A – Lêi nãi ®Çu Lêi nãi ®ÇuSản phẩm thủ công mỹ nghệ là mặt hàng có truyền thống lâu đời của ViệtNam, được xuất khẩu khá sớm so với các mặt hàng khác,đã đóng góp tích vàokim ngạch xuất
Trang 1A – Lêi nãi ®Çu Lêi nãi ®Çu
Sản phẩm thủ công mỹ nghệ là mặt hàng có truyền thống lâu đời của ViệtNam, được xuất khẩu khá sớm so với các mặt hàng khác,đã đóng góp tích vàokim ngạch xuất khẩu của cả nước, đồng thời có một vai trò quan trọng trong giaiquyết một số vấn đề kinh tế xã hội tại nông thôn Các mặt hàng thủ công mỹnghệ có mức độ tăng trưởng khá cao trong những năm qua, bình quân khoảng20%/năm, với kim ngạch xuất khẩu 300 triệu USD trong năm 2004 và đạt hơn
750 triệu USD vào năm 2007, năm 2008 mặc dù bị tác động ít nhiều của suythoái kinh tế toàn cầu nhưng kim ngạch xuất khẩu cũng đã đạt gần 1 tỷ USD.Thời gian qua, thị trường xuất khẩu hàng thủ công mỹ ở nước ta ngày càng được
mở rộng, nogài các nước chủ yếu như Mỹ, Nga, Nhật Bản, Anh, Pháp, Đức, HànQuốc, Đài Loan Hiện hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam đã có mặt tại 163 quốcgia và vùng lãnh thổ trên thế giới, đây cũng là mặt hàng có tiềm năng tăngtrưởng xuất khẩu rất lớn
Kim ngạch xuất khẩu hàng Thủ công mỹ nghệ trong những năm qua tuykhông lớn nhưng có vai trò quan trọng trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế nôngthôn, là ngành nghề thu hút nhiều lao động tham gia làm hàng xuất khẩu, gópphần xoá đói giảm nghèo ở nông thôn Ngaòi ra, kim ngạch xuất khẩu của mặthàng này mang lại giá trị gia tăng lớn có thể coi là ngành hàng mũi nhọn để tậptrung phát triển xuất khẩu trong các năm tới
Ngành sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) – là nhóm hàng sử dụngnhiều yếu tố đầu vào sẵn có của nền kinh tế nặng tính nông nghiệp nông thônnhư Việt Nam, cùng với việc thu hút nhiều lao động nhàn rỗi ở nông thôn, vì thếngành sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ có sự đóng góp cho phát triển kinh tế –
xã hội rất là lớn Đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, khi nền kinh tế có nhiều khókhăn do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế toàn cầu, thì những giải pháp để pháttriển nhóm hàng này càng cần được quan tâm đặc biệt
Trang 2B NỘI DUNG
I Tổng quan về công tác xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam và mối quan hệ hợp tác kinh tế của Việt Nam và Nhật Bản
1.1 Tổng quan về công tác xuất khẩu của việt nam
1.1.1 Khái niệm thị trường xuất khẩu
Thị trường xuất khẩu bao gồm tất cả các khách hàng tiềm ẩn nằm ngoàibiên giới quốc gia cùng có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và cókhả năng tham gia trao đổi để thỏa mãn nhu cầu và mong muốn đó-
1.1.2 Tầm quan trọng của công tác xuất khẩu trong nền kinh tế quốc dân
Xuất khẩu là hoạt động kinh doanh phạm vi quốc tế ,đem lai hiệu quả lớncho nền kinh tế của mỗi quốc gia ,góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ ,khai thác tối đa sảnxuất trong nước ,
Xuất khẩu tạo những tiền đề kinh tế kỷ thuật nhằm đổi mới thường xuyênnăng lực sản xuất trong nước ,tạo công ăn việc làm ,cải thiện đời sống nhân dân
Xuất khẩu là cơ sở để mở rộng các mối quan hệ kinh tế đối ngoại thôngqua việc phân công lao động quốc tế
Qua nhưng phân tích trên, ta thấy đẩy mạnh xuất khẩu được coi là vấn đề
có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, đẩy nhanhquá trình công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước
1.1.3 Hoạt động xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam hiện nay
7 năm trở lại đây, hàng thủ công mỹ nghệ (TCMN) được liệt vào danhsách 10 mặt hàng có mức tăng trưởng cao nhất Nếu như năm 1998 hàng TCMNViệt Nam được bán ở 50 nước thì nay đã có mặt ở 100 nước và vùng lãnh thổ.Kim ngạch xuất khẩu ở thời điểm 1991 là 6,8 triệu USD, năm 2000 là 235 triệuUSD thì đến năm 2004 con số này đã là 450 triệu USD Tính đến hết tháng 7-
2005 kim ngạch xuất khẩu hàng TCMN đạt 320 triệu USD tăng 13,8% so vớicùng kỳ năm 2004 Điều đáng nói là dù chưa nhập được vào câu lạc bộ xuấtkhẩâu trên 1 tỷ USD của Việt Nam, nhưng giá trị thực thu từ việc xuất khẩu mặt
Trang 3hàng này lại rất cao: hàng TCMN sản xuất chủ yếu bằng nguồn nguyên liệu sẵn
có trong nước, nguyên phụ liệu nhập ước tính chỉ khấu hao từ 3-3,5% giá trịxuất khẩu Vì vậy giá trị thường đạt từ 95-97% Ước tính với 450 triệu USDxuất khẩu năm 2004 thì giá trị thực thu từ việc xuất khẩu hàng TCMN tươngđương với 1,6 tỷ USD xuất khẩu từ dệt may (do phải chi phí đầu vào sản xuấtcao) và bằng 9,5% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước
Nhìn về cơ cấu thị trường xuất khẩu cho thấy, tại hầu hết các thị trườnglớn trên thế giới, hàng TCMN Việt Nam đã có những chỗ đứng tiềm năng
Tuy nhiên, một cuộc khảo sát mới đây của Phòng Thương mại và Côngnghiệp Việt Nam (VCCI) về việc xuất khẩu hàng TCMN lại nhận định: Mặc dùtiềm năng xuất khẩu TCMN Việt Nam rất lớn nhưng tính bền vững lại chưa cao
Đầu tiên là sự nhỏ lẻ manh mún, thiếu tập trung giữa các cơ sở sản xuấtcủa ngành hàng này Do quy mô sản xuất nhỏ nên các DN sản xuất hàng TCMNViệt Nam khó đáp ứng được những đơn đặt hàng lớn của nước ngoài Điều này
dễ đẩy bạn hàng tìm đến các đối tác khác mạnh hơn về quy mô, vốn, công nghệđồng thời cũng chưa tạo được sự tin cậy với bạn hàng trong những đơn đặt hànglớn Ông Nguyễn Minh Phú (Hà Tây) là 1 trong 3 người đoạt giải đặc biệtGolden V năm 2004 với sản phẩm bộ bình Bách Điệp cho biết: năm 2002 mộtkhách hàng Hàn Quốc đã đặt 5 mẫu bình cốt táng giá trị 1,2 triệu USD, trong đómỗi mã hàng họ cần gấp 22.000 sản phẩm Chúng tôi không đủ năng lực sảnxuất để đáp ứng yêu cầu của họ Dù món lợi lớn nhưng cuối cùng chúng tôi phảingậm ngùi từ chối và nhìn họ tìm sang một đối tác Trung Quốc
Một trong những nguyên nhân làm giảm cạnh tranh của hàng TCMN làcác doanh nghiệp Việt Nam đầu tư quá ít cho nghiên cứu thị trường, nhất là thịtrường dành riêng cho tạo mẫu và thiết kế Hệ quả là rất nhiều hàng thủ côngViệt Nam không có những công dụng rõ rệt và chưa hướng vào một thị trường
cụ thể để chiếm lĩnh nó Đơn cử với thị trường Nhật Bản, do ít thay đổi mẫu mãnên sức hấp dẫn của hàng TCMN Việt Nam vào thị trường này giảm đi nhiều
Trang 41.2 Quan hệ hợp tác kinh tế của Việt Nam và Nhật Bản.
Từ thế kỷ 16 đã có những thương gia Nhật Bản đến sinh sống và buôn bántại Việt Nam Những thương gia Nhật Bản cùng cộng đồng dân cư bản xứ đãhình thành nên khu đô thị Hội An sầm uất
Đầu thế kỷ 20, phong trào Đông Du đã đưa một số thanh niên Việt Namsang Nhật Bản học tập đường hướng cải cách nhằm văn minh hóa đất nước, tìmcon đường giải phóng Tổ quốc khỏi ngoại bang
Trong Chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật Bản từng xâm lược Việt Nam,hất cẳng Pháp để lập chính phủ thân Nhật do Trần Trọng Kim làm thủ tướng vàđổi quốc hiệu là Đế quốc Việt Nam
Trong Chiến tranh Việt Nam lần thứ hai, Nhật Bản có quan hệ ngoại giaochính thức với Việt Nam Cộng hòa và có quan hệ thương mại không chính thứcvới Việt Nam Dân chủ cộng hòa
Ngày 21 tháng 9 năm 1973, Việt Nam Dân chủ cộng hòa và sau này làCộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quan hệ ngoại giao chính thức vớiNhật Bản
Năm 2002, Lãnh đạo cấp cao hai nước thống nhất xây dựng quan hệ ViệtNam-Nhật Bản theo phương châm "đối tác tin cậy, ổn định lâu dài" Trongchuyến thăm Việt Nam 7/2004 của Ngoại trưởng Nhật Bản, hai bên đã ký Tuyên
bố chung "Vươn tới tầm cao mới của đối tác bền vững"
II Thực trạng xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam sang Nhật Bản hiện nay.
2.1 Hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam tại Nhật Bản
Nhật Bản là một trong những thị trường nhập khẩu hàng thủ công mỹnghệ chủ yếu của Việt Nam Việt Nam là một trong 3 thị trường cung cấp đồ nộithất bằng gỗ lớn nhất cho Nhật Bản Năm 2010, mục tiêu của Việt Nam sẽ xuấtkhẩu sang Nhật Bản là khoảng 150 triệu USD, chiếm 4% tổng kim ngạch nhậpkhẩu hàng thủ công mỹ nghệ của Nhật Tuy nhiên theo ông Túc, đây là con số
Trang 5vẫn rất khiêm tốn so với tiềm năng của Việt Nam Phó Chủ tịch VCCI Phạm Gia
Túc cũng khẳng định, trong thời gian tới, kim ngạch thương mại hàng thủ công
mỹ nghệ giữa 2 nước sẽ vượt con số mà Chính phủ Việt Nam đã đề ra
Sử dụng túi thêu Việt Nam hiện đang trở thành trào lưu của giới trẻ Nhật Bản
Đánh giá về các sản phẩm hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam, bàAtsuko Sera – Giám đốc công ty Incube Nishitetsu Co.,LTD (Nhật Bản) chobiết, các hàng thủ công mỹ nghệ của Việt Nam vừa tốt vừa rẻ, các thiết kế cũngrất đạt yêu cầu, đây cũng là một trong những yêu cầu từ phía các doanh nghiệpNhật Bản chúng tôi Trong thời gian tới chúng tôi sẽ bán hàng thủ công mỹ nghệcủa Việt Nam cùng với các sản phẩm khác của Nhật Bản
Bà Atsuko Sera cũng bày tỏ, trong rất nhiều sản phẩm thủ công mỹnghệ được trưng bày tại đây, bà thích nhất là các sản phẩm được làm thủ công,giữ được truyền thống, nhất là các sản phẩm túi thêu bởi bà cho rằng hiện nay ítngười Nhật Bản cầm kim để thêu các họa tiết lên các sản phẩm Các sản phẩmtúi thêu của Việt Nam đã được đăng tải trên nhiều tạp chí Nhật Bản và giới trẻ
Nhật rất thích sản phẩm này “Sử dụng túi thêu Việt Nam hiện đang trở thành trào lưu của giới trẻ Nhật Bản” - Bà Atsuko Sera cho biết.
2.2 Tìm hiểu về môi trường văn hóa, chính trị, luật pháp của Nhật Bản
2.2.1 Văn hóa kinh doanh Nhật Bản
Trong không gian kinh tế tri thức yếu tố con người đóng vai trò quyếtđịnh Văn hóa làm cho yếu tố đó trở thành có chất lượng, liên kết và nhân lênsiêu cấp các giá trị riêng lẻ của mỗi người và trở thành nguồn lực vô tận của mỗiquốc gia Văn hóa kinh doanh là việc sử dụng các nhân tố văn hóa vào hoạtđộng kinh doanh, là cái mà các chủ thể kinh doanh áp dụng hoặc tạo ra trongquá trình hình thành nên những nền tảng có tính ổn định và đặc thù trong hoạtđộng kinh doanh của họ
Trang 62.2.1.1 Những nguyên nhân chính làm nên sự đặc thù của VHDN Nhật Bản
Sự phân thứ bậc mang tính "đẳng cấp": Đạo Khổng du nhập vào Nhật Bản
từ rất sớm, kết hợp với tinh thần tôn vinh giới Võ Sĩ Đạo như là một đẳng cấphàng đầu: Võ sĩ - Trí thức - Công Nông - Thương nhân, đã làm nên một xã hộiđẳng cấp kiểu Nhật Bản với tư tưởng đề cao Lễ - Tín - Nghĩa - Trí - Nhân Chođến nay có nhiều thay đổi, nhưng tinh thần đó vẫn biểu hiện rất mạnh trong cácmối quan hệ xã hội và các tổ chức của Nhật Bản thể hiện: - Tôn ti trật tự " Công
ty mẹ và con " Hội sở và chi nhánh - Quan hệ cấp trên cấp dưới " Lớp trước vàlớp sau" Khách hàng và người bán hàng
Một đất nước vốn dĩ nghèo nàn về tài nguyên, có nhiều thiên tai, kinh tếchủ yếu là nông - ngư nghiệp và sự ảnh hưởng của Tam Giáo Đồng nguyên dunhập nên người Nhật Bản coi trọng: - Tinh thần tập thể - Hài hòa Thiên NhânĐịa - Đề cao sự hợp lí - Sự ứng xử theo thứ tự coi trọng Lễ, Tín, Nghĩa, Trí,Nhân Xã hội Nhật Bản tự biết mình thiếu rất nhiều các điều kiện nhưng cầnphải khẳng định mình, nên có khuynh hướng du nhập và cải hóa những gì dunhập vào để chúng biến thành Kiểu Nhật Bản Bởi vậy Văn hóa Doanh nhân Nhật Bản có sự giao thoa đỉnh cao các yếu tố Tây / Đông/ Nhật Bản Tuy nhiênđến một lúc nào đó sự phát triển làm cho chiếc áo đó bộc lộ nhiều bất cập vàmâu thuẫn Tất cả cái đó cũng phản ánh trong tính cách phức tạp của ngườiNhật Bản
Ngôn ngữ có nhiều mặt hạn chế ( như rất ít các nguyên âm, Phụ âm luônđặt trước nguyên âm, một tỉ trọng lớn từ ngữ gốc ngoại nhập được thể hiện dướidạng chữ Kanji và chữ Katakana ) góp phần khiến người Nhật Bản rất cẩn trọngkhi phát biểu, thể hiện chính kiến, và thường thông qua thái độ ngầm định,những yếu tố phi ngôn ngữ, sự nỗ lực thể hiện của bản thân để điền vào chỗtrống của ngôn từ Bởi vậy để hiểu họ thường phải kết hợp nghe họ nói, quan sátnhững gì họ thể hiện và thấu hiểu tính cách của họ
Sự thua trận của Nhật Bản trong Đại chiến thế giới lần thứ II khiến NhậtBản chỉ còn lại đống tro tàn và nhục nhã, bên cạnh đó là bị ràng buộc bởi rất
Trang 7nhiều cam kết bất lợi Điều này khiến cả nước Nhật gắn kết lại, làm hết sứcmình trong sự nghiệp phát triển kinh tế Trong thời kì này dấy lên trong xã hộiNhật Bản sự tôn vinh lao động xả thân vì doanh nhân và vì xã hội Người NhậtBản coi trọng lao động hơn tất cả, gắn bó với doanh nhân hơn với gia đình củamình, đặt tất cả sự nghiệp của mình cho sự thành công của tổ chức Cạnh tranh
và hiệp tác được thúc đẩy song hành Hàng chục năm qua đi, những phẩm chất
đó đ trở thành những nét mới, bền chắc và định hình thành Văn hóa Doanhnhân Nhật Bản Không ai nghi ngờ gì Văn hóa Doanh nhân đó đã giúp nhiềudoanh nhân Nhật Bản gặt hái được nhiều thành công, Nhật Bản trở thành cườngquốc thứ II trong nền kinh tế thế giới
2.2.1.2 Nét độc đáo của VHDN Nhật Bản
a Triết lí kinh doanh
Có thể nói rất hiếm các doanh nhân Nhật Bản không có triết lí kinhdoanh Điều đó được hiểu như sứ mệnh của doanh nhân trong sự nghiệp kinhdoanh Là hình ảnh của doanh nhân trong ngành và trong xã hội Nó có ý nghĩanhư mục tiêu phát biểu, xuyên suốt, có ý nghĩa định hướng cho doanh nhân trong cả một thời kì phát triển rất dài Thông qua triết lí kinh doanh doanh nhân tôn vinh một hệ giá trị chủ đạo xác định nền tảng cho sự phát triển, gắn kết mọingười và làm cho khách hàng biết đến doanh nhân Hơn nữa các doanh nhân Nhật Bản sớm ý thức được tính xã hội hóa ngày càng tăng của hoạt động sảnxuất kinh doanh , nên triết lí kinh doanh còn có ý nghĩa như một thương hiệu,cái bản sắc của doanh nhân Ví dụ như Công ty Điện khí Matsushita: "Tinh thần
xí nghiệp phục vụ đất nước" và " kinh doanh là đáp ứng như cầu của xã hội vàngười tiêu dùng" Doanh nghiệp Honđa: "Không mô phỏng, kiên trì sáng tạo,độc đáo: và - Dùng con mắt của thế giới mà nhìn vào vấn đề Hay công ty Sony:
"Sáng tạo là lí do tồn tại của chúng ta"
b Lựa chọn những giải pháp tối ưu
Những mối quan hệ: Doanh nhân - Xã hội; Doanh nhân - Khách hàng;Doanh nhân - Các Doanh nhân đối tác; Cấp trên - cấp dưới thường nảy sinh rất
Trang 8nhiều mâu thuẫn về lợi ích, tiêu chí, đường lối Để giải quyết các doanh nhânNhật Bản thường tìm cách mở rộng đường tham khảo giữa các bên, tránh gây ranhững xung đột đối đầu Các bên đều có thể đưa ra các quyết định trên tinh thầngiữ chữ Tình trên cơ sở hợp lí đa phương Các qui định Pháp luật hay qui chếcủa DN được soạn thảo khá " lỏng lẻo" rất dễ linh hoạt nhưng rất ít trường hợplạm dụng bởi một bên.
c Đối nhân xử thế khéo léo.
Trong quan hệ, người Nhật Bản chấp nhận người khác có thể mắc sai lầm,nhưng luôn cho đối tác hiểu rằng điều đó không được phép lặp lại và tinh thầnsửa chữa luôn thể hiện ở kết quả cuối cùng Mọi người đều có ý thức rất rõ rằngkhông được xúc phạm người khác, cũng không cần buộc ai phải đưa ra nhữngcam kết cụ thể Nhưng những chuẩn mực đạo đức xã hội, đạo đức doanh nhân( trách nhiệm đặt trên tình cảm ) đã tạo một sức ép vô hình lên tất cả khiến mọingười phải xác định được bổn phận của mình nếu muốn có chỗ đứng trong tổchức Điều này rõ ràng đến mức khi tiếp xúc với các nhân viên người Nhậtnhiều người nước ngoài cảm thấy họ tận tụy và kín kẽ, nếu có trục trặc gì thì lỗirất ít khi thuộc về người Nhật Bản Người Nhật Bản có qui tắc bất thành văntrong khiển trách và phê bình như sau: - Người khiển trách là người có uy tín,được mọi người kính trọng và chính danh " Không phê bình khiển trách tùytiện, vụn vặt, chỉ áp dụng khi sai sót có tính hệ thống, gây lây lan, có hậu quả rõràng " Phê bình khiển trách trong bầu không khí hòa hợp, không đối đầu, Win -Win
d Phát huy tính tích cực của nhân viên
Người Nhật Bản quan niệm rằng: trong bất cứ ai cũng đồng thời tồn tại cảmặt tốt lẫn mặt xấu, tài năng dù ít nhưng đều ở đâu đó trong mỗi cái đầu, khảnăng dù nhỏ nhưng đều nằm trong mỗi bàn tay, cái Tâm có thể còn hạn hẹpnhưng đều ẩn trong mỗi trái tim Nhiều khi còn ở dạng tiềm ẩn, hoặc do nhữngcản trở khách quan hay chủ quan Vấn đề là gọi thành tên, định vị nó bằng cácchuẩn mực của tổ chức, tạo điều kiện, môi trường làm việc thuận lợi, thúc đẩy
Trang 9bằng đào tạo, sẵn sàng cho mọi người tham gia vào việc ra quyết định theonhóm hoặc từ dưới lên Các DN Nhật Bản đều coi con người là tài nguyên quígiá nhất, nguồn động lực quan trọng nhất làm nên giá trị gia tăng và phát triểnbền vững của DN Người Nhật Bản quen với điều: sáng kiến thuộc về mọingười, tích cực đề xuất sáng kiến quan trọng không kém gì tính hiệu quả của nó,bởi vì đó là điều cốt yếu khiến mọi người luôn suy nghĩ cải tiến công việc củamình và của người khác Một DN sẽ thất bại khi mọi người không có động lực
và không tìm thấy chỗ nào họ có thể đóng góp
e Tổ chức sản xuất kinh doanh năng động và độc đáo
Tinh thần kinh doanh hiện đại là lấy thị trường làm trung tâm, xuất phát
từ khách hàng và hướng tói khách hàng Điều này đã thể hiện rất sớm trongphong cách và đường lối KD Nhật Bản Các DN lớn của Nhật Bản chỉ chiếmkhông đến 2% trong tổng số các DN mà đại bộ phận là các DN vừa và nhỏ.Nhưng sự liên kết giữa chúng thì rất đa dạng và hiệu quả Đó là sự liên kết hàngngang giữa các công ty mẹ ( loại lớn ) nhằm phát huy lợi thế tuyệt đối của cáccông ty thành viên, tăng khả năng cạnh tranh vào các thị trường lớn, với các đốithủ lớn của quốc tế Nhưng dưới mỗi công ty mẹ là vô số các công ty con ( loạivừa và nhỏ ) liên kết theo chiều dọc nhằm phát huy các lợi thế tương đối của cáccông ty thành viên, khai thác lợi thê tiềm năng của thị trường tại chỗ, tăng lợithế tuyệt đối cho công ty mẹ, và uyển chuyển thích nghi khi có biến động kinh
tế Sự liên kết đó thấy rất rõ qua hình thức cổ phần chéo, gắn kết về tài chính,nghiên cứu phát triển, hệ thống kênh phân phối, cung ứng đầu vào, hỗ trợ nhânsự Các doanh nhân Nhật Bản luôn đề cao chất lượng thỏa mãn nhu cầu kháchhàng, các cam kết kinh doanh , đi trước thị trường và kết hợp hài hòa các lợi ích.Cải tiến liên tục, ở từng người, từng bộ phận trong các doanh nhân Nhật Bản đểtăng tính cạnh tranh của doanh nhân và thỏa mÂn khách hàng tốt hơn là điều rấtnhiều người nước ngoài đã từng biết
Trang 10f Công ty như một cộng đồng
Điều này thể hiện trên những phương diện: - Mọi thành viên gắn kết vớinhau trên tinh thần chia xẻ trách nhiệm hơn là bởi hệ thống quyền lực " Tổ chứcnhư một con thuyền vận mệnh, một mái nhà chung " Anh làm được gì cho tổchức quan trọng hơn anh là ai - Sự nghiệp và lộ trình công danh của mỗi nhânviên gắn với các chặng đường thành công của doanh nhân - Mọi người sống vìdoanh nhân, nghĩ về doanh nhân, vui buồn với thăng trầm của doanh nhân Triết
lí kinh doanh được hình thành luôn trên cơ sở đề cao ý nghĩa cộng đồng và phùhợp với các chuẩn mực xã hội, hướng tói những giá trị mà xã hội tôn vinh Đã
có thời người ta hỏi nhau làm ở đâu hơn là hỏi gia đình như thế nào Sự dìu dắtcủa lớp trước đối với lớp sau, sự gương mẫu của những người lÂnh đạo làm chotinh thần cộng đồng ấy càng bền chặt Trong nhiều chục năm chế độ tuyển dụngchung thân suốt đời và thăng tiến nội bộ đã làm sâu sắc thêm điều này
g Công tác đào tạo và sử dụng người
Thực tế và hoàn cảnh của Nhật Bản khiến nguồn lực con người trở thànhyếu tố quyết định đến sự phát triển của các doanh nhân Điều đó được xem làđương nhiên trong Văn hóa Doanh nhân Nhật Bản Các doanh nhân khi hoạchđịnh chiến lược kinh doanh luôn coi đào tạo nhân lực và sử dụng tốt con người
là khâu trung tâm Các doanh nhân quan tâm đến điều này rất sớm và thườngxuyên Các doanh nhân thường có hiệp hội và có quĩ học bổng dành cho sinhviên những ngành nghề mà họ quan tâm Họ không đẩy nhân viên vào tình trạng
bị thách đố do không theo kịp sự cải cách quản lí hay tiến bộ của khoa học côngnghệ mà chủ động có kế hoạch ngay từ đầu tuyển dụng và thường kì nâng cấptrình độ chuyên môn nghiệp vụ cho nhân viên Các hình thức đào tạo rất đadạng, nhưng chú trọng các hình thức đào tạo nội bộ mang tính thực tiễn cao.Việc sử dụng người luân chuyển và đề bạt từ dưới lên cũng là một hình thứcgiúp cho nhân viên hiểu rõ yêu cầu và đặc thù của từng vị trí để họ xác địnhcách hiệp tác tốt với nhau, hiểu được qui trình chung và trách nhiệm về kết quacuối cùng, cũng như thuận lợi trong điều hành sau khi được đề bạt Cách thức ấy
Trang 11cũng làm cho các tầng lớp, thế hệ hiểu nhau, giúp đỡ nhau và cho mọi người cơhội gắn mình vào một lộ trình công danh rõ ràng trong doanh nghiệp
Nét độc đáo của VHDN Nhật Bản đã kết tụ rất rõ nét trong Phong cáchquản lí kiểu Nhật, là một trong những nguyên nhân chính làm nên sự thành côngtrong KD của các DN Nhật Bản
2.2.1.3 Một điển hình về văn hoá kinh doanh : Ông Konosuke Matsushita
Konosuke Matsushita (1894 - 1989) là một nhà doanh nghiệp lớn và nổi tiếngcủa nước Nhật Ông là người sáng lập ra tập đoàn Matsushita Electric, tập đoànkinh doanh hùng mạnh nhất nhì Nhật bản Ngày nay, khắp thế giới, ai cũng biếtđến mặt hàng điện tử gia dụng mang nhãn hiệu National, Panasonic do tậpđoàn Matsushita Electric sản xuất Matsushita Electric là một tập đoàn đa quốcgia cỡ lớn với khoảng 240.000 nhân viên, hơn 100 chi nhánh và nhà máy hảingoại, tổng doanh thu hàng năm lên tới trên 56 tỷ USD Doanh số của tập đoàntương đương 85% GDP của Singapore hoặc Philippine (1992), gấp 4 lần tổngsản phẩm trong nước của Việt nam năm 1992
Cuộc đời của Matsushita chính là bản đúc kết kinh nghiệm thành công và
cả triển vọng bão tố đối với một dân tộc đã biết bằng sức mạnh của ý chí, tinhthần và tài nghề, tiến lên chinh phục hết mục tiêu này đến mục tiêu khác trongmột thế giới cực kỳ phức tạp mà quy luật thị trường còn ghê gớm hơn cả chiếntrường
Ông đã nêu ra một số bài học:
Một là, trong nghệ thuật giải quyết vấn đề, phải thẳng thắn đối mặt với
nó, không được để vấn đề vượt khỏi tầm tay
Hai là, "Vượt qua gian lao càng to lớn, con người càng vĩ đại", " Lớn
sóng phải to thuyền", những câu châm ngôn kiểu ấy của Goethe, Tolstoi chothấy phẩm chất cần có của con người trong thử thách
Ba là, nên nghĩ những gian lao như liều thuốc quý giúp cho sự phát triển
của bạn Cơn khủng hoảng chính là cơ hội bằng vàng trắc nghiệm khả năng và
Trang 12độ vững bền thự sự của bạn Từ mỗi thất bại nên rút ra những bài học cho tươnglai và dốc sức biến mỗi vận rủi thành vận may
Các Quan điểm và phương pháp quản lí của Matsutani có sức ảnh hưởngrất lớn trong xã hội Nhật Bản Triết lí kinh doanh của Matsushita là:
Cần phải "sản xuất" (đào tạo) con người trước khi SX ra SP Con người
có qui củ và chất lượng mới mong có SP chất lượng
Ông Matsushita đã nghĩ ra nhiều biện pháp đào trong quản lí nhân sự như:
- Luân chuyển nội bộ "Cải thiện điều kiện và môi trường làm việc " Khenthưởng theo tinh thần và giá trị sáng kiến của nhân viên " DN là nơi qui tụ vàđào tạo con người - Cần có biện pháp quản lí xí nghiệp sao cho mọi nhân viêncảm thấy họ đang sống và làm việc trong một công ty có hoàn cảnh dễ chịu.Phải đạt được điều "Trăm tướng một lòng, ba quân hợp sức"
Mọi người trong công ty đều phải tự hỏi và trả lời được những câu hỏi:
-Vì sao có công ty này? - mục đích kinh doanh của Công ty là gì? - Tinh thầnkinh doanh và những quan điểm chủ đạo là gì?
Kinh doanh thực sự là cuộc chiến, trong đó sự tồn tại thuộc về khả năngtìm kiếm nơi có nhu cầu tiêu thụ
Những tinh thần chủ đạo của công ty Matsushita mà về sau trở thànhnhững nét chính của Văn hóa Doanh nhân trên đất nước Phù Tang là:
- Doanh nhân phục vụ đất nước
- Quang minh chính đại
- Hòa thuận nhất trí
- Lễ độ khiêm nhường
- Phấn đấu vươn lên
- Đền đáp công ơn
Các qui tắc kinh doanh của Matsushita:
- Lợi nhuận thu được từ việc phục vụ xã hội đó là niềm tự hào
- Cần nuôi dưỡng niềm tin: Nhờ có công ty của mình thì nền kinh tế xãhội mới vận hành bình thường được