1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng vận dụng quy luật giá trị vào hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện nay

22 81 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 152,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực hiện lựa chọn tự nhiên và phân hóa người sản xuất hàng hóa Phần II: Sự vận dụng quy luật giá trị vào hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện nay I.. Sản xuất hàng hóa chịu sự t

Trang 1

DÀN BÀI

Mở Đầu: Lý do chọn đề tài.

Nội Dung:

Phần I: Lý luận chung về quy luật giá trị

I Quy luật giá trị

1 Nội dung quy luật giá trị

2 Hình thức của quy luật giá trị

II Tác động của quy luật giá trị

1 Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa

2 Kích thích cải tiến kĩ thuật

3 Thực hiện lựa chọn tự nhiên và phân hóa người sản xuất hàng hóa

Phần II: Sự vận dụng quy luật giá trị vào hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện nay

I Vai trò cần thiết của quy luật giá trị

II.Thực trạng vận dụng quy luật giá trị vào hoạt động sản xuất kinh doanh

1 Khái quát nền kinh tế nước ta trước đổi mới

2 Nhà nước xây dựng nền kinh tế sau đổi mới

3 Những hạn chế của quy luật giá trị

III Giải pháp nhằm vận dụng quy luật giá trị vào sản xuất kinh doanh ởnước ta tốt hơn

- Tăng cường sự quản lý của nhà nước vào sản xuất kinh doanh, giám sátthị trường

- Tăng cường hội nhập quốc tế

- Đề ra chính sách hỗ trợ hộ nghèo, giảm bất bình đẳng, phân hóa giàunghèo trong xã hôi

- Chú trọng quan tâm cho ngành giáo dục, bồi dưỡng nhân tài

B Kết luận.

C Danh mục tài liệu tham khảo.

Trang 2

Mở đầu:

Lý do chọn đề tài

- Khi đất nước ta bước vào xây dựng mô hình: “ Nền kinh tế thị trườngđịnh hướng xã hội chủ nghĩa” thì càng cần phải có những chính sách về pháttriển kinh tế ngày một toàn diện và hiệu quả hơn sao cho đời sống tinh thần vàvật chất của con người trong xã hội đó ngày một ổn định và phong phú

Tuy nhiên thực tế đã chứng minh rằng việc phát triển kinh tế là một việcrất khó khăn và để thực hiện điều đó thì nhất quyết trong chính sách phát triểnkinh tế của nước ta đòi hỏi phải được dựa trên một nền tảng cơ sở lý thuyết vữngchắc về các quy luật kinh tế, đặc biệt là quy luật giá trị

Sản xuất hàng hóa chịu sự tác động của các quy luật kinh tế chung như:quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sảnxuất, quy luật tiết kiệm thời gian lao động, quy luật tăng năng suất lao động…Nhưng vai trò cơ sở cho sự chi phối nền sản xuất hàng hóa thuộc về quy luật giátrị

Về mặt lý thuyết, quy luật giá trị được phát biểu như sau: “sản xuất traođổi hàng hóa phải dựa trên cơ sở lượng giá trị hàng hóa hay thời gian lao độngcần thiết”

- Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và trao đổi hànghóa, ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tácdụng của quy luật giá trị Vì nền kinh tế Việt Nam cũng được xây dựng trên cơ

sở của quy luật giá trị nên tất yếu các khía cạnh của nền kinh tế cũng mang dángdấp những đặc điểm của quy luật giá trị và dù được thể hiện trực tiếp hay giántiếp thì nó cuãng phần nào nói lên được “Thực trạng vận dụng quy luật giá trịvào hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước ta hiện nay” Đó cũng chính là đề tài

mà em đã chọn để đi sâu tìm hiểu trong bài này

Trang 3

Nội dung:

Phần I Lý luận về quy luật giá trị

I Quy luật giá trị.

1 Nội dung của quy luật giá trị:

- Theo yêu cầu của quy luật giá trị, việc sản xuất và trao đổi hàng hóaphải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết Trong kinh tế hàng hóa,mỗi người sản xuất tự quyết định hao phí lao động cá biệt của mình, nhưng giátrị của hàng hóa không phải được quyết định bởi hao phí lao động cá biệt củatừng người sản xuất hàng hóa, mà bởi hao phí lao động xã hội cần thiết Vì vậy,muốn bán được hàng hóa, bù đắp được chi phí và có lãi, người sản xuất phải điềuchỉnh làm sao cho hao phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí mà

xã hội chấp nhận được Trao đổi hàng hóa cũng phải dựa trên cơ sở hoa phí laođộng xã hội cần thiết, có nghĩa là trao đổi phải theo nguyên tắc ngang giá

-Sự vận động của quy luật giá trị thông qua sự vận động của giá cả hànghóa Vì giá trị là cơ sở của giá cả, còn giá cả là sự biểu hiện bằng tiền của giá trị,nên trước hết giá cả phụ thuộc vào giá trị Hàng hóa nào nhiều giá trị thì giá cảcủa nó sẽ cao và ngược lại Trên thị trường, ngoài giá trị, giá cả còn phải phụthuộc vào các nhân tố khác như: cạnh tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền Sựtác động của các nhân tố này làm cho giá cả hàng hóa trên thị trường tách rời vớigiá trị và lên xuống xoay quanh trục giá trị của nó Sự vận động giá cả thị trườngcủa hàng hóa xoay quanh trục giá trị của nó chính là cơ chế hoạt động của quyluật giá trị Thông qua sự vận động của giá cả thị trường mà quy luật giá trị pháthuy tác dụng

-Trong nền kinh tế hàng hóa, hàng hóa và dịch vụ cho các doanh nghiệp,những người sản xuất hàng hóa tư nhân, riêng lẻ sản xuất ra Những chủ thể sảnxuất cạnh tranh với nhau, họ đều tìm cách bon chen, đều muốn giữ vững và mởrộng địa vị của mình trên thị trường Trên thị trường những người sản xuất hànghóa là bình đẳng với nhau, sản xuất hàng hóa càng phát triển thì quyền lực củathị trường đối với người sản xuất hàng hóa càng mạnh Chứng tỏ trong nền kinh

Trang 4

tế hàng hóa của chúng ta luôn có những quy luật kinh tế ràng buộc và chi phốihoạt động của người sản xuất hàng hóa.

2 Hình thức của quy luật giá trị

- Giá trị hàng hóa biểu hiện ra bằng tiền được gọi là giá cả hàng hóa.Trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, tiền được dùng làm tiêu chuẩn giá cả Tùyvào từng giai đoạn mà quy luật giá trị có các hình thức chuyển hóa khác nhau.Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh, quy luật giá trị chuyển hóathành quy luật giá sản xuất Trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, quyluật giá trị chuyển hóa thành giá cả độc quyền cao

II Tác động của quy luật giá trị:

1 Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa.

- Trước hết ta cần hiểu thế nào là điều tiết sản xuất, điều tiết sản xuất tức

là điều hòa, phân bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực của nềnkinh tế Tác động này của quy luật giá trị thông qua sự biến động của giá cả hànghóa trên thị trường dưới tác động của quy luật cung cầu Trong nền sản xuấthàng hóa dựa trên chế độ tư hữu thường xảy ra tình hình: Ở ngành sản xuất nào

đó khi cung nhỏ hơn cầu, giá cả hàng hóa sẽ lên cao hơn giá trị, hàng hóa bánchạy, lãi cao, thì người sản xuất sẽ đổ xô vào ngành ấy Do đó, tư liệu sản xuất

và sức lao động được dịch chuyển vào ngành ấy tăng lên Ngược lại khi cung ởngành đó vượt quá cầu, giá cả hàng hóa giảm xuống, hàng hóa bán không chạy

và có thể lỗ vốn Tình hình ấy buộc người sản xuất phải thu hẹp quy mô sản xuấtlại hoặc chuyển sang đầu tư vào ngành có giá cả hàng hóa cao Ta thấy rõ chínhquy luật giá trị đã gây ra những hiện tượng đó và điều tiết việc sản xuất trong xãhội Bởi vậy, muốn hiểu rõ vấn đề này hơn ta cần tìm hiểu những trường hợpthường xảy ra trong thị trường hàng hóa như:

- “giá cả nhất trí với giá trị”

- “giá cả cao hơn giá trị”

- “giá cả thấp hơn giá trị”

Trường hợp một “giá cả nhất trí với giá trị” nói lên cung và cầu trên thị

trường nhất trí với nhau sản xuất vừa khớp với nhu cầu xã hội Do dựa trên chế

Trang 5

độ tư hữu, sản xuất hàng hóa tiến hành một cách tự phát, vô chính phủ, nêntrường hợp này hết sức hiếm và ngẫu nhiên.

Trường hợp hai “giá cả cao hơn giá trị” nói lên cung ít hơn cầu, sản xuất

không thỏa mãn được nhu cầu của xã hội nên hàng hóa bán chạy và lãi cao Do

đó những người sản xuất loại hàng hóa đó sẽ mở rộng sản xuất, nhiều ngườitrước kia sản xuất loại hàng hóa khác cũng chuyển sang sản xuất loại này Tìnhhình đó làm cho tư liệu sản xuất và sức lao động chuyển vào ngành này nhiềuhơn các ngành khác

Trường hợp ba “giá cả thấp hơn giá trị” nói lên cung cao hơn cầu, lượng

hàng sản xuất ra quá nhiều so với nhu cầu của người dân vì thế nên hàng hóa ế

ẩm, tiêu thụ kém, lỗ vốn tình hình đó làm cho một số người sản xuất ở ngànhnày phải chuyển sang sản xuất ở ngành khác khiến cho tư liệu sản xuất và sứclao động ở ngành này giảm đi

- Ngoài ra, quy luật giá trị còn điều tiết cả lưu thông hàng hóa Điều tiếtlưu thông hàng hóa cũng thông qua giá cả trên thị trường Sự biến động trên thịtrường cũng có tác dụng thu hút luồng hàng từ nơi giá cả thấp đến nơi giá cả cao,

do đó làm cho giá cả hàng hóa thông suốt Như vậy sự biến động giá cả trên thịtrường không những chỉ rõ sự biến động về kinh tế, mà còn có tác động điều tiếtnền kinh tế hàng hóa

2 Kích thích cải tiến kĩ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.

- Trong nền kinh tế hàng hóa, mỗi người sản xuất hàng hóa là một chủthể kinh tế độc lập, tự quyết định hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.Nhưng do điều kiện sản xuất khác nhau nên hoa phí lao động của mỗi ngườikhác nhau, người sản xuất nào có hao phí lao động nhỏ hơn hao phí lao động xãhội của hàng hóa ở thế có lợi, sẽ thu được lãi cao Người sản xuất nào có hao phílao động cá biệt lớn hơn hao phí lao động xã hội cần thiết sẽ ở thế bất lợi, lỗ vốn

Để giành lợi thế trong cạnh tranh và tránh nguy cơ vỡ nợ, phá sản, họ phải hạthấp hao phí lao động cá biệt của mình, sao cho bằng hao phí lao động xã hội cầnthiết Muốn vậy họ phải luôn tìm cách cải tiến kĩ thuật, cải tiến tổ chức quản lý,thực hiện tiết kiệm chặt chẽ, tăng năng suất lao động Sự cạnh tranh quyết liệt

Trang 6

càng thúc đẩy quá trình này diễn ra mạnh mẽ hơn, mang tính xã hội Kết quả làlực lượng sản xuất xã hội được thúc đẩy phát triển mạnh mẽ.

3 Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa người sản xuất hàng hóa thành người giàu người nghèo.

- Trên thị trường, các hàng hóa có giá trị cá biệt khác nhau đều phải traođổi theo giá trị xã hội Do đó, trong quá trình sản xuất và trao đổi hàng hóakhông tránh khỏi tình trạng một số người sản xuất phát tài, làm giàu, còn sốngười khác bị phá sản

Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến kết quả là: nhữngngười có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ, kiến thức cao, trang bị kĩ thuậttốt nên có hao phí lao động cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết,nhờ đó phát tài, giàu lên nhanh chóng Họ mua sắm thêm tư liệu sản xuất, mởrộng sản xuất kinh doanh Ngược lại những người không có điều kiện thuận lợi,làm ăn kém cỏi, hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh nên thua lỗ dẫn đến phá sản trởthành nghèo khó

Trong nền sản xuất hàng hóa tư bản chủ nghĩa, quy luật giá trị cũng tácđộng hoàn toàn tự phát “sau lưng” người sản xuất, hoàn toàn ngoài ý muốn củanhà tư bản Chỉ trong nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, do chế độ công hữu về tư liệusản xuất chiếm địa vị thống trị, con người mới có thể nhận thức và vận dụng quyluật giá trị một cách có ý thức để phục vụ lợi ích của mình

Nghiên cứu quy luật giá trị không chỉ để hiểu biết sự vận động của sảnxuất hàng hóa, trên cơ sở đó nghiên cứu một số vấn đề khác trong xã hội tư bảnchủ nghĩa Những tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa có ýnghĩa lý luận và thực tiễn hết sức to lớn: một mặt quy luật giá trị chi phối sự lựachọn tự nhiên, đào thải các yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển,mặt khác phân hóa xã hội thành kẻ giàu người nghèo, tạo sự bất bình đẳng trong

xã hội Các đảng cộng sản và nhà nước xã hội chủ nghĩa coi trọng việc vận dụngquy luật giá trị trong việc quy định chính sách giá cả, kế hoạch hóa nền kinh tếquốc dân, thực hiện hạch toán kinh tế v.v…

Trang 7

Phần II Sự vận động quy luật giá trị vào hoạt động sản xuất kinh

doanh ở nước ta hiện nay.

I Vai trò của quy luật giá trị

Quy luật giá trị cùng với sự tác động của cung, cầu quyết định giá cả có ýnghĩa quan trọng trong nền kinh tế thị trường Nó đã giúp điều tiết sản xuất vàlưu thông hàng hóa, tránh khỏi những rủi ro về sản xuất kinh doanh thua lỗ vìđầu tư sai hướng trái với nhu cầu thị trường Thúc đẩy sự tiến bộ khoa học kĩthuật, giúp thu hút vốn đầu tư, tạo nguồn vốn để cải thiện trang thiết bị nhàxưởng máy móc, mua tư liệu sản xuất…Như vậy nó đã giúp cho nền kinh tế pháttriển mạnh mẽ hơn

Quy luật giá trị còn tạo ra một thương trường cạnh tranh khốc liệt Nếukhông có sự cạnh tranh trong sản xuất va kinh doanh thì sẽ không có nền kinh tếthị trường, giữa những người sản xuất cũng không có sự ganh đua cạnh tranh thìnền kinh tế sẽ lại trở lại thời kì nền kinh tế quan liêu bao cấp ảm đạm và nghèonàn Nhờ có quy luật sản xuất nên nước ta đã đang và sẽ tiếp tục phát triển nềnkinh tế theo hướng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, ngàycàng hoàn thiện hơn cơ chế thị trường đang xây dựng ở nước ta

Tuy nhiên quy luật giá trị có tác dụng phân hóa những người sản xuấtnhỏ, phân hóa giàu nghèo, dẫn đến bất công bằng trong xã hội Từ đó hình thànhnên mâu thuẫn giữa hiệu quả và công bằng trong nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

II Thực trạng vận dụng quy luật giá trị ở nước ta thời gian qua.

Nền kinh tế nước ta đã trải qua nhiều giai đoạn và ở mỗi giai đoạn thì nhànước ta lại có sự vận dụng quy luật giá trị vào việc xây dựng nền kinh tế khácnhau Nước ta đang thực hiện chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hóatập trung sang nền kinh tế hàng hóa Mô hình kinh tế của nước ta được xác định

là “ Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa”

Vì thế nhà nước cũng đã có nhiều sự thay đổi trong việc vận dụng quy luật giá trịvào các chính sách phát triển nền kinh tế

Trang 8

1 Khái quát nền kinh tế nước ta trước đổi mới.

Trước khi đổi mới, nền kinh tế nước ta hoạt động theo cơ chế tập trungquan liêu bao cấp Nhà nước lãnh đạo nền kinh tế một cách có kế hoạch mangnhiều yếu tố chủ quan Điều này đã phủ nhận tính khách quan của quy luật giá trịlàm triệt tiêu những nhân tố tích cực, năng động của xã hội Nền kinh tế rơi vàotình trạng kém phát triển, năng suất lao động không cao, người dân chưa tạođược phong cách làm việc công nghiệp, thiếu sự thi đua sản xuất cạnh tranhtrong nền kinh tế Đất nước trong thời gian này vừa trải qua cuộc kháng chiếntrường kì, bị chiến tranh phá hoại rất nhiều cơ sở vật chất kĩ thuật, cơ sở hạ tầngbởi thế nên nền kinh tế thời kì này phục hồi rất chậm chạp Sau chiến tranh, nhànước ta đã có mục tiêu xây dựng một hệ thống kinh tế trong đó:

- Công nghiệp nặng được ưu tiên phát triển

- Các thành phần kinh tế phi xã hội chủ nghĩa được cải tạo, kinh tế quốcdoanh giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân và được phát triển ưu tiên,nông dân ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ được khuyến khích tham gia sản xuất tậpthể

- Nhà nước lãnh đạo nền kinh tế quốc dân theo kế hoạch thống nhất

- Gia nhập kinh tế thong qua triển khai các hiệp định hợp tác với các nước

xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là trong khuôn khổ Hội đồng tương trợ kinh tế từ năm

1978

Nhưng do kết quả không tương xứng với với sức lao động và vốn đầu tư

bỏ ra, những mất cân đối lớn của nền kinh tế vẫn trầm trọng, thu nhập quốc dânchưa bảo đảm được tiêu dùng của xã hội trong khi dân số tăng nhanh thị trường,vật giá, tài chính, tiền tệ không ổn định, đời sống của nhân dân lao động cònnhiều khó khăn Vì thế nên nhà nước ta đã có sự chuyển đổi nền kinh tế, xâydựng nhiều chính sách đổi mới nền kinh tế

2 Nhà nước vận dụng quy luật giá trị xây dựng nền kinh tế sau đổi mới.

Sau năm 1986, hàng loạt các chính sách đổi mới nền kinh tế, đổi mớiphương thức quản lý sản xuất ra đời giúp vực dậy nền kinh tế Sau đổi mới quy

Trang 9

luật giá trị được nhà nước vận dụng vào kế hoạch hóa mang tính định hướng.Nhà nước phải dựa trên tình hình định hướng giá cả thị trường để tính toán vậndụng quy luật giá trị vào việc xây dựng kế hoạch Do giá cả hàng hóa là hìnhthức biểu hiện riêng của giá trị, nhưng nó còn chịu sự tác động của các quy luậtkinh tế khác như quy luật cung cầu.

2.1 Tình hình kinh tế nước ta thời gian qua

a Sự tăng trưởng kinh tế và chuyển đổi GDP:

Sau 20 năm đổi mới, nền kinh tế của Việt Nam từ một nước có nền kinh tếtrì trệ tăng trưởng thấp, tích lũy phần lớn nhờ vào vay mượn bên ngoài đến nay

đã trở thành một nước có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực Việt Nam đã tạođược khả năng tích lũy để đầu tư cho phát triển và cải thiện đời sống của ngườidân Tổng tích lũy tăng từ 9.5% đến 11.3%/năm, tùy giai đoạn Nhưng cơ bản,Việt Nam đã đổi mới được cơ chế quản lý, nhờ đổi mới mà Việt Nam từng bướcxây dựng được vai trò của mình trong khu vực và trên thế giới

- Năm 1986 -> 1990: GDP tăng 4.4%/năm đây là giai đoạn chuyển đổi cơbản từ cơ chế quản lý cũ sang cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trìnhđổi mới đời sống kinh tế xã hội và giải phóng sản xuất

- Năm 1991 -> 1995: Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trì trệ, suythoái, đạt tốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và toàn diện GDP bình quâncủa năm tăng 8.2% bước ra khỏi thời kì khủng hoảng kinh tế, bắt đầu đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

- Năm 1996 -> 2000: Là bước phát triển quan trọng của thời kì đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chịu tác động của khủng hoảng tài chínhkinh tế khu vực cùng với thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tếnước ta đứng trước những thử thách Tuy nhiên giai đoạn này dù chịu ảnh hưởngkhủng hoảng kinh tế (Thái Lan) nhưng Việt Nam vẫn duy trì được tốc độ tăngtrưởng tổng sản phẩm trong nước là 7%/năm

Trang 10

- Năm 2000 -> 2005: Nền kinh tế đạt tốc độ tăng trưởng cao liên tục GDPbình quân mỗi năm đạt 7.5% Năm 2005 tốc độ tăng trưởng đạt 8.4%, GDP theogiá trị hiện hành đạt 838 nghìn tỷ đồng.

- Thu nhập bình quân đầu người đạt > 10 triệu đồng, tương đương600USD

- Cơ cấu GDP theo ngành kinh tế đã có sự chuyển dịch tích cực theohướng giảm tỷ trọng khu vực Nông-Lâm-Ngư nghiệp, tăng tỷ trọng khu vựcCông nghiệp-xây dựng, và Dịch vụ Tuy nhiên tốc độ dịch chuyển cơ cấu vẫncòn chậm và chưa thực sự ổn định

- Năm 2009 tỷ trọng GDP của các ngành kinh tế đạt:

là một nước thuần nông, đi lên từ nền nông nghiệp lúa nước

- Cơ cấu GDP theo thành phần kinh tế, cũng có những chuyển dịch đánglưu ý là: Sau thời kì suy giảm từ năm 1986->1991 tỷ trọng của khu vực kinh tếnhà nước tăng nhanh từ 29.25% năm 1991 đến 39.2% năm 1993 Sau đó giữ ổnđịnh khoảng trên 40% từ 1994-1999

- Trong khi đó tỷ trọng của khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong nướctrong GDP liên tục giảm từ 70.75% nâm 1991 xuống còn 49.4% năm 1999 Tiềmnăng của khu vực kinh tế tư nhân vẫn còn lớn và chưa được khai thác cao chotăng trưởng kinh tế, khu vực kinh tế tư nhân tập trung chủ yếu ở sản xuất nông-lâm-ngư nghiệp, công nghiệp-xây dựng và cung cấp dịch vụ với quy mô nhỏ và

Trang 11

rất nhỏ Dần cho đến hiện nay thì tỷ trọng của khu vực có vốn đầu tư nước ngoàivẫn ngày càng tăng mạnh.

Chính nhờ sự áp dụng có hiệu quả quy luật giá trị vào đổi mới nền kinh tếnên bộ mặt nền kinh tế nước ta đã thay đổi nhanh chóng thu hút được khá nhiều

dự án và vốn đầu tư cả trong và ngoài nước, góp phần tăng nguồn vốn cho việchoàn thiện cơ sở vật chất kĩ thuật, máy móc nhà xưởng, cơ sở hạ tầng đường xácầu cống, phương tiện vận chuyển Giúp cho việc vận chuyển lưu thông hànghóa từ vùng này sang vùng khác và sang các nước khác dễ dàng hơn, đa dạngloại hình vận chuyển hơn (đường bộ, đường thủy, đường hàng không, đườngsắt) Tránh được rủi ro về tồn đọng hư hỏng hàng do không thể vận chuyển

b Hoạt động ngoại thương sau đổi mới.

Từ sau đổi mới tình hình ngành ngoại thương của nước ta có nhiều biếnchuyển tích cực, đi từ một nước hạn chế hội nhập thị trường quốc tế chỉ bó hẹptrong một vài thị trường truyền thống thì sau năm 1994 khi Mỹ xóa bỏ lệnh cấmvận và Hiệp định thương mại Việt Mỹ được kí kết thì nước ta đã đa dạng hóa vềthị trường quốc tế, mở cửa hội nhập thu hút được rất nhiều vốn đầu tư từ nướcngoài, đặc biệt là khắc phục được phần nào tình trạng nhập siêu của nước ta

- Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của nước ta đã gia tăng nhanhchóng qua các năm

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đã tăng từ 2.4 tỷ USD trong năm 1990 lên5.4 tỷ USD năm 1995

Năm 2000 tăng lên gần 14.5 tỷ USD, năm 2005 đạt 32.5 tỷ USD, tăng 18

tỷ USD trong vòng 5 năm

Năm 2006 đạt 39.8 tỷ USD và đến năm 2007 thì đã tăng lên 48.35 tỷ USD,tăng 8.55 tỷ USD

Như vậy ta có thể thấy rõ tổng kim ngạch xuất khẩu qua các năm từ

1990-2007 đã có hướng tăng liên tục và tăng khá mạnh

- Tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu so với GDP cũng tăng nhanh từ 30.8% năm

1990 lên 46.5% năm 2000, lên 61.3% năm 2005 Năm 2006 đã đạt 65% và đến

Ngày đăng: 23/08/2021, 19:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w