Mác đã nêu ra giả định về giá trị của sức laođộng: “giả định rằng ngày lao động bình thường là 12 giờ và giá trị hàng ngàycủa sức lao động là 3 silinh biểu hiện bằng tiền của một giá trị
Trang 1và P.Ăngghen là càng quan trọng Một trong những vấn đề được C.Mác vàP.Ăngghen đề cập đến một cách cụ thể, chi tiết và có ý nghĩa lý luận cũng nhưthực tiễn rất lớn đối với nền kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa nói riêng và nềnkinh tế của cả thế giới nói chung đó là vấn đề tiền công Vấn đề này được C.Máctrình trong tác phẩm TƯ BẢN.
Việc hiểu và vận dụng đúng những nguyên lý về tiền công của Mác trongđiều kiện kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay có ý nghĩa rất lớn Đây là vấn đề
đã thu hút được nhiều sự quan tâm của đông đảo người lao động và chuyên gianghiên cứu Xuất phát từ ý nghĩa lý luận và thực tiễn và thấy rõ được tầm quantrọng của tiền công đối với người lao động tôi đã chọn đề tài: “ ý nghĩa thực tiễncủa lý luận tiền công của C.Mác” làm bài tập lớn môn Giới thiệu tác phẩm kinhđiển
Trang 2NỘI DUNG
1 Lý luận tiền công của C.Mác
1.1 Sự chuyển hóa của giá trị sức lao động, hay giá cả sức lao động thành tiền công.
Mở đầu phần này Mác đưa ra khái niệm tiền công: “ở trên bề mặt của xãhội tư sản, tiền công của người công nhân thể hiện ra thành giá cả của lao động,thành một số lượng tiền nhất định trả cho một số lượng lao động nhất định Ởđây, người ta nói đến giá trị của lao động và gọi biểu hiện bằng tiền của giá trịbằng tiền của giá trị đó là giá cả tất yếu hay giá cả tự nhiên của lao động”(tr754) Sau đó Mác đưa ra khái niệm giá trị của hàng hóa và lý giải tại sao hànghóa sức lao động lại là căn cứ để hình thanh giá cả sức lao động, đó là tiền công.Giá trị của hàng hóa “là hình thái vật thể của lao động xã hội đã chi phí sản xuất
ra hàng hóa” và chúng ta đo lường đại lượng hàng hóa đó bằng “đại lượng củalao động chứa đựng trong hàng hóa đó” ( tr754)
Điều kiện để lao động tồn tại như một thứ hàng hóa và được đem ra bántrên thị trường là “lao động phải tồn tại trước khi đem bán” (tr755) Và nếu laođộng của người công nhân tồn tại độc lập thì “ người công nhân sẽ bán hàng hóachứ không phải bán lao động Nếu không nói tới mâu thuẫn ấy, thì một sựtrao đổi tiền, tức là lao động đã vật hóa, trực tiếp lấy lao động sống, hoặc giả sẽxóa bỏ quy luật giá trị là quy luật chỉ tự do phát triển trên cơ sở nền sản xuất tưbản chủ nghĩa, hoặc giả sẽ xóa bỏ bản thân nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là nềnsản xuất chính dựa trên lao động làm thuê” ( tr755) Mác đã nêu ví dụ minhchứng cho những khẳng định trên về ngày công 12 giờ biểu hiện thành một giátrị bằng tiền là 6 silinh Và sau khi nêu ví dụ Mác khẳng định rằng “ như vậy, đạilượng giá trị của hàng hóa được quyết định không phải bởi hình thái vật thể củalao động mà bởi một số lượng lao động cần thiết để sản xuất ra hàng hóađó”( tr757) và “ trên thực tế, cái trực tiếp đối diện với kẻ sở hữu tiền ở trên thịtrường hàng hóa không phải là lao động mà là người lao động Cái mà người laođộng bán là sức lao động của anh ta Một khi lao động của anh ta thực sự bắt
Trang 3đầu, thì nó không còn thuộc về anh ta nữa, do đó anh ta không còn có thể bánlao động đó được Lao động là thực thể và là thước đo nội tại của giá trị, nhưngbản thân lao động thì không có giá trị”.
Sau khi nói về giá trị của lao động Mác tiếp tục bàn về giá cả của lao động
“sự thay đổi trong tỉ lệ cung và cầu hoàn toàn không giải thích gì cả đối với giá
cả của lao động cũng như đối với giá cả của bất kỳ một hàng hóa nào khác”(tr758) Mác đã phê phán những quan điểm và nêu lên những những hạn chế củakhoa kinh tế chính trị về việc nói lên mối quan hệ giữa giá cả và hàng hóa,không thấy rõ được bản chất thực sự của giá cả hàng hóa và tiếp tục khẳng định
“ cái giá cả chi phối những thị trường ngẫu nhiên của lao động và điều tiết cácgiá cả ấy, cái “giá cả tất yếu” ( phái trọng nông) hoặc “giá cả tự nhiên” ( A.Xmít) đó của lao động, cũng giống như ở các hàng hóa khác, chỉ có thể là giá trịlao động được biểu hiện thành tiền mà thôi” (tr759) Cuối cùng Mác rút ra kếtluận “ vì vậy, cái mà nó gọi là giá trị của lao động ( value of labour) thật ra làgiá trị của sức lao động tồn tại trong con người của người lao động và khác vớichức năng của nó, tức là với lao động cũng giống như cái máy khác với động táccủa máy vậy” ( tr759)
Tiếp theo Mác trình bày sự biểu hiện của giá cả và giá trị dưới hình thứcchuyển hóa của nó là tiền công Mác đã nêu ra giả định về giá trị của sức laođộng: “giả định rằng ngày lao động bình thường là 12 giờ và giá trị hàng ngàycủa sức lao động là 3 silinh biểu hiện bằng tiền của một giá trị đại biểu cho 6 giờlao động chúng ta có công thức: lao động 12 giờ có một giá trị là 3 silinh”( tr760) và từ đó rút ra kết luận “ như vậy, giá trị của sức lao động quyết định giátrị của lao động hoặc nếu được biểu hiện bằng tiền, thì quyết định giá cả tất yếucủa lao động Ngược lại, nếu giá cả của sức lao động chêh lệch với giá trị của
nó, thì giá cả của lao động cũng chênh lệch với cái gọi là giá trị của lao động”( tr760)
Mác đã lý giải vì sao giá trị của lao động ít hơn sản phẩm vì “ giá trị củalao động chỉ là biểu hiện bất hợp lý của giá trị sức lao động, nên cũng dễ hiểu
Trang 4rằng giá trị của lao động bao giờ cũng ít hơn sản phẩm – giá trị của nó, bởi vìnhà tư bản bao giờ cũng buộc sức lao động hoạt động lâu hơn số thời gian cầnthiết để tái sản xuất ra giá trị của bản thân nó” ( tr760) Sau đó Mác đã nêu rahạn chế cơ bản của tiền công, đó là giá trị của lao động bao giờ cũng ít hơn sảnphẩm _ giá trị của nó, giá trị của sản phẩm không phụ thuộc vào giá trị của bảnthân sức lao động mà phụ thuộc vào thời gian lao động dài ngắn của sức laođộng, “ như vậy, hình thái tiền công xóa bỏ mọi vết tích phân chia ngày lao động
ra thành lao động cần thiết và lao động thặng dư, thành lao động được trả công
và lao động không công Toàn bộ lao động được thể hiện ra như là lao độngđược trả công” ( tr761)
Mác đã so sánh sự khác nhau giữa lao động lao dịch và lao động làm thuê:
“ở lao động lao dịch, lao động của người nông nô làm cho bản thân và lao độngcưỡng bức làm cho địa chủ khác nhau về mặt thời gian và không gian rõ rệt”(tr761) Trong lao động của nô lệ toàn bộ lao động của anh ta là lao động khôngcông, “trái lại, ở lao động làm thuê thì ngay cả lao động thặng dư, hay lao độngkhông công cũng thể hiện ra như là lao động được trả công” (tr761) Ở lao độnglao dịch “quan hệ sở hữu đã che mất lao động làm cho mình của người nô lệ,còn ở đây thì quan hệ tiền tệ đã che mất lao động không công của người côngnhân làm thuê” ( tr762) Từ đó Mác đã làm nổi rõ bản chất của tiền công và rút
ra vai trò quan trọng của việc nghiên cứu đúng bản chất của tiền công “ người ta
có thể hiểu được tầm quan trọng quyết định của sự chuyển hóa của giá trị và giá
cả sức lao động thành hình thức tiền công, tức là thành giá trị và giá cả của bảnthân lao động Trên hình thức biểu hiện ấy – hình thức che dấu mối quan hệ thực
sự và trình bày cái trực tiếp đối lập với mối quân hệ ấy – đã xây dựng lên tất cảmọi khái niệm pháp quyền của người công nhân cũng như của nhà tưbản”( tr762)
Tiếp theo Mác trình bày các hình thức biểu hiện của tiền công: “ sự traođổi giữa tư bản và lao động mới thoạt nhìn thì hoàn toàn chẳng có gì khác vớiviệc mua và bán mọi thứ hàng hóa khác Ngươì mua đưa ra một số tiền nhất
Trang 5định, người bán đưa ra một vật phẩm khác với tiền” ( tr762) “Người công nhânchỉ được trả công sau khi đã cung cấp lao động của mình Nhưng trong chứcnăng làm phương tiện thanh toán của mình, thì mãi về sau tiền mới thực hiện giátrị hay giá cả đã cung cấp” ( tr763) Hoạt động của sức lao động là cái giá trị sửdụng mà nguời công nhân cung cấp cho nhà tư bản và chính hoạt động đó “ lại
là yếu tố phổ biến tạo nên giá trị - một thuộc tính làm cho lao động khác với tất
1.2 Tiền công tính theo thời gian
Mở đầu Mác chỉ ra rằng có rất hiều hình thức tiền công khác nhau nhưng
ở trong phần này Mác chỉ nêu ra hai hình thức tiền công cơ bản đang thống trị.Trước hết là tiền công tính theo thời gian Trong phần này Mác đã nêu ra kháiniệm tiền công tính theo thời gian và sự biến đổi của tiền công tính theo thờigian cũng như hạn chế của nó
- “cái hình thức chuyển hóa trong đó giá trị hàng ngày, hàng tuần, v.v củasức lao động trực tiếp biểu hiện, là hình thức “ tiền công tính theo thời gian”, tức
là tiền công ngày, v.v.” ( tr766) Sau đó Mác nêu ra những đặc trưng của tiềncông tính theo thời gian,đó là: “số tiền mà người công nhân nhận được về ngàylao động, tuần lao động, v.v của mình là số tiền công danh nghĩa của anh ta, haytiền công được đánh giá theo giá trị” ( tr767)
Trang 6- Mác khẳng định tiền công không thay đổi trước sự thay đổi theo chiềuhướng đi xuống của giá cả nhưng lại có thể “tăng lên mặc dầu giá cả lao độngvẫn không thay đổi thậm chí còn sụt xuống” ( tr768) và đưa ra ví dụ chứng minhcho lý luận của mình Và cuối cùng Mác rút ra một kết luận: “những sự tăng lêncủa tiền công danh nghĩa hàng ngày và hàng tuần có thể đi kèm với một giá cảlao động không thay đổi hoặc sụt xuống và như vậy, có những phương pháp đểhai giá cả lao động xuống một cách không phụ thuộc vào việc giảm bớt tiềncông danh nghĩa hàng ngày hay hàng tuần” ( tr768).
- Mác đưa ra ví dụ về một ngày lao động bình thường của một người côngnhân để minh họa cho đơn vị đo tiền công tính theo thời gian, hay giá cả một giờlao động, “là thương số của giá trị hàng ngày của sức lao động chia cho số giờcủa ngày lao động bình thường” ( tr769) và từ đó một lần nữa Mác lại chỉ ra chocùng ta thấy sự thiệt thòi của giai cấp công nhân, nhà tư bản có thể bắt côngnhân tăng số lượng lao động, xoá bỏ sự đếu đặn trong công việc, “kéo dài ngàylao động một cách bất bình thường mà kông đền bù thích đáng gì cho ngườicông nhân cả” ( tr770) Mác đã chỉ ra mối quan hệ giữa lao động và tiền công “khi tiền công theo ngày hay theo tuần tăng lên thì giá cả của lao động có thểkhông thay đổi về danh nghĩa, tuy vậy nó vẫn cố thể tụt xuống dưới mức bìnhthường của nó” ( tr771) Một thực tế mà chúng ta phải thừa nhận đó là ngườicông nhân muốn có được nhiều tiền csông thì bắt buộc anh ta phải lam việcthêm ngoài giờ và “ trong một ngành công nghiệp mà ngày lao động càng dài thìtiền công lại càng thấp” (tr773) và Mác đưa ra kết luận “ giá cả lao động càngthấp thì số lượng lao động lại phải càng lớn mức giá cả lao động thấp tác độngnhư là một yếu tố kích thích việc kéo dài thời gian lao động” và dù trong trườnghợp nào thì người công nhân luôn là người chịu thiệt thòi nhiều nhất Quan hệcung – Cầu về nguồn lao động trên thị trường, khi cung lớn hơn cầu, sẽ gây ra
sư tranh chấp giữa các công nhân với nhau tạo điều kiện cho nhà tư bản có thểgiảm giá cả lao động và tăng thời gian lao động lên Và sự cạnh tranh giữanhững công nhân cũng như giữ những nhà tư bản đã “ hình thành nên một giá
Trang 7bán hàng hóa thấp một cách không bình thường, lúc đầu chỉ thỉnh thoảng xuấthiện, nhưng sau đó dần dần được cố định lại, và ngày nay thì trở thành một cơ
sở bất biến của một tiền công thảm hại với một thời gian lao động quá mức”( tr775) dù trong trường hợp nào thì nhà tư bản luôn chiếm, cướp không đượcthời gian lao động thặng dư của người công nhân, “ phạm trù thời gian lao độngthặng dư nói chung không tồn tại đối với nhà tư bản, vì thời gian lao động thặng
dư này đã nằm trong ngày lao động bình thường mà hắn cho rằng đã trả trongtiền công ngày rồi” ( tr776), “ nhà tư bản không biết rằng ngay cả giá cả bìnhthường của lao động cũng bao hàm một số lượng lao động không công nhấtđịnh, và chính cái lao động không công ấy là cái nguồn bình thường của lợinhuận của hắn” ( tr776)
1.3 Tiền công tính theo sản phẩm
Mở đầu mục này Mác đã khẳng định “ tiền công tính theo sản phẩm chẳngqua chỉ là hình thức chuyển hóa của tiền công tính theo thời gian, cũng giốngnhư tiền công tính theo thời gian là hình thức chuyển hóa của giá trị hay giá cảcủa sức lao động” (tr776)
Tiếp theo Mác đã nêu lên bản chất của tiền công tính theo sảo phẩm
“trong tiền công tính theo sản phẩm, mới thoạt nhìn thì hình như giá trị sử dụng
do người công nhân bán ra không phải là chức năng của sức lao động của anh ta,không phải là lao động sống, mà là lao động đã vật hóa vào trong sản phẩm, vàhình như giá cả của lao động đó không phải do phân số giá trị hàng ngày của sứclao động trên ngày lao động với một số giờ nhất định quyết định như trong tiềncông tính theo thời gian, mà là do năng lực công tác của người sản xuất quyếtđịnh” ( tr777) Và Mác đi đến một kết luận : “sự tồn tại đồng thời của hai hìnhthức tiền công ấy đã giúp cho sự lừa bịp của các chủ xưởng đến mức nào”, “chỉriêng cái sự kiện thực tế là cả hai hình thức tiền công ấy đồng thời tồn tại bêncạnh nhau trong những ngành công nghiệp giống nhau cũng đã làm cho sự tintưởng vào cái hiện tượng bề ngoài ấy bị lay chuyển rất mạnh” ( tr778)
Trang 8Tiếp theo Mác nói lên những hạn chế của tiền công tính theo sản phẩm và
so sánh tiền công tính theo sản phẩm với tiền công tính theo thời gian “ tiềncông tính theo sản phẩm cũng không hợp lý như tiền công tính theo thời gian”,
“vì trên thực tế tiền công tính theo sản phẩm không trực tiếp, không biểu hiệnmột quan hệ giá trị nào cả” ( tr779) “Trong tiền công tính theo thời gian laođộng được trực tiếp đo bằng thời gian dài ngắn của nó, còn trong tiền công tínhtheo sản phẩm thì lao động được đo theo số lượng sản phẩm trong đó lao động
đã ngưng đọng lại trong một khoảng thời gian nhất định Gía cả của bản thânthời gian lao động rốt cuộc cũng được quyết định bởi phương trình: giá trị củalao động hàng ngày = giá trị hàng ngày của sức lao động” (tr780) nhưng đồngthời Mác cũng khẳng định rằng “ sự khác nhau trong hình thức trả tiền côngkhông làm thay đổi chút nào bản chất của tiền công cả”(tr779) mặc dù vai tròcủa mỗi hình thức trong từng xã hội cụ thể là khác nhau “ Như vậy, tiền côngtính theo sản phẩm chỉ là một hình thức chuyển hóa của tiền công tính theo thờigian” ( tr780)
Sau khi so sánh và nêu lên mối quan hệ giữa tiền công tính theo thời gian
và tiền công thính theo sản phẩm Mác tiếp tục nói về những đặc điểm đặc trưngcủa tiền công tính theo sản phẩm:
- “Tiền công tính theo sản phẩm là nguồn phong phú nhất để khấu trừ tiềncông và để lừa bịp theo kiểu tư bản chủ nghĩa” (tr780)
“Tiền công tính theo sản phẩm cung cấp cho nhà tư bản một cái thước đohoàn toàn chính xác để đo cường độ lao động” (tr780)
Do đó “ tiền công tính theo sản phẩm vừa là cơ sở của chế độ làm việc tạinhà hiện nay, vừa là cơ sở của chế độ bóc lột và áp bức có phân chia thành đẳngcấp” ( tr781) Mác đã trình bày hai hình thái của chế độ áp bức và bóc lột đó làtiền công tính theo sản phẩm tạo điều kiện thuận lợi cho bọn ăn bám xen vàogiữa nhà tư bản và công nhân làm thuê, tức là chế độ thầu công nhân và “mặtkhác tiền công tính theo sản phẩm cho phép nhà tư bản có thể ký hợp đồng với
Trang 9người thợ cả” ( tr782) hay nói cách khác việc tư bản bóc lột công nhân được tiếnhành thông qua sự bóc lột giữa công nhân với công nhân
Mác tiếp tục so sánh chế độ tiền công tính theo thời gian và tiền công tínhtheo sản phẩm, “ trong chế độ tiền công tính theo thời gia, trừ rất ít ngoại lệ ra,người ta trả một tiền công như nhau cho những công việc như nhau, còn trongchế độ tiên công tính theo sản phẩm thì mặc dù giá cả của thời gian lao độngđược đo bằng một số lượng sản phẩm nhất định nhưng tiền công ngày và tiềncông tuần lại thay đổi tùy theo sự khác nhau có tính chất cá nhân”, và “xét vềmặt thu nhập thực tế thì ở đây diễn ra những sự chênh lệch rất lớn tùy theo tàikhéo léo, sức lực, nghị lực dẻo dai v.v của những công nhân cá biệt” ( tr783)
Bên cạnh đó tiền công tính theo sản phẩm kích thích công nhân lao độngkhẩn trương, sư dụng cường độ lao động cao nhất, tạo ra nhiều sản phẩm đểnhận được tiền công cao hơn, “ và do đó tạo điều kiện dễ dàng cho nhà tư bảnnâng cao hơn mức bình thường của cường độ lao động” ( tr782), “tiền công tínhtheo sản phẩm đem lại cho cá nhân, một mặt sẽ góp phần phát triển cá tính, tinhthần tự do, tính độc lập và khả năng tự kiểm tra của người công nhân, và mặtkhác lại đẻ ra sự cạnh tranh giữa công nhân với nhau Vì vậy trong khi nâng tiềncông cao hơn mức trung bình thì tiền công tính theo sản phẩm đồng thời lại có
xu hướng hạ thấp chính ngay mức trung bình đó xuống” ( tr784) Tiếp theo Mácnói tới sự biến đổi của tiền công theo sản phẩm “nếu năng suất, lao động thayđổi thì thời gian lao động đại biểu cho cùng một số lượng sản phẩm cũng thayđổi” hay “ nói cách khác, tiền công tính theo sản phẩm giảm xuống theo cùng tỉ
lệ với tỉ lệ tăng lên của số sản phẩm đã sản xuất ra trong cùng một thời gian, do
đó, nó giảm xuống theo cùng tỉ lệ với tỉ lệ giảm xuống của thời gian lao độngchi phí cho mỗi sản phẩm” ( tr787 – 788) Và chính sự tăng lên giảm xuống đótạo nên sự đấu tranh không ngừng giữa nhà tư bản và công nhân Tiền công tínhtheo sản phẩm ra đời và tồn tại song song bên cạnh tiền công tính theo thời gian
từ thế kỷ XIV và mãi cho tới ngày nay Và cuối cùng Mác rút ra kết luận rằng: “
Trang 10người ta thấy rằng tiền công tính theo sản phẩm là hình thức tiền công thích hợpnhất với phương thức tư bản chủ nghĩa” ( tr785).
1.4 Những sự khác nhau trong tiền công của các nước
Trong phần này Mác đã trình bày về sự khác nhau trong tiền công của cácnước và lý giải tại sao lại có sự khác nhau đó Mác viết: “ chỉ cần chuyển giá trị,hay giá cả của sức lao động thành cái hình thức bên ngoài là hình thức tiền côngthì mọi quy luật ấy sẽ biến thành những quy luật vận động của tiền công Cái mà
ở trong khuôn khổ của sự vận động đố biểu hiện thành những cách kết hợp kếtiếp thay đổi lẫn nhau, thì đối với với các nước khác nhau có tính chất dân tộctrong tiền công” ( tr789)
Mác tiếp tục chỉ ra sự khác nhau của cường độ lao động trung bình củamỗi nước, và “chỉ có mức cường độ tăng lên cao hơn mức trung bình trong nướcmới làm thay đổi được việc đo giá trị chỉ bằng một độ dài của thời gian lao độngtrong nước đó”, “các con số trung bình của các nước đó cấu thành một cái thang
mà đơn vị đo lường của nó là đơn vị trung bình của lao động toàn thế giới Bởivậy, so với một lao động dân tộc có cường độ thấp hơn thì trong một thời giannhư nhau, lao động dân tọc có cường độ thấp hơn thì trong một khoảng thời giannhư nhau, lao động dân tộc có cường độ cao hơn sẽ sản xuất ra nhều giá trị hơn,biểu hiện ra trong một lượng tiền nhiều hơn” ( tr790)
Mác đã nêu ra dẫn chứng số cọc sợi trung bình trong mỗi xưởng và sốcọc sợi trung bình theo đầu người công nhân ở một số nước như Anh, Thụy Sỹ,Dắc-den, Pháp, Phổ, từ đó đi đến khẳng định: “ở trong mỗi nước, nền sản xuất
tư bản chủ nghĩa càng phát triển bao nhiêu, thì ở đó cường độ và năng suất laođộng dân tộc lại càng vượt quá mức quốc tế bấy nhiêu”, “ tại một nước có nềnsản xuất tư bản chủ nghĩa phát triển hơn thì giá trị tương đối của tiền sẽ hơn là ởnước có nền sản xuất tư bản chủ nghĩa kém phát triển hơn, từ đó cho thấy rằngtiền công danh nghĩa, tức là vật ngang giá với sức lao động biểu hiện thành tiền,
ở nước thứ nhất cũng sẽ cao hơn ở nước thứ hai” ( tr791)