Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu về nó ta có được cái nhìn tổng quáthơn, bổ sung thêm vào các lý thuyết của các nhà nghiên cứu trước những yếu tố thờiđại, những điều kiện cụ thể của các doa
Trang 1A PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Môi trường kinh tế vĩ mô không còn là một khái niệm mới lạ, mà đã xuất hiện
từ khá sớm cùng với sự xuất hiện của môn kinh tế học Môi trường kinh tế vĩ mô là tậphợp những điều kiện, những yếu tố, bên ngoài và bên trong có ảnh hưởng gián tiếp haytrực tiếp đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Điều tất nhiên là các doanh nghiệp chỉ hoạt động trong môi trường kinh tế vĩ
mô nhất định Các doanh nghiệp ngày càng hiểu rõ mức độ ảnh hưởng của các yếu tốmôi trường kinh tế vĩ mô đến kết quả và hiệu quả kinh doanh Trong đó các yếu tố củamôi trường vĩ mô có ảnh hưởng rất lớn đến ý tưởng đầu tư, chi phối hoạt động của các
dự án, ảnh hưởng đến sự thành công của việc hình thành và thực hiện các dự án
Đây là một đề tài đã được tiến hành nghiên cứu bởi cả những nhà kinh họctrong và ngoài nước Các nhà kinh tế học đã nghiên cứu môi trường kinh tế vĩ mô từrất sớm và hoàn thiện dần qua các giai đoạn, những nghiên cứu sau góp phần bổ sunghoàn thiện những lý thuyết trước và mang tính thực tế cao Hiện nay môi trường vĩ mô
đã được tổng kết thành một hệ thống lý thuyết toàn diện Mặc dù đây là một đề tàikhông mới mẻ và còn có phần cổ điển, khô khan song việc nghiên cứu về nó khôngbao giờ là thừa Qua việc nghiên cứu, tìm hiểu về nó ta có được cái nhìn tổng quáthơn, bổ sung thêm vào các lý thuyết của các nhà nghiên cứu trước những yếu tố thờiđại, những điều kiện cụ thể của các doanh nghiệp, của ngành, của nền kinh tế để tìmđược những cơ hội đầu tư, kinh doanh từ môi trường đó Điều đó càng khẳng định tầmquan trọng của môi trường vĩ mô đối với việc hình thành và đi vào thực hiện các dự
án, góp phần đẩy nhanh sự phát triển, đi lên của đất nước
Để giúp mọi người có cái nhìn cụ thể hơn về thực trạng, ảnh hưởng, định hướngđầu tư đến việc hình thành và thực hiện các dự án, em đã đi vào nghiên cứu đề tài :
“Ảnh hưởng của môi trường kinh tế vĩ mô đến việc hình thành và thực hiện dự án đầu tư” Với thời gian và hiểu biết có hạn nên trong quá trình làm đề tài không thể
không mắc những sai sót, vì vậy em rất mong có được những ý kiến đóng góp, phêbình của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Lê
Vũ Sao Mai đã tạo điều kiện cho em trong quá trình nghiên cứu đề tài
Trang 22 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: môi trường kinh tế vĩ mô
- Phạm vi nghiên cứu: Tìm hiểu về định nghĩa, thực trạng và hướng giải phápnâng cao hiệu quả hình thành và thực hiện các dự án đầu tư
3 Phương pháp nghiên cứu:
Dựa vào giáo trình: “Lập và phân tích dự án đầu tư”, các nguồn thông tin tìmhiểu được, các chế độ, chính sách của Nhà nước, của Tỉnh và của bản thân để phântích, thống kê, đánh giá và đưa ra giải pháp về vấn đề
4 Bố cục đề tài:
Bố cục đề tài bao gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về dự án đầu tư và môi trường đầu tư
- Chương 2: Thực trạng về môi trường kinh tế vĩ mô ở nước ta hiện nay
- Chương 3: Các biện pháp điều tiết vĩ mô nền kinh tế giúp nâg cao hiệu quảhình thành và thực hiện dự án
Trang 3B- NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỰ ÁN ĐẦU TƯ VÀ MÔI
TRƯỜNG ĐẦU TƯ.
1.1 Vấn đề cơ bản về đối tượng nghiên cứu.
- Theo định nghĩa của tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn hóa ISO trong tiêu chuẩnISO 9000:2000 được Việt Nam chấp thuận trong tiêu chuẩn TCVN ISO 9000:2000:
Dự án là một quá trình đơn nhất, gồm một tập hợp các hoạt động có phối hợp và đượckiểm soát, có thời hạn bắt đầu và kết thúc, được tiến hành để đạt được một mục tiêuphù hợp với các yêu cầu quy định, bao gồm cả các ràng buộc về thời gian, chi phí vànguồn lực
- Theo tài liệu MBA trong tầm tay chủ đề Quản lý dự án của tác giả EricVerzuh (Mỹ): Một dự án được định nghĩa là “công việc mang tính chất tạm thời và tạo
ra một sản phẩm hay dịch vụ độc nhất” Công việc tạm thời sẽ có điểm bắt đầu và kếtthúc Mỗi khi công việc được hoàn thành thì nhóm dự án sẽ giải tán hoặc di chuyểnsang những dự án mới
Hầu hết các dự án khi lập ra, thực hiện thì đều cần có sự đầu tư về nguồn lực.Nếu không phải là đầu tư tiền bạc, của cải hữu hình thì cũng phải đầu tư chất xám,công sức
1.1.2 Khái niệm về dự án đầu tư:
Dự án đầu tư có thể được xem xét trên nhiều góc độ:
- Về mặt hình thức: Dự án đầu tư là một tập hồ sơ tài liệu trình bày một cáchchi tiết, có hệ thống các hoạt động và chi phí theo một kế hoạch nhằm đạt được nhữngkết quả và thực hiện được những mục tiêu nhất định trong tương lai
Trang 4- Xét trên góc độ quản lý: Dự án đầu tư là một công cụ quản lý việc sử dụngvốn, vật tư, lao động để tạo ra các kết quả tài chính, kinh tế xã hội trong một thời giandài.
- Trên góc độ kế hoạch hóa: Dự án đầu tư là một công cụ thế hiện kế hoạch chitiết của một công cuộc đầu tư sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế - xã hội, làm tiền
đề cho các quyết định đầu tư và tài trợ Xét theo góc độ này, dự án đầu tư là một hoạtđộng kinh tế riêng biệt nhỏ nhất trong công tác kế hoạch hóa nền kinh tế nói chung.(Một đơn vị sản xuất kinh doanh cùng một thời kỳ có thể thực hiện nhiều dự án)
- Xét về mặt nội dung: Dự án đầu tư là tổng thể các hoạt động và chi phí cầnthiết, được bố trí theo một kế hoạch chặt chẽ với lịch thời gian và địa điểm xác định đểtạo mới, mở rộng hoặc cải tạo những cơ sở vật chất nhất định nhằm thực hiện nhữngmục tiêu nhất định trong tương lai
1.2 Thực trạng về môi trường đầu tư ở nước ta những năm gần đây.
1.2.1 Định nghĩa môi trường đầu tư.
Đầu tư là hành động bỏ vốn ngày hôm nay để thu lại lợi nhuận trong tương lai.Trong quá trình đó môi trường đầu tư đóng vai trò như một chất xúc tác ban đầu choviệc lựa chọn quyết định bỏ vốn của nhà đầu tư, vì vậy môi trường đầu tư có một vị trí
vô cùng quan trọng
Theo nghĩa chung nhất, môi trường đầu tư là tổng hoà các yếu tố bên ngoài liênquan đến hoạt động đầu tư Có nhiều cách phân loại môi trường đầu tư, song theonhiều nhà kinh tế, môi trường đầu tư có thể chia ra môi trường cứng và môi trườngmềm Môi trường cứng liên quan đến các yếu tố thuộc cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụcho sự phát triển kinh tế, gồm: hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông (đường sá, cầu cảnghàng không, cảng biển ), hệ thống thông tin liên lạc, năng lượng Môi trường mềmbao gồm: hệ thống các dịch vụ hành chính, dịch vụ pháp lý liên quan đến hoạt độngđầu tư (đặc biệt các vấn đề liên quan đến chế độ đối xử và giải quyết các tranh chấp,khiếu nại); hệ thống các dịch vụ tài chính - ngân hàng, kế toán và kiểm toán
Mọi hoạt động đầu tư suy cho cùng là để thu lợi nhuận, vì thế môi trường đầu
tư hấp dẫn phải là một môi trường có hiệu quả đầu tư cao, mức độ rủi ro thấp Điềunày lại chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố như: chính sách, cơ chế ưu đãi đầu tư củanước chủ nhà, điều kiện phát triển về cơ sở hạ tầng kinh tế, mức độ hoàn thiện về thể
Trang 5chế hành chính - pháp lý, khả năng ổn định về mặt chính trị - xã hội, độ mở của nềnkinh tế, sự phát triển của hệ thống thị trường Các nhân tố trên có mối quan hệ và tácđộng qua lại lẫn nhau, vì vậy, để nâng cao chất lượng và hiệu quả của môi trường đầu
tư, nhất thiết phải quan tâm xử lý đồng bộ các nhân tố ảnh hưởng trên
1.2.2 Thực trạng môi trường đầu tư của Việt Nam
Thực hiện đường lối đổi mới, trong những năm qua, môi trường đầu tư của ViệtNam đã có nhiều biến đổi theo hướng ngày càng thông thoáng, bình đẳng, hấp dẫn hơnđối với các nhà đầu tư Đặc biệt, khi Luật Doanh nghiệp chung được ban hành, mở ramột sân chơi chung đối với tất cả các chủ đầu tư, không phân biệt nguồn vốn chủ sởhữu, thành phần kinh tế, không phân biệt chủ đầu tư trong nước và nước ngoài đã tạo
ra một khuôn khổ pháp lý thông thoáng cho các chủ đầu tư
Đánh giá về môi trường đầu tư của Việt Nam hiện nay, có thể đưa ra một sốnhận xét sau đây:
Một là, môi trường đầu tư Việt Nam hiện tại được coi là tương đối hấp dẫn, an toàn và có lợi thế lâu dài trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương:
- Việt Nam có môi trường chính trị - xã hội ổn định, đáp ứng được nhu cầu làm
ăn lâu dài của các nhà đầu tư, Việt Nam cũng có lợi thế về vị trí địa lý vì nằm trongkhu vực châu Á - Thái Bình Dương đang phát triển năng động, đã tham gia Hiệp địnhCEPT/AFTA với quy mô thị trường 500 triệu người; đã tham gia chương trình thuhoạch sớm (EHP) của Hiệp định khung về hợp tác kinh tế toàn diện ASEAN - TrungQuốc, có đường biên giới chung với các tỉnh phía nam Trung Quốc
- Sau hơn 20 năm đổi mới, Việt Nam cũng từng bước hình thành thể chế kinh tếthị trường, duy trì được môi trường kinh tế vĩ mô ổn định và nhịp độ tăng trưởng kinh
tế cao Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân trong cả thập kỷ 90 là 7,2%, cao hơn mứctăng trưởng bình quân cùng kỳ của các nước trong khu vực là 3,7% Cơ cấu kinh tế có
sự chuyển dịch theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tỷ trọng GDP của ngànhcông nghiệp, dịch vụ tăng lên, còn tỷ trọng ngành nông nghiệp đã giảm đi đáng kể
- Việt Nam có nguồn nhân lực dồi dào, có trí thức và tương đối trẻ Với số dân
86 triệu, đứng thứ 13 trên thế giới, đời sống người dân ngày càng được nâng cao, ViệtNam được đánh giá là một nước có tiềm năng về thị trường lao động và thị trườnghàng hoá Về chất lượng nguồn nhân lực, chỉ số phát triển nguồn nhân lực của Việt
Trang 6Nam đang ở mức cao hơn trình độ phát triển kinh tế, có khả năng tiếp thu và thích nghinhanh với hoạt động chuyển giao công nghệ, điều này cũng phản ánh những ưu thếcủa lao động Việt Nam xét về dài hạn (hiện tại Việt Nam đứng thứ 5 trong số các nướcASEAN về chỉ số phát triển con người, sau Singapore, Malaysia, Thailand,Philippines) Chi phí sử dụng lao động của kỹ sư và công nhân Việt Nam cũng đượcđánh giá là có lợi hơn so với các nước lân cận (lương trả chỉ bằng 60-70% của TrungQuốc, Thái Lan; 18% của Singapore; 3-5% của Nhật Bản).
Hai là, công cuộc đổi mới, cải cách nền kinh tế theo hướng hội nhập, mở cửa
cả bên trong và bên ngoài đã tạo môi trường kinh doanh ngày càng thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp:
- Thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam đã từng bước được hình thành, pháttriển và được thúc đẩy theo hướng tự do hoá thương mại và đầu tư, tạo điều kiện chocác doanh nghiệp hợp tác và cạnh tranh bình đẳng, huy động được nhiều nguồn lựchơn vào phát triển kinh tế xã hội Quá trình cải cách trên các lĩnh vực tài chính, tiền tệcũng được đẩy mạnh thông qua việc cơ cấu lại hệ thống các ngân hàng, điều chỉnh tỷgiá hối đoái linh hoạt, cải cách hệ thống thuế, đổi mới thu chi ngân sách Nhà nước, đẩymạnh cải cách hành chính ngày càng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệptrong và ngoài nước phát triển sản xuất kinh doanh
- Chính sách phát triển nền kinh tế nhiều thành phần cũng tạo điều kiện cho cácdoanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế hợp tác và cạnh tranh bình đẳng hơn; huyđộng được thêm nhiều nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển kinh tế - xãhội Việc phát huy mạnh mẽ nguồn nội lực trong thời gian qua cũng tạo điều kiệnthuận lợi cho việc huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài
- Việc Nhà nước đầu tư đáng kể cho phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hộinhư hệ thống đường sá, cầu cảng, hệ thống thông tin liên lạc, điện nước đẩy mạnhcải cách hành chính để nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trong những năm qua đãcải thiện rõ rệt điều kiện và môi trường kinh doanh cho các doanh nghiệp, góp phầntiết kiệm các chi phí trung gian, hạ giá thành sản phẩm cho các doanh nghiệp
- Việc tiếp tục thực hiện chính sách đối ngoại đa dạng hoá, đa phương hoá cũngtạo điều kiện mở rộng và phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam Đến nay Việt Nam
đã có quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại với trên 150 nước và cùng lãnh thổ, tham
Trang 7gia tích cực vào cơ cấu hợp tác khu vực và thế giới như ASEAN, ASEM, APEC vàWTO Việc ký kết các Hiệp định CEPT/AFTA, Hiệp định thương mại Việt Nam -Hoa Kỳ, Hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với Nhật Bản (2003), sáng kiếnchung Việt Nam - Nhật Bản (12/2003) đã làm tăng thêm sức hấp dẫn của môi trườngđầu tư của Việt Nam.
Ba là, chính sách thu hút đầu tư trong và ngoài nước của Việt Nam có nhiều ưu đãi, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài kinh doanh có hiệu quả:
So với Luật đầu tư nước ngoài của nhiều nước, Luật đầu tư nước ngoài của ViệtNam được đánh giá là khá thông thoáng Đặc biệt là sau khi ban hành Luật doanhnghiệp 2005 và Luật đầu tư 2005, Việt Nam đã có nhiều chính sách nhằm cải thiệnmôi trường đầu tư, tháo gỡ các khó khăn nhằm giúp các doanh nghiệp đầu tư nướcngoài kinh doanh có hiệu quả Cụ thể:
- Các nhà đầu tư nước ngoài được phép đầu tư trong hầu hết các lĩnh vực củanền kinh tế, được quyền chủ động lựa chọn các hình thức đầu tư, địa điểm, đối tác đầu
tư, quy mô dự án; được trực tiếp tuyển dụng lao động; được khuyến khích, ưu đãi đầu
tư vào các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao
- Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài được quyền mua bán ngoại tệ ở các ngânhàng thương mại để đáp ứng các giao dịch vãng lai Chính phủ bảo đảm cân đối ngoại
tệ cho các dự án quan trọng, bỏ khống chế lãi suất trần đối với các khoản vay về ngoại
tệ và các khoản vay nước ngoài
- Nhà nước thực hiện giảm giá các dịch vụ cung cấp điện nước, bưu chính viễnthông: thực hiện từng bước thống nhất một loại giá dịch vụ, không phân biệt doanhnghiệp trong nước và doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, áp dụng chính sách không hồi
tố đối với những ưu đãi đã quy định trong giấy phép đầu tư, đồng thời cho phép cácdoanh nghiệp được hưởng các ưu đãi ở mức cao hơn các chính sách được ban hành
Tuy nhiên, môi trường đầu tư của Việt Nam hiện còn một số tồn tại, hạn chế:
- Mặc dù đã có những bước phát triển mạnh mẽ song về cơ bản Việt Nam vẫn
là một nước nông nghiệp, quy mô của nền kinh tế còn nhỏ bé, các cơ sở công nghiệp
và trình độ kỹ thuật - công nghệ còn thấp, cơ cấu kinh tế còn chuyển biến chậm, hiệu
Trang 8quả đầu tư chưa cao, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội còn chưa đáp ứng được các yêucầu phát triển.
- Hệ thống luật pháp về kinh tế của Việt Nam còn đang trong quá trình hoànthiện, chưa đảm bảo tính bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinhtế; tính ổn định và minh bạch chưa cao, mức độ rủi ro pháp luật còn lớn và khó dựbáo; hệ thống văn bản pháp luật còn nhiều bất cập
- Quá trình cải cách hành chính còn chuyển biến chậm, các thủ tục liên quanđến hoạt động đầu tư còn phức tạp; nạn tham nhũng còn phổ biến và chưa có biệnpháp ngăn chặn, loại bỏ hữu hiệu; các chi phí dịch vụ về cơ sở hạ tầng hỗ trợ kinhdoanh, chi phí trung gian, chi phí gia nhập thị trường của các doanh nghiệp còn lớn sovới các nước trong khu vực Sự phối hợp trong các hoạt động cải cách cơ cấu kinh tế,cải cách thế chế với chiến lược hội nhập kinh tế quổc tế còn chưa nhịp nhàng, động bộ
- Hệ thống thị trường các yếu tố sản xuất như thị trường vốn, thị trường laođộng, thị trường đất đai, thị trường khoa học - công nghệ còn chưa đồng bộ và kémphát triển Hệ thống dịch vụ tài chính - ngân hàng cũng chưa phát triển mạnh Quátrình cải cách hệ thống tài chính - ngân hàng tiến hành chậm; hệ thống ngân hàng dễ bịtổn thương do tỷ lệ nợ xấu còn cao, rủi ro lãi suất và tỷ giá lớn và khả năng giám sát,quản trị rủi ro yếu; hệ số tín nhiệm đối với với hoạt động của hệ thống tài chính - ngânhàng còn thấp theo đánh giá của Tổ chức xúc tiến thương mại Nhật Bản (JETRO).Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng mức độ cải thiện môi trường đầu tư của Việt Namvẫn chậm hơn so với các nước khác trong khu vực
Trang 9CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG VỀ MÔI TRƯỜNG KINH TẾ VĨ MÔ Ở NƯỚC
TA HIỆN NAY 2.1 Tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Đây là một trong những chỉ tiêu kinh tế vĩ mô cơ bản mà các nhà đầu tư cầnquan tâm Động thái và xu thế tăng trưởng kinh tế của một quốc gia có thể ảnh hưởngđến tình hình đầu tư và phát triển của một ngành, một lĩnh vực và sau đó là kết quả đầu
tư của một dự án cụ thể
Năm 2007: Theo Tổng cục Thống kê ngày 31-12, tổng sản phẩm trong nước
(GDP) ước tính tăng 8,48% so với năm 2006, đạt kế hoạch đề ra (8,2-8,5%) Ngânhàng phát triển châu Á (ADB) đánh giá, tăng trưởng kinh tế năm 2007 của nước tađứng vào hàng các quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao trong khu vực Năm
2007, nền kinh tế Việt Nam có sự tăng trưởng toàn diện trong hầu hết các lĩnh vực
- Khối lượng vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện năm 2007 theo giá thực tế ướcđạt 461,9 nghìn tỷ đồng, bằng 40,4% GDP (đạt kế hoạch đề ra 40% GDP) và tăng15,8% so với năm 2006
- Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tiếp tục tăng khá, ước tính năm 2007 đạt 20,3
tỷ USD, tăng 69,3% so với năm 2006 và vượt 56,3% kế hoạch cả năm, trong đó vốncấp phép mới là 17,86 tỷ USD
- Về cơ cấu của các ngành kinh tế thì, giá trị sản xuất của khu vực nông, lâmnghiệp và thủy sản năm 2007 theo giá so sánh năm 1994 ước đạt gần 200 nghìn tỷđồng, tăng 4,6% so với năm 2006, trong đó nông nghiệp tăng 2,9%; lâm nghiệp tăng1% và thuỷ sản tăng 11% Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2007 ước tính tăng 17,1%
so với năm 2006.Giá trị hàng hóa xuất khẩu năm 2007 ước đạt gần 48,4 tỷ USD, tăng21,5% so với năm 2006, trong đó tất cả các mặt hàng chủ yếu đều tăng.Giá trị xuất,nhập khẩu dịch vụ cả năm 2007 ước đạt 12,4 tỷ USD, tăng 21,6% so với năm trước,trong đó giá trị xuất khẩu dịch vụ đạt 6 tỷ USD, tăng 18,2% và giá trị nhập khẩu dịch
vụ, gồm cả phí vận tải và bảo hiểm hàng nhập khẩu đạt 6,4 tỷ USD, tăng 24,9%
Năm 2008: Mặc dù tốc độ tăng GDP năm 2008 chỉ là 6,23%, thấp hơn 2,25%
so với năm 2007 và thấp hơn 0,77% so với kế hoạch điều chỉnh nhưng trong bối cảnh
Trang 10khủng hoảng tài chính toàn cầu, tốc độ tăng như vậy cũng là một thành tựu lớn, tạođiều kiện thuận lợi để giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội
- Năm 2008, giá trị sản xuất nông-lâm-nghiệp-thuỷ sản, giá trị sản xuất côngnghiệp và dịch vụ đều tăng trưởng so với năm 2007 Mặc dù gặp nhiều khó khăn về thịtrường xuất khẩu nhưng Việt Nam vẫn có 8 nhóm mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩutrên 2 tỷ USD; trong đó có gạo và cà phê Nhập siêu hàng hoá là 17,5 tỷ USD, bằng27,8% giá trị xuất khẩu Đáng chú ý, tỷ lệ hộ nghèo cả nước năm 2008 đã giảm 1,3%
so với năm 2007 Với việc triển khai đổng bộ 8 nhóm giải pháp của Chính phủ, lạmphát đã được kiểm soát, kinh tế vĩ mô dần được ổn định và các mục tiêu đảm bảo ansinh xã hội đã được cơ bản đảm bảo
Năm 2009: GDP cả nước tăng 5,32% (trước đó ước tính tăng 5,2%), vượt chỉ
tiêu đề ra trước đó là 5% Trong đó, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng3%, giá trị sản xuất công nghiệp tăng 7,6%
- Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước quý I/2009 chỉ đạt 3,14%, là quý có tốc
độ tăng thấp nhất trong nhiều năm gần đây; nhưng quý II, quý III và quý IV của năm
2009, tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước đã nâng dần lên lần lượt là 4,46%; 6,04%
Tốc độ tăngtrưởng
GDP/người(USD)
Trang 11tốc độ tăng trưởng kinh tế VN so với tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới, kinh tế cácnước và nhóm nước.
Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế VN so với tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới và nhóm nước theo khu vực ĐVT:%
Tỷ lệ lạm phát có ảnh hưởng lớn đến sự ốn định môi trường kinh tế vĩ mô và có thể có ảnh hưởng đến ý định và hành động của nhà đầu tư Lạm phát có thể là rủi ro tiềm tàng làm suy giảm hiệu quả đầu tư Tuy nhiên, trong điều kiện giảm phát do suy giảm nhu cầu cũng sẽ có tác động tiêu cực đến đầu tư
Tình hình hiện tại: Lạm phát vượt qua mức tối đa cho phép 9% và lạm phát
năm 2007 đã ở mức hai chữ số (12,63%), lạm phát năm 2008 là 22,3% Nhập siêu giatăng cả về kim ngạch tuyệt đối (3.366 triệu USD so với 1.933 triệu USD), cả về tỷ lệnhập siêu so với xuất khẩu (56,5% so với 18,2%)
Trang 12Lạm phát tác động xấu đến tình hình tăng trưởng kinh tế xã hội: Lạm phát làmgiảm trầm trọng tốc độ tăng trưởng GDP vì nó làm cho người dân nghèo thêm, kiềmchế sản xuất trong khối doanh nghiệp.
- Ảnh hướng đến đời sống của các tầng lớp dân cư: Người dân nhất là những
người làm công ăn lương, những hộ nghèo phải chiụ sự tác động trực tiếp nhất của lạmphát trong cơn bão tăng giá Lạm phát cũng làm giảm việc làm cho người dân trongtrung và dài hạn
- Ảnh hưởng nhiều đến khối doanh nghiệp: Lạm phát cũng gây ra tình trạng
thiếu tiền vì các doanh nghiệp không khai thác được nguồn tín dụng cho việc duy trìsản xuất của mình Do đó, số lượng công việc cho người dân làm cũng giảm thiểutrong trung và dài hạn
Hình3: Tăng trưởng GDP và lạm phát của Việt Nam qua các năm
Từ biểu đồ trên có thể thấy rằng trong giai đoạn vừa qua, nền kinh tế Việt Namluôn tăng trưởng khá ổn định với mức GDP tăng theo từng năm và với mức tăng hàngnăm trung bình vào khoảng 7%/năm Tuy so với các nước trong khu vực thì khôngphải cao nhưng việc tăng GDP một cách ổn định đã giúp các nhà đầu tư thêm tin tưởngvào nền kinh tế Việt Nam
Tuy nhiên bên cạnh đó, thì tốc độ lạm phát của Việt Nam trong thời gian qualuôn có xu hướng tăng và lạm phát đã vượt mức 2 con số trong những năm2007(12,63%) và 2008 (19,89%) Tuy nhiên sang đến năm 2009 thì tỷ lệ lạm phát ởnước ta chỉ tăng 6,88% so với năm trước Có thể nói lạm phát năm 2009 nằm trong dựtính và kiểm soát được lạm phát là một thành công của Việt Nam trong năm này
Trang 13nghiệp không tới mức nguy hiểm như dự đoán những tháng đầu năm trong bối cảnhkhủng hoảng kinh tế toàn cầu tác động tiêu cực tới nền kinh tế nước ta, đặc biệt hoạtđộng xuất khẩu và thu hút vốn đầu tư nước ngoài.
Hình 4: Tỷ lệ lạm phát củaVN và một số nước trong khu vực (2006-2008)
So sánh về mức độ lạm phát giữa Việt Nam so với các nước trong khu vực thìViệt Nam luôn có tỷ lệ lạm phát cao hơn so với Trung Quốc và Thái Lan Đây cũng làmột lý do gây trở ngại lớn cho việc thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Tuynhiên, bước sang năm 2009 với tỷ lệ lạm phát đã được kiềm chế thì đã một phần nàotạo được niềm tin về môi trường đầu tư Việt Nam trong mắt các nhà đầu tư nướcngoài Như vậy, ngoài vấn đề là phải tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định, nâng caohiệu quả đầu tư thì chúng ta nên đưa ra các chính sách để có thể quản lý, kiềm chếmức lạm phát ở mức một con số
Nhà nước hỗ trợ các khoản vay trung, dài hạn bằng đồng Việt Nam của các tổchức, cá nhân để thực hiện dự án đầu tư phát triển sản xuất - kinh doanh, kết cấu hạtầng và các nhu cầu vốn thực hiện hợp đồng xuất khẩu nhằm giảm chi phí đầu tư, tăngnăng lực sản xuất - kinh doanh, khả năng cạnh tranh sản phẩm, tạo việc làm (với mứclãi suất 4%/năm và hoàn trả trong vòng 2 năm)
Ngoài ra, còn có các khoản cho vay được giải ngân để phục vụ cho các dự ánvay vốn đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, gồm: thanh toán và tạm ứng chi