1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm sinh lý, sinh trưởng và năng suất của một số giống lạc vụ xuân 2008 tại hà tĩnh

67 918 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm sinh lý, sinh trưởng và năng suất của một số giống lạc vụ xuân 2008 tại Hà Tĩnh
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Thúy
Người hướng dẫn PGS.TS. Nguyễn Quang Phổ
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Nông học
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 758 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Qua đó, tác động vàomối quan hệ này sẽ làm thay đổi đáng kể các chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng và năngsuất nhằm tăng sản lượng thu hoạch trên cùng một giống và đơn vị diện tích.Nhưng cho

Trang 1

KHẢO NGHIỆM, ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ, SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA MỘT SỐ GIỐNG LẠC VỤ XUÂN 2008 TẠI HÀ TĨNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

Trang 2

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây lạc (Arachis hypogeae L.) còn gọi là đậu phộng Đây là một trong

những cây công nghiệp ngắn ngày vừa cho giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao, vừacải tạo đất tốt

Cây lạc được xếp thứ 13 trong số các cây thực phẩm trên thế giới và trongcác cây thực phẩm ngắn ngày thì cây lạc đứng thứ 2 sau cây đậu tương cả về diện tíchcũng như tổng sản lượng Bởi nó có các giá trị quan trọng như: hàm lượng dầu,protein cao và phong phú, các loại vitamin, chất khoáng khác Bên cạnh đó, cây lạccòn có khả năng cải tạo lý tính, hoá tính cho đất ngày càng tơi xốp Lạc còn được sửdụng làm thực phẩm trong nước ở nhiều dạng khác nhau, được tận dụng trong trồngtrọt, chăn nuôi, được tinh chế phục vụ cho nhiều ngành công nghiệp, y tế,…

Nước ta đã và đang tiến hành chuyển đổi cơ cấu cây trồng nhằm đáp ứngnhu cầu ngày càng tăng của thị trường Nhìn được tầm quan trọng của cây lạctrong việc bố trí sản xuất và khai thác lợi thế của vùng khí hậu nhiệt đới trongnhững năm gần đây, Đảng và chính phủ đã có chủ trương và chính sách khuyếnkhích sản xuất lạc Xem nó là một trong những loại cây trồng lý tưởng đối vớisản xuất nông nghiệp Việt Nam; là yếu tố đảm bảo sự phát triển bền vững sinhthái và phát triển nông nghiệp, nông thôn

Riêng vùng Bắc Trung Bộ thì cây lạc được coi là một trong những cây thếmạnh, cây lợi thế của vùng Vì vậy, phát triển được cây lạc đối với Hà Tĩnh nóiriêng và đối với vùng Bắc Trung Bộ nói chung có một giá trị rất lớn trong sự pháttriển kinh tế xã hội Nhiều năm qua, cây lạc đã được coi là cây trồng chủ lựctrong cơ cấu mùa vụ ở Hà Tĩnh Tuy nhiên, năng suất lạc còn thấp chỉ đạt 16 - 17tạ/ha Một trong những nguyên nhân quan trọng đó là công tác giống

Như chúng ta đã biết, muốn đạt năng suất cao và phẩm chất tốt thì việctìm ra bộ giống phù hợp với từng loại đất, điều kiện sinh thái và trình độ thâmcanh của mỗi vùng là rất cần thiết Tiêu chuẩn năng suất; khả năng chống chịu;

Trang 3

thời gian phù hợp với mùa vụ; phẩm chất;… của giống luôn được nghiên cứu và

bổ sung để có bộ giống thích hợp đối với mỗi vùng sinh thái khác nhau

Năng suất cây trồng phụ thuộc rất nhiều vào các chỉ tiêu sinh lý, sinhtrưởng, đặc điểm di truyền, đặc điểm sinh thái, môi trường và thời vụ Nghiêncứu mối liên quan giữa các chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng với sự tạo thành năngsuất cây lạc sẽ giúp thực tiễn sản xuất chọn được những giống có kiểu hình vàđặc điểm sinh lý quyết định năng suất cao Đồng thời làm cơ sở cho việc áp dụngcác biện pháp kỹ thuật gieo trồng và chăm sóc thích hợp Qua đó, tác động vàomối quan hệ này sẽ làm thay đổi đáng kể các chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng và năngsuất nhằm tăng sản lượng thu hoạch trên cùng một giống và đơn vị diện tích.Nhưng cho đến nay, chưa có công trình nghiên cứu nào ở nước ta công bố

về chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng quyết định đến năng suất cây lạc Cho nên, xâydựng mô hình ruộng lạc năng suất cao trên quan điểm sinh lý, sinh trưởng làhướng nghiên cứu cần quan tâm, có lợi và cấp thiết

Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm sinh lý, sinh trưởng và năng suất của một số giống lạc vụ Xuân 2008 tại Hà Tĩnh”.

2 Mục đích

Qua một số chỉ tiêu sinh lý, khả năng sinh trưởng, phát triển cho năng suất

và khả năng thích ứng của một số giống lạc trên nền đất cát pha tại huyện Lộc Hà

- Hà Tĩnh sẽ tìm ra bộ giống thích hợp trên địa bàn nghiên cứu, từ đó có thể đưavào cơ cấu cây trồng tại địa phương

Trên cơ sở đó sẽ tìm ra được các chỉ tiêu chủ đạo ảnh hưởng gián tiếp hoặc trựctiếp đến sự tạo thành năng suất Đồng thời, có thể định hướng áp dụng một số giảipháp kỹ thuật tác động nhằm góp phần tăng năng suất, phẩm chất của cây lạc

3 Đối tượng, phạm vi và nội dung nghiên cứu

* Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

- Cây lạc (Arachis hypogeae L.).

Trang 4

- Các nghiên cứu được tiến hành ngoài đồng ruộng trên nền đất cát pha để đođếm các chỉ tiêu sinh trưởng và trong phòng thí nghiệm sinh lý cây trồng, phòng phântích bộ môn Nông học để xác định các chỉ tiêu sinh lý, năng suất của cây lạc.

* Nội dung nghiên cứu

Dựa vào các thời kỳ sinh trưởng, phát triển của cây lạc và mục đích nghiêncứu của thí nghiệm, chúng tôi tiến hành nghiên cứu các nội dung sau:

- Nghiên cứu về các chỉ tiêu sinh trưởng

- Đánh giá khả năng chống chịu sâu, bệnh hại

- Nghiên cứu về các chỉ tiêu sinh lý

- Nghiên cứu về chỉ tiêu năng suất

- Xác định được mối tương quan giữa các yếu tố trên và giữa chúng vớinăng suất

4 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Trên cơ sở nghiên cứu các đặc điểm sinh lý, sinh trưởng và năng suất củamột số giống lạc trên nền đất cát pha sẽ đóng góp thêm dữ liệu làm cơ sở khoahọc cho những nghiên cứu về sinh lý cây lạc, góp phần tăng năng suất cây trồng.Nghiên cứu thành công sẽ là cơ sở quan trọng để lựa chọn được các giốnglạc mới cho năng suất cao, phẩm chất tốt, có khả năng thích ứng với điều kiệncủa vùng Để từ đó có cơ cấu giống lạc hợp lý cho từng vùng nhằm phát huy tối

đa tiềm năng năng suất của giống, nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất

Trang 5

CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình sản xuất cây lạc

1.1.1 Tình hình sản xuất cây lạc trên thế giới

Trên thế giới hiện nay có khoảng 108 nước trồng lạc Sự phân bố về diệntích, năng suất và sản lượng không đồng đều ở các khu vực trồng lạc khác nhautrên thế giới Diện tích trồng lạc trên thế giới tập trung nhiều nhất ở Châu Á (13,8triệu ha), chiếm khoảng 63% diện tích và 71,4% về sản lượng Tiếp đến là ChâuPhi với diện tích chiếm khoảng 31,3% và sản lượng 18,65%, thứ ba là Châu Mỹvới 1,37 triệu ha (năm 2005)

Khu vực Đông Nam Á thì diện tích trồng lạc không nhiều, chỉ chiếm12,61% về diện tích và 12,95% sản lượng lạc của Châu Á Nhìn chung, năng suấtlạc trong khu vực còn ở mức thấp, trung bình đạt 1,17 tấn/ha Trong số 7 nướctrồng lạc trong khu vực thì chỉ có 3 nước là Việt Nam, Thái Lan và Indonesiaxuất khẩu lạc Trong đó, Việt Nam là nước có lượng lạc xuất khẩu lớn nhất với33,8 nghìn tấn, chiếm 41,15% [22]

Bảng: Tình hình sản xuất lạc trên thế giới trong những năm vừa qua

Năm

Diện tích (triệu ha) 26,46 26,37 22,80 23,23 23,39

Năng suất (tấn/ha) 13,4 13,7 14,3 15,5 14,9

Sản lượng (triệu tấn) 35,65 36,06 33,60 34,47 34,86

Nguồn: FAOSTAT

Trong những năm gần đây, nhu cầu về lạc và sản phẩm từ lạc tăng mạnh.Trong khi đó lượng lạc trao đổi thương mại trên thế giới chưa đáp ứng đủ nhucầu đang tăng cao, lượng lạc xuất khẩu năm 2003 - 2004 chỉ đạt 5,4% tổng sảnlượng [16] Điều này đã tạo cơ hội tốt cho các ngành sản xuất lạc ở các nướcchậm phát triển Việc đầu tư sản xuất lạc về trình độ sản xuất, công nghệ và tạo

ra các giống mới trong thời điểm này sẽ mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngườinông dân và góp phần vào công việc "Xói đói giảm nghèo"

Trang 6

1.1.2 Tình hình sản xuất cây lạc ở Việt Nam

Ở Việt Nam, lạc được xem là một trong những loại cây trồng có vai trò chủđạo và chiếm một vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Cho đến nay, câylạc được trồng phổ biến khắp mọi vùng Từ những năm 1980s trở lại đây, sảnxuất lạc có chiều hướng ngày càng phát triển

Nhưng nhìn chung, năng suất lạc còn thấp và đang còn nhiều nguyên nhânhạn chế như: Thiếu giống mới có năng suất cao và thích ứng cho từng vùng, bịnhiều loại sâu bệnh phá hoại, thiếu kỹ thuật canh tác tiến bộ, mức đầu tư cònthấp, Hơn nữa, trước đây nhu cầu về lương thực là vấn đề cấp bách đối vớingười dân Cho nên, trong ngành trồng trọt cây lương thực vẫn là cây được chú ýđầu tiên Những năm gần đây cùng với sự chuyển đổi sản xuất nông nghiệp và côngnghiệp, việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật, sự hợp tác cây trồng nghiên cứu cây trồngnông nghiệp với nhiều tổ chức trên thế giới đã tạo ra những bước chuyển đổi mớitrong sản xuất lạc trong cả nước và bước đầu có nhiều thành tựu đáng kể [15].Bảng: Tình hình sản xuất lạc của Việt Nam trong những năm vừa qua

1.2 Tình hình nghiên cứu lạc trên thế giới

1.2.1 Kết quả nghiên cứu về vấn đề năng suất lạc và các chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng của cây lạc

Hiệu quả quan trọng nhất của việc nghiên cứu quang hợp vẫn là khả năngđiều khiển hoạt động quang hợp của cơ thể thực vật với mục đích nâng cao năngsuất thu hoạch Người ta đã chứng minh được rằng: Quang hợp là quá trình cơbản quyết định năng suất cây trồng Tổng số chất khô do quang hợp tạo ra chiếm

90 - 95% tổng số chất khô của thực vật Như vậy, tất cả các biện pháp của hệthống trồng trọt đều nhằm mục đích làm sao cho mọi hoạt động của bộ máyquang hợp có hiệu quả nhất [21]

Trang 7

Hoạt động quang hợp là một quá trình ôxy hoá - khử xảy ra trong cơ thể câytrồng Với sự hoạt động của hệ thống men oxy hoá - khử làm cho diệp lục có khảnăng quang oxy hoá nước và khử CO2 tạo thành hợp chất hữu cơ [7] Sản phẩm của

sự cố định CO2 là thành phần chủ yếu của chất khô, sự đồng hoá CO2 là nhân tố cơbản quyết định năng suất Cải thiện hiệu quả quang hợp để đạt được năng suất và sảnlượng sinh khối cao là một trong những cố gắng của các nhà sinh lý thực vật học

Lá là cơ quan chủ yếu thực hiện chức năng quang hợp của cây Do vậy, việctăng hay giảm diện tích lá có tác động trực tiếp đến lượng quang hợp Trongphạm vi nhất định có mối quan hệ thuận giữa hệ số diện tích lá với lượng quanghợp Vượt quá giới hạn này, sản lượng chất khô thực tế lại giảm vì quá trình hôhấp có quan hệ tỷ lệ thuận với hệ số diện tích lá [7]

Khan và Akosu (1971) nghiên cứu sự phân phối chất đồng hoá ở lạc bằngphương pháp đồng vị và đưa ra kết luận: trong giai đoạn sinh trưởng dinh dưỡng,Cacbon phóng xạ phần lớn được đưa tới ngọn, lá non và rễ Ngay sau khi tia quảhình thành và phát triển thì sự vận chuyển hợp chất Cacbon từ lá của mỗi cành đềutập trung vào những quả trên cành đó Từ lá thứ 3, chất đồng hoá chỉ chuyển xuốngquả mà không lên ngọn Lá thứ 5 vận chuyển chất đến cả ngọn và quả Hệ số tươngquan giữa cường độ vận chuyển về quả và cường độ quang hợp là r = 0,979 (dẫntheo Nguyễn Đình Thi, 2002) [8]

Nghiên cứu của Enyi (1977) thì trong đời sống cây lạc, giai đoạn đầu chấtđồng hoá được chia cho lá và thân, các giai đoạn sau phân chia đồng thời vào các

cơ quan sinh dưỡng và quả vì sinh trưởng sinh dưỡng và sinh thực diễn ra cùngmột lúc Sự ngừng tăng khối lượng thân sẽ có ý nghĩa góp phần lớn sản phẩmquang hợp được tích lũy ở những bộ phận có ý nghĩa kinh tế [26]

Theo Trachtemberg và Mc Cloud (1979); Sastry (1980) thì tuổi của lá có ảnhhưởng đến quang hợp Quang hợp tăng đến khi lá khoảng hai tuần tuổi và sau đógiảm dần cùng với sự già đi của lá Lá có hoạt động sinh lý mạnh là các lá thứ 3, 4, 5

và 6 kể từ đỉnh sinh trưởng xuống (dẫn theo Nguyễn Đình Thi, 2002) [8]

Trang 8

Boote (1980) phát hiện thấy sâu bệnh làm rụng lá là nguyên nhân giảm năngsuất lạc Khoảng 42% diện tích lá ở tán lá phía trên hấp thu 745 lượng ánh sáng

và cố định 63% tổng lượng 14CO2 của toàn bộ tán lá Khi cắt bỏ 25% tổng diệntích lá chủ yếu ở nửa tán lá phía trên sẽ giảm lượng CO2 cố định đến 30% và tỷ lệ

CO2 trao đổi là 35% [25]

Một quy luật chung cho sự phát triển của bộ lá và các chỉ tiêu sinh lý, sinhtrưởng khác là phải có một giới hạn tối thích Nghiên cứu của Forestier (1973)cho thấy diện tích lá (LA) và lượng chất khô tăng đều đặn từ khi có lá thứ 3 đếnkhi hình thành tia củ Chỉ số diện tích lá (LAI) cực đại là 4 m2 lá/m2 đất, nhưng

để đạt năng suất tối đa thì LAI ở giai đoạn lá thứ 14 phải cao hơn 4 m2 lá/m2,lượng chất khô cả cây cao hơn 500g/m2, chất khô của lá đạt trên 175g/m2 (dẫntheo Nguyễn Đình Thi, 2002) [8]

Theo Janomatli (1979) [23] cuối thời kỳ ra hoa, chỉ số diện tích lá tốt nhất làvào khoảng 4m2 lá/m2 đất

Nitsiporovits (1982) (dẫn theo Nguyễn Đình Thi, 2002) [8] cho rằng chỉ sốdiện tích lá đối với những loại cây trồng lấy hạt là LAI = 3 - 4 m2 lá/m2 đất Tuynhiên, theo A.G Patil, M.V Growda và B.N Motagi (1995) thì ở cây lạc, chỉ sốdiện tích lá thích hợp nhất cho năng suất thực thu cao là LAI = 3,6 - 4,3 m2 lá/m2

đất Năng suất lạc không bị hạn chế bởi khả năng quang hợp nhưng có thể bị hạnchế bởi diện tích lá thấp và hoạt động kém trong giai đoạn cuối phình to của quảlạc (Cahaner, Ashri - 1974) [25]

Từ những hiểu biết về vai trò của bộ lá trong quang hợp tạo thành năng suấtcây lạc, các nhà nghiên cứu đều đi đến kết luận: Một trong những tiêu chuẩnquan trọng để lạc đạt năng suất cao là giống có cường độ quang hợp tốt Nhữngđặc trưng cho giống có cường độ quang hợp cao là trọng lượng riêng lá, bề dày

lá, mật độ khí khổng, hàm lượng diệp lục (Mekhsi - 1977; Sastry - 1980), vị trí

và tuổi các tầng lá, diện tích lá (LA), chỉ số diện tích lá (LAI) (Sastry - 1980,1981; Trachtemberg và Mc Clould - 1979) [26]

Trang 9

1.2.2 Mối quan hệ giữa nguồn với vật chứa và điều khiển quá trình sinh trưởng, phát triển để cây lạc đạt năng suất cao

Trong thực tế sản xuất, con người vẫn còn nhiều hy vọng nâng cao năngsuất lạc lên ở mức lý tưởng bằng cách nâng hợp lý lượng chất khô tạo ra qua conđường quang hợp hay nâng cao khả năng vận chuyển sản phẩm đồng hoá từ cơquan quang hợp, thậm chí cả từ cơ quan sinh dưỡng về quả và hạt Điều khiển sựphân bố có hiệu quả các sản phẩm quang hợp theo hướng có lợi cho việc nângcao năng suất thực thu cây lạc Cho nên, nghiên cứu mối quan hệ giữa nguồn vàvật chứa đã được nhiều nhà khoa học chú ý đến [2]

Trước khi đưa một loại hay một giống cây trồng trong một cơ cấu cây trồngnào đó chúng ta thường quan tâm tới khả năng thích nghi của chúng trong điềukiện khí hậu, đất đai,… và cuối cùng là khả năng có năng suất của chúng Năngsuất của cây trồng liên quan đến sức chứa và nguồn

Để tăng nguồn các nhà chọn giống đã cải tiến kiểu lá để nâng cao hệ số diệntích lá và nâng cao cường độ quang hợp ở lá, đồng thời giảm chi phí mất mát do

hô hấp Giữa sức chứa và nguồn có mối quan hệ chặt, có tác động qua lại lẫnnhau: khi nguồn lớn sẽ cho sức chứa cao và ngược lại Trong thực tế khó phânbiệt được rõ chỉ tiêu đại diện cho sức chứa và chỉ tiêu đại diện cho nguồn Để tạogiống cây trồng có năng suất cao cần tăng đồng thời cả về sức chứa và nguồn

Sự vận chuyển các sản phẩm của quá trình quang hợp, từ những cơ quanđồng hoá Cacbon đến những nơi thực hiện các quá trình trao đổi chất là một quátrình quan trọng có ảnh hưởng tới sự di chuyển và phân phối sản phẩm quanghợp Hiệu quả sẽ cao hơn nếu liên kết được với bất cứ một sự phối hợp của cácyếu tố hạn chế trong quá trình liên tục từ quang hợp, vận chuyển chất đồng hoá,

hệ thống dự trữ Các bộ phận trên cây có sự khác nhau về khả năng sử dụng chấtđồng hoá vì chúng sinh trưởng, phát triển khác nhau

Khan và Akosu (1971); Patte (1974) nghiên cứu sự vận chuyển sản phẩmđồng hoá từ lá đến các bộ phận bằng phương pháp đồng vị phóng xạ 14C đã cónhững kết luận khá thú vị về vai trò của các tầng lá trong từng thời kỳ, được

Trang 10

chúng tôi trình bày ở phần quang hợp và năng suất cây lạc Các kết quả nghiêncứu trên cây lạc nói riêng và cây họ đậu nói chung cho thấy rằng chỉ khoảng 20%tổng lượng chất khô tạo ra từ quang hợp sẽ tích luỹ ở bộ phân kinh tế (D.K.Whigham - 1983) (dẫn theo Nguyễn Đình Thi, 2002) [8].

W.D Hanson và D.R West (1982) [29] nghiên cứu ảnh hưởng của việcđiều chỉnh nguồn lên sự phân bố chất khô ở thời kỳ trước ra hoa trên các cây đậulấy hạt cho thấy, khi cắt bỏ bớt một lá chét thì cường độ quang hợp của lá chétcòn lại tăng Tuy nhiên, hàm lượng tinh bột trong lá giảm xuống Tỷ lệ phân phốichất khô đến các vật chứa so với lá đối chứng hầu như không thay đổi dù nguồn

bị giảm bớt Như vậy, ở đây đã có một cơ chế tự điều chỉnh, duy trì trạng thái cânbằng động giữa vật chứa và nguồn

Năm 1978, Duncan [27] thí nghiệm trên 35 giống lạc thấy phần lớn sự khácnhau về năng suất giữa các giống là do sự phân phối chất đồng hoá giữa cơ quansinh dưỡng và cơ quan sinh thực, độ dài và thời kỳ hạt vào chắc, tốc độ hìnhthành quả Trong đó, sự phân phối sản phẩm đồng hoá có tác động lớn nhất tớinăng suất Khoảng 30 - 65 ngày sau khi gieo, chất dinh dưỡng chuyển về thântăng nhanh vì đó là một nguồn chứa tích cực Thân như là một yếu tố cạnh tranhchính đòi hỏi nhiều sản phẩm quang hợp trong giai đoạn sinh trưởng sinh dưỡng

và ra hoa ban đầu Quả và hạt ở các cành là vật chứa quan trọng trong thời kỳsinh trưởng sinh thực sau ra hoa của cành đó

Quá trình vận chuyển sản phẩm quang hợp từ nguồn về vật chứa còn chịu

sự chi phối mạnh mẽ của dinh dưỡng và Phytohormon Cuối giai đoạn phát triểnquả (quả già) có sự khác nhau rõ rệt giữa tỷ lệ chất đồng hoá tới thân trong cácgiống Những giống có sự phân chia chất đồng hoá từ lá vào thân ít hơn tronggiai đoạn phát triển quả sẽ cho năng suất thực thu cao hơn

J.G Grisswell và D.J Hume (1972) [5], nghiên cứu thấy không có trườnghợp sản phẩm đồng hoá được vận chuyển đến những lá đã phát triển hoàn chỉnh.Tuy vật chứa (quả, hạt) của cành nào thường nhận nguồn vật chất do cành đó

Trang 11

cung cấp, nhưng khi một cành nào đó bị sâu, gãy thì các quả trên cành đó vẫn cóthể nhận sản phẩm từ lá các cành khác chuyển đến để lớn lên.

Quả và hạt là những vật chứa quan trọng trong thời kỳ sau ra hoa W.A.Brun và T.L Setter [4] nghiên cứu ảnh hưởng của quá trình tăng trưởng quả đốivới quá trình quang hợp của lá ở một số cây họ đậu đã chỉ ra khả năng ảnh hưởngmạnh mẽ lẫn nhau giữa chúng Tuy nhiên, ở cây lạc nghiên cứu vấn đề này cònhạn chế do quả lạc nằm trong đất nên khó thực hiện và theo dõi

1.2.3 Cơ sở chọn giống lạc năng suất cao trên quan điểm sinh lý, sinh trưởng

Theo khuynh hướng chọn giống cổ điển trước đây người ta thường đánh giánăng suất thông qua các yếu tố cấu thành năng suất như: số quả/cây, số quả chắc/cây, trọng lượng 100 quả, tỷ lệ quả chắc,… Tuy nhiên, đó chỉ là sản phẩm, là kếtquả cuối cùng của nhiều quá trình sinh lý phức tạp Thực tế khi dựa vào các chỉtiêu ưu thế đó đã đưa các nhà chọn giống đi đến thất vọng vì sản lượng thu đượckhông cao Thậm chí có khi còn cho sản lượng thấp hơn trước Bởi vì các yếu tốcấu thành năng suất thường biến động lớn do ảnh hưởng của điều kiện ngoạicảnh và có sự bù trừ, triệt tiêu lẫn nhau Ví dụ: số quả/cây lớn thì trọng lượng

100 quả thường thấp,… Cho nên, dù có dựa vào một chỉ tiêu nào đó thì cũng khó

mà đạt được sản lượng cao vì bị chỉ tiêu khác hạn chế Điều này không chỉ xảy rariêng ở cây lạc mà hầu như ở tất cả các cây lấy hạt thuộc bộ đậu (E.E Hartwig vàC.J Edwards - 1970) (dẫn theo Nguyễn Đình Thi, 2002) [8]

Cơ sở chọn giống cây trồng năng suất cao là việc thực hiện có kết quảcác nguyên tắc chọn giống trên cơ sở di truyền Phát hiện và sử dụng các genđiều khiển sự hình thành các chỉ tiêu tạo năng suất và thích ứng cao (N.M.Trekalin - 1982) (dẫn theo Nguyễn Đình Thi, 2002) [8]

Một trong những điều kiện chính của việc chọn giống năng suất cao là sựcân bằng giữa nguồn và vật chứa, đưa đến việc nâng cao hệ số kinh tế trong thuhoạch Để thiết lập mô hình sinh lý của cây lạc năng suất cao, đòi hỏi phải cónhững số liệu về tính trạng sinh học tương quan chặt chẽ với năng suất Tuynhiên, chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng này không ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất

Trang 12

mà lại ảnh hưởng gián tiếp qua tính trạng khác Hướng mới chọn giống lạc năngsuất cao theo chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng là việc xác định trị số thực của các tínhtrạng làm tăng năng suất Trên cơ sở đó mà định hướng lai tạo hoặc sử dụng kỹ thuật

di truyền để tạo giống mới Trên thế giới hiện nay đã có nhiều hướng nhỏ nghiêncứu vấn đề này nhằm phục vụ thiết thực cho từng điều kiện sản xuất cụ thể

1.3 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

1.3.1 Kết quả nghiên cứu khảo nghiệm giống lạc

Trong những yếu tố hạn chế năng suất đối với cây lạc ở Việt Nam thì công tácphát triển giống lạc mới đạt năng suất cao là vấn đề quan trọng cần được chú ý hàngđầu Chính vì vậy, việc khảo nghiệm các giống mới để từng bước tìm ra các giốnglạc có triển vọng cho năng suất cao, phẩm chất tốt, khả năng chống chịu tốt với sâubệnh, thích ứng rộng với điều kiện ngoại cảnh cụ thể cho từng vùng luôn đượcnghiên cứu và bổ sung ở tất cả các vùng sinh thái, bao gồm khảo nghiệm các giốnglạc trong nước và các giống lạc nhập nội và đã đạt được những kết quả nhất địnhTác giả Nguyễn Thiên Lương và Ctv cho biết: Vụ Xuân năm 2000, Trung tâmkhảo nghiệm giống cây trồng Trung ương đã tiến hành khảo nghiệm các giống lạctại phía Bắc Kết quả cho thấy các giống L13, L14, Sán dầu 30 là những giống cótriển vọng Giống L14 có thời gian sinh trưởng ngắn, khả năng hồi xanh sau mọcnhanh, sạch sâu bệnh, tỷ lệ nhân/quả cao, năng suất cao và ổn định [13]

Trong vụ Xuân năm 2002 ở miền Bắc, Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống câytrồng Trung ương đã tiến hành khảo nghiệm 4 giống lạc mới từ các cơ quan nghiêncứu và chọn tạo trong nước Qua quá trình khảo nghiệm các tác giả Nguyễn TiênPhong, Phạm Thị Tài và Ctv cho biết: L14 qua 2 - 3 vụ khảo nghiệm là những giốngsinh trưởng khỏe, nhiễm sâu bệnh nhẹ, năng suất khá cao và ổn định, đã được Hộiđồng khoa học Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn cho phép khu vực hóa ở cáctỉnh phía Bắc năm 2002 Các tác giả đề nghị mở rộng nhanh ra sản xuất L14 [14]

Vụ xuân 2007, Trung tâm ứng dụng chuyển giao khoa học công nghệ huyệnHương Khê – Hà Tĩnh đã triển khai mô hình trình diễn giống lạc L14, có diện tích 5

ha, với kỹ thuật che phủ nilon năng suất đạt 2,0 - 2,4 tạ/ha [3]

Trang 13

Giống lạc L20 là giống nhập nội từ Trung Quốc (QĐ5), được chọn lọc từ tổhợp lai BG78 x FRS5 bằng phương pháp quần thể Viện khoa học kỹ thuật nôngnghiệp Bắc Trung Bộ đã kết hợp với Trung tâm đậu đỗ nghiên cứu thành công vàđược công nhận là giống tiến bộ khoa học kỹ thuật Thời gian sinh trưởng 115 - 120ngày vụ Đông Xuân, 100 - 110 ngày trong vụ Thu Đông Năng suất trung bình đạt

36 - 38 tạ/ha, thâm canh cao đạt 42 tạ/ha [19]

Trong vụ sản xuất đông xuân 2006 - 2007 Trung tâm khuyến nông - Khuyếnlâm Hà Tĩnh đã phối hợp với Trung tâm nghiên cứu và thực nghiệm đậu đỗ - ViệnKHNN Việt Nam đã tổ chức đề tài khảo nghiệm một số giống lạc mới, gồm: L16,L23, L24 và lấy giống L14 làm đối chứng Đề tài được tiến hành khảo nghiệm tạiPhường Thạch Quý - Thị xã Hà Tĩnh Qua đánh giá thực tế tại cho thấy, đây lànhững giống có tiềm năng và năng suất cao phẩm chất tốt Năng suất của giống nhưsau: L16 đạt 332 kg/sào, tăng so với giống đối chứng 22 kg/sào, L23 đạt 330 kg/sàotăng so với đối chứng 20 kg/sào, L24 đạt 270 kg/sào, thấp hơn so với đối chứng Từkết quả trên cho thấy giống lạc L16 có hiệu quả kinh tế cao hơn so với đối chứng

Để tiếp tục đánh giá những ưu nhược điểm của các giống lạc Trung tâm Khuyếnnông - Khuyến lâm tiếp tục khảo nghiệm các giống trên để có kết luận chính xácnhằm sớm đưa vào sản xuất đại trà [3]

Vụ lạc xuân 2008, Trung tâm Chuyển giao KHCN huyện Hương Sơn đã xâydựng mô hình trồng lạc che phủ nilon tại xã Sơn Trung với các loại giống: L08, L14,L23, L24, có thời gian sinh trưởng khoảng 100 ngày Năng suất L08 và L14 ước đạt

210 - 220 kg/sào; L23 và L24 ước đạt 270 - 280 kg/sào Nhìn chung, các giống lạcđưa vào khảo nghiệm cho năng suất cao, chống chịu sâu bệnh khá, thích ứng vớiđiều kiện tự nhiên của địa phương [17]

1.3.2 Kết quả nghiên cứu về vấn đề sinh lý, sinh trưởng với năng suất lạc

Riêng ở Việt Nam, đã bắt đầu nghiên cứu một số vấn đề về cây lạc như:Yêu cầu điều kiện ngoại cảnh cụ thể (nước, phân, thời vụ, kỹ thuật trồng và chămsóc,…); Chọn tạo giống thích hợp cho từng vùng, từng vụ sản xuất; nghiên cứu,đánh giá, thu thập và bước đầu đi đến sử dụng có hiệu quả nguồn gen; triển vọng

Trang 14

phát triển trong giai đoạn tới; hệ số sử dụng quang năng, hiệu suất quang hợp và

sự hình thành năng suất,… [11]

Các nội dung nghiên cứu trên nhằm phục vụ cho việc thâm canh mở rộngdiện tích cũng như nâng cao năng suất lạc ở nước ta và đã thu hút sự quan tâmcủa nhiều nhà khoa học có tên tuổi như: Đào Thế Tuấn, Trần Đình Long, NgôThế Dân, Lê Song Dự, Trần Văn Lài,… Nhưng cho đến nay, nghiên cứu về đặcđiểm sinh lý, sinh trưởng ảnh hưởng đến năng suất lạc còn rất hạn chế và đang ởgiai đoạn bước đầu

Từ những năm 1960s trở về sau, các nghiên cứu về chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng

và năng suất đã được chú ý, nhờ sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ sinh học,hướng nghiên cứu này không những được củng cố về cơ sở lý luận mà còn mở ranhiều triển vọng mới Thời gian diện tích lá và hiệu suất quang hợp tuy không liênquan trực tiếp đến năng suất nhưng lại ảnh hưởng đến hàng loạt tính trạng có liênquan Nhiều nghiên cứu đang tìm kiếm các mô hình về sự liên quan giữa các chỉ tiêusinh lý, sinh trưởng của cây đậu - trong đó có cây lạc - với năng suất của chúng [9]

Sự sinh trưởng, phát triển của cây lạc ở thời kỳ sau ra hoa đến hình thànhquả, hạt là thời kỳ thân cành phát triển mạnh, đồng thời cũng là thời kỳ diện tích

lá phát triển nhanh nhất Diện tích lá đạt cao nhất thường vào thời kỳ hình thànhquả - hạt (30 - 35 ngày sau khi có hoa), sau đó giảm dần do sự rụng của các lágià Chỉ số diện tích lá lạc cao nhất đạt được vào thời kỳ hình thành quả và hạt(Nguyễn Thế Côn,1981) [12]

Vũ Văn Nhân (1992) khi nghiên cứu ảnh hưởng của nguyên tố Zn đến sựphát triển và tích lũy chất khô của lạc, thấy hàm lượng Chlorophyll trong lá ởcông thức được phun Zn tăng từ 14,3 - 25,4% so với đối chứng, tuổi thọ của ládài hơn, lạc phát triển tốt, trọng lượng cây và năng suất quả cao hơn [20]

Theo Nguyễn Tấn Lê (1992) khi xử lý Mo, B và Na2SO3 đã làm tăng cường độquang hợp lên 13,0% - 29,8% so với đối chứng Bên cạnh đó hàm lượng diệp lục, khảnăng tích luỹ sinh khối, năng suất, phẩm chất hạt cũng được tăng lên đáng kể [1]

Trang 15

Việc tăng hệ số diện tích lá có lợi cho quang hợp và tích luỹ chất khô, song trênthực tế phải lưu ý đến các điều kiện khác để xác định hệ số diện tích lá phù hợp [7].

1.4 Những vấn đề còn tồn tại và những vấn đề mà đề tài luận văn tập trung nghiên cứu, giải quyết

Những kết quả nghiên cứu theo hướng này đều thống nhất cho rằng quanghợp chính là những chỉ tiêu sinh lý quan trọng đối với sự tạo thành năng suất cây lạc.Chúng ta cần phải xây dựng được mô hình về kết cấu của tán lá ruộng lạc, chỉ số diệntích lá tối thích, cây cao vừa phải, cường độ quang hợp và hiệu suất quang hợp tốt, bằngcách chọn giống tốt phù hợp với từng điều kiện sinh thái Một ruộng lạc như vậy làthuận lợi cho quá trình quang hợp tạo chất khô và năng suất thực thu của chúng

Trong điều kiện khí hậu, đất đai nước ta nói chung, miền Trung và Hà Tĩnhnói riêng thì chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng nào quyết định đến năng suất cây lạc?Giải quyết vấn đề này sẽ góp phần vào cơ sở lý luận và thực tiễn cho các biệnpháp kỹ thuật tăng năng suất lạc ở nước ta mà chưa có một kết quả nghiên cứunào trong nước đề cập đến một cách cụ thể Đồng thời, để phần lớn sản phẩmđồng hoá được tích luỹ ở những bộ phận có ý nghĩa kinh tế thì việc nghiên cứu

để điều khiển mối quan hệ giữa nguồn và vật chứa của các giống trong từng điềukiện sản xuất là hướng nghiên cứu đáng được quan tâm Riêng đối với đề tài,nghiên cứu mối tương quan giữa các chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng với năng suấtthực thu để tìm được các chỉ tiêu chỉ đạo ảnh hưởng tới năng suất từ đó, tìm đượcnhững biện pháp tác động thích hợp vào mối quan hệ này sẽ làm thay đổi đáng kểcác chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng và năng suất cây lạc

Trang 16

CHƯƠNG II VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học

2.1.1 Các khái niệm

Năng suất cây lạc cũng như cây trồng nói chung phụ thuộc vào các yếu tố

cơ bản sau đây:

- Nguồn: Là lượng chất đồng hóa do quang hợp tạo ra, nó phụ thuộc vàoquá trình tạo bộ máy quang hợp (hàm lượng diệp lục, diện tích lá, ), khả năngquang hợp tạo ra chất khô của cây (thời gian diện tích lá, chất lượng lá, )

- Vật chứa: Là số lượng và độ lớn của các cơ quan có khả năng chứa cácchất đồng hóa để tạo năng suất Ở cây lạc, vật chứa là số quả trên cây, số quảchắc trên cây và khả năng tích lũy chất hữu cơ của chúng

- Vận chuyển và tích lũy: Là quá trình chuyển vật chất từ nguồn về vật chứa(từ lá về quả, hạt) hay giữ lại ở các cơ quan sinh dưỡng (thân, lá, quả non) [2]

2.1.2 Giả thuyết khoa học

Tìm được giống lạc mới phù hợp với điều kiện ngoại cảnh ở xã ThạchChâu – Lộc Hà cho năng suất cao, phẩm chất tốt, để có thể áp dụng vào thực tiễnsản xuất, nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế, tăng thu nhập cho nông dân

Xác định được một số chỉ tiêu sinh lý của cây lạc ảnh hưởng đến năngsuất từ đó áp dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác để tăng năng suất cây lạc

2.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu

Đề tài được bố trí trên nền đất cát pha tại xã Thạch Châu, huyện Lộc Hà,tỉnh Hà Tĩnh

Phòng phân tích bộ môn Nông học, Khoa Nông lâm ngư, Đại học Vinh.Các thí nghiệm được tiến hành trong vụ Xuân năm 2008 (03/08 - 07/08)

2.3 Vật liệu nghiên cứu

- Sử dụng 5 giống lạc: L14, L16, L20, L24, QĐ12 Nguồn gốc của cácgiống lạc được tóm tắt ở bảng sau:

Bảng tóm tắt nguồn gốc và một số đặc điểm chính của 5 giống lạc nghiên cứu.

Trang 17

Giống Nguồn gốc Đặc điểm

L14

(Đ/ch)

Do trung tâm nghiên cứu và

phát triển đậu đỗ (Viện cây

lương thực và cây thực

phẩm) chọn lọc từ tập đoàn

nhập nội năm 2001

- Dạng hình thực vật Spanish, thân đứng, tán gọn, chống đổ tốt, lá xanh đậm, sinh trưởng khỏe, ra hoa kết quả tập trung

- Quả có gân rõ, hạt có vỏ lụa màu hồng,chiều cao thân chính 40 – 50 cm

- Khả năng chống chịu hạn, úng, sâu bệnh khá

L16

Do trung tâm Nghiên cứu và

phát triển đậu đỗ (Viện cây

ra hoa kết quả tập trung

- Quả không có gân, hạt có vỏ lụa màuhồng cánh sen, chiều cao thân chính từ

40 – 60 cm

- Kháng bệnh lá (đốm nâu, đốm đen, rỉ sắt)

L20

Viện khoa học kỹ thuật nông

nghiệp Bắc Trung Bộ tuyển

Do trung tâm Nghiên cứu và

phát triển đậu đỗ (Viện cây

lương thực và cây thực

phẩm) tuyển chọn từ tập

đoàn nhập nội năm 2001

- Dạng hình thực vật Spanish, thân đứng, tán gọn, chống đổ tốt, lá xanh đậm, sinh trưởng khỏe, ra hoa kêt quả tập trung

- Kháng bệnh lá (đốm nâu, đốm đen, rỉ sắt)

- Quả có gân mờ, hạt có vỏ lụa màu hồng, chiều dài thân chính từ 40 – 50 cm QĐ12 Do trung tâm nghiên cứu và

phát triển đậu đỗ (Viện cây

Trang 18

chọn lọc từ tập đoàn nhập nội

của Trung Quốc

- Quả có gân rõ, hạt có vỏ lụa màu hồng

- Khả năng kháng sâu bệnh khá

- Đất cát pha tại xã Thạch Châu - Lộc Hà - Hà Tĩnh

- Phân vô cơ và hữu cơ, nilon,

Gieo hạt xong tiến hành che phủ nilon cho lạc

Dải bảo vệ

Trang 19

* Kỹ thuật che phủ nilon: Sau khi phun thuốc trừ cỏ lên bề mặt luống Tiếnhành căng phẳng nilon trên mặt luống, dùng cuốc gạt nhẹ đất ở 2 mép luống về phíarãnh để cố định nilon Khi lạc mọc, dùng dụng cụ đục lỗ đục nilon cho lạc lên.Dụng cụ đục lỗ (ống bơ sữa bò được cắt hình răng cưa).

2.4.3 Phương pháp nghiên cứu trên đồng ruộng

* Xác định thời gian sinh trưởng (ngày):

Theo dõi và quan sát sự sinh trưởng, phát triển của các giống lạc trên đồng ruộng để xác định thời gian sinh trưởng của cây ở các thời kỳ Mỗi thời kỳ được xác định như sau:

- Thời gian từ khi gieo hạt đến nảy mầm tối đa: từ 70% số cây trên ô có lá mầm trồi lên mặt đất

- Thời gian từ gieo hạt đến phân cặp cành cấp 1 đầu tiên: khi các cành này

có chiều dài chừng 1cm ở nách lá mầm

- Thời gian từ gieo hạt đến bắt đầu nở hoa: 10% số cây/ô có hoa

- Thời gian từ gieo hạt đến ra hoa rộ: 80% tổng số cây/ô có hoa

- Thời gian từ gieo hạt đến đâm tia: 10% tổng số cây/ô đâm tia

- Thời gian từ gieo hạt đến có quả non: 10% tổng số cây/ô có quả non

- Thời gian từ gieo hạt đến bắt đầu có quả già: 10% tổng số cây/ô có quả già.

- Thời gian từ gieo đến thu hoạch: Nhổ 5 cây lấy số quả tính tỷ lệ quả kinh

tế (quả già + quả bánh tẻ) trên tổng số 5 cây Khi tỷ lệ quả kinh tế đạt 85% tổng

số quả là lạc đúng độ chín cần thu hoạch

Trang 20

* Xác định tổng thời gian sinh trưởng (ngày):

Dựa vào số liệu của các thời kỳ sinh trưởng phát triển của cây thu được ởtrên để xác định tổng thời gian sinh trưởng của cây: là tổng số ngày tính từ ngàygieo hạt đến ngày thu hoạch

* Xác định chiều cao trên thân chính (cm/cây):

- Cách lấy mẫu: Mỗi giống có 3 lần nhắc lại (3 ô thí nghiệm) Trên mỗi ô thínghiệm tiến hành đo 10 cây ở 2 vị trí, mỗi vị trí lấy 5 cây ngẫu nhiên liên tục trênmột hàng và được cắm que đánh dấu phân biệt với các cây không lấy làm mẫu

- Phương pháp xác định: Sử dụng thước đo mm, đặt ngay đốt lá mầm và

vuốt cây lên đến đỉnh sinh trưởng, đọc và ghi kết quả (cm)

đo 1 lần đến khi thu hoạch

* Xác định số lá trên thân chính (lá/cây):

- Cách lấy mẫu: Xác định số lá trên thân chính từ các cây đã đánh dấu trước,mỗi ô theo dõi 10 cây

- Phương pháp xác định: Đếm số lá trên thân chính của các cây đã đo chiềucao theo định kỳ

* Theo dõi khả năng chống chịu với một số sâu bệnh hại chính

- Sâu hại chính: Sâu xanh, sâu xám…

Theo dõi 5 điểm đường chéo, mỗi điểm 10 cây Xác định mật độ của sâuhại ở các thời kỳ sinh trưởng phát triển của lạc

- Bệnh hại chính: Bệnh đốm lá, gỉ sắt, thối gốc mốc trắng…

Theo dõi 5 điểm đường chéo, mỗi điểm 10 cây, xác định mức độ bị hại củatừng giống đối với một số bệnh hại chính Xác định phần trăm diện tích lá cây bịhại và đánh giá theo cấp bệnh của ICRISAT

Trang 21

Đánh giá bệnh hại lá lạc qua thang bệnh 9 điểm của ICRISAT

Điểm

Phần trămdiện tích lá bihại

2.4.4 Phương pháp nghiên cứu trong phòng thí nghiệm

* Xác định diện tích lá (LA: dm2/cây):

- Cách lấy mẫu: Mỗi giống nhổ ngẫu nhiên 5 cây liên tiếp/ô thí nghiệm củamỗi lần nhắc lại Nhổ những cây không cắm que đánh dấu để đo chiều cao cây

- Phương pháp xác định: Sử dụng máy đo diện tích lá CI - 202

Sau khi lấy mẫu về ta để ráo nước và tách toàn bộ lá ra khỏi thân rồi lầnlượt đặt lá lên máy đo diện tích lá để xác định diện tích lá, nhắc lại 2 lần

* Xác định chỉ số diện tích lá (LAI: m2 lá/m2 đất):

Chỉ số diện tích lá (LAI) được xác định theo công thức:

LAI = Diện tích lá bình quân/cây (m2) × Số cây/1m2

* Xác định thời gian diện tích lá (dm2 lá/cây số ngày):

Thời gian diện tích lá được xác định theo công thức sau:

Trang 22

T: Là thời gian giữa hai lần lấy mẫu (ngày).

* Xác định hiệu suất quang hợp (NAR: g/m2/ngày):

Hiệu suất quang hợp được tính theo công thức của Brigơ (1929), Bagiesv (1953) và Nhisiporovich (1956) [18]

S1, S2: Là diện tích lá tương ứng với W1 và W2

T: Là số ngày giữa hai lần lấy mẫu

* Xác định khả năng tích lũy chất khô (gam/cây):

- Cách lấy mẫu: Sử dụng mẫu đã xác định chỉ số diện tích lá ở trên

- Phương pháp xác định: Sử dụng phương pháp sấy khô

Cây mẫu sau khi ngắt riêng phần lá để đo chỉ số diện tích lá cho toàn bộ vàotúi đựng mẫu riêng biệt cho mỗi cây (túi đựng mẫu làm bằng giấy xi măng hoặcgiấy báo có tác dụng hút ẩm để tránh hút ẩm trở lại sau khi sấy khô) Các túi đựngmẫu này được ký hiệu để phân biệt nhau, sau đó xếp các túi mẫu vào tủ sấy Lúcđầu cho nhiệt độ tủ lên đến 1050C trong khoảng 15 phút để diệt men Sau đó, mở

tủ sấy, hạ nhiệt độ xuống 600C, đóng cửa tủ sấy và sấy đến khi trọng lượng khôngđổi, đem cân và xác định được trọng lượng khô của mỗi cây mẫu (gam/cây)

Trang 23

Bước 1: Cân (P = 0,1g) mẫu lá (lá bánh tẻ) lạc tươi vào lúc 8 giờ sáng, rửa sạch lau khô.

Bước 2: Cắt nhỏ mẫu lá đó ra

Bước 3: Dùng cối sứ nghiền nát lá (cho thêm một ít CaCO3 để trung hòa hếtacid tự do trong lá) và thêm một ít Axeton

Bước 4: Dùng Axeton 100% chiết diệp lục, dịch chiết được lọc qua giấy lọc.Bước 5: Cho dịch lỏng vào bình định mức 20 ml (cho thêm Axeton 100%

Ca, Cb, Ca+b, CCarotenoid lần lượt là nồng độ của diệp lục a, b, diệp lục tổng số (a+b), Carotenoid (mg sắc tố/l dung dịch)

A: Hàm lượng sắc tố (mg sắc tố/g lá)

C: Nồng độ sắc tố (mg sắc tố/l dung dịch)

V: Thể tích dung dịch chiết (ml)

P: Trọng lượng lá (g)

* Các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất

- Phương pháp lấy mẫu: Mỗi công thức thí nghiệm lấy 10 cây Nhổ và buộc thành từng bó có ghi nhãn giống

- Phương pháp xác định:

Trang 24

+ Đếm tổng số cành cấp một, cấp hai trên cây.

+ Đếm tổng số quả trên cây

+ Đếm số quả chắc trên cây, cân khối lượng tươi của quả

+ Đếm số quả lửng trên cây; Đếm số quả lép trên cây

+ Cân khối lượng 100 quả, khối lượng 100 hạt

+ Tính tỷ lệ nhân: cân khối lượng 100 quả khô, bóc vỏ lấy nhân cân khối lượng tính ra tỷ lệ nhân:

P nhân

Tỷ lệ nhân (%) = × 100

P quả

* Xác định năng suất (tạ/ha):

- Phương pháp lấy mẫu: Toàn bộ quả của mỗi giống lạc sau khi chín được thu hoạch về, phơi khô riêng biệt, tránh không để lẫn lộn

- Phương pháp xác định:

Năng suất cá thể: Cân khối lượng quả chắc, khô của 10 cây lấy trung bình.Năng suất lý thuyết: NSLT (tạ/ha) = Năng suất cá thể × Số cây/m2 × 10.000 Năng suất thực thu: Là năng suất quả chắc thực tế thu được trên đồng ruộng

bỏ qua quả lép và non phơi khô kỹ (Cân khối lượng toàn bộ các cây/ô kể cả quả của 10 cây mẫu) và tính bằng công thức sau:

Năng suất/ô thí nghiệm

2.6 Điều kiện vụ xuân 2008

Thời tiết khí hậu là yếu tố ảnh hưởng lớn đến năng suất nông nghiệp nói chung

và sản xuất giống nói riêng Nó là một trong những yếu tố quan trọng để bố trí thời

vụ, điều kiện thời tiết là chỉ tiêu đánh giá ảnh hưởng đến đời sống của cây lạc

Trang 25

Sản xuất Đông Xuân 2007- 2008 ở Hà Tĩnh triển khai trong điều kiện thời tiết rét đậm, rét hại kéo dài 38 ngày (từ 14/1 đến 22/2/08) ở đầu vụ nên gieo trỉa muộn nên thời điểm thu hoạch muộn hơn 15 - 20 ngày so với lịch thời vụ Tuy nhiên, trong thời gian tiến hành thí nghiệm thì có điều kiện khí hậu khá thuận lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của cây lạc.

Diễn biến khí hậu ở Hà Tĩnh các tháng thí nghiệm thể hiện ở bảng sau:Bảng thời tiết khí hậu từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2008 tại Hà Tĩnh

Tháng

Nhiệt độ không khí ( 0 C)

Độ ẩm (%)

Nắng (Giờ)

Lượng mưa (mm)

Số ngày mưa

Trạm khí tượng thủy văn Hà Tĩnh.

Qua bảng số liệu trên, đối chiếu với các thời gian sinh trưởng của cây lạc thínghiệm chúng tôi nhận xét rằng:

Về nhiệt độ: nhiệt độ tăng dần từ tháng 3 đến táng 6 là điều kiện thuận lợicho cây lạc sinh trưởng và phát triển Đầu tháng 3, khi bắt đầu gieo trồng nhiệt

độ xuống 18,60C gây ảnh hưởng đến quá trình nảy mầm của hạt nhưng trong thínghiệm sử dụng biện pháp che phủ nilon đảm bảo được độ ẩm giúp các giống lạcnảy mầm nhanh và đều

Về lượng mưa và độ ẩm: Lượng mưa ở tháng 3, 4 không lớn lớn lắm Khicây vào thời kỳ ra hoa rộ, vào đầu tháng 5 lượng mưa lên tới 172,9 mm Đây làthời kỳ cây có nhu cầu nước lớn để thực hiện các quá trình sinh lý, tạo năng suấtthực thu Vì vậy, rất thuận lợi cho quá trình ra hoa, tạo quả của cây

Số giờ nắng ở các tháng 4, 5, 6 tương đối phù hợp cho cây lạc thực hiện quang hợp tạo chất khô, giúp cây sinh trưởng và phát triển thuận lợi

Trang 26

CHƯƠNG III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Kết quả nghiên cứu về chỉ tiêu sinh trưởng

3.1.1 Thời gian sinh trưởng, phát triển của các giống lạc

Thời gian sinh trưởng là đặc tính của giống nhưng cũng bị biến động theomùa vụ và các yếu tố kỹ thuật tác động Trong đời sống của mình, cây lạc trảiqua hai thời kỳ sinh trưởng chính là thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng và thời kỳsinh trưởng sinh thực Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng là thời kỳ kiến thiết cơbản của cây lạc còn thời kỳ sinh trưởng sinh thực quyết định trực tiếp đến năngsuất cá thể và năng suất cuối cùng của ruộng lạc Do đó, nghiên cứu thời giansinh trưởng và phát triển của cây lạc có ý nghĩa rất lớn trong việc xác định thời

vụ trồng lạc hợp lý cho từng vùng để phù hợp với cơ cấu cây trồng trong năm.Kết quả theo dõi thí nghiệm thu được ở bảng sau:

Bảng 3.1 Thời gian hoàn thành một số thời kỳ sinh trưởng, phát triển chủ

yếu của các giống lạc nghiên cứu Đơn vị: Ngày

Qua bảng số liệu 3.1 cho thấy, thời kỳ từ gieo hạt đến thời kỳ mọc do thínghiệm được bố trí gieo trồng khi điều kiện thời tiết ấm áp và sử dụng biện phápche phủ nilon đảm bảo được độ ẩm giúp các giống lạc nảy mầm nhanh và đềusau 8 - 9 ngày

Thời kỳ bắt đầu ra cành cấp 1, không có sự sai khác về thời gian giữa cácgiống là mấy Ở thời kỳ này có thời gian từ khi hạt nảy mầm đến thời kỳ bắt đầu

Trang 27

ra cành cấp 1 của các giống dao động từ 14 - 16 ngày Trong đó, 3 giống ngắnnhất là L14, L20 và QĐ12 (14 ngày), sau đó là giống L16 và L24 (15 ngày) Thời gian từ khi hạt nảy mầm đến thời kỳ chớm hoa của các giống dao động

31 - 33 ngày Trong đó, giống có thời gian ngắn nhất là QĐ12 (31 ngày), rồi đếnL16, L24 (32 ngày) và cuối cùng là 2 giống L14 và L20 (33 ngày)

Đến thời kỳ ra hoa rộ, chưa có sự sai khác so với công thức đối chứng Thờigian từ khi hạt nảy mầm đến ra hoa rộ của các giống dao động 36 - 40 ngày Trong

đó, giống có thời gian ngắn nhất là QĐ12 (36 ngày), sau đó là 2 giống L14 và L24(37 ngày), rồi đến giống L20 (38 ngày) và dài nhất là giống L16 (40 ngày)

Đến thời kỳ đâm tia, đã có sự sai khác rõ hơn về thời gian giữa các giống GiốngL20 và QĐ12 chưa có sự sai khác so với giống L14 đối chứng (46 ngày) song cả bađều có thời gian sai khác với L24 (49 ngày) và L16 (50 ngày) Thời gian từ khi hạtnảy mầm đến ra thời kỳ đâm tia của các giống dao động 46 - 50 ngày Giống L14,L20 và QĐ12 không có sự khác biệt nhau ở thời kỳ này nhưng giống L16 và L24 cóthời gian đâm tia chậm hơn Trong đó, ngắn nhất là 3 giống L14, L20 và QĐ12 (46ngày), sau đó là giống L24 (49 ngày) và dài nhất là giống L16 (50 ngày)

Thời gian từ khi hạt nảy mầm đến ra thời kỳ bắt đầu có quả non của cácgiống dao động 66 - 70 ngày Trong đó, giống có thời gian ngắn nhất là L14 đốichứng (66 ngày), giống QĐ12 (67 ngày), rồi đến giống L20 (68 ngày), L24 (69ngày) và dài nhất là giống L16 (70 ngày)

Thời gian từ khi hạt nảy mầm đến ra thời kỳ bắt đầu có quả già của cácgiống dao động 92 - 95 ngày Trong đó, giống có thời gian ngắn nhất là L14 và QĐ12 (92ngày), L20 (93 ngày), L24 (94 ngày) và cuối cùng là giống L16 (95 ngày)

Tổng thời gian sinh trưởng, phát triển của các giống lạc biến động từ 106

-111 ngày Trong đó, 2 giống có tổng thời gian sinh trưởng ngắn nhất là giốngL14 đối chứng và giống QĐ12 (106 ngày), tiếp đến là giống L20 (108 ngày), L24(109 ngày) và giống có thời gian sinh trưởng dài nhất là giống L16 (110 ngày).Vậy các giống lạc khác nhau thì có thời gian sinh trưởng, phát triển khác nhau

Có sự khác nhau đó chủ yếu là do đặc điểm di truyền của từng giống quyết định Tuy

Trang 28

nhiên, thời gian các giai đoạn của các giống lạc không có sự khác nhau nhiều Tổngthời gian sinh trưởng, phát triển của các giống lạc biến động từ 106 - 111 ngàycho thấy các giống đều phù hợp với vụ xuân ở Hà Tĩnh.

3.1.2 Sinh trưởng chiều cao cây

Chiều cao cây là một trong những chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năngsinh trưởng, phát triển và cho năng suất của cây sau này Thân chính sinh trưởng tốt

sẽ là tiền đề cho các bộ phận khác phát triển tốt đặc biệt là sự phát triển của cành và

lá Mặt khác, nó còn phản ánh khả năng tổng hợp và tích luỹ chất khô trong cây

Ở cây lạc, sự tăng trưởng chiều cao cây chính là kết quả của sự tăng trưởng củathân từ khi cây lạc nảy mầm đến khi thu hoạch Theo dõi sự tăng trưởng chiều caothân chính của 5 giống lạc qua các thời kỳ thu được kết quả ở bảng sau:

Bảng 3.2 Chiều cao thân chính bình quân qua một số thời kỳ sinh trưởng,

phát triển chủ yếu của các giống lạc nghiên cứu

Đơn vị: cm

TKSTPT

Giống

BĐ ra cành C1

Chớm hoa Hoa rộ Đâm tia Quả non

BĐ có quả già

Trang 29

Thời kỳ chớm hoa, chiều cao cây dao động 5,27cm (giống L16) đến 7,32cm(giống QĐ12) Ở thời kỳ này, các giống không có sự sai khác lớn mức có ý nghĩa

về chiều cao

Nhưng đến thời kỳ ra hoa rộ, chiều cao giữa các công thức đã có sự chênhlệch nhau khá rõ rệt Chiều cao cây của 5 giống ở thời kỳ này dao động từ 9,85cm -17,77cm Giống có chiều cao cây trội hơn hẳn là giống QĐ12 (17,77cm) và thấp nhất

là giống L24 (9,85cm) Lúc này, do bộ rễ đã phát triển hoàn chỉnh, hiệu quả hoạt độngcủa vi khuẩn nốt sần cao, diện tích lá tăng nhanh, tạo chất khô nhiều nên có mức tăngtrưởng chiều cao lớn hơn hai thời kỳ trước Sinh trưởng tốt vào giai đoạn này là bướcchuẩn bị tiềm lực cho sinh trưởng, phát triển ở thời kỳ tiếp theo để đạt năng suất cao.Vào thời kỳ đâm tia, chiều cao của các giống dao động 17,91cm - 29,04cm

Ở thời kỳ này, hoạt động sinh lý mạnh mẽ nhất đồng thời diễn ra hai hoạt động sinhtrưởng dinh dưỡng (tích luỹ khá cao, diện tích lá lớn) và hoạt động sinh trưởng sinhthực nên tốc độ tăng trưởng chiều cao rất nhanh, đặc biệt giống QĐ12 (29,04cm), đếngiống L20 (27,15cm), sau đó là giống L16 (23,28cm), L14 đối chứng (19,37cm) vàgiống thấp nhất là L24 (17,91cm) Sự sai khác của các công thức đều ở mức có ýnghĩa trong đó giống có sự sai khác nhất so với giống đối chứng là QĐ12

Vào thời kỳ quả non, chiều cao của các giống dao động 30cm - 36,90cm.Hai giống có chiều cao thân chính lớn nhất là L20 (36,90cm) và QĐ12(36,29cm) Giống có chiều cao cây thấp nhất là L24 (30cm) chưa có sự sai khác

so với L14 đối chứng song cả hai đều biểu hiện sự sai khác với ba giống còn lại Thời kỳ bắt đầu có quả già, quá trình tăng trưởng chều cao cây cũng như sựphát triển của cành lá trên cây giảm xuống do cây lạc chủ yếu tập trung dinhdưỡng tích lũy vào hạt Chiều cao thân chính của các giống nằm trong khoảng32,35cm (giống L14 đối chứng) đến 39,72cm (giống L20)

Sự tăng trưởng chiều cao cây qua các thời kỳ sinh trưởng, phát triển củacác giống lạc được thể hiện rõ qua biểu đồ 3.1

Trang 30

Chớm hoa Hoa rộ Đâm tia Quả non BĐ có quả

Biểu đồ 3.1 Chiều cao thân chính bình quân qua một số thời kỳ sinh

trưởng, phát triển chủ yếu của các giống lạc nghiên cứu

Vậy chiều cao thân tăng dần trong các thời kỳ sinh trưởng, phát triển và ổnđịnh dần từ thời kỳ có quả non trở đi Nhưng nhìn chung, tốc độ tăng trưởngchiều cao thân của 3 giống lạc L16, L20, QĐ12 nhanh hơn 2 giống L14 đốichứng và L24 Có sự khác nhau về chiều cao thân chính đó phụ thuộc vào đặctính di truyền của các giống Nguyên nhân ba giống lạc L16, L20 và QĐ12 caohơn hai giống L14 và L24 một phần vì ba giống lạc giống lạc này có dạng thânnửa đứng nên cây có thể tận dụng khoảng không gian tốt hơn so với các giống

có dạng cây đứng như L14, L24

Ngoài đặc tính di truyền, cây lạc còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố ngoại cảnhđặc biệt là thời vụ và chế độ canh tác Do đó, chúng ta cần phải có biện phápthích hợp để làm cho sự tăng trưởng chiều cao cây một cách đồng đều, làm choruộng lạc phát triển cân đối góp phần tăng năng suất cây lạc

3.1.3 Sinh trưởng chiều dài cành cấp một

Ở cây lạc, cành là bộ phận cấu tạo nên hình dạng, khung tán của cây đồngthời nó liên quan trực tiếp đến số quả trên cây Tỷ lệ hoa hữu hiệu cho quả chủyếu ở tầng cành thứ nhất chiếm 50 - 70% và tầng cành thứ hai chiếm 20 - 30%

Trang 31

Cành lạc phát triển mạnh hay yếu, số lượng nhiều hay ít là do yếu tố di truyềncủa giống quyết định Tuy nhiên, nó còn phụ thuộc vào các vùng sinh thái khácnhau, kỹ thuật chăm sóc, Các cành này sinh trưởng tốt sẽ là tiền đề tạo ra nhiềuquả trên cây

Qua quá trình theo dõi sự tăng trưởng về chiều dài cành lạc ở các giống,chúng tôi có kết quả thu được ở bảng sau:

Bảng 3.3 Chiều dài cành cấp một qua một số thời kỳ sinh trưởng, phát triển

chủ yếu của các giống lạc nghiên cứu

Đơn vị: cm

TKSTPT

Giống

BĐ ra cành C1

Chớm hoa Hoa rộ

Đâm tia

Quả non

BĐ có quả già

Đến thời kỳ ra hoa rộ, chiều dài cành cấp 1 ở giống QĐ12 đã có sự sai khác

so với công thức đối chứng và sai khác rõ rệt với L24 Ở thời kỳ này, chiều dàicành cấp 1 của các giống dao động 10,12 – 18,97cm Giống có chiều dài cànhcấp 1 cao nhất là QĐ12 (18,97cm), tiếp đến là L20 (16,18cm), 2 giống L16 vàL24 không có sự sai khác so với giống đối chứng L14

Thời kỳ đâm tia, chiều dài cành cấp 1 của các giống dao động 20 – 31,06cm.Giống có chiều dài cành cấp 1 cao nhất là QĐ12 (31,06cm) Giống có chiều dài thấpnhất và không có sự sai khác lớn so với giống đối chứng là L24 (20cm)

Trang 32

Từ thời kỳ quả non đến bắt đầu có quả già nhìn chung tốc độ tăng trưởngchiều dài cành cấp 1 chậm lại so với các thời kỳ trước Khả năng sinh trưởngcành cấp 1 tốt nhất là giống L16 đến L20, trung bình là QĐ12 và thấp nhất là 2giống L24 và L14 (đối chứng).

Để thấy rõ hơn tốc độ tăng trưởng thân chính qua các thời kỳ khác nhau củacác giống lạc được thể hiện ở biểu đồ sau:

Chớm hoa

Biểu đồ 3.2 Chiều dài cành cấp một qua một số thời kỳ sinh trưởng, phát

triển chủ yếu của các giống lạc nghiên cứu

Vậy chiều dài cành cấp một tăng dần trong từng thời kỳ sinh trưởng, pháttriển của cây lạc và ổn định dần từ giai đoạn quả non Ở mỗi thời kỳ, các giốnglạc khác nhau trong cùng một điều kiện canh tác có chiều dài cành cấp một khácnhau và sự đồng đều giữa các giống cũng khác nhau Sự khác nhau này phụthuộc vào đặc tính di truyền của giống một cách mạnh mẽ

3.1.4 Động thái ra lá trên thân chính

Lá là cơ quan quang hợp tổng hợp chất hữu cơ, thoát hơi nước và là nơi xảy

ra nhiều quá trình sinh lý, sinh hóa khác Việc nghiên cứu các chỉ tiêu về lá làkhông thể xem nhẹ ở bất kỳ mọi loại cây trồng và mọi thời kỳ sinh trưởng, pháttriển của cây [10] Cùng với tăng trưởng chiều cao cây là sự gia tăng về số lá trênthân chính, khi chiều cao ngừng tăng trưởng thì số lá cũng ngừng tăng trưởng

Trang 33

theo Như vậy, với chức năng quang hợp số lá trên thân chính có mối liên quanvới chiều cao cây và đều ảnh hưởng đến sự tích lũy chất khô của cây và có liênquan trực tiếp đến năng suất, chất lượng giống lạc

Tốc độ ra lá và số lá trên thân chính phần lớn là do đặc tính di truyền củagiống quyết định Song, để cây lạc đạt đến số lá tối đa của giống ngoài đặc tính

di truyền, cây lạc còn phụ thuộc nhiều vào yếu tố ngoại cảnh đặc biệt là thời vụ

và chế độ canh tác

Theo dõi sự phát triển số lá trên thân chính chúng tôi thu được kết quả ởbảng 3.4 như sau:

Bảng 3.4 Động thái ra lá trên thân chính qua một số thời kỳ sinh trưởng,

phát triển chủ yếu của các giống lạc nghiên cứu

Đơn vị: Số lá/thân chính

TKSTPT

Giống

BĐ ra cành C1 Chớm hoa Hoa rộ Đâm tia Quả non

BĐ có quả già

bộ rễ cây phát triển chưa hoàn thiện, quá trình quang hợp diễn ra còn yếu do đó

sự hình thành và tăng trưởng số lá trên thân chính của lạc ở thời kỳ này còn thấp

Số lá của các giống dao động trong khoảng 3,50 - 4,07 lá/thân chính Giống có số

lá lớn nhất là QĐ12 (4,07 lá/thân chính) và giống có số lá thấp nhất là L14 (3,50lá/thân chính) Các giống L16, L20 và L24 không có sự sai khác ở mức ý nghĩavới giống đối chứng L14

Ngày đăng: 22/12/2013, 12:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ bố trí thí nghiệm như sau: - Khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm sinh lý, sinh trưởng và năng suất của một số giống lạc vụ xuân 2008 tại hà tĩnh
Sơ đồ b ố trí thí nghiệm như sau: (Trang 18)
Bảng 3.1. Thời gian hoàn thành một số thời kỳ sinh trưởng, phát triển chủ - Khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm sinh lý, sinh trưởng và năng suất của một số giống lạc vụ xuân 2008 tại hà tĩnh
Bảng 3.1. Thời gian hoàn thành một số thời kỳ sinh trưởng, phát triển chủ (Trang 26)
Bảng 3.2. Chiều cao thân chính bình quân qua một số thời kỳ sinh trưởng, - Khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm sinh lý, sinh trưởng và năng suất của một số giống lạc vụ xuân 2008 tại hà tĩnh
Bảng 3.2. Chiều cao thân chính bình quân qua một số thời kỳ sinh trưởng, (Trang 28)
Bảng 3.3. Chiều dài cành cấp một qua một số thời kỳ sinh trưởng, phát triển - Khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm sinh lý, sinh trưởng và năng suất của một số giống lạc vụ xuân 2008 tại hà tĩnh
Bảng 3.3. Chiều dài cành cấp một qua một số thời kỳ sinh trưởng, phát triển (Trang 31)
Bảng 3.4. Động thái ra lá trên thân chính qua một số thời kỳ sinh trưởng, - Khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm sinh lý, sinh trưởng và năng suất của một số giống lạc vụ xuân 2008 tại hà tĩnh
Bảng 3.4. Động thái ra lá trên thân chính qua một số thời kỳ sinh trưởng, (Trang 33)
Bảng 3.5. Một số chỉ tiêu sinh trưởng trước thu hoạch của 5 giống lạc. - Khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm sinh lý, sinh trưởng và năng suất của một số giống lạc vụ xuân 2008 tại hà tĩnh
Bảng 3.5. Một số chỉ tiêu sinh trưởng trước thu hoạch của 5 giống lạc (Trang 36)
Bảng 3.6. Mật độ các loài sâu hại chính ở 1 số thời kì STPT khác nhau các giống lạc - Khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm sinh lý, sinh trưởng và năng suất của một số giống lạc vụ xuân 2008 tại hà tĩnh
Bảng 3.6. Mật độ các loài sâu hại chính ở 1 số thời kì STPT khác nhau các giống lạc (Trang 38)
Bảng 3.8. Diện tích lá bình quân ở các thời kỳ sinh trưởng, phát triển khác - Khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm sinh lý, sinh trưởng và năng suất của một số giống lạc vụ xuân 2008 tại hà tĩnh
Bảng 3.8. Diện tích lá bình quân ở các thời kỳ sinh trưởng, phát triển khác (Trang 41)
Bảng 3.10. Thời gian diện tích lá (LAD) bình quân ở một số thời kỳ sinh - Khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm sinh lý, sinh trưởng và năng suất của một số giống lạc vụ xuân 2008 tại hà tĩnh
Bảng 3.10. Thời gian diện tích lá (LAD) bình quân ở một số thời kỳ sinh (Trang 46)
Bảng 3.12. Hiệu suất quang hợp ở một số thời kỳ sinh trưởng, phát triển chủ - Khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm sinh lý, sinh trưởng và năng suất của một số giống lạc vụ xuân 2008 tại hà tĩnh
Bảng 3.12. Hiệu suất quang hợp ở một số thời kỳ sinh trưởng, phát triển chủ (Trang 49)
Bảng 3.13. Khả năng tích luỹ chất khô ở một số thời kỳ sinh trưởng, phát - Khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm sinh lý, sinh trưởng và năng suất của một số giống lạc vụ xuân 2008 tại hà tĩnh
Bảng 3.13. Khả năng tích luỹ chất khô ở một số thời kỳ sinh trưởng, phát (Trang 51)
Bảng 3.14. Các yếu tố cấu thành năng suất của 5 giống lạc - Khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm sinh lý, sinh trưởng và năng suất của một số giống lạc vụ xuân 2008 tại hà tĩnh
Bảng 3.14. Các yếu tố cấu thành năng suất của 5 giống lạc (Trang 54)
Bảng 3.15. Năng suất của các giống lạc thí nghiệm - Khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm sinh lý, sinh trưởng và năng suất của một số giống lạc vụ xuân 2008 tại hà tĩnh
Bảng 3.15. Năng suất của các giống lạc thí nghiệm (Trang 55)
Bảng 3.16. Mối tương quan giữa NSTT với một số chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng ở - Khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm sinh lý, sinh trưởng và năng suất của một số giống lạc vụ xuân 2008 tại hà tĩnh
Bảng 3.16. Mối tương quan giữa NSTT với một số chỉ tiêu sinh lý, sinh trưởng ở (Trang 57)
Bảng 3.18. Hệ số tương quan giữa một số yếu tố cấu thành năng suất với - Khảo nghiệm, đánh giá một số đặc điểm sinh lý, sinh trưởng và năng suất của một số giống lạc vụ xuân 2008 tại hà tĩnh
Bảng 3.18. Hệ số tương quan giữa một số yếu tố cấu thành năng suất với (Trang 61)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w