1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

bài tập lớn bàn về thuế lương thực của lênin

31 20 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bàn Về Thuế Lương Thực Của Lênin
Chuyên ngành Tác phẩm kinh điển
Thể loại bài tập lớn
Năm xuất bản 2023
Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 169,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các hình thức của CNTBNN trong tác phẩm “bàn về thuế lương thực” Theo Lênin CNTBNN được biểu hiện dưới 4 hình thức sau đây:tônhương, hợp tác xã, đại lý, nhà nước cho tư bản tư nhân trong

Trang 1

A MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

V.I Lênin là vị lãnh tụ vĩ đại của giai cấp vô sản Nga, là người đã cốnghiến toàn bộ sức lực và trí tuệ cho sự nghiệp đấu tranh dành và giữ chínhquyền xô viết.Tuy người đã ra đi nhưng những đóng góp to lớn của người vấnsống mãi với thời gian.Đặc biệt là lý luận của Lênin về CNTBNN được trìnhbày trong tác phẩm “Bàn về thuế lương thực”

Theo Lênin từ một nước tiều nông lên CNXH phải trải qua một “mắtxích trung gian” đó là CNTBNN.CNTBNN không chỉ là một biện pháp quá

độ đặc biệt để quá độ gián tiếp lên CNXH ma còn là “chiếc cầu nhỏ vữngchắc” mà giai cấp vô sản cần phải bắc để xuyên qua nó đi vào CNXH và đảmbảo cho CNXH được phát triển

Việt Nam - một nước nông nghiệp lạc hậu phải trải qua hai cuộc chiếntranh khốc liệt để tiến lên CNXH Chính vì thế thời kì quá độ găp rất nhiềukhó khăn về mọi mặt Tình hình đó đòi hỏi phải có chiến luợc phát triển kinh

tế xã hội và những biện pháp cụ thể và đặc biệt là phải có những nhìn nhậnkhách quan về vai trò của CNTBNN là hết sức quan trọng trong việc khôiphục và phát triển kinh tế đất nước

Vì thế việc nghiên cứu để nắm vững nội dung, quan điểm trong chínhsách kinh tế mới nói chung và quan điểm sử dụng CNTBNN của lênin nóiriêng là hết sức cần thiết để triên cơ sở đó chúng ta suy nghĩ vận dụng mộtcách sáng tạo những quan điểm của Lênin vào phát triển kinh tế đất nước.Trên đây là những lý do tôi chọn đề tài này làm đề tài bài tập lớn môn

“Tác phẩm kinh điển.”

2 Mục đích chọn của đề tài

Nghiên cứu đề tài này nhằm làm rõ quan điểm của Lênin về phát triểnthành phần kinh tế tư bản nhà nước trong tác phẩm “Bàn về thế lương thực’’

Trang 2

Từ đó nghiên cứu nhận thức, vận dụng vào việc phát triển các thành phầnkinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay.

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

Đề tài phân tích những quan điểm của Lênin về đặc điểm,tác dụng,vai tròcủa thành phần kinh tế tư bản nhà nước trong thờ kì quá độ từ một nước nôngnghiệp là chính lên CNXH ở nước Nga Ý nghĩa tư tưởng của lênin đối với sựphát triển kinh tế với cơ cấu thành phần vận hành theo cơ chế thị trường địnhhướng XHCN ở nước ta

4 Phương pháp nghiên cứu

Sử dụng phương pháp duy vật lịch sử, duy vật biện chứng và các phươngpháp: phân tích, so sánh, tổng phân hợp, bình luận…

5.Bố cục của đề tài

Đề tài gồm hai nội dung lớn:

I Chủ nghĩa tư bản nhà nước trong tác phẩm “Bàn về thuế lương thựccủa Lênin”

II Vận dụng tư tưởng của Lênin về CNTBNN của đảng ta trong thời kỳđổi mới

Trang 3

Năm 1921 sau khi dành được chiến thắng trong cộc nội chiến chống lại

sự can thiệp bằng quân sự của 14 nước đế quốc và các thế lược thù địch trongnước Nga đã chuyển qua một thời kì mới, thời kì hoà bình khôi phục lại nềnkinh tế và từng bước quá độ lên CNXH

Về kinh tế: Chính sách cộng sản thời chiến là một chính sách đặc biệt vàtrong thời kì thực hiện chính sách đó hầu như toàn bộ nền kinh tế của nướcNga đặt dưới sự quản lí và sự chỉ huy tập trung cao độ, do hậu quả của 4 nămnội chiến và nạn hạn hán kéo dài trong 2 năm liền cho nên hầu như toàn bộnền kinh tế nước Nga ở trong tình trạng khùng hoảng trầm trọng

- Đối với sản xuất công nghiệp:Sản lượng công nghiệp năm 1920 giảm 7lần so với năm 1913.Nhiều xí nghiệp phải đóng cửa do thiếu nhiều nguyênliệu

- Đối với sản xuất nông nghiệp: Đây là ngành sản xuất chính,một mặtchịu ảnh hưởng của chính sánh “Trưng thu lương thực thừa”, mặt khác chịuảnh hưởng của nạn hạn hán nên sản lượng nông nghiệp năm1920 chỉ bằngmột nửa so với năm 1913 Gia súc gia cầm thì bị chết hàng loạt

- Giao thông vận tải; Gần như bị tê liệt cả đường bộ , đường thuỷ, đườngsắt

- Đời sống: Nạn đói hoành hành khắp cá nước

- Việc làm: Tỉ lệ thất nghiệp gia tăng,rất đông công nhân phải trở về nôngthôn để tim kiếm việc làm hoặc chuyển sang nghề thủ công Tình trạng nàycũng góp phần làm nên trình trạng hỗn loạn ở nông thôn

Trang 4

- Tài chính: Tỉ lệ bội chi liên tục tăng cao Nếu năm 1918 mức bội chi chỉ

là 31 tirúp

Năm 1920 mức bội chi là 2193 tirúp

- Chính trị-xã hội: Đại bộ phận nông dân, binh lính công nhân bất bìnhvới chính sách “trương thu lương thực thừa” Lợi dụng tình hình hình đó, bọnphản động trong nước được sự tiếp sức của các nước đế quốc dã lợi dụng tìnhhình khó khăn của nước Nga để kích động sự bất mãn của quần chúng lôi kéo

họ chống lại chính quyền xôviết Điển hình là hai cuộc bạo loạn:

+ Cuộc bạo loạn của nông dân tại cơ sơ sản xuất lúa mì

+ Vụ bạo loạn crom- sast

Trước tình hình trên đây dã cho thấy chính sách “cộng sản thời chiến”không phải và không thể là chính sách đáp ứng được những đòi hỏi của côngcuộc xây dựng của CNXH mà giai cấp vô sản Nga Xô viết non trẻ đang đứngtrước bờ vực thẳm của cuộc nội chiến khốc liệt Chính Lênin đã thừa nhận:

“chiến tranh và trình trạng tàn phá đã buộc chúng ta phải thi hành “chế độcộng sản thời chiến” Nó không phải và không thể là một chính sách phù hợpvới nhiệm vụ kinh tế của giai cấp vô sản Nó là một biện pháp tạm thời.”NướcNga xô viết năm 1921 ở trong tình trạng khủng hoạng nặng nề trên tất cả cácphương diện kinh tế,chính trị,xã hội Đó là một bối cảnh đặc biệt và phức tạp

có nguy cơ đe doạ đến sự tồn vong của chế độ, bối cánh đó đặt ra yêu cầu cầnphải thay chính sách “trưng thu lương thực thừa” bằng chính sách “thuế lươngthực”

2 “CNTBNN” trong cơ cấu kinh tế của nước Nga

2.1 Khái niệm

Trên cơ sở yêu cầu của thực tiễn phát triển kinh tế và lý luận Lênin đã đềcập đến CNTBNN với tính cách là con đường hợp quy luật, hợp trình độ củaquần chúng để đua ra những người sản suất nhỏ đi lên chủ nghĩa xã hội

Trang 5

Theo Lênin chủ nghĩa tư bản nhà nước là: Sự hiện diện của các quan hệhợp đồng kinh tế giữa một bên là nhà nước Xôviết với một bên là chủ nghĩa

Tóm lại theo Lênin “CNTBNN về kinh tế cao hơn rất nhiều so với nềnkinh tế hiện nay của nước ta, đó là điều thứ nhất “ Nó là thứ CNTB đượchình thành trên cơ sở nhà nước nắm tất cả đòn bẩy chỉ huy, nắm ruộng đất,ruộng đất thuộc về nhà nước.Trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở một đất nước

mà giai cấp vô sản là hệ thống các quan hệ kinh tế, khách quan giữa nhà nước

vô sàn với các nhà tư bản trong và ngoài nước Nó là chủ nghĩa tư bản đượcdung nạp được phát triển trong một giai đoạn nhất định Giới hạn đó được nhànước vô sản ấn định và được điều chỉnh theo những mục tiêu của nhà nước vôsản,phù hợp với từng giai đoạn phát triển Và theo Lênin thì: “CNTBNNkhông có gì là đáng sợ đối với chính quyền Xô viết, vì nước Xô viết là mộtnước mà trong đó chính quyền của công nhân và nông dân nghèo đã được bảođảm ”

Với quan niệm như vậy về CNTBNN Lênin rất quan tâm tới việc tìm ranhững hình thức cụ thể với việc hình thành CNTBNN ở Nga khi thực hiện

Trang 6

chính sách kinh tế mới Ông luôn chú ý tới sự đa dạng phong phú về các hìnhthức tồn tại của CNTBNN.

2.3 Các hình thức của CNTBNN trong tác phẩm “bàn về thuế lương thực”

Theo Lênin CNTBNN được biểu hiện dưới 4 hình thức sau đây:tônhương, hợp tác xã, đại lý, nhà nước cho tư bản tư nhân trong nước hoặcnước ngoài thuê xí nghiệp cơ sở sản xuất

*Hình thức tô nhượng:

Theo Lênin “tô nhượng đó là sự giao kèo, một sự liên kết, một liên minhgiữa chính quyền nhà nước xô viết, nghĩa là nhà nước vô sản với chủ nghĩa tưbản nhà nước chống lại thế lược tự phát tiểu tư hữu(có tính chất gia trưởng vàtiểu tư sản) Người nhận tô nhượng là nhà tư bản”

Điều đó có nghĩa là chính quyền nhà nước xã hội chủ nghĩa giao cho nhà

tư bản tư liệu sản xuất của mình: nhà máy ,vật liệu, hầm mỏ, nhà tư bản tiếnhành kinh doanh với tư cách là một bên kí kết, là người thuê tư liệu sản xuất

xã hội chủ nghĩa,và thu lợi nhuận do nhà tư bản mà mình bỏ ra, rồi nộp chonhà nước, một phần sản phẩm tô nhượng Chủ yếu là do sự “du nhập’ thuhút vón đầu tư củ chủ nghĩa tư bản ở bên ngoài vào, là sự liên minh với cácnước tư bản ở các nước tiên tiến, là hợp đồng kinh tế với chủ nghĩa tư bản tàichính ở các nước tiên tiến ấy, là sự liên minh mà chính quyền Xô viết cầnthiết lập khi chưa đủ mạnh để lợi dụng tiềm lực tài chính của tư bản nướcngoài, nhằm nhanh chóng phát triển lực lượng sản xuất trong nước Củng cốđược những quan hệ kinh tế do nhà nước điều chỉnh, cải thiện nhanh chóngtrình trạng sản xuất, đời sống của công nhân và nông dân

Lênin coi việc “chuyển từ chế độ tô nhượng lên CNXH là chuyển từ mộthình thức đại sản xuất này sang một hình thức đại sản xuất khác” Và một khithành công “sẽ đưa lại cho chúng ta một số xí nghiệp lớn kiểu mẫu-kiểu mẫu

so với một số xí nghiệp lớn của chúng ta-ngang trình độ của chủ nghĩa tư bảntiên tiến hiện đại” So với các hình thức khác của CNTBNN Lênin cho rằng

Trang 7

“CNTBNN dưới hình thức tô nhượng có lẽ là hình thức đơn giản nhất, rànhmạch nhất , sáng tỏ nhất, là hình thức rõ rệt nhất” Vì chúng ta có hợp đồngtrực tiếp trên giấy tờ, chúng ta biết chính xác cái lợi và cái hại, quyền hạn vànghĩa vụ của mình, biết rõ thời hạn cho tô nhượng song tô nhượng đượchình thành như thế nào? Theo Lênin để tiến hành tô nhượng phải có một sốnguyên tắc:

Thứ nhất phải đảm bảo đời sống, cải thiện đời sống cho công nhân

“Các xí nghiệp tô nhượng phải trả lương cho công nhân của mình bằngtrên mức bằng công nhân ở nước Nga Người nhận tô nhượng phải có tráchnhiệm cải thiện đời sống công nhân trong xí nghiệp tô nhượng (so với nhữngcông nhân nhân khác ở xí nghiệp cùng loại ở địa phương sao cho đạt mứcsống trung bình của người nước mình” Bên cạnh việc trả mức lương ổn địnhnhư trên theo Lênin các xí nghiệp tô nhượng phải có sự thay đổi trong việccho mức lương mà người công nhân được phải trả phù hợp với năng xuất laođộng của người công nhân,phải phù hợp với các tư liệu tiêu dùng của họ Tức

là khi giá cả trên thị trường mà tăng thì phải tăng lương “Đồng thời có tínhđến năng suất lao động của công nhân Nga tuỳ thuộc vào tình hình cải thiệnsinh hoạt của họ”

Mặt khác theo Lênin: Xí nghiệp tô nhượng nếu bán các mặt hàng cầnthiết phụ vụ sinh hoạt của công nhân thì chỉ được bán với giá hợp lý khôngđược vượt quá nhiều so với giá trị của nó Lênin viết: “Người nhận tô nhượngphải nhập từ nước ngoài vào cho công nhân các xí nghiệp tô nhượng nhữngmặt hàng cần thiết cho đời sống của họ, giá bán hàng này không bằng giá thìcộng thêm một tỷ lệ phần trăm nhất định về tạp phí”

Thứ hai, khi trả lương cho công nhân phải dựa trên cơ sở năng suất lao động của nước Nga lúc đó.

Trang 8

“Vấn đề trả lương cho lương cho công nhân ở xí nghiệp tô nhượng phảitrả băng ngoại Tử, bằng phiếu đặc biệt hay bằng tiền xôviết, thì sẽ được quyđịnh theo sự thỏa thuận riêng trong từng hợp đồng” Không những thế ở vấn

đề này Lênin còn đưa ra quan điểm cần phải có những mức lương khác nhau

Và cụ thể mức lương đó như thế nào là do sự thoả thận giữa người chủ xíngiệp tô nhượng với người công nhân trong xí nghiệp đó Bởi vì như chúng ta

đã biết con người là trung tâm của mọi thành công của công việc,công việcthành công phần lớn là do con người đó tiến hành công việc đó Ngay từ khinước Nga dành được chính quyền Lênin đã rất quan tâm đến việc sử dụngngười lao động ,sử dụng người công nhân trong quá trình xây dựng, phát triểnkinh tế trong thời quá độ ở nước có nền tiểu nông sản xuất lên CNXH

Tất cả các quan điểm trên được Lênin thực hiện trong quá trình phát triểnkinh tế Liên xô khi vùa dành được chính quyền từ tay chính phủ Nga hoàng

Thứ ba, khi thực hiện tô nhượng phải tôn trọng tuân thủ theo pháp luật về

đạo luật,về điều kiện lao động khi tuyển dụng, kỳ hạn trả lương, phải bảo vệmôi trường, môi sinh khi khai thác tài nguyên không hành động chống phánhà nước

Lênin viết: “Người nhận tô nhượng phải tôn trọng pháp luật của nướccộng hoà liên bang cộng hoà xã hội Xô viết Nga,chẳng hạn các điều kiện vềlao động,về kì hạn phát lương phải kí hợp đồng với các công đoàn(Nếungười nhận tô nhượng yêu cầu thì chúng ta đồng ý sẽ ghi thêm là trong nhữnghợp đồng đó định mức của một công nhân trung bình ở Mĩ hoặc Tây âu, làmức đinh mức bắt buộc đối với cả hai bên.)

Như vậy, dưới hình thức tô nhượng chủ nghĩa tư bản hoàn toàn bị kiểmsoát và nó chỉ hoạt đọng nhằm làm cho những tư liệu được sử dụng một cáchhiệu quả hơn phục vụ cho sự nghiệp xây dựng CNXH

*Hình thức hợp tác xã

Trang 9

Theo Lênin: “Các hợp tác xã cũng là một hình thức của chủ nghĩa tư bảnnhà nước, nhưng ít đơn giản hơn ,có hình thù ít rõ rệt hơn,phức tạp hơn” Cáchợp tác xã của những người sản xuất nhỏ nhất định sẽ sản sinh ra những quan

hệ tư bản , tiểu tư sản, góp phần phát triền những quan hệ ấy, đẩy những nhà

tư bản nhà tư bản nhỏ lên hàng đầu, mang lại cho họ những lợi ích lớn nhất

Do đó, tự do và quyền lợi của hợp tác xã có nghĩa là tự do và quyền lợi choCNTB Song dưới chính quyền Xôviết hợp tác xã là một hình thức củaCNTBNN cho nên trong một mức độ nào đó nó có lợi và có ích

Lênin viết: Chủ nghĩa tư bản hợp tác xã giống chủ nghĩa tư bản nhà nước

ở chỗ nó tạo điều kiện thuận lợi cho sự kiểm kê, kiểm soát và theo dõi chonhững quan hệ đã ghi tromg hợp đồng giữa nhà nước (ở đây là nước Xô viết )với nhà nước tư bản Nếu xét về măt hình thức thương nghiệp thì hợp tác xã

có lợi và có ích hơn thương nghiệp tư nhân, chẳng những vì những lí do trên

ma còn vì nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc liên hợp và tổ chức hàng triệungười sau đó là toàn thể dân chúng;và tình hình đó lại là một điều kiện thuậnlợi rất lớn cho bước quá độ tương lai từ CNTBNN lên CNXH.”

So sánh hình thức tô nhượng và hình thức hợp tác xã:

Giữa hình thức tô nhượng và hình thức hợp tác xã trong “chính sách kinh

tế mới” của Lênin tồn tại sáu hình thức khác biệt

-Tô nhượng dựa trên cơ sở đại công nghiệp cơ khí hoá, nền sản xuất cao Mối quan hệ giữa các chủ thể kinh tế dưới hình thức tô nhượng: Đây làquan hệ giữa nhà nước vô sản với nhà nước tư bản “Trong mỗi hợp đồng tônhượng tô nhượng chỉ quan hệ đến độc một nhà tư bản hay độc một hãng, mộtxanh-đi-ca,cac-ten hay tơ-rơt thôi” Hình thức tô nhượng cho phép và thậmchí nhất thiết phải có một hợp đồng chính xác và một thời hạn xác định

- Hợp tác xã dựa trên cơ sở nền tiểu sản xuất thủ công và một bộ phậnthậm chí còn có tính chất gia trưởng: “Chế độ hợp tác xã dựa trên cơ sở sảnxuất tiểu công nghiệp , trên nền sản xuất thủ công.”

Trang 10

Mối quan hệ: “Trong chế độ hợp tác xã có quan hệ vơi hàng ngàn,hàngtiểu nghiệp chủ Hợp tác xã thì không có hợp đồng và cũng không có thời hạnthật chính xác.”

Lênin cho rằng việc thủ tiêu một đạo luật về hợp tác xã thì đơn giản hơn

so với việc bãi bỏ hợp đồng tô nhượng; còn việc giám sát một kẻ tô nhượnglại dễ hơn việc giám sát một xã viên hợp tác xã “Thủ tiêu một đạo luật về hợptác xã dễ hơn nhiều so với việc bãi bỏ một hợp đồng tô nhượng có nghĩa làlập tức và đơn giản cắt đứt ngay những quan hệ thực tế của sự liên minh kinh

tế hay của sự “chung sống” về mặt kinh tế của nhà tư bản; trái lại; không có

sự thủ tiêu một đạo luật nào về hợp tác xã và không một đạo luật nào nóichung có thể cắt đứt ngay được chẳng những sự “chung sống” thực tế củachính quyền xô viết với các nhà tư bản nhỏ, mà nói chung, còn không thể cắtđứt được các mối quan hệ kinh tế hiện có”

- Bên cạnh đó Lênin còn cho rằng việc chyển tô nhượng lên CNXH làchuyển từ nền đại sản xuất lên nền đại sản xuất lớn hơn

Về vai trò:Chính sách tô nhượng, một khi thắng lợi sẽ đưa lại cho chúngmột ít xí nghiệp lớn kiểu mẫu-kiểu mẫu so với những xí nghiệp của chúng ta–ngang trình độ của chủ nghĩa tư bản hiện đại Mấy chục năm nữa những xínghiệp ấy sẽ hoàn toàn thuộc về quyền sở hữu của chúng ta

Chính sách hợp tác xã một khi thành công, sẽ giúp cho nền kinh tế nhỏphát triển và sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho nền kinh tế nhỏ quá độ, trong mộtthời hạn không nhất định, lên nền đại sản xuất trên cơ sở tự nguyện kết hợp.Lênin đã chỉ đạo: “Các nhà chức trách Xô viết chỉ cần kiểm tra hoạt độngcủa các hợp tác xã để tránh sự gian lận, việc dấu diếm nhà nước hoặc các sựlam quyền, bất luận thế nào cũng không được hạn chế sự phát triển của cáchợp tác xã, mà trái lại phải bằng cách giúp đỡ hợp tác xã”

Sau gần 2 năm thực hiện chính sách kinh tế mới Lênin đã nhận thức rõtrong nền kinh tế nông nghiệp chế độ hợp tác xã chính là mẫu hình kinh tế xã

Trang 11

hội.Ông cho rằng hợp tác xã thực hiện bước quá độ sang chế độ mới bằng conđường giản đơn nhất ,dễ dàng nhất, dễ tiếp thu với nông dân.chế độ hợp tác

xã sẽ tạo điều kiện thuận lợi để những người sản xất nhỏ có thể phát huy tối

đa khả năng của mình

Thực hiện chế độ hợp tác xã chính là giải quyết nhiệm vụ cải tạo XHCNđối với nền kinh tế nông dân, chính sách đó thành công sẽ giúp cho nền kinh

tế của nước Nga quá độ đi lên CNXH trên cơ sơ tự nguyện Lênin cũng khẳngđịnh: Để hợp tác xã phát huy được vai trò của nó thì nguyên tắc quan trọngnhất là tự nguyện, bình đẳng cùng có lợi, nhiều quy mô nhiều trình độ

để tiêu thụ sản phẩm và cung cấp đầu vào cho các xí nghiệp của nhà nước

*Hình thức cho thuê các xí nghiệp, các cơ sở sản xuất

Đây chính là hình thứ mà “nhà nước cho một nhà kinh doanh-tư bản thuêmột xí nghiệp hoặc một vùng mỏ,hoặc khu rừng, khu đất…” Nó giống vớihợp đồng tô nhượng “Hai hình thức này của chủ nghĩa tư bản nhà nước, ởnước ta không ai nói đến cả, không người nào suy nghĩ tới, hoàn toàn không

để ý tới”

2.4 Vai trò của CNTBNN trong nền kinh tế thời kỳ quá độ ở nước Nga

Không phải đến khi đưa ra “chính sách kinh tế mới”Lênin mới nói đếnchủ nghĩa tư bản nhà nước, mà từ trước khi những người Bôsêvich lên nắmchính quyền(từ tháng 8 năm 1947), Người đã có nhữn câu nhận định khá sâu

Trang 12

sắc về vấn đề này rằng CNTB không phải là một hình thức xă hội chủ nghĩanhưng những người cộng sản phải làm nhiệm vụ của nhà tư bản là xây dựngchủ nghĩa tư bản nhà nước Vì : “Trong một nước dân chủ-cách mạng thực sự,chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước tất nhiên và nhất định phải có nghĩa làmột bước tiến lên CNXH.

Trên cơ sở nhận thức một cách sâu sắc và rõ ràng rằng khi chúng ta còn

“Chưa đạt tới trình độ của CNTBNN thì sẽ không thực hiện được bướcchuyển lên CNXH” Theo Lênin về phương diện kinh tế, CNTBNN hiện đại ởtrình độ cao hơn rát nhiều so với nền kinh tế nhà nước tiểu nông đang trongthời kì quá độ lên CNXH và do vậy, nếu như không trải qua một cái gìchungcho CNTBNN và CNXH thì chúng ta khó có thể thoát khỏi trình trạnglạc hậu về kinh tế Nếu ai không nhận thấy điều đó, theo Lênin đó là một sailầm hết sức nghiêm trọng về phương diện lý luận Nhận thức rõ điểm xuấtphát của nước Nga.Vì vậy Lênin khẳng định rằng từ một nước với nền kinh tếtiểu nông là chủ yếu quá độ lên CNXH thì không có con đường nào khác vàthích hợp hơn cả là phải “bắc chiếc cầu nhỏ” vững chắc xuyên qua chủ nghĩa

tư bản nhà nước phải biết nghĩ tới các “mắt xích trung gian” có thể tạo điềukiện thuận lợi cho các bước chuyển mình từ nền tiểu sản xuất lên chủ nghĩa

xã hội.Người viết: “Vì chúng ta chưa có điều kiện để chuyển trực tiếp nền tiêusản xuất lên chủ nghĩa xã hội, bởi vậy trong một mức độ nào đó, chủ nghĩa tưbản là không thể tránh khỏi, nó là một sản vật tự nhiên của nền sản xuất vàtrao đổi; bởi vậy, chúng ta phải lợi dụng chủ nghĩa tư bản (nhất là hướng nóvào con đường chủ nghĩa tư bản nhà nước) làm mắt xích trung gian giữa nềntiểu sản xuất và chủ nghĩa xã hội, làm phương tiện,con đường,phương thức đểtăng lược lượng sản xuất lên.”

Việc sử dụng tư bản thành phần tư bản nhà nước là cần thiết vì nó làthành phần kinh tế quan trọng tạo nên tính mật thiết “kết cấu kinh tế-xã hộiquá độ” Do nó có một số tác dụng sau:

Trang 13

Phát triển thành phần kinh tế tư bản nhà nước sẽ khắc phục tính tản mạncủa sản xuất của hàng hoá nhỏ và tính quan liêu “trao đổi tức là chủ nghĩa tưbản-nó có lợi cho chúng ta chống lại tình trạng phân tán của những người sảnxuất nhỏ và phần nào chống lại cả bệnh quan liêu nữa” Do đó, “chủ nghĩa tưbản nhà nước vẫn là một bước tiến lớn”, cho dù chúng ta phải trả học phí cho

nó, nhưng điều ấy giúp chúng ta đến chủ nghĩa xã hội chắc chắn nhất Mặtkhác không có kĩ thuật hiện đại tư bản chủ nghĩa được xây trên những phátminh mới nhất của khoa học hiện đại Không có một tổ chức nhà nước có kếhoạch khiến cho hàng chục triệu người, phải tuân theo một cách nghiêm ngặtmột tiêu chuẩn thống nhất và công việc sản xuất và phân phối sản phẩm, thìkhông nối đến CNXH được Hơn thế nữa chủ nghĩa tư bản nhà nước tạo điềukiện mở rộng hợp tác, phân công lao động quốc tế đảm bảo cho sự thắng lợicủa CNXH

“Nếu cách mạng vô sản dành được thắng lợi ở Đức thì nó đã phá vỡngay, một cách rất dễ dàng, bất cứ cái vỏ chủ nghĩa đế quốc nào (đáng tiếc làcái vỏ ấy làm bằng thứ thép tốt nhất, do đó bất cứ sự cố gắng của con gà connào cũng đều không phá vỡ nổi), nó chắc hẳn đã thực hiện sự thắng lợi củachủ nghĩa xã hội thế giới một cách không khó khăn hoặc rất ít khó khăn-đương nhiên “khó khăn” nói đây là trên quy mô lịch sử toàn thế giới, chứkhông phải là trên quy mô một nhóm tiểu thị dân nào đó.”

Như vậy, nói một cách khái quát theo Lênin để đưa một nước tiểu nônglên chủ nghĩa xã hội chúng ta cần sử dụng và cần dành được quyền ưu tiênnhất định cho chủ nghĩa tư bản và Lênin đã khẳng định: “chủ nghĩa tư bảnnhà nước dưới quyền lao động của giai cáp vô sản và chính đảng của nó là

“ngưỡng cửa” của chủ nghĩa xã hội, là điều kiện cho thắng lợi chắc chắn củachủ nghĩa xã hội”

Như vậy, đã gần 90 năm trôi qua kể từ mùa xuân 1921, chính sách kinh

tế mới nói chung và lý luận về CNTBNN nói riêng vẫn nóng hổi tính thời sự

Trang 14

và có ý nghĩa thực tiễn vô cùng quan trọng.Đối với một nền kinh tế có nhiềuthành phần trong giai doạn đầu của thời kì quá độ như ở nước Nga khi đó, sovới thành phần kinh tế quốc doanh do tước đoạt sở hữu cua bọn tư bản mà mà

có, thành phần kinh tế tư bản nhà nước là thành phần kinh tế tiến bộ hơn cả.Trong thành phần kinh tế TBNN thì tô nhượng là hình thức cao nhất đểchuyển từ sản xuất lớn TBCNN sang sản xuất XHCN giai cấp công nhân cóthể học tập quản lý nền đại công nghiệp cơ khí hoá và xã hội hoá Sau mộtnăm thì chuyển các xí nghiệp tô nhượng thành các xí nghiệp nhà nước Duớihình thức hợp tác xã, đại lý và cho thuê cơ sở sản xuất là những hình thứcthấp của CNTBNN Nhà nước có thể tập hợp hàng triệu người sản xuất nhỏ

và những người sản xuất nhỏ và những nhà tư bản nhỏ đi vào mua bán và sảnxuất theo kế hoạch của nhà nước, thực hiện việc kiểm kê, kiểm soát sản xuất

và phân phối một cách dễ dàng hơn Như vậy, thông qua các hình thức củachủ nghĩa tư bản nhà nước thì nhà nước chuyên chính vô sản có thể tổ chứclại, sắp xếp lại toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đua nước Nga thoát khỏi chiếntranh và tiến những bước vững chắc xây dựng thành công XHCN

II VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG CỦA LÊNIN VỀ CNTBNN CỦA ĐẢNG TA TRONG THỜI KỲ ĐỔI MỚI

1 Sự cần thiết khách quan phát triển kinh tế CNTBNN của Đảng ta trong thời kỳ đổi mới

Nước ta tiến hành đổi mới từ năm 1986 Từ đây nước ta chuyển đổi cănbản từ cơ chế tập trung sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nướctheo định hướng XHCN Chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần đượcnhận thức và thực hiện nhất quán Đảng ta xác định nền kinh tế cơ cấu nhiềuthành phần là một đặc trưng của thời kì quá độ Tuy nhiên, với xuất phát điểmnền kinh tế lạc hậu, trình độ khoa học quản lý còn yếu, kém năng lực về vốn

vô cùng hạn hẹp…thì chủ nghĩa tư bản nhà nước chính là một giải pháp đểhuy động tối đa và có hiệu quả sức mạnh kinh tế của các thành phần lực

Trang 15

Chủ trương phát triển chủ nghĩa tư bản nhà nước trong thời kì quá độ ởnước ta là vận dụng sáng tạo tư tưởng của Lênin vào điều kiện thực tiễn ViệtNam Tại hội nghị TW giữa nhiệm kì khoá VII năm 1994 Đảng ta nhấn mạnh:

“Phải vận dụng sáng tạo tư tưởng của Lênin về chính sách kinh tế mới, về chủnghĩa tư bản nhà nước, sáng tạo nhiều hình thức quá độ, những nấc thangtrung gian, đa dạng phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể đua nước ta lên chủnghĩa xã hội một cách vững chắc”

Tại đại hội VI, Đảng ta khẳng định “kinh tế tư bản nhà nước là hình thứcquá độ, có thể được tổ chức từ thấp đến cao, từ đại lý cung ứng và tiêu thụhàng hoá, làm gia công, cho đến hợp doanh với nhà nước”

Tại đại hội VII, Đảng ta vẫn tiếp tục duy trì nhận thức về CNTBNN “nhànước có thể liên doanh bằng nhiều hình thức với tư bản cá nhân trong vàngoài nước, hình thành loại doanh nghiệp thuộc thành phần TBNN”

Tại đại hội VIII lại một lần nữa khẳng định đường lối đổi mới Đảng tachỉ rõ việc kiên định, định hướng XHCN trong tiến trình xây dưng kinh tếhàng hoá nhiều thành phần, lấy việc giải phóng sức xuất, sử dụng tối đa cácnguồn lực bên trong và bên ngoài cho CNH-HĐH nâng cao hiệu quả kinh tế

xã hội,cải thiện đời sống của nhân dân làm mục tiêu hàng đầu trong việckhuyến khích các thành phàn và hình thức tổ chức kinh doanh

Kinh tế tư bản nhà nước bao gồm các hìn thức hợp tác liên doanh kinh tếgiữa nhà nước với tư bản tư nhân trong nước và hợp tác liên kinh tế nhà nướcvới tư bản nước ngoài Nó có vai trò quan trọng trong việc huy động và sửdụng tối đa tiềm năng to lớn về vốn, công nghệ, khả năng tổ chức

Quản lý của các nhà tư bản nhiều lợi ích của họ cũng như công cuộc xâydựng và phát triển đất nước Để làm tốt vai trò đó, Đảng ta áp dụng nhiềuphương thức góp vốn liên doanh giữa nhà nước với các nhà liên doanh tưnhân trong nước nhằm tạo thế tạo lực cho các doanh nghiệp Việt Nam pháttriển, tăng sức hợp tác và cạnh tranh với bên ngoài Đồng thời cải thiện môi

Ngày đăng: 23/08/2021, 20:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w