế đưa ra; 14 % là con số của kết quảcác đợt thanh tra Chính phủ thực hiện trong năm 2003; 30% là con số mà một đạibiểu Quốc hội đưa ra và cho là có cơ sở chắc chắn

Theo số liệu thống kê của đoàn giám sát Quốc hội về XDCB , trong số 1.505

dự án được kiểm tra có 176 dự án vi phạm thẩm định dự án, 198 dự án công trình viphạm qui chế đấu thầu, 802 dự án, công trình thi công sai thiết kế, sai chủng loại vật

tư, thiết bị; không phê duyệt khối lượng phát sinh, vi phạm các qui chế về trình tự, thủtục trong quản lý đầu tư xây dựng

Về chất lượng nghiệm thu, thanh toán công trình: 145 dự án công trình vi phạm

về thiết kế, khảo sát; 720 dự án, công trình vi phạm qui định khi đưa công trình vàokhai thác sử dụng

Tình hình thất thoát và lãng phí cụ thể như sau:

1 Tồn tại trong khâu qui hoạch, khảo sát thiết kế , lập dự án khả thi thấp:

- Một số dự án không có qui hoạch hoặc qui hoạch chất lượng thấp, khảo sátthiết kế không tốt, sai sót về khối lượng công trình lớn, trong quá trình thi công phảisửa đổi, bổ sung nhiều lần làm ảnh hưởng đến tiến độ và chất lượng công trình ở đâycòn chưa nói đến việc quy hoạch vĩ mô chậm trễ hơn so với đà phát triển của cả nướchoặc quy hoạch vĩ mô bị sai hướng không phù hợp hoặc thay đổi liên tục

- Những sai sót này trong qui hoạch là do không có một cơ quan nào, kể cả Bộ

Kế hoạch Đầu tư (KHĐT) đưa ra một kế hoạch tổng thể, đa ngành Bộ Công nghiệpkhông có tiếng nói lớn đối với quy hoạch các khu công nghiệp

địa phương vì nó lại thuộc Bộ KHĐT Sự không thống nhất giữa các Bộ,ngành, địa phương trong qui hoạch và lập kế hoạch cơ bản là do có một vòng khép kínbao quanh Những dự án hạn chế hiệu quả của công tác kiểm tra, giám sát từ khâu qui

Trang 12

hoạch đến khâu kế thừa bố trí thuộc một Bộ, ngành đến khi có dự án và phân cấp theochính phủ thì bộ Trưởng được quyền quyết định những dự án kể cả nhóm A, nhóm B,nhóm C từ viết dự án đến thẩm định dự án, tư vấn thiết kế kỹ thuật, tổng dự án, tư vấngiám sát công trình đều ở Bộ đó.

- Khâu thiết kế hiện nay có điểm yếu là tính chuyên nghiệp không cao, trình độnhân viên thấp từ đó dẫn đến các giải pháp kỹ thuật thiết kế không đúng, không hợp lýlàm ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng của công trình, những giải pháp cho tổngcông trình thiếu cụ thể, thiết kế sơ sài, không sát với thực tế nên giá thành công trìnhnhiều khi không kiểm soát được và rất cao

Dự án cải tạo và nâng cấp quốc lộ 51 (đoạn km 0 - km 5) và đoạn km 5 - km 73+ 600 trong quá trình thi công phải bổ sung, điều chỉnh nhiều lần các hạng mục côngtrình do không tính toán, đánh giá đầy đủ yêu cầu, khả năng phát triển của khu vực,tăng chi phí 41,7 tỷ đồng Dự án khôi phục và hoàn thiện cơ sở hạ tầng, nghề cá khốilượng phát sinh ở 6 cảng cá được kiểm toán lên đến 11,8 tỷ đồng bằng 10,3% giá trịquyết toán Những công trình nút giao thông Tây Phú Lương, cầu Thanh Trì dophạm lỗi ở khâu tư vấn thiết kế nên khi thi công phát sinh khối lượng rất lớn, chấtlượng không đảm bảo

- Đáng lẽ dự án khả thi phải được xem xét với nhiều phương án khác nhau,phân tích kỹ lưỡng cái lợi cái hại và tìm ra phương án tối ưu có hiệu quả kinh tế cao

về tổng thể Thực tế, nhiều dự án khả thi được lập lên cho gọi là có và đầy đủ thủ tục,mặt khác dự án khả thi chỉ được lập lên hợp thức hoá ý đồ của chủ đầu tư Do đó, ýnghĩa của dự án khả thi thực tế khôn còn cho nên nhiều dự án khả thi chỉ nêu lên 1phương án cho gọi là có và hết sức sơ sài không có phân tích so sánh gì

2 Tồn tại trong việc xác định chủ trương đầu tư:

- Định hướng đầu tư, xác định khả năng hiệu quả đầu tư, tính khả thi của dự ánxây dựng Đây là công đoạn ảnh hưởng lớn nhất Chủ trương đầu tư sai chiếm tới 60-70% số thất thoát và lãng phí trong đầu tư xây dựng cơ bản Có thể mất trắng toàn bộvốn và gây hậu quả lâu dài cho khu vực và xã hội có thể lớn hơn rất nhiều lần so vớivốn trực tiếp đầu tư cho công trình ban đầu Riêng phần này báo chí trước đây hầu nhưkhông đề cập tới, thời gian gần đây mới có nói đến nhưng không nhiều và không đivào gốc rễ vấn đề Nếu tổng kết thì con số lớn khủng khiếp Là một nước không lớn

Trang 13

nhưng đã có trên 100 cảng biển ở 24 tỉnh, thành phố (một số cảng biển chỉ cách nhau

130 km); 80 cảng hàng không và sân bay chuyên dùng, chi phí đầu tư cho một sân baylên đến hàng tỷ đô la Mỹ Dự án xây dựng hệ thống thoát nước đường Tân Kỳ - TânQuý, theo kết luận của thanh tra nhà nước do không gắn việc xây dựng dự án với quihoạch giao thông nên khi dự án xây xong phải phá bỏ toàn bộ hệ thống gồm 216 hầmthoát hố ga và 711 cống phi 400, số tiền thất thoát và lãng phí chiếm 3% tổng mứcđầu tư của công trình…

- Việc đầu tư theo phong trào dẫn đến hiệu ứng xi măng lò đứng và các nhàmáy đường mọc lên ở khắp mọi nơi Vì vậy khi xây dựng xong một số nhà máy không

có đủ điều kiện và nguyên liệu để hoạt động, một số nhà máy phải di dời đến các địaphương khác gây thất thoát và lãng phí về tiền của Chẳng hạn, công ty đường LinhCảm (Hà Tĩnh) khi xây dựng xong đã phải vay 70 tỉ đồng để di chuyển qua cả nghìncây số vào Trà Vinh…

- Thất thoát và lãng phí trong khâu quyết định đầu tư thường bắt nguồn từ việcxác định mục tiêu đầu tư dự án do không được chủ đầu tư cân nhắc, tính toán trướckhi xây dựng nên khi công trình hoàn thành đưa vào sử dụng, chủ đầu tư mới nhậnthấy công trình phát huy không hiệu quả

+ Trong nông nghiệp còn nặng đầu tư vào các công trình thuỷ lợi hơn, chủ yếu

là các công trình thuỷ lợi phục vụ cây lúa,việc xây dựng các công trình thuỷ lợi tướicho các loại cây công nghiệp còn ít, còn coi nhẹ đầu tư thuỷ lợi cấp nước cho côngnghiệp và dân sinh, cho nuôi trồng thuỷ sản Vốn cho công tác nghiên cứu khoa học,chuyển giao công nghệ, công tác nghiên cứu phát triển giống, khuyến nông, khuyếnlâm, khuyến ngư thời gian đầu chưa được quan tâm thoả đáng (những năm gần đây

đã được điều chỉnh)

+ Cơ cấu đầu tư còn nhiều điểm chưa hợp lý như đầu tư ngân sách cho một sốngành và sản phẩm được bảo hộ; đầu tư cho nông nghiệp, nông thôn và cơ sở hạ tầngcòn thấp

+ Mới quan tâm đầu tư đầu vào nhằm phát triển năng lực sản xuất, chưa quantâm đến đầu ra của sản xuất, đầu tư cho cơ sở hạ tầng phục vụ lưu thông hàng hoá, đầu

tư cho công tác bảo quản chế biến sau thu hoạch, đầu tư thông tin thị trường chưatương xứng Mới quan tâm đầu tư theo chiều rộng, lấy số lượng làm chính, do vậy một

Trang 14

số hàng hoá nông sản làm ra thường chất lượng không cao, chủng loại, mẫu mã kém,không phù hợp với yêu cầu của thị trường, giá thành cao hơn các nứơc trong khu vực

và trên thế giới, khả năng cạnh tranh khó khăn; tỷ lệ nông sản qua chế biến thấp, phầnlớn xuất khẩu hàng nông sản của ta vẫn là sản phẩm thô

+ Do khả năng ngân sách còn hạn chế, nên bố trí đầu tư của nhà nước cho lĩnhvực nông nghiệp, nông thôn chỉ đáp ứng được khoảng 55 - 60% yêu cầu phát triển củanghành, chưa tương xứng với vai trò và vị trí của khu vực nông nghiệp và nông thôn

+ Trong công nghiệp và các ngành kinh tế, hầu hết các công trình đầu tư đã quáchú trọng vào việc đầu tư để tăng công suất sản xuất mà chưa chú ý đúng mức đếnnăng lực cạnh tranh của đầu ra tiêu thụ sản phẩm được thị trường chấp nhận đến mứcnào; tuy có quy hoạch nhưng còn rất lúng túng trong việc tạo ra một hệ thống chínhsách, biện pháp phù hợp để thực hiện quy hoạch gắn với thị trường, nên đã dẫn tới việcđầu tư quá mức trong một số ngành, làm cho một số sản phẩm cung vượt quá cầu;chưa tập trung đổi mới công nghệ theo hướng hiện đại nên chất luợng sản phẩm chưacao, giá thành chưa hạ; chưa đầu tư đúng mức cho công nghiệp sản xuất vật liệu, côngnghiệp chế tạo, công nghiệp công nghệ cao để tăng cường khả năng chủ động của nềnkinh tế trong điều kiện hội nhập ngày càng sâu

3 Tồn tại trong khâu thẩm định, phê duyệt dự án đầu tư, tổng dự toán:

- Tình trạng phê duyệt lại nhiều lần là khá phổ biến hiện nay Thậm chí một số

dự án được phê duyệt, điều chỉnh sau khi đã hoàn thành quá trình xây lắp, thực chất làhợp pháp hoá các thủ tục thanh quyết toán khối lượng phát sinh, điều chỉnh Dự án mởrộng nhà máy đường Quảng Ngãi không thực hiện khảo sát, thiết kế, lập dự toán trình

cơ quan có thẩm quyền phê duyệt mà sau khi bàn giao đưa vào sử dụng mới xin phêduyệt, vi phạm nghiêm trọng qui chế quản lý đầu tư và xây dựng Dự án xây dựngquốc lộ 5 sử dụng vốn JBIC Nhật Bản do bàn giao mặt bằng chậm nên Nhà nước đãphải bồi thường cho nhà thầu 570.595.797 Yên nhật…

4 Tồn tại trong khâu kế hoạch hoá đầu tư:

- Trong những năm qua, mặc dù đã có một số tiến bộ nhưng tình trạng đầu tưdàn trải trong bố trí kế hoạch của các Bộ, ngành và các tỉnh, thành phố vẫn chưađược khắc phục triệt để Tình trạng này được tích tụ từ nhiều năm, gây thất thoát vàlãng phí lớn và dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp nhưng chậm được khắc phục

Trang 15

- Việc bố trí vốn đầu tư thuộc ngân sách Nhà nước còn dàn trải thiếu tập trung,

số lượng các dự án năm sau lớn hơn năm trước là điểm yếu và lặp đi lặp lại nhiều nămnay Do đó số dự án tích tụ lại quá lớn, vượt qua khả năng cân đối vốn của ngân sách

và của nền kinh tế nói chung

- Việc phân cấp quản lý trong quản lý đầu tư là phù hợp nhưng việc giám sát ởnhiều địa phương để đầu tư tập trung có trọng điểm chưa có kết quả rõ rệt

- Ngoài ra, qua kiểm toán, một số địa phương đã phê duyệt kế hoạch đầu tưnhưng không có nguồn để thực hiện, trong khi địa phương khác lại phân bố vốn khichưa có quyết định đầu tư, do đó hầu hết các địa phương đều phải bổ sung, điều chỉnh

kế hoạch vốn đầu tư nhiều lần Đồng thời, trong những năm gần đây, hiện tượng vayvốn đầu tư xây dựng cơ bản đang có chiều hướng gia tăng ở các tỉnh, thành phố vàmột số dịa phương, vượt khả năng cân đối của ngân sách địa phương và cao hơn sovới qui định của Pháp luật Qua kiểm toán 17 tỉnh, thành phố đã vay 3.280,8 tỉ đồng;trong đó đưa vào cân đối ngân sách 1.731,8 tỉ đồng (An Giang 515 tỉ đồng, Cần Thơ

248 tỉ đồng, Hà Nội 400 tỉ đồng) có tình trạng vốn đầu tư xây dựng cơ bản khônggiải ngân hết, cứ vay để đầu tư và bố trí vốn cho các dự án chưa có phương án đầutư,chưa có luận chứng kinh tế kỹ thuật

5 Tồn tại trong công tác đấu thầu xây dựng:

- Hiện tượng chia nhỏ gói thầu để chỉ định thầu khá phổ biến đối với các địaphương và các dự án nhóm B,C; Nhiều dự án đấu thầu nhưng hiệu quả không cao, tỉ lệgiảm thầu không đáng kể

- Khâu đấu thầu thể hiện tính cục bộ của quá trình đầu tư Nhiều công trìnhdùng chỉ định thầu như trên nhưng cũng có công trình đấu thầu một cách hình thức đểtạo “công ăn việc làm cho người trong nhà”, “Phổ biến việc đi đêm” giữa nhà thầu vớichủ đầu tư, thông đồng giữa các nhà thầu với nhau

Qui chế đấu thầu thiếu chặt chẽ, không công khai, minh bạch đã dẫn đến việcmột nhà thầu trúng sau đó chia phần cho các nhà thầu còn lại hay giành giật gói thầubằng giá thấp giật mình chỉ bằng 28,9% giá gói thầu (gói 2B hầm đèo Hải Vân) hoặcchênh lệch lên tới 400 tỉ đồng (Gói thầu xây dựng cảng Cái Lân) dẫn đến công trìnhkém chất lượng, thời gian thi công kéo dài, chi phí phát sinh lớn vẫn được quyết toán

6 Tồn tại trong công tác chuẩn bị xây dựng :

Ngày đăng: 23/08/2021, 20:33

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
7. Ths.Lê Thanh Hương(3/2005) “kinh nghiệm quốc tế về quản lý dự án” Sách, tạp chí
Tiêu đề: kinh nghiệm quốc tế về quản lý dự án
1. Giáo trình quản lý dự án đầu tư - trường ĐH KTQD. TS. Từ Quang Phương Khác
2. Giáo trình Lập và quản lý dự án đầu tư. PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt Khác
3. Giáo trình quản lý dự án xây dựng. Viện sĩ. TS Nguyễn Văn Đáng 4. Giáo trình kinh tế xây dựng. trường ĐH Kiến trúc. Bùi Mạnh Hùng Khác
5. Giáo trình kinh tế đầu tư. PGS.TS Nguyễn Bạch Nguyệt -TS Từ Quang Phương Khác
6. Những quy định pháp luật về quản lý đầu tư và xây dựng và quy chế đấu thầu,2000. NXB Tài chính Khác
8. Tạp chí Giao thông vận tải.9. Một số trang web Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w