1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Khám phá mới về hiện thực nông thôn trong tiểu thuyết việt nam từ 1986 đến nay (qua các tác phẩm được giải)

70 619 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Khám phá mới về hiện thực nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay (qua các tác phẩm được giải)
Tác giả Nguyễn Thị Hồng Lê
Người hướng dẫn T.S Lê Văn Dông
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lý luận văn học
Thể loại Luận văn
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 262 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện thực nông thôn và hình tợng ngời nông dân trong văn học Việt Nam nói chung, trong tiểu thuyết nói riêng vốn là một đề tài hấp dẫn, lí thú cósức mời gọi không chỉ với các nhà văn mà

Trang 1

Trờng Đại học Vinh

nay (qua các tác phẩm đợc giải)

Trang 2

tiểu thuyết Việt Nam hiện đại trớc 1986

1.1 Cơ sở lịch sử - xã hội của đề tài nông thôn

trong văn học và trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại

8

1.2 Các chặng đờng phát triển của tiểu thuyết Việt Nam

hiện đại trớc 1986 về hiện thực nông thôn

Chơng 2 Một số vấn đề nổi bật về hiện thực nông thôn

trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay qua

các tác phẩm đợc giải

27

2.1 Tiền đề xã hội - văn hoá và thẩm mỹ

của văn học Việt Nam từ sau đổi mới đến nay

27

2.2 Một số vấn đề nổi bật về hiện thực nông thôn

trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay qua

2.2.4 Việc xác lập cơ chế sản xuất mới 58

Chơng 3: Một số đổi mới nghệ thuật thể hiện

hiện thực nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam

từ 1986 đến nay qua các tác phẩm đợc giải

62

3.1 Nghệ thuật thể hiện hiện thực nông thôn trong

tiểu thuyết Việt Nam hiện đại trớc 1986

62

3.2 Một số đổi mới nghệ thuật đáng chú ý trong

các tiểu thuyết đạt giải từ 1986 đến nay về

hiện thực nông thôn

64

Trang 3

3.2.1 Đổi mới về kết cấu tác phẩm 643.2.2 Hình tợng nhân vật chân thực toàn diện

tính cá thể hoá cao

67

3.2.3 Ngôn ngữ sống động, mang màu sắc đời thờng

và thể hiện tính cá thể hoá cao

Trang 4

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Hiện thực nông thôn và hình tợng ngời nông dân trong văn học Việt

Nam nói chung, trong tiểu thuyết nói riêng vốn là một đề tài hấp dẫn, lí thú cósức mời gọi không chỉ với các nhà văn mà cả với giới nghiên cứu lí luận, phêbình văn học

1.2 Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng mở ra một hớng đi mới, một tầm

nhìn mới cho văn học và văn nghệ sỹ Từ sau 1986, một loạt tác phẩm với cáinhìn khác, cách thể hiện mới về hiện thực nông thôn và ngời nông dân, đặc biệt

là nông thôn và nông dân sau chiến tranh - một đề tài tởng chừng đã mòn, đã cũ,hết đất viết - xuất hiện, lay gọi và đánh thức sự chú ý của d luận Tìm hiểu tiểuthuyết về nông thôn sau 1986 chúng ta vừa có thể xâu chuỗi đợc tiến trình pháttriển của nó từ đầu thế kỉ XX đến nay, lại vừa đáp ứng một thắc mắc, đòi hỏi cần

đợc giải đáp của độc giả: Nông thôn trong tiểu thuyết sau 1986 hiện lên nh thếnào? Nhà văn viết về cái gì và viết nh thế nào trong khi đề tài này đã đi qua cảthời chiến lẫn thời bình?

1.3 Trong các giải thởng văn học, các cuộc thi sáng tác tiểu thuyết do Hội

Nhà văn tổ chức từ 1986 đến nay, các tác phẩm đợc giải về đề tài nông thôn hoặcliên quan đến nông thôn chiếm một tỉ lệ khá lớn Vì vậy chúng tôi nghĩ đề tàihiện thực nông thôn từ 1986 đến nay là một đề tài có ý nghĩa cả trên phơng diệnthực tiễn lẫn lí luận

1.4 Thị trờng sách hiện nay đang bày bán rất nhiều tiểu thuyết viết về nông

thôn của nhiều tác giả khác nhau trong thời hậu chiến, nhng công trình nghiêncứu, phê bình mang tính khái quát về những sáng tác đó xem ra cha tơng xứngnếu không muốn nói là quá ít Tuy nhiên chính khoảng trống này lại tạo điềukiện cho ngời tiếp nhận bộc lộ cách hiểu, cách cảm của mình Đề tài này trongmột mức độ nhất định sẽ góp phần đa lại những cách hiểu về một số cuốn tiểuthuyết mà bạn đọc quan tâm

Đó là những lí do hấp dẫn khiến chúng tôi lựa chọn để nghiên cứu, mong cóthể góp phần nhỏ vào việc khái quát đợc bức tranh nông thôn mà tiểu thuyết sau

đổi mới phản ánh

2 Lịch sử vấn đề

2.1 Những bài nghiên cứu mang tính tổng quát về đề tài nông thôn trong

tiểu thuyết Việt Nam hiện đại sau 1986

Lã Duy Lan với công trình Văn xuôi viết về nông thôn - Tiến trình và đổi

mới (2001) đã trình bày khá kĩ tiến trình của văn xuôi trong đó có tiểu thuyết về

đề tài nông thôn ở đây tác giả chia ra hai chặng trớc và sau 1986 Trong phầntrớc 1986 tác giả đi vào từng giai đoạn cụ thể, ở mỗi giai đoạn tác giả nêu khái

Trang 5

quát diện mạo chung và những thành tựu, hạn chế Còn ở văn xuôi sau 1986, tácgiả cũng trình bày diện mạo chung, đồng thời thể hiện sự chuyển biến trong chủ

đề, phạm vi bao quát hiện thực, thể hiện nhân vật trong từng giai đoạn trớc và

sau 1986 Nhiều cuốn tiểu thuyết sau 1986 nh: Mảnh đất lắm ngời nhiều ma (Nguyễn Khắc Trờng), Bến không chồng (Dơng Hớng) đợc đề cập đến nhng

còn sơ lợc Về nghệ thuật tác giả trình bày những thành tựu bớc đầu trên các

ph-ơng diện: ngôn ngữ, thể loại, phong cách và giọng điệu Nh vậy ta thấy đề tàinông thôn đợc bao quát trên một diện rộng, mang tính khái quát cao Nhngnhững nhận xét cụ thể chi tiết về các tiểu thuyết không đợc đề cập đến

Trong bài viết Một số vấn đề trong văn xuôi thời kì đổi mới, in trong cuốn

Nhìn lại văn học Việt Nam thế kỉ XX, TS Tôn Phơng Lan đề cập đến văn học sau

chiến tranh Công cuộc đổi mới đã đem lại sự đổi mới trong t duy nghệ thuật Sự

đổi mới này đợc thể hiện trên các phơng diện nội dung và hình thức nghệ thuật ởtất cả các đề tài nông thôn, thành thị, chiến tranh Về đề tài nông thôn, tác giảgiới thiệu một loạt tiểu thuyết thành công và thể hiện đợc một số vấn đề trong

đời sống nông thôn nh: Bớc qua lời nguyền (Tạ Duy Anh), Mảnh đất lắm ngời

nhiều ma (Nguyễn Khắc Trờng), Bến không chồng (Dơng Hớng), Cuốn gia phả để lại (Đoàn Lê), Thuỷ hoả đạo tặc (Hoàng Minh Tờng)… Đặt đề tài nông Đặt đề tài nôngthôn trong tơng quan với các đề tài khác, bài viết đã thể hiện đợc đổi mới của đềtài nông thôn trong sự đổi mới chung của tiểu thuyết sau 1986 Tác giả còn nói

đến một vài vấn đề tồn tại trong đời sống nông thôn nh mối quan hệ dòng tộc

Đề cập trực tiếp hơn đến nông thôn trong văn học sau 1986 phải kể đến tác

giả Chu Thị Điệp với luận văn Thạc sỹ mang tên Hiện thực nông thôn và hình

t-ợng ngời nông dân trong truyện ngắn 1975 – 2000. 2000. Trong luận văn của mình,tác giả đã đa đến cho ta cái nhìn vừa khái quát vừa cụ thể về bức tranh đời sốngnông thôn trong thời kì hoà bình với bao vận động phức tạp Tuy nhiên do phạm

vi nghiên cứu của tác giả chỉ giới hạn trong thể loại truyện ngắn và dừng lại ởthời điểm năm 2000, nên bức tranh đời sống nông thôn rộng lớn trong tiểu thuyếtkhông đợc nghiên cứu

Gs Phong Lê trong Nghiên cứu văn học, (9) đã có bài viết Tiểu thuyết mở

đầu thế kỉ XXI trong tiến trình văn học Việt Nam từ tháng 8- 1945 ở đây tác giả

đã có một cái nhìn khái quát về tiểu thuyết Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đếnnhững năm sau đổi mới và đặc biệt là những cuốn tiểu thuyết mở đầu thế kỉ XXI.Một loạt tiểu thuyết đợc kể ra trên tất cả các đề tài: nông thôn, thành thị, chiếntranh, trong đó tiểu thuyết về đề tài nông thôn đợc đề cập khá nhiều Trong khitrình bày tiểu thuyết nông thôn của văn học thế kỉ XXI tác giả có điểm qua tiếntrình phát triển của tiểu thuyết viết về nông thôn từ quá khứ đến hiện tại Và chothấy đề tài nông thôn trong thế kỉ XXI nằm trong mạch chảy của văn học dân

Trang 6

tộc, trong đó có những tác phẩm nổi bật nh: Dòng sông mía, Trăm năm thoáng

chốc, Cánh đồng lu lạc… Đặt đề tài nôngvới những nhận xét có tính khái quát cao Tuy nhiêntrong khuôn khổ một bài viết ngắn, tác giả chỉ mới dừng lại ở việc điểm qua mộtcách khái quát tình hình tiểu thuyết đầu thế kỉ XXI trong tiến trình văn học dântộc

Trên báo Văn nghệ, (37) nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, Trởng Ban Chung khảo có bài Cuộc tự vợt đáng trân trọng - báo cáo tổng

kết cuộc thi tiểu thuyết 2002-2004, đã đánh giá chất lợng các cuốn tiểu thuyết

đạt giải trên các đề tài nông thôn, thành thị, chiến tranh ở đề tài nông thôn, tác

phẩm: Dòng sông mía (Đào Thắng), Cánh đồng lu lạc (Hoàng Đình Quang),

Tấm ván phóng dao (Mạc Can) đợc khẳng định có giá trị về nội dung và nghệ

thuật Nhng do tính chất của báo cáo tổng kết là ngắn gọn, khái quát nên bài viếtkhông đề cập riêng đề tài nông thôn cũng nh đi vào tìm hiểu kĩ những cuốn tiểuthuyết tiêu biểu

2.2 Những bài nghiên cứu, phê bình trực diện mảng sáng tác về nông thôn qua một số tiêu thuyết đợc giải

Cuốn tiểu thuyết Mảnh đất lắm ngời nhiều ma (Nguyễn Khắc Trờng),

Bến không chồng (Dơng Hớng) đoạt giải thởng Hội Nhà văn năm 1991 gây đợc

sự chú ý của d luận Riêng với tiểu thuyết Mảnh đất lắm ngời nhiều ma ngay

sau cuốn sách ngời ta cũng đã giới thiệu khá nhiều bài phê bình, nghiên cứu vềtác phẩm đợc lợc trích ở các loại báo khác nhau nh: Lao động, Giáo dục và thời

đại, Quân đội nhân dân thứ bảy,Tạp chí Tác phẩm mới… Đặt đề tài nông với những tác giả têntuổi: Trần Đình Sử, Nguyễn Đăng Mạnh, Hoàng Ngọc Hiến, Hà Minh Đức,Phong Lê… Đặt đề tài nông Nhìn chung ở đây đều là những ý kiến, nhận xét đợc lợc trích nênkhá sơ lợc, mặt khác lại nằm rải rác, phân tán nên cha mang lại cho chúng ta mộtcái nhìn toàn diện về tác phẩm Tuy nhiên khi đọc kĩ những bài viết đợc tập hợp

ta cũng có thể cảm nhận đợc những vấn đề cơ bản trong tác phẩm về nội dungcũng nh hình thức nghệ thuật

Trên báo Văn nghệ, (38) Bùi Việt Thắng có bài Tiểu thuyết Dòng sông mía

và cuộc bứt phá của Đào Thắng Trong bài viết tác giả đã có những nhận xét xác

đáng về cuốn tiểu thuyết đạt giải A của Hội Nhà văn Theo Bùi Việt Thắng:

“Dòng sông mía đã cuốn hút nhiều ngời vì những chuyện lạ đ” đ ợc nhà văn kể

bằng giọng trầm tĩnh nhng hoạt và khéo léo dẫn dắt ngời đọc đi qua cõi mê cung của cuộc đời nhân vật” đ và Nhìn tổng thể Dòng sông mía đã khơi lên đợc tầng vỉa văn hoá của đời sống nông thôn, nông dân Việt Nam trong một thời đại đầy bão tố xã hội Lịch sử và con ngời, cá nhân và cộng đồng, quá khứ và hiện tại đ-

ợc phối tả trong một bức tranh mang tính toàn bích… Đặt đề tài nông” đ[14;6]

Trang 7

Cũng viết về Dòng sông mía, Trần Mạnh Hảo có bài Dòng sông mía hay

tiếng nấc của sông Châu Giang? trong Nhà văn, (6) Tác giả nhận xét về cuốn

sách: “Cảm giác đọng lại trong ngời đọc than ôi, lại đắng chát, nh thể mía của

quê anh, văn anh là mía đắng, văn đắng Đọc xong cuốn tiểu thuyết viết về sự hoành tráng của cái ngọt ngào mà rất đắng đót này của Đào Thắng, tôi ngờ phù

sa cúa sông Châu Giang - linh hồn của đất Hà Nam- chảy qua văn anh, chảy qua tâm hồn anh e cũng là thứ phù sa đắng” đ[6;151].

Nh vậy ta thấy số lợng về các bài viết về những cuốn tiểu thuyết về nôngthôn sau 1986 là không nhiều, đặc biệt là những bài viết trực tiếp, cụ thể Bởivậy, trên cơ sở những gợi dẫn của những ngời đi trớc chúng tôi mong muốn đợcgóp một phần nhỏ vào nghiên cứu một số cuốn tiểu thuyết đợc giải

3 Mục đích nghiên cứu

Khái quát những nét nổi bật về hiện thực nông thôn và nghệ thuật thể hiệnhiện thực ấy trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay qua một số tác phẩm đ-

Chơng 2 Một số vấn đề nổi bật về hiện thực nông thôn trong tiểu thuyết

Việt Nam hiện đại từ 1986 đến nay qua các tác phẩm đợc giải

Chơng 3 Một số đổi mới về nghệ thuật thể hiện hiện thực nông thôn trong

tiểu thuyết từ 1986 đến nay qua các tiểu thuyết đợc giải

Trang 8

Chơng 1 Hiện thực Nông thôn trong tiểu thuyết Việt nam hiện đại trớc 1986 1.1 Cở sở lịch sử - xã hội cuả đề tài nông thôn trong văn học và trong tiểu thuyết Việt Nam hiện đại.

Nông thôn là một trong hai khu vực cơ bản của đời sống kinh tế - xã hội,

đặt trong sự tơng quan với khu vực thành thị ở hai khu vực này có sự phân biệtvới nhau khá rõ rệt, và xu hớng phát triển của xã hội hiện đại là xích gần khoảngcách, xoá bỏ ranh giới giữa hai khu vực Vậy Nông thôn là gì? Mục Nông thôn

trong Từ điển tiếng Việt định nghĩa là: "Khu vực dân c tập trung chủ yếu làm

nghề nông, phân biệt với thành thị"[24;734]

Việt Nam là một quốc gia nằm trong khu vực Đông Nam á Đó là mộtkhu vực mà điều kiện tự nhiên rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp Ngay từnhững buổi đầu tiên, c dân ngời Việt đã sống tập trung ở các vùng ven sôngHồng, sông Cửu Long và lấy nông nghiệp lúa nớc làm nghề cơ bản để nuôi sốngmình Một nền nông nghiệp cổ truyền bắt nguồn từ đó, và dần dần phát triển hơn

về sau Quần c nông thôn xuất hiện và cộng đồng làng xã hình thành Làng xãViệt Nam không phải là sự phân hoá của thị tộc và bộ lạc mà thành, cũng khôngphải là sự tâp hợp của c dân dới sự bảo hộ của những thủ lĩnh quân sự nh nhữnglàng Pháp thời trung cổ mà làng xã Việt Nam đợc hình thành trong quá trình liênhiệp tự nguyện giữa những ngời nông dân lao động trên con đờng chinh phụcnhững vùng đất gieo trồng, ở đó họ phải chiến đấu với lũ lụt, thiên tai và ngoạixâm Một làng xã với tính chất tự quản chặt chẽ, tinh thần truyền thống… Đặt đề tài nôngđãcùng nhau chống lại giặc ngoại xâm và xây dựng một đời sống vững mạnh Vàlàng xã là nơi giữ gìn những vẻ đẹp truyền thống của dân tộc Làng xã nói riêng,nông thôn Việt Nam nói chung nổi bật bởi những nét độc đáo của nó, với vị tríquan trọng của nó trong lịch sử, nếu không tìm hiểu, ngời ta sẽ không thể hiểu đ-

ợc kết cấu của xã hội Việt Nam, của văn hoá và văn minh Việt Nam Từ đầu thế

kỷ XX đến nay, đất nớc trải qua những biến cố lớn lao, cơ cấu kinh tế - xã hội đã

có những thay đổi theo chiều hớng phát triển Nhng ta vẫn thấy nông thôn và gắnvới nó là giai cấp nông dân vẫn chiếm u thế Nông thôn không chỉ là một mốiquan tâm của những ngời làm kinh tế trong sự nghiệp phát triển đất nớc củamình, mà còn là sự quan tâm của các nhà dân tộc học, lịch sử, xã hội học trongviệc tìm hiểu lịch sử, văn hoá và văn minh dân tộc Nông thôn còn là một đối t -ợng mà văn học quan tâm, bởi nó là hiện thực cuộc sống, một hiện thực gắn bómáu thịt với mỗi ngời dân Việt Nam

Trang 9

Văn học là một hình thái ý thức xã hội, phản ánh tồn tại xã hội Bất kỳ

ng-ời nghiên cứu nào muốn tìm hiểu về một đất nớc, một dân tộc nào đó sẽ là khiếmkhuyết, phiến diện nếu không tìm hiểu nền văn học của nớc đó Bởi văn học làtiếng nói của dân tộc, phản ánh rõ nét đặc điểm của đất nớc, dân tộc mình cùngvới những vấn đề tồn tại trong chính cuộc sống ấy Chúng ta thờng nói văn học

phản ánh cuộc sống, "Nhà văn là ngời th ký trung thành của thời đại" (Banzăc).

Đó cũng chính là nguyên lý chung của sáng tác văn học, là chức năng cơ bản củavăn học, chức năng phản ánh cuộc sống Văn học là bộ mặt tinh thần của mỗidân tộc Những tồn tại trong xã hội, đều đợc văn học ghi nhận và phản ánh rõnét Nớc ta cơ bản là một nớc nông nghiệp, lấy sản xuất lúa nớc làm trọng, vì vậyhình ảnh nông thôn đi vào văn học cũng rất tự nhiên, dễ hiểu, trở nên thân thuộc

và gần gũi với mỗi ngời

Cho đến nay đề tài nông thôn vẫn là sợi chỉ xuyên suốt nền văn học dântộc, khi kết cấu nông thôn vẫn tồn tại đậm nét trong sự phân biệt với thành thị,tuy mức độ có khác trớc Ngời Việt Nam từ khi sinh ra và lớn lên đã đợc sốngtrong môi trờng nông thôn, đợc tiếp xúc với văn học phản ánh chính cuộc sốngmôi trờng đó Văn học dân gian là sản phẩm của tập thể, của nhân dân lao động,

của những ngời nông dân "chân lấm tay bùn" Những câu ca dao tục ngữ đã đi

vào trong tâm thức mỗi ngời, trở nên gần gũi quen thuộc:

Trên đồng cạn dới đồng sâuChồng cày vợ cấy con trâu đi bừa

hay "con trâu là đầu cơ nghiệp"… Đặt đề tài nôngCho đến nay với một nền văn học Việt Namhiện đại hình ảnh đời sống nông thôn đợc phản ánh đầy đủ, rõ nét hơn

Nông thôn đã trở thành đề tài quen thuộc, gắn bó máu thịt và có cội nguồngốc rễ trong tâm thức mỗi ngời dân Việt Nam nói chung, nhà văn Việt Nam nói

riêng Nguyễn Tuân đã rất đúng khi cho rằng “trong mỗi nhà văn chúng ta đều

có một anh chàng nhà quê , ” đ Hoàng Minh Tờng cũng nói rằng: “Nhà quê chính

là chiếc nôi của văn hóa, khởi thuỷ của văn chơng” đ[23;62] Kể đến những thành

tựu của văn học Việt Nam nói chung của tiểu thuyết nói riêng trớc hết phải kể

đến những tác phẩm ghi đậm dấu ấn thôn quê Và trong lịch sử văn học ViệtNam, nông thôn là đề tài tạo nguồn cảm hứng của nhiều cây bút ở mọi thời kì và

để lại nhiều tác phẩm có giá trị Mỗi tác phẩm là một nét vẽ riêng, độc đáo làmhoàn thiện bức tranh nông thôn thật hơn cả ngoài cuộc sống Đây là một đặc

điểm nổi bật có tính tất yếu trong văn học Việt Nam Bởi vậy có thể nói rằngnông thôn là một đề tài theo suốt tiến trình văn học nớc ta ở mỗi thời kì, nôngthôn đợc phát hiện trên những bình diện mới, cách nhìn mới, nên chắc chắn bứctranh nông thôn đợc hoàn thiện hơn Tuy nhiên, ta cần thấy rằng đây là một đềtài không bao giờ cạn Theo quy luật phát triển của đời sống xã hội, nông thôn ở

Trang 10

những chặng đờng tiếp theo của văn học cũng sẽ đổi mới và xuất hiện bao vấn đềlàm chất liệu cho các nhà văn không ngừng khám phá và sáng tạo Văn xuôi đặcbiệt tiểu thuyết là thể loại rất thích hợp để phản ánh những biến cố lớn không

ngừng vận động của đời sống xã hội Bakhtin cho rằng “Tiểu thuyết là thể loại

văn chơng duy nhất luôn luôn biến đổi do đó nó phản ánh sâu sắc hơn, nhạy bén hơn sự biến chuyển của bản thân hiện thực” đ[2;30].

1.2 Các chặng đờng phát triển của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại trớc

1986 về hiện thực nông thôn

Đầu thế kỷ XX, sau hai cuộc khai thác thuộc địa của thực dân Pháp, cơ cấuxã hội Việt Nam có nhiều thay đổi lớn Sự thay đổi này kéo theo những biến đổisâu sắc trong ý thức và tâm lý con ngời Một lớp công chúng văn học mang nhucầu văn hoá thẩm mỹ mới xuất hiện, đòi hỏi một thứ văn chơng mới; một lớp nhàvăn mới mang hơi thở mới vào văn học tạo điều kiện cho công cuộc hiện đại hoávăn học diễn ra mau lẹ Hiện đại hoá văn học đợc hiểu là văn học thời kỳ nàythoát ra khỏi hệ thống thi pháp của văn học thời phong kiến Quá trình hiện đạihoá văn học bắt nguồn từ đầu thế kỷ XX nhng phải đến những năm 30 đến 1945thì quá trình đó mới đợc đẩy lên một bớc mới, với nhiều cuộc cách tân văn họcsâu sắc trên các thể loại: thơ, tiểu thuyết, kịch, truyện ngắn Văn xuôi nói chung

và tiểu thuyết nói riêng đợc nâng lên địa vị quan trọng bậc nhất trong đời sốngvăn học và phát triển rất mạnh Riêng tiểu thuyết lúc này đã có những đổi mớitheo hớng hiện đại hoá từ nội dung đến hình thức một cách khá rõ rệt Mỗi giai

đoạn văn học là một bớc tiến của thể loại này, nó kịp thời ghi lại bộ mặt nôngthôn trong từng thời kỳ Bởi vậy hiện thực nông thôn hiện lên trên những trangviết qua các giai đoạn là không giống nhau, bị chi phối bởi nhiều yếu tố hoàncảnh lịch sử - xã hội, quan điểm nhà văn, thị hiếu thẩm mỹ của độc giả… Đặt đề tài nôngNhàtiểu thuyết đích thực là ngời sáng tạo cho tác phẩm của mình một vùng quê riêngbiệt, độc đáo

Từ những năm 20 của thế kỷ XX đã xuất hiện những cuốn tiểu thuyết hiện

đại viết về nông thôn Nhà văn Hoàng Minh Tờng cho rằng: “Nếu chỉ bàn riêng

về văn học Việt Nam từ khi có chữ quốc ngữ thì đoản thiên tiểu thuyết thành tựu

đầu tiên có lẽ không ngoài " Sống chết mặc bay" của Phạm Duy Tốn viết về cảnh khốn cùng ở nông thôn, ở những năm đầu tiên thế kỷ XX” đ[23;62] Tác phẩm

này mở đầu cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Sau Phạm Duy Tốn ta có thể kể

đến cây bút tiên phong trên địa hạt tiểu thuyết Nam Bộ, đó là Hồ Biểu Chánh vớihơn 60 tiểu thuyết lớn nhỏ Ông đã trở thành hiện tợng văn học ở phía Nam

Khối lợng tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh nh một "Bộ từ điển bách khoa" về đời

sống xã hội và con ngời Nam Bộ trong những thập niên đầu thế kỷ Tiểu thuyếtcủa ông thấm đẫm sự kết hợp hình thức cổ điển và hiện đại, ảnh hởng của tiểu

Trang 11

thuyết phơng Tây nhng vẫn mang đậm không khí và cảnh sắc phơng Nam, gầngũi với truyền thống tâm lý của ngời dân vùng đất mới, với ngôn ngữ thuần phácmộc mạc nh lời nói thờng ngày Đây là những tác giả mở đầu cho nền tiểu thuyếthiện đại Nhng phải đến những năm 30 của thế kỷ XX mới thực sự là giai đoạnsung sức của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại Vì vậy khi tìm hiểu về tiểu thuyếthiện đại nói chung, cũng nh tiểu thuyết hiện đại viết về nông thôn nói riêng ta cóthể bắt đầu từ 1932 để nghiên cứu.

1.2.1 Hiện thực nông thôn trong tiểu thuyết thời kỳ 1932-1945

Thời kỳ này giới văn học có ý thức tự giác cao hơn về trách nhiệm ngòi bút,

về quan điểm nghệ thuật và khuynh hớng thẩm mỹ của mình Mỗi nhà văn tự lựacho mình những quan điểm, khuynh hớng thẩm mỹ riêng Sự khác nhau này dẫn

đến sự phân hoá thành nhiều xu hớng trong nội bộ nền văn học Văn học 1932

-1945 phân ra 3 dòng văn học: Văn học lãng mạn, văn học hiện thực phê phán,văn học cách mạng Riêng tiểu thuyết viết về nông thôn ta thấy đợc phản ánhtrong văn học lãng mạn và văn học hiện thực phê phán là chủ yếu

1.2.1.1 Hiện thực nông thôn trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn

Từ những năm 30 trở đi, thực dân Pháp tung ra những thứ rác rởi của vănhoá t sản phản động phơng Tây, cũng nh những cặn bã của văn hoá phong kiến

thối nát mà chúng gọi là kết hợp "Văn minh Âu Mĩ" với "Quốc hồn quốc tuý An

Nam" Nhờ ảnh hởng của Đảng nên những hoạt động văn hoá của bọn thống trị

không đạt đợc kết quả nh chúng mong muốn Nhng đối với các tầng lớp trí thức

t sản, tiểu t sản thì có ảnh hởng đáng kể Cũng trong thời gian này giai cấp t sảnthoả hiệp cùng với giai cấp tiểu t sản khiếp nhợc trớc sự khủng bố của giặc, vứt

bỏ lá cờ chính trị, quay sang hoạt động văn hoá chống phong kiến theo tinh thầncải lơng chủ nghĩa Giai cấp này tự an ủi mình bằng "sứ mệnh" xây dựng mộtnền văn hoá mới cho dân tộc Thực ra con đờng văn hoá ấy cốt yếu là nhằmkhẳng định cá nhân t sản ngày càng phát triển theo hớng ích kỷ, hởng lạc Nhóm

Tự lực văn đoàn đã giơng cao ngọn cờ văn hoá đó, mở đầu cho phong trào vănhoá t sản Việt Nam 1932 - 1945 Trong những sáng tác của nhóm này ta thấythành thị với lối sống mới đợc xem là đề tài trung tâm Tuy nhiên bên cạnh đó đềtài về nông thôn cũng đợc các nhà văn hớng tới với màu sắc t sản đậm nét

Trớc thời kỳ Mặt trận dân chủ, các nhà Tự lực văn đoàn rất ít viết về nôngthôn, nếu có viết thì họ cũng nh các nhà văn lãng mạn khác, coi thờng hoặckhinh khi, giễu cợt những ngời dân nhà quê Đến thời kỳ Mặt trận dân chủ khi

mà vấn đề cải thiện đời sống nâng dân trở thành một vấn đề thời sự cấp bách thì

Tự lực văn đoàn tuy vẫn tiếp tục con đờng của nó, nhng cũng đã đa cuộc sốngnông thôn khá phong phú vào những trang viết của mình Trong tuần báo Ngày

nay có thêm mục "Bùn lầy nớc đọng" ra sức cổ động tuyên truyền cho "Hội ánh

Trang 12

sáng", viết những bài xã luận về nông dân và nông thôn, viết những cuốn tiểu

thuyết bộc lộ khá rõ quan điểm của mình đối với vấn đề nông dân và hiện thực

nông thôn ở những tác phẩm này chủ nghĩa cải lơng t sản bộc lộ rõ nét: Hai vẻ

đẹp (Nhất Linh), Gia đình (Khái Hng), Con đờng sáng (Hoàng Đạo)… Đặt đề tài nôngnêu lênmột chủ đề mới chủ trơng cải cách xã hội trên lập trờng cải lơng t sản Những

cuốn tiểu thuyết có tính luận đề nhằm vạch ra “Con đờng sáng ” đ cho ngời trí thức

giàu có là đi về nông thôn, kinh doanh đồn điền theo lối "văn minh" để một mặt hởng cái thi vị của cảnh sắc thôn quê, mặt khác thi hành những biện pháp "làm

giảm bớt đau khổ" cho tá điền: giảm thuế, mở chợ, mở trờng học, nhà trờng, bỏ

hủ tục… Đặt đề tài nông Nh vậy là họ cũng muốn đa một giải pháp cho một vấn đề xã hội cơbản đợc đặt ra lúc bấy giờ là cải thiện đời sống cho nông dân Qua những tiểuthuyết trên ta cũng thấy rằng các nhà văn Tự lực văn đoàn có băn khoăn vềcuộc sống tối tăm cực khổ của nông dân Họ thấy đợc nông dân bị hà hiếp, đói

rách, thất học và "đem những ngời sống trong tấn thảm kịch kia đến những cuộc

đời êm đẹp "(Con đờng sáng), họ cũng có nhìn thấy những vấn đề bóc lột Trong

Mái nhà tranh, Thu cảm thấy "họ cơ cực mới có tiền để xa xỉ” đ, thật là một sự

bất công Trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam bấy giờ, trớc cảnh nông dân bị ápbức bóc lột tàn tệ, những suy nghĩ đó là tiến bộ Họ đặt vấn đề cải cách mong

đem lại cuộc sống tốt đẹp hơn cho nông dân Đa cuộc sống nông thôn vào vănhọc và đề ra những giải pháp để cải thiện cuộc sống đó, chính là t tởng tiến bộcủa giai cấp t sản

Tuy nhiên chủ trơng “cải cách xã hội trong phạm vi pháp luật” đ của nhóm

Tự lực văn đoàn trớc hết là một ảo tởng Bởi vấn đề nông dân trong xã hội thuộc

địa nửa phong kiến Việt Nam những năm 1932 - 1945 gắn với vấn đề dân tộc.Dân tộc có độc lập thì nông dân mới có đất cày Đa nông dân vào con đờng no

ấm là cả một quá trình cách mạng lâu dài, chứ không thể là lối cải lơng t sảnngày một ngày hai Chẳng qua tiểu thuyết Tự lực văn đoàn chỉ thay thế những

địa chủ phong kiến bằng những địa chủ t sản hoá Cải lơng kiểu Tự lực văn đoàntrong thời kỳ này vẫn là có tính chất phản động có chủ trơng đề cao địa chủ,khuyên nông dân an phận, biến địa chủ, kẻ thù nông dân thành những ân nhân,thủ tiêu đấu tranh giai cấp Trong khi Đảng ra sức thức tỉnh tinh thần giai cấpcủa công - nông để đa họ vào cuộc đấu tranh giành tự do cơm áo, thì thông quaviệc tởng tợng của các cô, cậu điền chủ vừa đẹp ngời vừa tốt bụng hiện lên nhnhững nàng tiên, ông bụt cứu vớt dân cày, những tác phẩm ấy lại kêu gọi nông

dân đoàn kết với địa chủ và dựa vào địa chủ để "giải phóng" mình ra khỏi cảnh"

bùn lầy nớc đọng".

Không chỉ thế ở nhiều trang viết nhân vật trong tiểu thuyết Tự lực văn đoàn

lại miệt thị nông dân Trong Đoạn tuyệt, Dũng cho rằng nông dân chỉ quen với

Trang 13

cảnh khổ cuộc sống tối tăm "không hề khao khát một cuộc đời sáng sủa hơn,

mong ớc một ngày mai tơi đẹp hơn ngày hôm qua" Doãn trong Hai vẻ đẹp cho

rằng "xã hội dân quê bao giờ cũng nghèo xơ xác nh bây giờ …không có chút hi không có chút hi vọng gì về một sự thay đổi hoàn toàn và kịch liệt nh một trận gió mạnh nổi lên thổi sạch hết bụi cát, rơm rác" Đó là thái độ coi thờng lẫn khinh khi, giễu cợt.

Ngoài ra các nhà tiểu thuyết Tự lực văn đoàn còn tỏ thái độ ban ơn, cái ơn của kẻ

bề trên đối với kẻ dới, thấp cổ bé họng Ngời nông dân trở thành một ngời chịu

ơn lép vế, bé nhỏ trớc những sự giúp đỡ của kẻ bề trên Lòng thơng hại của họ

đối với nông dân nếu có cũng không đi xa hơn cái tôi của chủ nghĩa cá nhân.Hạc và Bảo trở về với nông dân với cuộc sống nông thôn cũng để lánh mối quan

hệ đại gia đình phong kiến Doãn đi tìm một chỗ dựa vững chắc cho nghệ thuậtcủa mình, Duy đi tìm một sự bình tĩnh cho tâm hồn mình Tất cả đều là sự giảithoát cho cái tôi cá nhân ra khỏi bế tắc chứ không hẳn là xuất phát từ sự yêu th-

ơng ngời nông dân đơn thuần

Nh vậy bên cạnh một số nét tiến bộ mà các nhà văn t sản đã gửi gắm trongnhững sáng tác của mình về nông thôn và ngời nông dân, ta còn thấy một cáinhìn phiến diện, có thể nói là lệch lạc nghiêm trọng Họ đứng trên lập trờng củagiai cấp t sản nên còn rất nhiều hạn chế khi đi vào khai thác đề tài nông thôn.Những cái nhìn miệt thị, hay thi vị hoá cuộc sống… Đặt đề tài nôngđó chính là sản phẩm củamột thế giới quan t sản lầm đờng

1.2.1.2.Hiện thực nông thôn trong tiểu thuyết hiện thực phê phán

Có thể nói rằng với trào lu hiện thực phê phán, đề tài nông thôn đợc nhậnthức sâu sắc hơn, phản ánh đợc bản chất của cuộc sống nông thôn với bao biến

động dữ dội Trong khu vực văn học thuộc ý thức hệ t sản, dòng văn học hiệnthực phê phán là một dòng tiến bộ Không bị giam hãm trong quan điểm nghệthuật vị nghệ thuật, các nhà văn hiện thực phê phán biết quan tâm đến đời sốngxã hội và đặt ra một số vấn đề nóng bỏng của xã hội Đây là thời kỳ xã hội ViệtNam diễn ra những mâu thuẫn gay gắt Nhiều vấn đề cơ bản của xã hội đã đợc

đặt ra trên tinh thần dân chủ, đặc biệt là vấn đề nông dân

Điểm tiến bộ đặc biệt của văn học hiện thực phê phán thời kỳ này là đã córất nhiều tác phẩm đa nông dân và hiện thực nông thôn vào văn học với t cách là

vấn đề chính: Tắt đèn (Ngô Tất Tố), Bớc đờng cùng (Nguyễn Công Hoan), Vỡ

đê (Vũ Trọng Phụng)… Đặt đề tài nông Sở dĩ văn học hiện thực phê phán lúc này phát triểnmạnh mẽ là bởi nó có những điều kiện từ trong đời sống chính trị - xã hội Bảnchất xấu xa của chủ nghĩa thực dân t bản bị bóc trần, cuộc sống đau khổ bi đát

đẩy nhân dân lao động đến những cuộc đấu tranh quyết liệt Ngời trí thức tiểu tsản cảm thấy thấm thía hoàn cảnh xã hội chà đạp lên cá tính con ngời vừa đợcthoát khỏi những ràng buộc phong kiến Họ thấy cách chống đối lại xã hội của

Trang 14

văn học lãng mạn là không thích hợp nữa mà cần có một thứ văn chơng có hiệuquả hơn thúc đẩy cuộc đấu tranh của quần chúng lao động chống lại bọn bóc lột.

Để làm nhiệm vụ phản ánh thực tế phong phú của thời đại và tham gia vào cuộc

đấu tranh chung, văn học hiện thực đã dùng một số thể loại có khả năng phản

ánh cuộc sống sâu sắc, đặc biệt tiểu thuyết đợc xem là thể loại tiểu biểu nhất chodòng văn học hiện thực phê phán, chiếm số lợng lớn đồng thời dung lợng phản

ánh cuộc sống cũng rộng lớn hơn so với các thể loại khác Đi sâu vào đề tài nôngthôn, các nhà văn bóc trần bộ mặt của xã hội thực dân nửa phong kiến ở đó họthấy mẫu thuẫn gay gắt giữa ngời nông dân với địa chủ phong kiến, thấy đợc bứctranh đối lập hai gam màu sáng tối, thấy đợc cuộc đời tủi nhục của ngời nông

dân “bị tớc mất cơm áo và sau đó bị tớc mất nhân phẩm” đ (Mác) Họ là nạn nhân

của xã hội đầy rẫy những bất công tàn bạo Một loạt tiểu thuyết của các nhà văntiến bộ đã phản ánh rõ nét đời sống nông thôn và số phận ngời nông dân Nôngthôn trong văn học Việt Nam trớc Cách mạng tháng Tám là một nông thôn vớikhông khí oi nồng, ngột ngạt, bế tắc ở đó diễn ra cảnh su cao thuế nặng, phải

bán con, bán chó trong tác phẩm Tắt đèn (Ngô Tất Tố); cảnh vỡ đê tội nghiệp của ngời nông dân trong Vỡ đê (Vũ Trọng Phụng); cảnh những con ngời thấp cổ

bé họng bị đẩy vào con đờng cùng trong Bớc đờng cùng (Nguyễn Công Hoan)… Đặt đề tài nông

Các nhà tiểu thuyết lúc này đã phát huy hết sức mạnh của mình, đã dốc hếtnhững tài năng tâm huyết để phản ánh những mặt đen tối của cuộc sống nôngthôn Có thể nói đời sống nông thôn và số phận ngời nông dân trong văn họchiện thực phê phán đã đợc nhìn một cách khác, tiến bộ hơn, đi sâu vào bản chấtcủa đời sống hiện thực

Đọc tiểu thuyết Tắt đèn (Ngô Tất Tố) chúng ta bị ám ảnh bởi tiếng thúc

thuế dồn dập của một làng quê xơ xác Làng quê vào mùa su thuế đã đẩy ngờinông dân vào cảnh cùng quẫn, chịu những su thuế bất công Hình ảnh chị Dậuhiện lên trong tác phẩm chính là nạn nhân đau khổ của bọn cờng hào, bọn quanlại tham nhũng, dâm ô, những chính sách thuế khoá hà khắc của thực dân Cảnhchị Dậu chạy ra trong đêm tối đen nh tiền đồ của chị, có một sức tố cáo mạnh

mẽ cái xã hội đã đày đọa ngời nông dân vào cuộc sống bế tắc Ngoài Ngô Tất

Tố, ta còn thấy Vũ Trọng Phụng - một nhà văn chủ trơng về loại "văn học xã hội

ngày nay" và tìm thấy ở phóng sự, tiểu thuyết "một thứ hình thể của văn chiến

đấu mà lại công hiệu nhất" Trong tám tiểu thuyết mà ông để lại ta thấy có hai

cuốn nổi lên vấn đề về hiện thực nông thôn đó là Vỡ đê và Giông tố, đặc biệt là

Vỡ đê Trong Vỡ đê nạn nhân của chế độ cũ không phải chỉ một vài ngời lẻ tẻ mà

cả hàng loạt ngời bị bần cùng hoá Họ phải bỏ làng ra đi kiếm ăn với những

manh chiếu rách, những khăn nải sau lng, cảnh "ngời gánh hai cái thúng trong

mỗi thúng có một vài đứa bé, trong mỗi đa bé có vài ba ngày đói khát", hay cảnh

Trang 15

những đa bé trần truồng chửi nhau vì một quả sung xanh, vài ngọn rau… Đặt đề tài nông Đó lànhững cảnh xẩy ra hàng năm ở nông thôn, nhng cha bao giờ đợc phản ánh đầy

đủ, trung thành nh trong Vỡ đê Nh một ý kiến đã cho rằng qua một hoàn cảnh,

một số phận của nhân vật, nhà văn muốn gửi gắm tới bạn đọc về một vấn đềnhân sinh Ta thấy “vị nhân sinh” đ của các nhà hiện thực phê phán xuất phát từ lợiích của ngời nghèo khổ, khác hẳn thứ "vị nhân sinh" của các nhà tiểu thuyết Tựlực văn đoàn là vị t sản

Tiểu thuyết hiện thực phê phán đã phản ánh bức tranh đời sống xã hội rộnglớn, với những số phận, những cảnh đời trớ trêu, tội nghiệp Phản ánh trung

thành hiện thực nh Vũ Trọng Phụng đã từng nói: “Các anh muốn tiểu thuyết hãy

cứ là tiểu thuyết còn với tôi tiểu thuyết là sự thực ở đời" Với tinh thần đó bản

chất đời sống xã hội đã đợc các nhà văn tiếp cận và khai thác một cách triệt đểkhông thi vị hoá, lãng mạn hoá nh các nhà văn Tự lực văn đoàn Ngô Tất Tố,Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Hồ Biểu Chánh… Đặt đề tài nôngđã đi sâu vào ngõ ngáchhiện thực, mỗi sáng tác của họ là một nét chấm phá để hoàn thiện bức tranh đời.Các nhà văn còn phản ánh đợc mâu thuẫn diễn ra gay gắt trong xã hội, lật tẩy bộmặt của thống trị, chỉ cho ngời nông dân thấy rõ kẻ thù của mình và gieo vàolòng ngời một tinh thần phản kháng mạnh mẽ, đồng thời phát hiện đợc những vẻ

đẹp của ngời nông dân, yêu thơng họ nh những ngời cùng cảnh Đó là những

điều đáng trân trọng trong các sáng tác của những nhà văn thuộc trào lu hiệnthực phê phán Họ đã làm đợc những điều mà các nhà văn Tự lực văn đoàn chalàm đợc

Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp không thể phủ nhận thì những sángtác về nông thôn của dòng văn học hiện thực còn có những mặt hạn chế Các nhàvăn chỉ mới dừng lại ở đồng cảm, thơng yêu, đồng tình, bênh vực và tố cáo phêphán, chứ cha tìm ra cách đem lại ấm no, hạnh phúc cho ngời nông dân Chỉ rõ

kẻ thù nhng không tìm đợc con đờng đấu tranh đúng đắn hợp lý, để rồi nhân vậtcủa họ vẫn rơi vào bế tắc hoặc là tìm đến cái chết, hoặc cam chịu chấp nhận cuộcsống nô lệ Nông thôn trong con mắt của các nhà văn hiện thực lúc bấy giờ chỉ làmột bức tranh xám xịt, đen tối Ngời nông dân chỉ là nạn nhân đau khổ, bất lực,chứ cha phải là lực lợng có khả năng giải phóng mình, nếu có thì cũng chỉ là mờnhạt Cuộc sống nông thôn nh thế là bi quan và bế tắc Nhng những gì còn hạnchế trong sáng tác của dòng văn học này ta có thể hiểu đợc Đó phải chăng là dohạn chế về thời đại và hạn chế về mặt giai cấp? Các nhà văn hiện thực phê pháncũng chỉ đứng trên lập trờng của giai cấp tiểu t sản, một giai cấp cha đợc ổn

định, còn bấp bênh, dao động

Văn học trớc Cách mạng tháng Tám nói chung và tiểu thuyết trớc Cáchmạng nói riêng, do yếu tố thời đại nên còn phản ánh cuộc sống phiến diện

Trang 16

Trong các tác phẩm của các nhà văn bức tranh đời thờng đen tối Văn học không

có ngọn đuốc chỉ đờng, mỗi nhà văn tự tìm cho mình một lối đi phù hợp vớiquan điểm lập trờng giai cấp mình Vì vậy nền văn học cha có sự thống nhất, cònchia ra nhiều lối rẽ Trong từng lối rẽ ấy bên cạnh những măt tích cực tiến bộ còn

có nhiều mặt hạn chế đôi khi còn trở nên tiêu cực phản động Chỉ sau Cáchmạng, khi ánh sáng của Đảng đã làm bừng tỉnh triệu triệu ngời dân thì văn họcmới có tiếng nói chung Đề tài nông thôn lúc bấy giờ cũng đợc nhìn theo mộtbình diện mới trong sự thống nhất các khuynh hớng sáng tác

1.2.2 Hiện thực nông thôn trong tiểu thuyết thời kỳ 1945- 1975

Cách mạng tháng Tám thành công mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên

độc lập tự do cho dân tộc Đồng thời văn học cũng khép lại một chặng đờng, mở

ra một chặng đờng mới Nền văn học cách mạng đợc khai sinh Đây là một nềnvăn học thống nhất đợc thiên hớng sáng tạo của cá nhân với yêu cầu của nhândân và thời đại Trong sự nghiệp cách mạng, văn học là một bộ phận, là một hoạt

động tinh thần phong phú có hiệu quả đối với cuộc đấu tranh và phát triển xãhội Cũng từ sau cách mạng, xuất hiện một lớp nhà văn mới mang sức sống vàhơi thở của thời đại Lớp nhà văn này sáng tác theo định hớng văn nghệ của

Đảng và nhận rõ hơn trách nhiệm sáng tạo cao cả của mình, nh lời Hồ Chí Minh

khẳng định: "Văn hoá nghệ thuật là một mặt trận, anh chị em là chiến sỹ trên

mặt trận ấy" Tinh thần chiến sỹ và danh hiệu nhà văn - chiến sỹ đợc đề cao nh

phẩm chất của ngời nghệ sỹ Thời đại mới yêu cầu văn học phải đổi mới để đápứng những vấn đề mới mà cuộc sống đặt ra Trong bối cảnh chúng ta phải đơng

đầu với hai cuộc chiến tranh lớn đó là chiến tranh chống Pháp và chống Mỹ,

đồng thời thực hiện công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Những biến cố lớncủa xã hội chính là mảnh đất màu mỡ để nuôi dỡng văn học, đặc biệt là tiểuthuyết Trong giai đoạn 1945 - 1975 tiểu thuyết phát triển nở rộ và gặt hái đợcnhững thành công lớn Trong tiểu thuyết cũng nh các thể loại văn học khác, cuộcsống mới, con ngời mới là vấn đề trung tâm mà các nhà văn hớng tới Sau cáchmạng cục diện nông thôn Việt Nam đã có nhiều thay đổi lớn lao Đời sống vậtchất và tinh thần của ngời nông dân dới chế độ mới cũng nh cũng nh địa vị vàsinh mệnh chính trị của họ đã đợc cải thiện nhiều so với trớc Tuy vậy trong quátrình xây dựng nông thôn mới vẫn bộc lộ những hạn chế, tiêu cực cản trở bớcphát triển và gây ra nhiều nhức nhối Tất cả đều đợc văn học, đặc biệt là tiểuthuyết phản ánh rõ nét Văn học lúc này phát triển qua nhiều chặng đờng nhỏ,mỗi chặng đờng ghi lại những dấu ấn sắc nét của đời sống hiện thực Đề tài nôngthôn trong văn học cũng chịu sự tác động và chi phối của những biến đổi trong

đời sống

Trang 17

1.2.2.1 Tìm hiểu giai đoạn văn học trong kháng chiến chống Pháp (1945

-1954) ta thấy đề tài nông thôn lúc này hoà quyện thống nhất với đề tài chiếntranh, đợc gọi bằng tên chung là văn học kháng chiến Các nhà văn dù mới vàonghề hay sáng tác từ trớc Cách mạng, từ những nẻo đờng khác nhau nay hoà

nhập cùng "nhận đờng" và sáng tác phục vụ kháng chiến Họ thực sự sống hoà

nhập với công, nông, binh, viết để phục vụ kịp thời cho sự nghiệp kháng chiếnkiến quốc Đề tài nông thôn nằm trong đề tài kháng chiến đó là một đề tài lớncủa nền văn học cách mạng trẻ tuổi Những tấm gơng yêu nớc, đánh giặc của tậpthể, của cá nhân đợc đề cao Nông thôn trở thành hậu phơng lớn, chứa bao tiềmlực, đảm bảo cho cuộc kháng chiến lâu dài đi đến thắng lợi Văn xuôi lúc nàyphát triển mạnh, đặc biệt là thể ký và cùng với kí là truyện ngắn, càng về saukhoảng 1950 trở đi tiểu thuyết cũng bắt đầu có thành tựu Lấy bối cảnh trực tiếp

là nông thôn trong văn xuôi lúc này có Th nhà (Hồ Phơng), Làng (Kim Lân),

Đánh trận giặc lúa (Bùi Hiển), Con trâu (Nguyễn Văn Bổng) Đóng góp nổi bật

của phong trào sáng tác địa phơng là sự nhận thức về đề tài nông thôn, là sự môtả những hình thái khá độc đáo về cuộc chiến tranh nhân dân ở các vùng địchhậu

Trong những sáng tác về nông thôn kháng chiến kể trên ta thấy tiểu thuyết

Con trâu (Nguyễn Văn Bổng) có vị trí nổi bật, là tiểu thuyết đoạt Giải thởng

Văn học 1954 - 1955 Cái mới của tác phẩm không phải là ở đề tài vì văn học

tr-ớc Cách mạng đã có Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao… Đặt đề tài nôngSau Cáchmạng, đặc biệt sau 1950 sáng tác về nông thôn cũng rất nhiều Cái mới của tácphẩm là từ một vấn đề cụ thể, vấn đề con trâu để mở ra một loạt vấn đề khác có ýnghĩa quan trọng không chỉ đối với việc thể hiện đời sống ngời nông dân mà còn

ý nghĩa đối với việc thể hiện hình ảnh một cuộc kháng chiến toàn dân, trong đó

nông dân là quân chủ lực Vấn đề "Con trâu" đợc đặt ra không phỉ vì "Con trâu

là đầu cơ nghiệp", vì đời sống cơm áo của một gia đình riêng lẻ mà là vì sự sống

còn của dân tộc, của đất nớc Bảo vệ trâu là để bảo vệ sản xuất, nuôi dỡng sứcdân, chiến đấu lâu dài cũng là khâu thử thách quyết tâm chiến đấu bám địch giữlàng của ngời nông dân vùng địch hậu trong cuộc kháng chiến trờng kỳ toàn dântoàn diện Những gian truân vất vả đối mặt với kẻ thù của ngời nông dân vùng

địch hậu đợc miêu tả trong tác phẩm rất có ý nghĩa, tạo đợc không khí riêng

ở mỗi tác phẩm, nông thôn trong kháng chiến hiện lên là không giốngnhau, nhng các tác giả đều phản ánh một không khí chiến đấu chung nhất trên cảmọi mặt trận, sản xuất hay chiến đấu, đời sống tinh thần hay vật chất ở đâu tacũng thấy tinh thần chiến đấu, vì mục đích kháng chiến của ngời nông dân

1.2.2.2 Nông thôn Việt Nam trong giai đoạn đầu xây dựng hoà bình chủ

nghĩa xã hội (1955 - 1964) nổi lên hai sự kiện quan trọng: Cải cách ruộng đất và

Trang 18

phong trào Hợp tác hoá nông nghiệp Đây cũng là hai đề tài mới hấp dẫn nhngcũng khó khai thác Các nhà văn tập trung khai thác chất liệu đời sống để kịp

thời đáp ứng đợc nhu cầu của thời đại Sau những đợt "ba cùng" với bà con nông

dân, nhiều nhà văn đã có thuận lợi để xây dựng những sáng tác dài kịp thời về

cuộc sống nông thôn Tiểu thuyết về Cải cách ruộng đất có các cuốn: Bếp đỏ lửa (Nguyễn Văn Bổng), Truyện anh Lục (Nguyễn Huy Tởng)… Đặt đề tài nông, ngoài ra trong

văn xuôi còn có Nông dân với địa chủ (Nguyễn Công Hoan), Ông lão hàng

xóm (Kim Lân)… Đặt đề tài nôngNhững tác phẩm văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng vềCải cách ruộng đất và cuộc kháng chiến vừa qua đã đem lại cho văn xuôi mộtkhông khí sôi nổi Sự xuất hiện của hàng loạt tác phẩm mới về đề tài mới đã giúp

ta nhìn lại các thành tựu đã thu đợc của nhà văn sau một chặng đờng tìm kiếm

đầy gian truân Và đặc biệt thể hiện rõ sự thâm nhập thực tế hoà mình vào quầnchúng, phục vụ đời sống công- nông- binh của nhà văn thời kỳ này Phần nào đócác tiểu thuyết viết về Cải cách ruộng đất đã tuyên truyền, phổ biến cho nhândân về công cuộc Cải cách ruộng đất của Đảng và nhà nớc

Sáng tác về đề tài Cải cách ruộng đất mặc dù có số lợng lớn nhng cha phải

đã gây cho ngời đọc một sức thuyết phục mạnh mẽ Chỗ yếu chung của các tácphẩm viết về đề tài này là nhân vật và hoàn cảnh đợc mô tả sơ lợc Nhà văn có sựcảm thông với ngời nông dân, nhng cha nghiên cứu đầy đủ các hoàn cảnh và tínhcách cụ thể của con ngời nên phần lớn nhân vật và cảnh ngộ đợc miêu tả trongcác tác phẩm dờng nh đều có chung một khuôn giống nhau Mặt khác đờng lốiCải cách ruộng đất của Đảng là đúng đắn nhng quan niệm về giai cấp còn máymóc và triển khai thực hiện có những biện pháp cực đoan sai lầm, nên xảy ra một

số hậu quả nghiêm trọng Nhng đến cuối thời kỳ sửa sai, đã có một số tiểu thuyết

thành công Xung đột của Nguyễn Khải đã miêu tả cuộc sống ở một vùng công

giáo toàn tòng trong Cải cách ruộng đất và sửa sai Tác giả đã cho thấy âm mu vàhành động phá hoại điên cuồng của bọn phản động

Sau thời kỳ Cải cách ruộng đất là thời kỳ đa nông dân vào hợp tác xã nôngnghiệp Có thể nói đây là đề tài có thành tựu khá sớm và góp phần khá rõ vàoviệc khẳng định những kết quả đầu tiên của tiểu thuyết trong bớc chuyển mớicủa cách mạng Ngời viết cố gắng đi sâu phân tích những mâu thuẫn trong cuộcsống làm cho thấy rõ công cuộc hợp tác hoá là một cuộc vận động cách mạnglớn ở nông thôn Nó đem lại những thay đổi cơ bản trong suy nghĩ, tình cảm, mơ

ớc của con ngời Tác phẩm Cái sân gạch của Đào Vũ, cho ta thấy mọi đổi thay

trong quan hệ sản xuất ở nông thôn đã làm lay chuyển dữ dội những đầu óc bảothủ của ngời nông dân Mọi ớc mơ, tính toán của con ngời giờ phải đợc điềuchỉnh lại cho phù hợp với con đờng tiến lên của xã hội Việc lão Am cha chịu

vào hợp tác xã không phải chỉ do t tởng t hữu, lối tính toán theo kiểu "khôn sống

Trang 19

vống chết" mà lão còn bị ràng buộc bởi những thói quen, tập quán lâu đời, lối

làm ăn cò con, t tởng bảo thủ, lạc hậu của ngời sản xuất nhỏ, thói hống hách vàtâm lý sĩ diện cá nhân của những đầu óc gia trởng phong kiến cũ, những mắc mớ

còn sót lại từ một số sai lầm hồi Cải cách ruộng đất Cái sân gạch phản ánh

không khí nông thôn trong những ngày đầu xây dựng hợp tác xã nông nghiệp.Tuy nhiên cuốn tiểu thuyết đầu tay của tác giả và đầu mùa của phong trào này

không tránh khỏi những chỗ yếu khá rõ trong chủ đề và nhân vật Chủ đề "vào

ra" hợp tác xã đợc miêu tả một cách hơi đơn giản, nhân vật lão Am đợc xây

dựng sơ lợc, tính cách phát triển một chiều đơn điệu Thực ra cuộc đấu tranh

giữa “hai con đờng” đ ở nông thôn vẫn diễn ra phức tạp sau khi hoàn thành hợp tác

hoá

Ngoài Cái sân gạch, Đào vũ còn có tiểu thuyết Vụ lúa chiêm Tác phẩm

cho thấy những thay đổi đáng phấn khởi trong quan hệ sản xuất ở nông thôn thời

kỳ các hợp tác xã chuyển từ bậc thấp lên bậc cao đặc biệt là sự xuất hiện mộtthế hệ thanh niên mới đầy nhiệt tình cách mạng, say sa tiếp thu cái mới trongkhoa học kỹ thuật, nhiều hoài bão ớc mơ, xứng đáng là những ngời chủ tơng laicủa nông thôn xã hội chủ nghĩa Qua những tác phẩm đó, bộ mặt nông thôn vớinhững đổi mới trong sinh hoạt tinh thần của ngời nông dân trên con đờng làm ăntập thể cũng đợc thể hiện phong phú Ta cũng cần thấy rằng những sáng tác về

nông thôn lúc này đều hớng tới một chủ đề chung đó là “hai con đờng” đ Trên

thực tế đây cũng là sự vận động tuyên truyền ngời nông dân đi vào con đờng làm

ăn hợp tác Và vào hợp tác chỉ là một khâu, một phơng diện trong quá trình đạt

tới ấm no, hạnh phúc nên việc triển khai chủ đề “hai con đờng” đ nh là mục đích

cuối cùng trong nhiều tác phẩm đã nói lên sự non yếu, bất cập của văn xuôi nôngthôn giai đoạn này khi đối diện với thực tế nông thôn Hầu nh những sáng tác ởthời kỳ này mới nêu đợc các sự kiện, các phong trào thuộc bề nổi ở nông thôn,còn phần thuộc bề sâu nói lên thực chất của hiện thực và đời sống tâm lý thực sựcủa ngời nông dân lại bị lớt qua

Nh vậy tiểu thuyết về nông thôn trong thời kì này đã tham gia giải quyết

một số vấn đề và nhiệm vụ xã hội Chủ đề “giác ngộ và đấu tranh giai cấp” đ trong Cải cách ruộng đất, “hai con đờng” đ trong thời kỳ đầu của phong trào hợp

tác xã nông nghiệp đã đợc phản ánh rõ nét Song cần thấy rằng do cha trở thành

những vấn đề "máu thịt" của nhà văn, hay nói khác đi do cha thực sự trở thành

yếu tố tự giác của văn học nên trong miêu tả, thể hiện của tác giả bên cạnhnhững thành công còn để lộ những bất cập, hạn chế đáng kể

1.2.2.3 Tiểu thuyết viết về nông thôn trong chiến tranh chống Mỹ (1964

-1975) đã có nhiều thay đổi Trong hoàn cảnh đất nớc có chiến tranh, phải đơng

đầu với đế quốc Mỹ, nhiệm vụ cứu nớc đợc đặt lên hàng đầu Mỗi một ngời dân

Trang 20

Việt Nam đều phát huy tinh thần yêu nớc, chống giặc, dốc hết sức mình vì vậnmệnh đất nớc Trên cả hai miền Nam Bắc diễn ra hoàn cảnh vừa chiến đấu vừasản xuất Cái không khí chiến đấu và sản xuất để thực hiện mục tiêu thống nhấtnớc nhà đợc thể hiện qua những câu thơ:

Ruộng rẫy là chiến trờngCuốc cày là vũ khí

Nhà nông là chiến sỹHậu phơng thi đua với tiền phơng

Khẩu hiệu mà Đảng đề ra lúc này là "Chắc tay súng vững tay cày" Văn học

trong giai đoạn chống Mỹ cứu nớc cũng tham gia vào không khí chung của dântộc Nông thôn trong văn xuôi nói chung, tiểu thuyết nói riêng cũng phản ánhkhông khí của cuộc kháng chiến, vì vậy ít nhiều mang âm điệu sử thi Đây làthời kỳ tiểu thuyết về nông thôn gặt hái đợc nhiều thành công, cả về số lợng và

chất lợng tác phẩm Bão biển, Đất mặn (Chu Văn ), Đất làng, Buổi sáng (Nguyễn Thị Ngọc Tú), Cửa sông (Nguyễn Minh Châu), Chủ tịch huyện (Nguyễn Khải), Vùng quê yên tĩnh (Nguyễn Kiên), Ao làng (Nguyễn Ngọc

Bội) đều lấy bối cảnh nông thôn đang có phong trào cải tiến quản lý hợp tác xã

và xây dựng sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa Điều chung nhất ta thấy ở các cuốntiểu thuyết về nông thôn lúc này là xây dựng đợc bức tranh hậu phơng đoàn kết,lành mạnh, khí thế thi đua sản xuất sôi nổi và tinh thần chiến đấu đặt lên hàng

đầu

Chủ đề con ngời mới” đ là chủ đề chính của tiểu thuyết viết về nông thôn lúc

bấy giờ Đó là con ngời chủ nghĩa xã hội, con ngời sống và chiến đấu vì cộng

đồng dân tộc, trong con ngời có sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại Nộidung chính trong tiểu thuyết lúc này là những chuyện trai anh hùng, gái đảm

đang Thể hiện chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong thời gian này là đỉnh cao

của sự thể hiện chủ đề “con ngời mới” đ Không chỉ anh hùng trong lao động, hình

ảnh con ngời anh hùng trong chiến đấu đợc thể hiện rõ nét Hình ảnh chị Sứ

trong tác phẩm Hòn đất (Anh Đức), chị út Tịch trong Ngời mẹ cầm súng (Nguyễn Thi), anh Núp trong Đất nớc đứng lên (Nguyên Ngọc) chính là những

ngời nông dân Tây Nguyên, Nam Bộ anh hùng, là đại diện cho con ngời mới,con ngời sống chiến đấu vì lí tởng dân tộc Nhng do hoàn cảnh đất nớc có chiếntranh những mặt trái của cuộc sống, những suy nghĩ, dằn vặt trong tâm lý củacon ngời ít đợc nói đến, đặc biệt là những yếu tố hạn chế, tiêu cực Văn học lúcnày thiên về lý tởng hoá cuộc sống những gì thuộc về ta là tốt đẹp, tự hào cònnhững gì thuộc về địch thì xấu Cách nhìn con ngời và cuộc sống nh thế là cáchnhìn phiến diện một chiều Cảm hứng chủ đạo là cảm hứng ngợi ca, tự hào, có

Trang 21

tác dụng động viên cổ vũ tinh thần cho nhân dân, tạo niềm tin vào một chế độ tốt

đẹp Nhng đây cũng là điều hạn chế dễ hiểu, dễ thông cảm cho các nhà văn Họ

đã phản ánh cuộc sống một cách lý tởng hoá, nếu đem so với thực tế thì sẽ khôngtránh khỏi sự khiên cỡng Các nhà văn vì phải đi vào những biến động lớn củadân tộc nên đã có cái nhìn mờ nhạt đối với từng cá nhân Cái tôi hoà với cái tacộng đồng Bởi vậy những hiện thực nhỏ nhặt của cuộc sống đời thờng ít đợcquan tâm là điều tất yếu

Từ những điều đã trình bày ở trên ta thấy nông thôn trong giai đoạn 1945

-1975 đã thực sự có những biến đổi lớn Sau Cách mạng, ngời nông dân đã thực

sự làm chủ vận mệnh cuộc sống của mình Họ không còn là nạn nhân của xã hộitrở thành những chủ nhân của lịch sử Trong hoàn cảnh đất nớc có chiến tranh,

họ trở thành chiến sỹ, chiến đấu hết mình để bảo vệ đất nớc, vừa tham gia sảnxuất vừa sẵn sàng xả thân vì tổ quốc Qua chiến tranh ta thấy đợc sức mạnh cũng

nh vẻ đẹp của nông thôn Đây không chỉ là những miền đất của những truyềnthống tốt đẹp, mà còn là một hậu phơng vững chắc, giữ vai trò quyết định nhất

đến sự thắng lợi của cách mạng giải phóng đất nớc

1.2.3 Hiện thực nông thôn trong tiểu thuyết thời kỳ 1975-1985

Năm 1975 không chỉ là mốc quan trọng trong lịch sử chính trị - xã hội, màcòn là mốc quan trọng trong văn học với t cách là một loại hình nghệ thuật Sau

đại thắng mùa xuân năm 1975, đất nớc đợc hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc thốngnhất, cả nớc tiến lên chủ nghĩa xã hội Văn học nớc nhà phát triển trong điềukiện hoà bình Văn học trong mời năm 1975 - 1985 đã kế thừa các nguyên tắcgiá trị truyền thống có từ trớc, nhng đồng thời mở ra những bình diện mới trong

sự lý giải, thể hiện cuộc sống mới Văn xuôi viết về nông thôn từ 1975 -1985diễn ra trong bối cảnh xã hội bộn bề gay cấn Những tổn thất trong chiến tranhbắt đầu có ảnh hởng lớn trong đời sống, nền kinh tế tự cấp tự túc không đủ nuôisống xã hội Cơ chế quản lý quan liêu bao cấp bất lực, ngày càng bộc lộ nhiềuyếu kém Thời kì này văn học tiếp tục hớng về đề tài chiến tranh nhng thiên về lýgiải chiến thắng và đánh giá sự mất mát, xuất hiện nhu cầu đi tìm nguyên nhâncủa những yếu kém xuống cấp… Đặt đề tài nôngHoà với nhịp đó văn xuôi viết về nông thôncũng bắt đầu chuyển động và chuyển động mạnh Đó là sự chuyển hớng trongquan sát, quan niệm và đánh giá hiện thực về phía ngời sáng tác

Thực ra trong năm năm 1975 - 1980 văn xuôi về nông thôn nói chung tiểuthuyết về nông thôn nói riêng cũng cha có sự chuyển hớng Chỉ từ 1980 trở đinhững dấu hiệu đổi mới văn học xuất hiện, minh chứng cho điều đó là một loạt

Trang 22

tiểu thuyết có giá trị ra đời: Cù lao tràm (Nguyễn Mạnh Tuấn), Nhìn dới mặt

trời (Nguyễn Kiên), Bí th cấp huyện (Đào Vũ)… Đặt đề tài nôngVăn xuôi nông thôn và vănxuôi nói chung giai đoạn văn học 1980 - 1985 đã góp phần chuẩn bị tích cực cho

sự nghiệp đổi mới từ sau 1986 Nó thể hiện rõ rệt ở sự chuyển hớng từ chủ đềcon ngời mới của văn học chống Mỹ sang chủ đề gần gũi với cái riêng, vớinhững chuyện nhân tình thế thái Hay nói cách khác chuyển từ phạm trù sử thisang thế sự và đời t, từ cái chung sang cái riêng Đây là giai đoạn đặt nền móng

cho công cuộc đổi mới văn học Cù lao tràm của Nguyễn Mạnh Tuấn tập trung ở

hai vấn đề lớn: Chủ trơng kinh tế - xã hội và phẩm chất ngời lãnh đạo Tác giảcuốn tiểu thuyết đã trực diện đề cập đến vấn đề nóng bỏng đang tồn tại ở nông

thôn và chính những vấn đề này đã thôi thúc tác giả đã viết "Cuộc sống xung

quanh lúc nào cũng nh lửa cháy cả cái tốt lẫn cái xấu của nó đều hừng hực than nồng …không có chút hi và đã truyền sang tôi những hối thúc, đấu tranh, những phân loại nóng bỏng …không có chút hi Phải sớm sáng tỏ chuyện ở xã Cù lao này Phải sớm sáng tỏ cuộc đời Năm Trà" [20;479] Sự thôi thúc này chính là sự thôi thúc của cuộc sống đối với

một cây bút giàu nhiệt tình và ý thức trách nhiệm Cù lao tràm là biểu hiện của

tâm lý muốn phá vỡ một cơ chế quan liêu bao cấp với những đầu óc thủ cựu,quan cách… Đặt đề tài nôngnhững cái làm cản trở sự hình thành và phát triển của cái mới Ngòibút của tác giả đã mạnh dạn khám phá, đi sâu và đả kích những mặt tiêu cựctrong đời sống con ngời Ngòi bút của tác giả là ngòi bút hiện thực, phê phán,của đầu óc luôn vật vã trăn trở đối với cuộc sống Bức tranh nông thôn đợc xâydựng trong tác phẩm đó là một bức tranh khái quát, điển hình cho nông thônNam Bộ, bi đát tối tăm Một hiện thức xã hội hỗn loạn, vô chính phủ, đời sốngchính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội đang bị đảo lộn bởi những tiêu cực, sai lầm.Tác giả rất mạnh dạn phản ánh những tồn đọng trong đội ngũ lãnh đạo, chỉ rõnhững mặt hạn chế của ngời nông dân Đó là tinh thần đáng đợc tôn trọng củangòi bút có ý thức dùng văn chơng để tham gia vào cuộc đấu tranh vì cuộc sống.Tác phẩm đã để lại trong lòng ngời đọc nhiều suy nghĩ và phải giải đáp nhữngvấn đề của cuộc sống hôm nay

Ngoài tiểu thuyết Cù lao tràm ta còn thấy trong giai đoạn văn học này còn

có nhiều tác phẩm đi sâu vào những vấn đề hiện thực "gai góc" ở nông thôn lúc

bấy giờ, nh hiện tợng ô dù, bao che trong cán bộ lãnh đạo qua tiểu thuyết Nhìn

dới mặt trời (Nguyễn Kiên), hay đời sống khổ cực của nông dân khi cha có

khoán 10 qua Bí th cấp huyện (Đào Vũ)… Đặt đề tài nôngNhững tác phẩm ấy đã nhìn thẳng vàonhững mặt còn hạn chế ngay trong con ngời, trong hiện thực cuộc sống Văn họclúc này không thiên về ca ngợi sức mạnh cộng đồng, ngợi ca cái tốt đẹp của conngời mới mà trở thành vũ khí tham gia vào việc cải tạo con ngời và xã hội Tiểu

Trang 23

thuyết phát triển mạnh và phát huy tác dụng trong việc thâm nhập, đào xới sâuhơn vào đời sống nội tâm con ngời, đến những xúc cảm, suy t, dằn vặt và nhữngmối quan hệ ngời với ngời trong xã hội Con ngời lúc này đợc nhìn nhận mộtcách khá toàn diện, xấu - tốt, cao cả - thấp hèn nh lẫn lộn và hoà vào nhau ngaytrong một con ngời Con ngời trở nên gần gũi với đời thờng hơn, cuộc sống hiệnlên chân thực hơn.

Tuy nhiên để thấy rõ sự chuyển biến của văn học nói chung tiểu thuyết vềnông thôn nói riêng, ta cần tìm hiểu tiểu thuyết giai đoạn sau 1986 về chính đềtài đó Đổi mới của tiểu thuyết viết về đề tài nông thôn từ 1986 là nội dung chính

mà luận văn này hớng tới trên hai phơng diện nội dung và hình thức

Trang 24

2.1.1 Tiền đề xã hội - văn hóa

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) phát động công cuộc đổi mới trênnhiều lĩnh vực Đất nớc phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa, thực hiện cơchế thị trờng với nền kinh tế nhiều thành phần, xu thế mở cửa hội nhập trong bốicảnh thế giới đa cực hoá Cục diện chính trị thế giới lúc này cũng thay đổi sâusắc, nhanh chóng phức tạp chứa nhiều yếu tố khó lờng Đấu tranh giai cấp, đấutranh dân tộc, đấu tranh giữa cái tốt, cái xấu, cái đúng, cái sai vẫn diễn ra khôngkém gay gắt Cách mạng khoa học kĩ thuật và công nghệ phát triển nh vũ bãolàm thay đổi nhanh chóng lực lợng sản xuất Thế giới trở thành một thị trờng tự

do cạnh tranh quyết liệt Quá trình quốc tế hoá và khu vực hoá đang trở thành xuthế mạnh mẽ tác động đến các mặt của đời sống quốc tế, vừa tạo thời cơ lại vừa

là thách thức cho các nớc Trong khi đó nớc ta vẫn còn là một nớc nghèo, kémphát triển Trong xu thế hội nhập, mặt tốt cũng nhiều mà mặt xấu cũng không ít,lối sống tiêu thụ phát triển, nhiều giá trị bị đảo lộn Bên cạnh những thành tựu

mà đất nớc đã đạt đợc còn tiềm ẩn nhiều nguy cơ lớn Nhìn một cách tổng quát

đất nớc đã thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, có nhiều điều kiện pháttriển, đây là thời kì cả dân tộc phát huy trí lực và vật lực để xây dựng đất nớcphồn vinh Phát huy trí lực chính là thúc đẩy đời sống tinh thần, tiếp cận cái

đúng, cái đẹp Đất nớc đã có sự thay đổi lớn trong đời sống tinh thần, trong nhậnthức, trong việc xác lập giá trị và các tiêu chuẩn đời sống Phơng châm của Đảng

ta trong lĩnh vực văn hoá tinh thần lúc này là ra sức xây dựng một nền văn hoátiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, khuyến khích các hoạt động văn hóa lành mạnhnhằm nâng cao đời sống tinh thần của ngời dân Và có thể nói hoạt động văn họcnghệ thuật chính là một bộ phận quan trọng của nền văn hóa Nghị quyết 05 của

Bộ Chính trị BCHTƯ Đảng cộng sản Việt Nam về Đổi mới và nâng cao trình độ

quản lí văn học nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đa văn học nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bớc mới đã chỉ rõ “Văn nghệ là nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần của xã hội, thể hiện trình độ phát triển chung của một đất nớc, một thời đại, là lĩnh vực sản xuấ ttinh thần tạo ra những giá trị văn hoá, những công trình nghệ thuật đợc lu từ đời này qua đời khác, làm

Trang 25

giàu đẹp thêm cuộc sống con ngời.” đ Báo cáo chính trị Đại hội Đảng lần VI cũng

nhấn mạnh vai trò của văn học: “Không hình thái t tởng nào có thể thay thế văn

học nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc đến nếp nghĩ, nếp sống của con ngời” đ[19;97]

Văn học là một hoạt động luôn luôn đổi mới, sự đổi mới này là do nhiềuyếu tố Văn học nớc ta đã trải qua nhiều lần đổi mới nhng có thể nói trong đờisống văn học những năm 80-90 có nét đặc trng riêng, ở đó có sự kết hợp của cảhai phía bên trong bản thân văn học và bên ngoài từ phía quần chúng, cuộc sống

và xã hội G.S Phong Lê cho rằng “Văn học cần tự đổi mới và tự đổi mới trở

thành một nhu cầu tự thân Với công cuộc đổi mới đất nớc văn học đang đứng

tr-ớc nhu cầu mạnh mẽ của sự biến đổi Nhu cầu đổi mới trở thành một nỗ lực bên trong, một vận động tự thân” đ [11;342] Đại hội VI (1986) với tinh thần đề cao

nhân tố con ngời, lấy dân làm gốc, mở rộng dân chủ, tôn trọng sự thật Chínhsách tự do sáng tác và quý trọng các tài năng nghệ thuật ấy càng khuyến khíchnhững suy nghĩ tìm tòi của mỗi văn nghệ sỹ Tự do vốn là khởi điểm của sáng

tạo Hẳn không phải ngẫu nhiên mà chữ “cởi trói” đđợc nêu trong buổi đầu của sự

nghiệp đổi mới qua bài nói chuyện với giới văn nghệ sỹ vào năm 1987 của cố

Tổng Bí th Nguyễn Văn Linh Khi yêu cầu về t duy sáng tạo và “cởi trói” đ đợc

đặt ra thì sự đa dạng trong tìm kiếm về t tởng và nghệ thuật sẽ là dấu hiệu bình

thờng của đời sống văn học “Một yêu cầu về t duy cao hơn và một quan niệm về

t duy gắn với sự khẳng định vai trò cá nhân, gắn với sự coi trọng t cách chủ thể

và trách nhiệm xã hội của nhà văn, đồng thời với sự trởng thành của ngời đọc khiến cho việc nhìn nhận, đánh giá những gì đã và đang diễn ra là không thể men theo những quan niệm cũ và cách thức cũ” đ [11;346].

Vì vậy văn học cần đổi mới để đáp ứng nhu cầu mở ra rất đa dạng và nhiềuchiều của cuộc sống và đồng thời đáp ứng cho sự đổi mới của chính bản thân vănhọc Sự đổi mới này đợc triển khai trên nhiều phơng diện nhng phần cơ bản cốtlõi và quyết định tất cả là quan niệm nghệ thuật mới về con ngời, gắn liền vớimột quan niệm mới về văn chơng

2.1.2 Tiền đề thẩm mĩ

Do sự tác động của hoàn cảnh lịch sử - xã hội - văn hoá, con ngời trong thời

đại mới mang một t duy thẩm mĩ mới, một quan niệm, một thị hiếu thẩm mĩ mới.Chính điều này đã dẫn tới một sự thay đổi trong quan niệm về con ngời, quanniệm về nghệ thuật, về cái đẹp trong cuộc sống

Trang 26

Trong văn học trớc 1986, cuộc sống - nghệ thuật đợc nhìn theo khuynh ớng sử thi và cảm hứng lãng mạn, con ngời mới - con ngời kiểu sử thi gắn vớidân tộc và giai cấp, con ngời xã hội chủ nghĩa - là con ngời trung tâm của vănhọc Những ngời anh hùng nh: anh Núp, chị út Tịch, chị Sứ… Đặt đề tài nôngđều là những conngời mà số phận của họ thuộc về cộng đồng Họ sống và chiến đấu, hi sinh cũngvì cộng đồng Vẻ đẹp của những ngời nông dân anh hùng này là đại diện cho vẻ

h-đẹp của con ngời Việt Nam trong thời đại chiến tranh Đến thời kì hoà bình, saukhi đã trải qua một thời kì đau thơng nhng anh dũng con ngời lại trở về với quy

luật của cuộc sống đời thờng, con ngời sống đúng với bản chất của mình là “sự

tổng hoà của các mối quan hệ” đ(Mác) Đó là điều tất yếu, nhng sau năm 1975,

đặc biệt sau thời kì đổi mới, ý thức cá nhân nổi lên nh một bớc phát triển mớicủa con ngời Việt Nam Họ bắt đầu nghĩ tới cuộc sống hạnh phúc cá nhân, hớng

về cái tôi cá nhân, sự khẳng định sức mạnh vị thế của mình trong mọi mối quan

hệ Lúc này t duy sử thi không còn phù hợp với yêu cầu của thời đại, tâm lí và thịhiếu thẩm mĩ của ngời đọc mà nhờng chỗ cho t duy đời t, thế sự Thế sự, đời t trởthành một khuynh hớng chủ đạo Văn học nhìn hiện thực trong sự vận độngkhông ngừng Văn học không còn là sự minh họa cho một thời đại mà trở nêngần gũi làm bạn với con ngời trong những suy t trăn trở của cuộc sống đời thờng.Không nói toàn những cái lý tởng cao cả của sự kiện và biến cố trong đời sốngcon ngời mà văn học đi sâu vào tận ngõ ngách cuộc sống để phát hiện những vấn

đề đang tồn tại, đặc biệt đi sâu vào khám phá bản chất ngời trong mỗi con ngời

Điều này đã từng là mặt chìm khuất trong văn học thời chiến tranh

Cùng với sự thay đổi trong cách nhìn về con ngời là sự đổi thay trong cáchnhìn, cách viết của mỗi ngời nghệ sĩ Vì văn học bao giờ cũng lấy con ngời làm

đối tợng trung tâm để phản ánh Quan niệm con ngời thay đổi dẫn đến sự thay

đổi về quan niệm văn chơng Mỗi nhà văn dần dần hình thành và xác lập mộtquan niệm rõ ràng cụ thể về nghề văn của mình Đây không còn là giai đoạnquan niệm văn học mang tính minh họa, mà nh Nguyễn Minh Châu nói: các nhà

văn lúc này đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa“ ” đ Còn Lê

Xuân Giang cho rằng nhà văn đơng đại là “nhà văn đối thoại” đ, Nguyễn Huy Thiệp cũng nhận xét :“Nhiệm vụ của nhà văn không phải nói ra chân lý mà là

thức tỉnh ý hớng về chân lý hoặc chí ít cũng là thức tỉnh tình cảm về phẩm giá con ngời trong họ Văn học thể hiện tình thần nhân đạo không phải chỉ bằng sự xót thơng, cảm phục, biểu dơng con ngời mà có thể bằng cả sự quở trách, phê phán, tóm lại là duy lý ” đ và duy cảm” đ[10;18] Từ một nền văn học “lấy thể tài

xã hội lịch sử làm nội dung khai thác chủ yếu, lấy số phận cộng đồng làm đối ợng thể hiện và phân tích, lấy cảm hứng anh hùng ca làm cảm hứng nền tảng” đ

t-[1;179] thì bây giờ đã “thay vì miêu tả lịch sử thông qua con ngời, con ngời

Trang 27

thành phơng tiện trình bày lịch sử ” đ (Lê Ngọc Trà) T duy thẩm mỹ của con ngờithay đổi từ sử thi đến đời t, thế sự, vì vậy nhà văn cũng thể hiện rõ vai trò củamình trong việc đi sâu phát hiện những mặt tốt - xấu của đời sống hiện thực,khẳng định sự thật trong văn học nghệ thuật GS.TS Nguyễn Văn Hạnh có viết:

“Nói đến khoa học là nói đến quy luật Nói đến sáng tác văn học nhất là văn

học hiện thực thì điều quan trọng hàng đầu là nói đến sự thật …không có chút hi Tài năng của một nhà văn, giá trị của một tác phẩm thể hiện ở nhiều điểm nhng trớc hết là ở chỗ nói lên đợc sự thật của đời sống một cách mới mẻ độc đáo đầy sức thuyết phục” đ[5;210] Nó phù hợp với khẩu hiệu chung cho tất cả mọi lĩnh vực trong đời

sống con ngời lúc này đợc đề ra trong Đại hội VI là “Nhìn thẳng vào sự thật,

đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật” đ Hơn lúc nào hết văn học thời kì này đợc

đặt vào giữa trung tâm của cuộc sống để kịp thời ghi lại những biến cố, sự kiệndiễn ra trong đời sống, từ đó đánh giá, và nói rõ đúng sự thật bằng cách phản ánhriêng độc đáo của mình Nhà văn phải có cách nhìn, có con mắt của hiện thựcmới phát hiện ra đợc những mặt sáng - tối của đời sống hiện thực, đó cũng chính

là quan điểm và năng lực nhận thức dựa trên cơ sở hiểu biết và tấm lòng củanghệ sỹ đối với cuộc sống Nhà văn cần coi sự phản ánh hiện thực chính là l ơngtâm, là thiên chức của ngời cầm bút, ở đây cần có sự trung thực, thái độ vô t vớitinh thần dũng cảm của ngời nghệ sỹ Tâm lí chung của con ngời là sợ sự thật,bởi sự thật thờng mất lòng, vì thế nhiều khi họ phải né tránh hiện thực hoặc nóigiảm nói tránh thậm chí còn xuyên tạc sự thật vì mục đích nào đó Đặc biệt trongcơ chế thị trờng con ngời thờng dễ bộc lộ hết mình cái tốt, cái xấu trong cuộcsống mu sinh ở những góc độ nào đó của cuộc sống họ đối xử với nhau khéoléo hơn, mềm dẻo hơn tránh những xung đột bất lợi cho mình do sự thật đem lại,

họ còn lấy lòng nhau, mua chuộc nhau… Đặt đề tài nôngSự thật lúc này trở thành mặt chìmkhuất sau những lời hoa mĩ, ninh nọt thái quá Vì thế ta có thể nói rằng nói rõ sựthật chính là t cách và bản lĩnh của ngời cầm bút Nguyễn Văn Hạnh còn nhấn

mạnh: “Làm văn học nghệ thuật mà lẩn tránh sự thực, không dám nói hay không

nói lên đợc sự thật thì không thể nào biết mình đang là ai, đang đứng ở đâu, phải làm gì và tiến lên nh thế nào Giả dối làm tê liệt thần kinh và cằn cỗi tâm hồn, xúc phạm lơng tri …không có chút hi ng nó thờng lại ngọt ngào trau chuốt Còn sự thật thì mộc nh mạc trần trụi với những mặt tích cực cao đẹp của nó và có khi với những cái cay

đắng, đau lòng của nó Chỉ có sự thật mới phát huy đợc u điểm và mới sửa chữa

đợc khuyết điểm và sai lầm, đa công việc đến hiệu quả, định hớng đúng cho suy nghĩ và hành động… Đặt đề tài nông” đ[5;215]

Bất kì một thời đại nào cũng yêu cầu tính chân thực của văn học Trongdòng văn học hiện thực phê phán, Nam Cao đã từng phát biểu quan niệm nhà văn

Trang 28

không đợc “trốn tránh” đ sự thực, mà hãy “cứ đứng trong lao khổ, mở hồn ra đón

lấy tất cả những vang động của đời” đ Văn học hiện thực thiên về cảm hứng phê

phán Trong thời chiến, văn học cũng phản ánh đợc một thời đại đau thơng nhnganh dũng của dân tộc, tuy nhiên dờng nh nó thiên về cảm hứng ngợi ca chủnghĩa anh hùng dân tộc mà ít nói đến những đau thơng mất mát của con ngời, ítquan tâm đến số phận của cá nhân, tính cách cá nhân Đến với giai đoạn văn họcsau năm 1986, có thể nói đây là một giai đoạn văn học giàu tính nhân bản Lúcnày nhìn thẳng vào hiện thực không chỉ để nói rõ sự thật mà còn là để có nhữngbiện pháp cải tạo nó Bởi thế ta thấy văn học sau 1986 không chỉ dừng lại ở việcmiêu tả những mảng màu xám xịt của cuộc sống, hay ca ngợi một chiều mà lànhìn thấy đợc cả hai mặt tiêu cực, tích cực trong đời sống xã hội và con ngời đểvừa phát huy đợc những u điểm và sửa chữa đợc khuyết điểm, sai lầm nh Nguyễn

Văn Hạnh đã nói Và đặc biệt văn học lúc này trở thành “Ngời bạn đờng chia sẻ

mọi nguồn cơn đời thờng với con ngời” đ[18;32], sát cánh cùng con ngời trong

cuộc sống, đi sâu vào hang cùng ngõ hẻm của cuộc sống, phát hiện đời sống tâmhồn, cá tính, tâm lí, tính cách con ngời ở đó con ngời hiện lên không còn lànhững tính cách đơn giản yêu - ghét, tốt - xấu, đúng - sai, một cách rõ ràng màcon ngời đợc miêu tả sinh động hơn trong dạng tồn tại của cá nhân Con ngời cónhững mối quan hệ nhiều mặt phức tạp với xã hội, gia đình, con ngời phong phúcả về ý thức, tình cảm, bản năng, con ngời sâu sắc và hồn nhiên trong niềm vui

và nỗi buồn… Đặt đề tài nôngNgời ta đã có lí khi cho rằng văn học thời kì sau này thật hơn, đờihơn, nhân bản hơn Nhà văn không dùng hình tợng để minh họa cho một t tởng,một quan niệm về cuộc sống mà để cho hình tợng đó tự nói lên tất cả, có khả

năng độc lập và sống trong lòng độc giả, giành cho độc giả vị trí là ngời đồng

sáng tạo” đ với nhà văn Độc giả có thể đa ra những phán xét hay kết luận cuối

cùng của mình vừa mang tính chủ quan của hoạt động tiếp nhận và thởng thứcvừa mang tính khách quan do tác phẩm đa lại Nhà văn lúc này mới thực sự đợcphát huy vai trò tích cực chủ động sáng tạo của mình để đa ngòi bút theo nhữngbiên độ, vào chiều sâu của cuộc sống Họ thực sự đợc sống với những yêu, ghét,những cảm xúc chân thực của lòng mình, viết để thoả mãn yêu cầu của thời đại,nhu cầu của độc giả và cũng chính là đợc thoả mãn với chính tài năng nghệthuật, sở nguyện cầm bút của mình

Những điều kiện lịch sử - xã hội - văn hóa - thẩm mĩ mới đã tác động mạnh

mẽ tới văn học từ sau 1986 đến nay Văn học giai đoạn này vừa tiếp tục vănmạch truyền thống dân tộc lại vừa mang những nét mới của chính thời đại mangtới Có thể nói sau 1986 các đề tài chủ yếu nh thành thị, nông thôn, chiến tranh,

Trang 29

vừa đợc tiếp tục khai thác những vấn đề diễn ra trong cuộc sống, vừa đợc nhậnthức lại, đánh giá lại một cách sâu sắc.

2.2 Một số vấn đề nổi bật về hiện thực nông thôn trong tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay qua các tác phẩm đợc giải

2.2.1 Vấn đề họ tộc

“Quan hệ thân tộc là quan hệ giữa ngời và ngời dựa trên huyết thống” đ

[25;182] Quan hệ này đã xuất hiện từ lâu đời, là sản phẩm thừa hởng từ tựnhiên, có thể nói nó xuất hiện cùng lúc với sự xuất hiện của thị tộc bộ lạc ở ViệtNam quan hệ họ tộc tồn tại song song với quan hệ làng xã, ngay cả khi quan hệlàng xã mất hết cơ sở kinh tế thì quan hệ họ tộc vẫn cha bị diệt vong Quan hệ họtộc đã từng đóng vai trò trong làng xã nói riêng và trong xã hội Việt Nam nóichung ở một giai đoạn lịch sử nhất định, và quan hệ này là nòng cốt của nhiềumối quan hệ xã hội Quan hệ dòng họ thờng dẫn đến việc nảy sinh tâm lí tự hào

về dòng giống, điều này làm cho mỗi thành viên họ tộc sống có trách nhiệm hơn,

có chí tiến thủ hơn Và ta cũng thấy đợc tinh thần san sẻ, đùm bọc, bênh vực lẫnnhau giữa các thành viên Trong một chừng mực nhất định, tập thể họ tộc vẫnbảo lu đợc tính chất bình đẳng dân chủ của nó, tuy nhiên quan hệ họ tộc cũngnảy sinh nhiều vấn đề nhức nhối Một khi có chỗ dựa quyền lực nhiều thế giavọng tộc không khỏi sinh kiêu căng, có những hành động đè nén ức hiếp dòng

họ lép vế, dẫn tới những mâu thuẫn trầm trọng hoặc cậy thế áp bức ngời haytranh giành quyền lợi nhỏ hẹp ở nông thôn Do đặc trng của họ tộc là quan hệhuyết thống tự nhiên giữa các thành viên từ gần đến xa sống có trách nhiệm vớinhau nên sinh ra tâm lí phân biệt thân sơ Hậu quả của tâm lí này khá nghiêmtrọng, gây ra thói cầu cạnh, móc ngoặc, kết bè kết cánh Đối với làng xã và ngoàixã hội nó gây ra hiện tợng t vị, nể nang ảnh hởng đến công tâm, làm cho mọiviệc trở nên thiếu nghiêm túc, thiếu chính xác dẫn đến bè phái thù hằn chia rẽ,gây ra nhiều vụ kiện tập thể hoặc tuyệt giao hôn nhân giữa hai họ kéo từ đời nàyqua đời khác Quan hệ họ tộc đợc thể hiện trên hai mối quan hệ cơ bản, đó làmối liên hệ siêu hình giữa ngời sống và ngời chết thể hiện qua việc thờ cúng tổtiên, và mối liên hệ giữa những ngời đang sống, mà sợi dây liên hệ chủ yếu là sởhữu tập thể gồm có ruộng đất công và nhà thờ

Trong đời sống xã hội nông thôn Việt Nam đã bao đời nay vấn đề quan hệ

họ tộc tồn tại một cách phổ biến Hơn thế nữa nó còn trở thành một vấn đề nhứcnhối của nhiều làng xã, nó là biểu hiện của t tởng nông dân Xuất phát từ việcngời nông dân có thể coi quyền lợi của họ tộc cao hơn quyền lợi của bản thânmình nên nhiều ngời đã mạo danh quyền lợi của họ tộc để tập hợp đồng minh tincậy cho mình trong cuộc đấu tranh dành quyền lợi và ảnh hởng Từ đó gây ra

Trang 30

nhiều xung đột trong đời sống nông thôn Đây cũng chính là một hiện thực nóngbỏng mà các nhà văn tập trung khám phá và phản ánh trong những trang viết củamình Văn học nói chung, tiểu thuyết nói riêng viết về nông thôn trớc 1986, đặcbiệt trong chiến tranh thờng tập trung đi sâu vào mâu thuẫn giữa địch - ta, tốt -xấu Viết về nông thôn lúc này các tác giả thờng nghiêng về tinh thần tập thể,nông thôn với vai trò là hậu phơng vững chắc Hình ảnh ngời nông dân trở nên

đẹp lạ thờng, họ là những anh hùng mang phẩm chất con ngời xã hội chủ nghĩa.Dờng nh con ngời trong hoàn cảnh này chỉ biết đến giai cấp, dân tộc, chỉ hớngtới con ngời trong mối quan hệ với cái ta cộng đồng Nhng con ngời hôm nay đ-

ợc nhìn nhận ở nhiều vị thế trong tính đa chiều của mọi mối quan hệ Con ngời

đợc đặt trong nhiều mối quan hệ, đó là con ngời xã hội, con ngời gia đình, conngời gia tộc, con ngời phong tục tập quán, con ngời với thiên nhiên, con ngời vớicon ngời, con ngời với chính bản thân mình Một loạt tiểu thuyết nhìn nhận conngời với vấn đề họ tộc xuất hiện Mỗi nhà văn khai thác theo một hớng khácnhau nhng đều tập trung giải quyết vấn đề họ tộc nh một hiện tợng nóng bỏng

của đời sống nông thôn, tiêu biểu là Mảnh đất lắm ngời nhiều ma (Nguyễn Khắc Trờng), Bến không chồng (Dơng Hớng), Thuỷ hoả đạo tặc (Hoàng Minh Tờng), Cuốn gia phả để lại (Đoàn Lê), Bớc qua lời nguyền (Tạ Duy Anh),

Dòng sông mía (Đào Thắng)… Đặt đề tài nông Đây là những tác phẩm khai thác triệt để vấn đềnày ở nông thôn ở tầng sâu của đời sống, lòng nhân hậu, nghĩa tình của con ng-

ời vẫn là một mạch chảy nhng trong cuộc mu sinh ngời nông dân đã hiện ra đầyquyết đoán, năng động, đặc biệt là khi t tởng nông dân với tâm lí hiếu thắng, tínhgia trởng đợc kết hợp với tính ích kỉ và tính vụ lợi thờng tình

Dơng Hớng trong tác phẩm Bến không chồng đã khai thác vấn đề này qua

mối tình của những con ngời có mối thù dòng họ Mối thù dòng họ đày đọa sốkiếp con ngời, không cho họ có đợc một cuộc sống bình yên Mở đầu tác phẩm,tác giả giới thiệu về nhân vật Nguyễn Vạn để từ đó giới thiệu cho ta về lịch sử

làng Đông, là làng “lắm kẻ phong tình nhiều trai tài gái sắc", kể về sự tích bến

tình của làng và câu chuyện tình bi thảm giữa đôi trai gái dòng họ Vũ vàNguyễn Cách giới thiệu này giải thích cho nguyên nhân trong tờ gia phả của

dòng họ Nguyễn có kèm theo lời nguyền độc “mối thù truyền kiếp với dòng họ

Vũ” đ[8;24] Cụ tổ dòng họ Nguyễn đã khắc ghi một lời nguyền độc “Nớc sông

Đình ngàn năm không cạn - Cầu đá bạc vạn kiếp trơ trơ - Bến tình còn đẹp còn mơ - Mối thù họ Vũ bao giờ mới nguôi” đ Từ đó tác giả dẫn dắt tới chuyện tình

Nghĩa - Hạnh Nghĩa là trởng nam của dòng họ Nguyễn, một dòng họ lớn nhấtlàng Đông, còn Hạnh là con cháu dòng họ Vũ Qua nét khêu gợi của tiên nữ trêncon ngời Hạnh, tác giả dự báo một số phận, một chuyện tình không suôn sẻ, may

mắn “không biết rồi đời Hạnh có gặp điều gì oan ức nh cô Ngà ngày xa? Từ

Trang 31

ngày dòng họ có mối thù hận cha có cặp trai, gái nào yêu nhau trọn vẹn ” đ [8;65].Hạnh và Nghĩa gắn bó với nhau từ nhỏ và lớn lên yêu thơng nhau lúc nào khôngbiết Tình yêu của họ bị gia đình, dòng họ cấm đoán Nguyễn Vạn, ngời thân của

cả Hạnh và Nghĩa cũng tỏ ra phản đối “việc yêu đơng của hai cháu trớc sau gì

cũng sẽ đổ vỡ mất thôi Chú van các cháu hãy tĩnh trí lại …không có chút hi điều này thì thằng Nghĩa phải hiểu rõ hơn Cháu đang khôi phục lại dòng họ Nguyễn chả lẽ bây giờ cháu tự tay thiêu đốt nó một lần nữa hay sao” đ [8;69] Nguyễn Vạn cho rằng

tình yêu của Nghĩa dành cho Hạnh là sự phản bội lại dòng họ, phá huỷ lờinguyền dòng họ Còn bố mẹ Nghĩa mặc dù không ghét bỏ gì Hạnh nhng vẫn

không đồng tình cho hai ngời lấy nhau Mẹ Nghĩa nói với Hạnh “Đất họ Nguyễn

không phải là nơi cháu xây hạnh phúc Từ đời các cụ tổ gây nên mối thù hận thì

đời con cháu phải chịu” đ [8;475-476] Mặc dù gặp sự phản đối nhng cả hai vẫn

quyết tâm lấy nhau Và việc lấy nhau đó cũng không đa lại một cuộc sống bìnhyên, hạnh phúc cho đôi vợ chồng trẻ Họ phải sống lén lút, ngày thì về nhà, đêm

đến thì hò hẹn Bố mẹ Nghĩa mặc dù thơng Hạnh nhng không dám cho Hạnh về

ở sợ họ mạc cho đó là điều ô nhục của dòng họ Nguyễn Khi biết mình khôngthể có con, Hạnh đã quyết định li hôn giải thoát cho Nghĩa Ngay chính Nghĩa

cũng chịu sự tác động của dòng họ mình Chú Xeng đã nói với Nghĩa “Anh nên

nghĩ đến tơng lai của anh, của gia đình, của họ tộc” đ[8;243].

Nếu lần trớc Hạnh và Nghĩa đã đấu tranh vì tình yêu vợt qua mối thù dòng

họ, thì lần này Hạnh và Nghĩa đã thực sự hi sinh tình yêu của mình vì dòng họ,

sự hi sinh này diễn ra thật đau đớn Hạnh âm thầm chịu đựng nỗi khổ tâm củamình, không một niềm an ủi, ngay cả một đứa con Hạnh cũng không có Sự đau

đớn tột cùng, cảm thấy cuộc đời của mình bất hạnh đã khiến Hạnh thay đổi tínhnết Từ một cô gái tơi trẻ, đáng yêu, đầy sức sống, Hạnh trở nên xng xỉa khóchịu, tâm hồn cằn cỗi khô khan Hạnh lao vào tìm kiếm niềm vui trong công việc

gia đình, đồng áng Tính nết Hạnh còn trở nên khó hiểu có những lúc “bỗng dng

lại dở tính, thỉnh thoảng lẻn đi chơi khuya , ” đ gặp Vạn thì đang cời hơ hớ bỗng lại tu lên khóc” đ trong con ngời Hạnh nh có ma ám Vào một đêm đông sấm chớp

Hạnh chạy một cách vô thức tới ôm lấy Vạn Sự kiện này khiến Hạnh mang thai

và bỏ làng ra đi, hình ảnh “bóng Hạnh loạng choạng lao vút ra cửa chìm trong

đêm tối đen đặc” đ[8;294] ám ảnh lớn trong đầu Vạn và cũng là hình ảnh gợi ám

ảnh cho ngời đọc về một thân phận tủi nhục, đau đớn, cùng quẫn, bế tắc Ngay

đến ngày trở về với niềm hi vọng đợc sống trong một mái ấm gia đình có chồngcon sum vầy cũng không đợc Lần đầu tiên Hạnh cảm thấy một cái đêm yên ổn

và hạnh phúc trọn vẹn, không chờ đợi lo lắng khao khát, mơ ớc điều gì cả nhngcuối cùng hạnh phúc không đến nh mong ớc của Hạnh Cuộc đời Hạnh là sự kết

Trang 32

nối của những chuỗi ngày đau khổ, bế tắc liên tiếp Chính quan niệm về dòng họ

đã đày đọa cô, đẩy cô đến số phận bất hạnh

Đan xen với cuộc đời đáng thơng của Hạnh là cuộc đời của Nguyễn Vạn.Nguyễn Vạn là nhân vật mang nặng t tởng dòng họ, ngay cả tình yêu của mình

đối với Nhân - con cháu dòng họ Vũ, cũng không dám đấu tranh, để rồi phải bỏ

đi bộ đội Khi chiến thắng trở về mặc dù Nhân vẫn ở vậy nuôi con nh ng Vạn vẫngiữ kín tình cảm đó trong tận đáy lòng mà không dám thổ lộ Vạn không dám

nói lời yêu vì đối với Vạn đó là điều khủng khiếp Theo Vạn “trên đời này còn

bao nhiêu chuyện ràng buộc: danh dự, uy tín…không có chút hi” đ[8;150] Vạn đã sống trong

những ràng buộc khuôn phép cứng nhắc và chính những điều đó đã gìm chặt lấycuộc đời Vạn trong một vòng đời luẩn quẩn với những uy tín, danh dự, dòng họ

Vạn từng ví tình yêu của mình nh tình cảm dòng họ “vừa kiêu hãnh mà cách xa,

vừa yêu thơng và giận dỗi” đ[8;31] Vạn không biết rằng tình yêu là một thứ tình

cảm cần thiết và tồn tại tất yếu trong đời sống con ngời Khi ngăn cản tình cảm

của Hạnh và Nghĩa, Vạn đã liên hệ với tình cảm của mình và nói với Hạnh “ chú

đây cũng có thời yêu mẹ cháu Nếu nh chú mà không vững vàng giữ mình thì bây giờ cũng đã mất mát hết cả” đ[8;69] Suy nghĩ này đã bị Hạnh trách là “hèn” đ, là

“ngời không có tim” đ Vạn đã sống nh một vị thầy tu khổ hạnh, đè nén mọi ham

muốn dục vọng rất ngời trong mình Vì danh dự uy tín Vạn đã chấp nhận mộtcuộc sống đơn độc, mặc dù đã có lúc trong ngời Vạn rạo rực Đã có lúc gần gũivới chị Nhân, nhng Vạn lại dùng lí trí của mình để kìm hãm lại Vạn đã sốngtrong sự đấu tranh giữa lí trí và dục vọng, và cuộc đấu tranh này diễn ra dai dẳng

và không kém phần quyết liệt Tác giả đã miêu tả cuộc đấu tranh bên trong ngờiVạn đó là một cuộc sống không bình thờng Có những đêm Tốn mở nhạc trong

ngày cới, Vạn không sao ngủ đợc “cả đời Vạn đã có một mối tình nào đâu mà

biết nói buồn và niềm lạc thú của tình yêu… Đặt đề tài nông” đ Tác giả còn viết “Có vài lần lí trí của Vạn không kìm nén đợc đã để cho bản năng xác thịt tự do phóng túng nhìn

mụ Hơn vén quần nằm tênh hênh ở giữa sân, phơi bộ đùi trắng hớn đầy quyến rũ của ma quỷ ” đ[8;220] Vạn luôn thấy ám ảnh không yên mỗi khi gặp “bọn đàn bà con gái hớ hênh phơi phần da thịt trắng hớn ra giữa trời đất Gặp cảnh này Vạn lại nhảy vào giờng vật mình, vật mẩy và nhận ra mình là kẻ h hỏng quá lắm Ngày tháng trôi đi Vạn vẫn sống trong thế giới riêng vừa cô đơn vừa sống động” đ

[8;287] Và có lúc Vạn thấy “tiếc mình không lấy vợ sớm, xa nay có mấy khi

Vạn nghĩ đến bản thân mình” đ để rồi cuối cùng Vạn đã không thể dùng lí trí để

khống chế dục vọng ham muốn của mình Vạn làm việc đó với Hạnh một cách

vô thức bản năng “sự ham muốn của Nguyễn vạn lần này còn mãnh liệt hơn lần

Vạn chạm vào ngực mụ Hơn, Vạn buông thả cho thân xác tự do gây tội lỗi, tự do rên xiết trên thân thể rừng rực của ngời đàn bà, lần đầu tiên trong đời Vạn thấy

Trang 33

sung sớng cực độ và quên hẳn mình” đ [8;291] Vạn đã rơi vào thảm cảnh mà

chính mình là kẻ gây ra tội lỗi “phút giây thần tiên qua đi …không có chút hi và Nguyễn Vạn thấy

rõ tên tuổi mình cũng qua đi” đ Vạn nghĩ ngợi, ăn năn, hối hận và tự xỉ vả mình, tự

cho là điều nhục nhã Vạn sống trong mặc cảm tội lỗi và cuối cùng tìm đến cáichết để giải thoát cho cái nhục nhã của đời mình, cũng là giải thoát cho cuộc đờiHạnh Cái chết ấy đã khép lại một kiếp sống tội nghiệp vừa đáng thơng lại vừa

đáng trách Cuộc đời Nguyễn Vạn là một cuộc đời đầy vẻ vang của chiến công,

đợc làng Đông kính nể, nhng có thể nói rằng Nguyễn Vạn không sống mà là tồntại, là con ngời của nghĩa vụ, của dòng họ Vạn đã sống cho cả làng Đông, chocả dòng họ Nguyễn cho danh dự uy tín của mình, nhng lại quên đi một phầnkhông thể thiếu, một phần làm nên sự sống của cuộc đời mình, đó là hạnh phúctình yêu Khi nhận ra thì đã quá muộn, Vạn đã để tuổi xuân của mình tàn lụitheo thời gian, để cho tuổi già sống trong mặc cảm tội lỗi và cuối cùng là cáichết

Qua mối tình Hạnh - Nghĩa, qua cuộc đời Nguyễn Vạn, nhà văn phản ánhmột hiện trạng đang diễn ra trong t tởng ngời nông dân, trong đời sống nôngthôn, đó là sự chi phối của quan niệm dòng họ Nó ngấm sâu vào máu thịt củangời nông dân sai khiến và chi phối họ buộc họ hành động trái với bản chất củamình Họ có thể hi sinh lợi ích cá nhân để phục vụ lợi ích dòng họ Chính vì thế

đã tạo nên những số phận bất hạnh, con ngời bị tớc đoạt tình yêu tuổi xuân, niềmmơ ớc hạnh phúc, bị đẩy vào cuộc sống bế tắc Những ngời nông dân ở đâychính là nạn nhân của t tởng dòng họ Qua số phận bất hạnh của Hạnh, Nghĩa,Nguyễn Vạn, tác giả thể hiện thái độ lên án quan niệm t tởng lạc hậu bảo thủtrong đời sống nông thôn, gióng một hồi chuông cảnh báo, chừng nào quan niệm

t tởng dòng họ còn nặng nề chừng đó ngời nông dân vẫn cha thoát ra đợc những

bi kịch về một cuộc đời hẩm hiu, bất hạnh Đồng thời tác giả cũng đa ra một ớng giải quyết mang tinh thần lạc quan cho nhân vật của mình và cũng là điềumong muốn của tác giả đối với ngời nông dân trong cuộc sống của mình là xoá

h-bỏ thù hận Ông Xung, một ngời vốn mang nặng t tởng dòng họ cũng đã phảikhiếp sợ vì hậu quả của t tởng này mang lại, ông đã thực sự thức tỉnh, mong

Nghĩa “nhân danh trởng tộc đứng lên tuyên bố trớc họ xoá bỏ lời nguyền xa của

cụ tổ Phải xoá bỏ mọi hận thù già rồi nghĩ lại mới khiếp sợ” đ[8;304] Và phải

chăng cái chết của Nguyễn Vạn là cái chết của một quan niệm phong kiến lạchậu? Tác giả mong muốn t tởng ấy sẽ không đè nặng lên số kiếp của ngời nôngdân nữa, mà đó là sự chiến thắng của hạnh phúc cá nhân đối với quan niệm dòng

họ, tình yêu chiến thắng thù hận, thể hiện qua sự trở về của Hạnh và Nghĩa

Cũng viết về vấn đề này nhng Nguyễn Khắc Trờng trong Mảnh đất lắm

ng-ời nhiều ma khai thác theo hớng khác đã để lại một ám ảnh lớn trong ngng-ời đọc

Trang 34

về hậu quả của quan niệm t tởng dòng họ Truyện đợc mở ra với một không gian

đặc biệt đó là cảnh túng đói của những ngày giáp hạt ở xóm Giếng Chùa, mộtxóm quen đứng đầu về sự no đủ Tác giả miêu tả cái đói đến với con ngời và

cảnh vật ở đây thật là thảm hại "nhiều nhà nấu cháo phải độn thêm rau tập tàng.

Nhiều nhà luộc chuối xanh chấm muối , ” đ đến “cái cời trong lúc đói đã không ra

tiếng lại bóp cho héo quắt cả mặt nồi niêu lúc nào cũng há ra cái miệng rỗng, nhẵn nh đầu bụt Đờng làng đầy rác rởi và phân trâu bò "[21;6-8] Thời gian

nghệ thuật đợc tác giả lựa chọn là thời gian về đêm, khi bóng tối dày đặc baophủ lấy cuộc sống con ngời Đó là bóng tối của ma quỷ hắc ám và đầy hiểm họa.Thời gian đó không chỉ gợi cho ta về số kiếp con ngời nh đang bị đe dọa đến tộinghiệp mà bóng đêm ấy còn đồng loã với tâm địa đen tối của từng con ngời,những sự ăn năn, thoả thuận ngầm của các đối thủ Tất cả mọi sự khuất tất đều

diễn ra trong đêm tối Tác giả viết "đêm che chở và đêm đồng loã" [21;90]

Mở đầu truyện tác giả đã sử dụng thành công bút pháp "h thực" H là phầnhuyền thoại, tác giả vận dụng lối kể h ảo của truyện kể dân gian nh ma đom

đóm, sự tích bùa mê, sự tích về con chim quốc kêu một trăm ngày rồi chết,chuyện tô tem của dòng họ Trịnh Bá là ông Hổ gác đó thì tiền sử của gia tộc rồichuyện ngời đi chơi với ma, sống giữa loài ma, trong thế giới đêm đen con ngờigặp ma thì hoá ra ma ngời Ngay cả cái ngời chuyên lo chuyện tà ma nh cô thống

Biệu lại phát hiện ra cái lũ ngời ma đang sống giữa ban ngày Đừng tởng đất này đã hết ma Ma còn đẻ sinh đôi sinh ba nữa cơ đấy! Các vị có nhớ hôm trớc hợp tác họp để chia ruộng khoán không? nhìn chả thấy ngời đâu toàn ma! những con ma tham, ma ác từ đấy chui ra chả còn bùa đâu mà yểm cho xuể” đ[21;15] Truyện đã hé lộ cho chúng ta biết đây không còn là chuyện ma

trong huyền thoại mà là ma giữa đời thờng, là ma tồn tại trong những con ngời

đại diện cho quyền lực Từ câu chuyện huyền thoại tác giả dẫn dắt đến đời sốngthực tại, sự ma quái ấy không chỉ ám ảnh con ngời trong thế giới huyền thoại mà

ám ảnh con ngời, hiện hữu trớc mặt con ngời Cô thống Biệu, nhân vật chuyêntrừ tà ma nhng đối với những con ma tồn tại trong đời sống thực thì cũng bất lực,

để thấy thế lực hắc ám ma quỷ đang hoành hành, đó là ma tham ma ác Cô thống

Biệu kết luận “Các ngời đừng có vội tí toét, ma nó vẫn ngủ gà ngủ gật ở ngay

trong lòng các ngời… Đặt đề tài nông” đ[21;15] Ngay từ những trang đầu tiên tác giả đã miêu tảmột mảnh đất toàn ma: ma chết, ma sống, ma giả, ma thật… Đặt đề tài nônggợi âm khí nặng nề.Tác giả tạo đợc một không khí riêng trong tác phẩm Không khí âm dơng lẫnlộn, quỷ ở với ngời, có những ngời khó tách bạch đâu là phần ngời đâu là phầnquỷ Đây là lối viết độc đáo, tác giả muốn dẫn dắt ngời đọc tới một hiện thực đentối trong lòng ngời Lũ ngời ma kia không từ một thủ đoạn nào, bịa đặt vukhống, dọa nạt, đào mồ cuốc mả, hãm hại trù dập kể cả đẩy ngời thân vào chỗ

Trang 35

chết Trong thế giới ấy con ngời xuất hiện mang theo cả một mối mâu thuẫn

“truyền kiếp” đ giữa hai dòng họ mà trong mỗi bên đều có ngời cầm cân nảy mực.Quyền lợi và uy lực đã dẫn đến những toan tính độc ác nảy sinh, cái ý thức dòng

họ đợc tác giả khắc họa nh một hiện tợng chìm sâu ngấm ngầm dai dẳng và chiphối đến đời sống nông thôn

Mảnh đất lắm ngời nhiều ma tập trung thể hiện cuộc dằng co giữa hai

dòng họ Vũ Đình và Trịnh Bá Hai con ngời Vũ Đình Phúc và Trịnh Bá Thủ làtrung tâm của tiểu thuyết và cũng là cơn lốc cuốn theo bao mảnh đời, thân phậnkhác Tởng Vũ Đình Phúc vì quyền lợi mà quên đi mối quan hệ dòng họ với cụ

Cố nhng đó chỉ là những việc làm để che mắt thiên hạ Khi vào Đảng để chứngminh mình li khai nguồn gốc địa chủ, vợ chồng Phúc đã ra ở riêng, Phúc còn ủng

hộ phong trào thanh niên đấu tố bọn địa chủ cờng hào trong đó có bố ông là Vũ

Đình Đại Sau việc đó Vũ Đình Đại rất tức giận không muốn nhìn mặt con nhngkhi nghe nhắc đến dòng họ Trịnh Bá nói xấu dòng họ mình thì ông cụ cũng

“Chịu quy phục hoàn toàn trớc lí lẽ của ngời con trai mà cụ đã tng rủa không

thiếu một lời nào” đ[21;27] Mối thù truyền kiếp đối với dòng họ Vũ Đình “Không nhắc quên đi thì thôi, chứ nếu chỉ khẽ khơi dậy là ngọn lửa bùng cháy ngay lên” đ.

Đó là mối thù đất đai ở thời ông cụ và mối thù hôn nhân ở thời Vũ Đình Phúc.Chính mối thù này khiến cho ngời nông dân trở nên độc ác tàn nhẫn Tính chất

ma quỷ tồn tại ngay bên trong con ngời, xui khiến họ hành động mất hết nhântính Việc ông Hàm đào mồ của cụ Cố chính là một hành động trái với đạo lí.Mối thù đã làm họ trở nên mù quáng, lôi kéo thêm những ngời nông dân khácphục vụ cho mục đích đen tối của mình Việc đào mồ này bị bại lộ đã khiến chomâu thuẫn càng diễn ra trực diện gay gắt Hai bên gầm ghè, ngấm ngầm mu tính

để hại nhau, trả thù nhau Khi ông Hàm bị giải lên xã thì ở nhà Thủ tìm mọi cách

để cứu vãn tình hình Lợi dụng mối tình xa giữa bà Son và Vũ Đình Phúc, Thủkéo bà Son một ngời nông dân hiền lành, chất phác quen sống cảnh cam chịutrong gia đình Trịnh Bá Hàm tham gia vào mối thù này Ngời phụ nữ này lúc còntrẻ là một ngời con gái đẹp nhất làng cả ngời lẫn nết Số phận bất hạnh đã đẩy bà

đến với Trịnh Bá Hàm Cuộc đời làm vợ của bà Son không đợc hạnh phúc bởi bàcũng đã liên quan đến mối thù hai dòng họ, đó là mối thù về hôn nhân Hàm choPhúc đã hớt tay trên của mình, cho mình là kẻ đến sau, bao nhiêu tức tối thù hậnHàm đều trút lên bà Son Ngay đêm tân hôn đầu tiên Hàm đã hành hạ chửi bới

đánh đập sỉ nhục để rồi cuối cùng bà cam chịu làm thân phận nô lệ trong gia

đình ông Nay khi ông Hàm gặp nạn bà lại phải nhúng tay vào những việc trái

với đạo lí “vì họ Trịnh Bá nhà mình” đ [21;194] Khi gặp ngời tình năm xa bà Son

đã không nén nổi xúc động và tâm sự với Phúc trong sự uất nghẹn về nỗi khổ của

mình Muốn sống yên phận cũng chả đợc Mang tiếng là chồng con nhà cửa đề

Ngày đăng: 22/12/2013, 12:52

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w