1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hiệu quả sử dụng các chế phẩm BRF 2 AQUAKIT và AQUAMIX trong ao nuôi công nghiệp tôm sú ở hai mật độ thả giống 25 conm2 và 40 conm2 tại thới bình cà mau

47 996 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hiệu quả sử dụng các chế phẩm BRF 2 AQUAKIT và AQUAMIX trong ao nuôi công nghiệp tôm sú ở hai mật độ thả giống 25 conm2 và 40 conm2 tại Thới Bình - Cà Mau
Tác giả Lấ Văn Nhân
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Nuôi Trồng Thủy Sản
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp kỹ sư
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 47
Dung lượng 491 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bên cạnh sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi tôm đã kéo theo sự suy giảm chất lượngmôi trường và bùng phát dịch bệnh làm giảm chất lượng môi trường nuôi tôm trên toàn thế giới.Trong

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh - -

Lấ VĂN NHÂN

HIỆU QUẢ SỬ DỤNG CÁC CHẾ PHẨM BRF – 2 AQUAKIT VÀ AQUA MIX TRONG AO NUễI CễNG NGHIỆP TỐM SÚ Ở HAI MẬT ĐỘ THẢ

GIỐNG 25 CON/M2 VÀ 40 CON/M2TẠI THỚI BèNH – CÀ MAU

KHểA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ SƯ NGÀNH: NUễI TRỒNG THỦY SẢN

Vinh, 01/2009

MỞ ĐẦU 1

Trang 2

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3

1.1 Tình hình nuôi tôm trên thế giới và ở Việt Nam 3

1.1.1 Tình hình nuôi tôm trên thế giớI 3

1.1.2 Tình hình nuôi tôm ở Việt Nam 6

1.2 Chế phẩm sinh học 9

1.2.1 Khái niệm chế phẩm sinh học 9

1.2.2 Thành phần của chế phẩm sinh học 10

1.2.3 Tác dụng của chế phẩm sinh học 10

1.3 Tình hình nghiên cứu, sản xuất và sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi tôm trên thế giới và ở Việt Nam 12

1.3.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất và sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi tôm trên thế giới .12

1.3.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam 14

1.3 Một số yếu tố môi trường ảnh hưởng đến tôm nuôi 16

1.3.1 Nhiệt độ nước 17

1.3.2 Độ mặn 17

1.3.3 Hàm lượng oxy hoà tan DO (mg O2/lít) 18

1.3.4 Độ kiềm 18

1.3.5 Độ trong 19

1.3.6 Chỉ số pH 19

1.3.7 Hàm lượng Amoniac NH3 (mg/lít) 19

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 21

2.1 Phạm vi nghiên cứu 21

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu 21

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu 21

2.1.3 Thời gian nghiên cứu 22

Trang 3

2.2 Vật liệu và nội dung nghiên cứu 22

2.2.1 Vật liệu nghiên cứu 22

2.2.2 Nội dung nghiên cứu 22

2.3 Phương pháp nghiên cứu 22

2.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 22

2.3.1.1 Các công thức thí nghiệm 22

2.3.1.2 Sơ đồ nghiên cứu 24

2.3.1.3 Quy trình nuôi 25

2.4 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 25

2.4.1 Phương pháp xác định các yếu tố môi trường 25

2.4.2 Phương pháp xác định sự sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi 26

2.4.2.2 Tỷ lệ sống của tôm nuôi 27

2.4.3 Phương pháp đánh giá kết quả và hiệu quả sản xuất 27

2.4.4 Phương pháp xử lý số liệu 28

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29

3.1 Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường ở các công thức thí nghiệm 29

3.1.1 Nhiệt độ nước, pH, độ mặn và độ kiềm 29

3.1.2 DO, độ trong và NH3 32

3.2 Kết quả theo dõi sự sinh trưởng phát triển của tôm nuôi 37

3.2.1 Tăng trưởng về chiều dài 37

3.2.2 Tăng trưởng về khối lượng 39

3.2.3 Tỷ lệ phân đàn 41

3.3 Kết quả theo dõi tỷ lệ sống của tôm nuôi 42

3.4 Kết quả sản xuất 44

3.4.1 Kết quả sản xuất trực tiếp 44

3.4.2 Hiệu quả kinh tế 45

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 46

Kết luận 46

Trang 4

Bên cạnh sự phát triển nhanh chóng của nghề nuôi tôm đã kéo theo sự suy giảm chất lượngmôi trường và bùng phát dịch bệnh làm giảm chất lượng môi trường nuôi tôm trên toàn thế giới.Trong đó một số quốc gia lớn như Thái Lan, Trung Quốc, Đài Loan, Nhật Bản…đang gặp phảinhững hạn chế lớn trong vấn đề môi trường góp phần liên quan đến tính bền vững trong Nuôitrồng thuỷ sản (Bộ thuỷ sản, 2002)[27].

Sự ô nhiễm môi trường trong ao nuôi được hình thành từ lớp bùn, cặn bã hữu cơ dơ bẩntích tụ lâu ngày ở đáy ao, có nguồn gốc từ các loại thức ăn dư thừa, các chất thải của tôm (vỏtôm, xác tôm, uế chất) và các uế chất hữu cơ khác có trong ao nuôi Chính những lớp bùn dơbẩn đó là nguồn chứa đủ mọi loại vi sinh vật gây bệnh và khí độc Việc sử dụng kháng sinh, hoáchất để xử lý môi trường và phòng trừ bệnh dịch trong nuôi tôm thâm canh và bán thâm canhngày càng được mở rộng nhưng không có những quy định nghiêm ngặt về liều lượng và cách sửdụng chúng (Lin, 1989) Điều này đã có tác động không nhỏ đến nuôi trồng thuỷ sản và rủi roliên quan đến bệnh dịch và an toàn thực phẩm

Để giải quyết một số tình trạng trên thì vấn đề đặt ra là duy trì môi trường nước ổn định

và thuận lợi trong suốt quá trình nuôi, hạn chế dịch bệnh, tăng khả năng sử dụng thức ăn, nângcao năng suất sản xuất đang được các nhà khoa học, các trường, viện quan tâm nghiên cứu.Ngày nay chế phẩm sinh học là một công cụ quản lý đã có một nền tảng vững chắc cho phầnlớn hoạt động nuôi tôm trên toàn thế giới Chế phẩm sinh học đã dược chấp thuận rộng rãi để

Trang 5

làm sạch môi trường, khống chế các nguồn dịch bệnh trong nuôi tôm, tăng sức đề kháng vàchống lại bệnh dịch Ngoài ra còn hạn chế được việc sử dụng kháng sinh, hoá chất trong quátrình nuôi Ngược lại với kháng sinh, chế phẩm sinh học cung cấp một phương thức an toàn vàbền vững đối với người nuôi và người tiêu dùng Tuy nhiên, hiện nay trên thị trường có rấtnhiều loại chế phẩm sinh học được sử dụng trong ao nuôi tôm như: BRF – 2 Aquakit, Pondclear, Pond bac, Turbobac, Zeobac, Aqua Mix, … nhưng việc sử dụng chế phẩm sinh học nào làđúng chất lượng, phù hợp và cho hiệu quả kinh tế cao đồng thời nâng cao chất lượng sinh tháimôi trường đó là một vấn đề cần nghiên cứu.

Xuất phát từ thực tế trên, được sự đồng ý của bộ môn Nuôi trồng thuỷ sản, khoa NôngLâm Ngư – trường Đại Học Vinh cùng với sự quan tâm giúp đỡ của thầy giáo Ths Nguyễn

Thức Tuấn, kỹ sư Nguyễn Thức Định, chúng tôi tiến hành đề tài: “Hiệu quả sử dụng các chế

phẩm BRF - 2 Aquakit và Aqua Mix trong ao nuôi công nghiệp tôm Sú ở hai mật độ thả giống 25 con/m 2 và 40 con/m 2 tại Thới Bình – Cà Mau”.

* Mục tiêu của đề tài:

Đánh giá hiệu quả sử dụng các chế phẩm BRF – 2 Aquakit và Aqua Mix trong ao nuôi côngnghiệp tôm Sú thương phẩm ở hai mật độ thả giống 25 con/m2 và 40 con/m2 nhằm đề xuất chế phẩm

và mật độ nuôi phù hợp tại Thới Bình – Cà Mau

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Trang 6

1.1 Tình hình nuôi tôm trên thế giới và ở Việt Nam

1.1.1 Tình hình nuôi tôm trên thế giới

- Nghề nuôi tôm trên thế giới đã hình thành cách đây nhiều thế kỷ, nhưng nghề nuôi tômhiện đại chỉ mới bắt đầu từ những năm 1930 của thế kỷ này Năm 1935, TS – M.Fujinaga lầnđầu tiên cho đẻ thành công loài tôm he Nhật Bản (P Japonicus), nhưng mãi đến năm 60 quytrình sản xuất giống nhân tạo mới tương đối ổn định và đưa vào sản xuất đại trà tại nhiều nướctrên thế giới nhằm cung cấp nguồn con giống phục vụ cho nghề nuôi tôm thương phẩm[11]

- Năm 2000, sản lượng NTTS toàn cầu đạt 45,71 triệu tấn với giá trị đạt 56,47 USD, tăng6,3% về khối lượng và 4,8% về giá trị so với năm 1999 Tuy tôm và các loài giáp xác khác chỉchiếm 3,6% về sản lượng nhưng chúng lại chiếm tới 11,6% về tổng giá trị NTTS năm 2000.Mặc dù phải chịu nhiều đợt dịch bệnh nghiêm trọng ở châu Mỹ Latinh và châu Á nhưng tốc độgia tăng tính theo tỷ lệ phần trăm bình quân của ngành sản xuất tôm vẫn đạt 6,8% về khốilượng

Dựa vào mức độ công nghiệp và năng suất có thể chia các hình thức nuôi tôm thành 4loại hình thức là: nuôi quảng canh, quảng canh cải tiến, nuôi bán công nghiệp (nuôi bán thâmcanh) và nuôi công nghiệp (nuôi thâm canh) Nuôi công nghiệp là hình thức nuôi dựa hoàn toànvào thức ăn bên ngoài, chủ yếu là thức ăn viên có chất lượng cao Thức ăn tự nhiên không quantrọng, mật độ nuôi cao (>20 tôm bột/m2) Diện tích ao nuôi từ 0,5 đến 1ha, tối ưu là 1ha Ao xâydựng rất hoàn chỉnh, cấp và tiêu nước chủ động, có đầy đủ các thiết bị và phương tiện để phục

vụ cho sản xuất[26] Hiện nay nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật, sự hỗ trợ của công nghệsinh học, nuôi tôm công nghiệp đã trở thành nguồn cung cấp nguyên liệu tôm chủ yếu trên thịtrường thế giới

Bảng 1.1 Đặc điểm của các hình thức nuôi

Quảng canh Quảng canh

cải tiến Bán thâm canh

Thâm canh (công nghiệp)

Trang 7

- Mật độ: 4 - 5 con/

m2

- Thức ăn: tự nhiên, thức ăn tự chế và cho thêm thức ăn công nghiệp

- Quạt nước: khôngcó

Năng suất: 0,6 1,0 tấn/ha/năm

Diện tích: 0,5 1,5ha

Con giống: Nhân tạo

- Mật độ: 6 - 20 con/m2

- Thức ăn: thức ăn công nghiệp

- Quạt nước: một cánh quạt cho 3000

- 3500 con tôm

- Năng suất: 1 - 5 tấn/ha/năm

- Diện tích: 0,5 - 1ha

- Con giống: Nhân tạo

- Mật độ: > 20 con/

m2

- Thức ăn: thức ăn công nghiệp

- Quạt nước: một cánh quạt cho 3000 -

Bảng 1.2 Sản lượng tôm nuôi trên thế giới từ năm 2001 đến 2005

Trang 8

(Nguồn:Vasep, 09/10/2007)

Khoảng 50 quốc gia trên thế giới có ít nhiều khả năng sản xuất tôm Những quốc gia này tậptrung chủ yếu ở hai khu vực là Đông bán cầu và Tây bán cầu Khu vực Đông bán cầu chủ yếu tậptrung vào các nước châu Á nơi mà sản lượng chiếm tới 80% toàn thế giới Các quốc gia có sản lượngnuôi lớn là: Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia, Ấn Độ, Philippine, Đài loan, Việt Nam, Nhật Bản Tạicác nước Tây bán cầu sản xuất 20% số tôm còn lại, trong đó 99% có xuất xứ từ châu Mỹ Latinh,đứng đầu là Ecuador chiếm tới 71%, sau đó là Colombia, Mexico, Peru và Brazil[8]

Theo đánh giá gần đây cho thấy nhu cầu tiêu thụ sản phẩm tôm trên thế giới đang ở mứccao Điển hình là Mỹ chiếm 60% thị trường thế giới trong khi khả năng sản xuất chỉ đạt 25% sovới 75% phải nhập khẩu từ nước ngoài [42] Tiếp theo là thị trường EU, Nhật Bản là những thịtrường nhập khẩu tôm quan trọng trên thế giới Điều này tạo cho các quốc gia nuôi tôm, đặc biệt

là nuôi tôm Sú nhiều cơ hội phát triển để thu ngoại tệ góp phần phát triển kinh tế đất nước

Bảng 1.3 Một số thị trường nhập khẩu tôm trên thế giới

384.141264.924180.662159.597114.9701.256.7814.026220.9601755.871

708.303330.725231.717191.148113.2401.833.0444.577277.5431885.116

836.944360.292275.689238.687133.0202.138.1964.731289.2181666.006

1.024.949375.320327.200279.639143.1702.376.1613.646270.3052105.744

Trang 9

293.46186.647127.84151.54679.31224.368

283.32590.284143.27357.77693.52527.026

301.60891.448144.97759.30110.14929.978

(nguồn: INFOFISH)

1.1.2 Tình hình nuôi tôm ở Việt Nam

Nghề nuôi tôm xuất hiện ở Việt Nam khoảng 100 năm trước đây Theo số liệu ghi chép,vào thập kỷ 70 nghề nuôi tôm quảng canh tồn tại ở cả miền Bắc và miền Nam Theo Ling(1973) và Rabana (1974) cho biết diện tích nuôi tôm ở đồng bằng sông Cửu Long thời kỳ nàykhoảng 70.000 ha Miền Bắc, trước năm 1975 có 15.000 ha nuôi tôm nước lợ Nghề nuôi tômViệt Nam thực sự phát triển sau năm 1987 khi chúng ta du nhập được công nghệ sản xuất giống

và công nghệ nuôi thương phẩm tôm, cùng với nhu cầu tăng cao của thị trường, chính sách pháttriển của nước ta (Vũ Đỗ Quỳnh, 1989; Phạm Khánh Ly, 1999) Đến giữa thập kỷ 90, nuôi tôm

ở nước ta có phần chừng lại do gặp nạn dịch tôm nuôi ở đồng bằng sông Cửu Long Theo thống

kê của Bộ Thủy Sản (1996), nạn dịch bệnh ở đồng bằng sông Cửu Long năm 1994 – 1995 gâyảnh hưởng tới 85.000 ha và gây thiệt hại 294 tỷ đồng Sau năm 1996 tình hình dịch bệnh cógiảm nhưng vẫn gây nhiều thiệt hại cho nghề nuôi tôm (Nguyễn Văn Hảo, 2002)[32]

Sau năm 2000, diện tích nuôi tôm Việt Nam tăng lên đáng kể Từ 250.000 ha năm 2000,lên trên 530.000 ha sau năm 2003, năm 2005 là 604.479 ha và đưa Việt Nam trở thành nước códiện tích nuôi tôm lớn nhất thế giới (Bộ thuỷ sản)[12, 34] Sản lượng tôm nuôi tăng mạnh từ sau

năm 90 và đặc biệt là sau năm 2000 Trong các đối tượng nuôi trồng thì tôm Sú (Penaeus

monodon) là loài tôm nuôi chủ yếu.

Bảng 1.4 Diện tích và sản lượng tôm nuôi ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2005

Diện tích

Trang 10

(Nguồn: Số liệu thống kê của Bộ Thủy Sản từ năm 2000 đến 2005)

Khu vực đồng bằng sông Cửu Long có sản lượng nuôi tôm lớn nhất trong cả nước Năm

2005 sản lượng tôm nuôi nước lợ là 263.560 tấn (bằng 81,2% sản lượng tôm nuôi cả nước),tăng gấp 4,5 lần sản lượng năm 1999 Tuy nhiên phương thức nuôi chủ yếu vẫn là nuôi quảngcanh và quảng canh cải tiến nên năng suất trung bình không cao, đạt 492 kg/ha

Khu vực Đông Nam Bộ có sản lượng tôm nuôi năm 2005 là 20.010 tấn, tăng gấp 1,67 lần

so với năm 2004

Khu vực các tỉnh ven biển Nam Trung Bộ có sản lượng tôm nuôi năm 2005 là 21.600tấn, thấp hơn năm 2004 do diện tích nuôi tôm giảm (năm 2004 là 22.625 tấn, tăng hơn năm

1999 là 11.211 tấn)

Các tỉnh Bắc Trung bộ có sản lượng tôm nuôi năm 2005 là 12.390 tấn, tăng gấp 8,1 lần

so với năm 1999 Năng suất trung bình đạt được năm 2005 là 905 kg/ha

Các tỉnh ven biển đồng bằng Sông Hồng có sản lượng tôm nuôi năm 2005 là 15.750 tấn,tăng 13.247 tấn so với năm 1999 [34]

Công nghệ nuôi tôm ở Việt Nam cũng có những bước phát triển nhất định trong thời gianqua Hệ thống nuôi quảng canh tồn tại vào những năm 70 được thay thế bằng hình thức nuôiquảng canh cải tiến vào những năm 80 Sang những năm 90 nghề nuôi tôm Việt Nam tồn tại cả

ba hình thức nuôi: Quảng canh cải tiến, nuôi bán thâm canh và nuôi thâm canh Sau năm 2000phần lớn diện tích nuôi tôm của Việt Nam là hình thức nuôi quảng canh cải tiến Điều này đãlàm giảm năng suất tôm nuôi ở thời điểm này (đạt 340 kg/ha năm 2001 so với 360 kg/ha năm2000) [18] Sau năm 2000 diện tích nuôi tôm tăng lên đáng kể, tuy nhiên theo nhiều báo cáohiện nay cho thấy, ở nước ta diện tích phục vụ cho nuôi tôm sú tăng lên nhưng nguồn tômnguyên liệu vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu thị trường, đặc biệt là vào những thời điểm trái vụ

Có thể thấy rằng, diện tích phục vụ cho nuôi tôm tăng lên nhưng các yếu tố đảm bảo đểnuôi bền vững, đầu tư khoa học kỹ thuật còn nhiều bất cập và hạn chế Phần lớn ở các khu vựcnuôi tôm trong cả nước vẫn còn tồn tại hình thức nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến, tuyvốn đầu tư ít nhưng sản lượng thu được là không cao, chỉ một phần nhỏ diện tích được nuôitheo hình thức bán công nghiệp và công nghiệp [15] Diện tích nuôi quảng canh và quảng canhcải tiến năm 2005 là 536.863 ha (chiếm 88,8% diện tích nuôi tôm cả nước) [34] Điều này cho

Trang 11

thấy việc mở rộng phát triển hình thức nuôi tôm công nghiệp, thay thế dần các hình thức nuôinăng suất thấp ở nước ta là rất cần thiết để đáp ứng đủ nguyên liệu phục vụ cho chế biến, xuấtkhẩu, tăng nguồn thu nhập ngoại tệ và phát triển đất nước.

Nuôi công nghiệp xuất hiện ở nước ta vào những năm thập kỷ 90 nhưng tỷ lệ chỉ chiếm5% so với 80% số diện tích nuôi theo hình thức quảng canh (số liệu thống kê ADB 1996) [32].Thời gian gần đây với nhiều chính sách phát triển của nhà nước, số diện tích nuôi công nghiệp

đã tăng lên đáng kể và phấn đấu đạt 60.000 ha trong tổng số 260.000 ha nuôi tôm sú vào năm

2010 [17]

Miền Trung là khu vực đi đầu trong lĩnh vực nuôi công nghiệp tôm Sú ở nước ta Năm

1996 nhờ áp dụng quy trình nuôi của tập đoàn C.P một số mô hình nuôi ở Ninh Hòa, NhaTrang, Cam Ranh đã đạt sản lượng 5 tấn/ha/vụ, trong khi năm 1995 chỉ đạt năng suất 415 –1.144 kg/ha/vụ (Tạ Khắc Thường, 1996) Năm 1997 mô hình nuôi công nghiệp của Thái Lanthử nghiệm thành công tại Ninh Thuận, Bình Thuận Các tỉnh khu vực phía Nam nơi có đónggóp lớn nhất cho sản lượng tôm nuôi Việt Nam, việc áp dụng mô hình nuôi công nghiệp cũngđược áp dụng vào năm 1997, năng suất tôm nuôi đạt 5 tấn/ha/vụ ở Trà Vinh (Nguyễn Văn Hảo,2002) [32] Năm 1998 đạt năng suất 7 tấn/ha/vụ tại Tiền Giang [32] Đây là những kết quả khởiđầu cho phong trào công nghiệp hóa nghề nuôi tôm sú ở Việt Nam Hiện nay năng suất nuôitôm Sú công nghiệp khác nhau tùy theo từng vùng, theo vụ, theo từng quy trình nuôi cụ thể Vụnuôi năm 2005 sản lượng tôm nuôi trung bình của Sóc Trăng là 3,29 tấn/ha/vụ (Sở Thuỷ sảnSóc Trăng)[36], Hải Phòng đạt năng suất 2 tấn/ha/vụ năm 2005 [42] Trong khi đó tại Khánh Hòađạt năng suất 9,2 tấn/ha/vụ, huyện Cần Giờ – Thành phố Hồ Chí Minh đạt năng suất 5,3 tấn/ha/vụ,chỉ số FCR của vụ nuôi đạt 1,44 Tại Bà Rịa – Vũng Tàu đạt năng suất 9,06 tấn/ha/vụ, chỉ số FCRcủa vụ nuôi là 1,3 (Phạm Văn Tình, 2002) Bến Tre đạt năng suất trung bình 6,837 tấn/ha dao động3,81 – 8,33 tấn/ha; Cà Mau đạt năng suất trung bình 5,056 tấn/ha, năng suất dao động từ 1,19 – 8,33tấn/ha; tại Bạc Liêu năng suất trung bình là 4,41 tấn/ha, năng suất cao nhất là 10 tấn/ha (Bộ Thuỷsản) [35]

1.2 Chế phẩm sinh học

1.2.1 Khái niệm chế phẩm sinh học

Từ chế phẩm sinh học (Probiotics) có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp bao gồm hai từ Pro có

Trang 12

nghĩa là “dành cho” và Biosis có nghĩa là “sự sống” thay cho việc tiêu diệt các bào tử vi khuẩn,chế phẩm sinh học được sản xuất với mục đích kích thích sự gia tăng các loài vi khuẩn có lợitrong ao Thuật ngữ “Probiotics” đã được biết đến lần đầu tiên do Lilley và Stilluell đề nghị vàonăm 1965 như là những chất do một loài vi sinh vật sản sinh ra, có khả năng kích thích sự tăngtrưởng của một loài khác.

Theo Fuller(1989) [36] định nghĩa chế phẩm sinh học: Là thành phần thức ăn có cấu tạo

từ vi khuẩn sống, có tác động hữu ích lên vật chủ qua việc làm cải thiện sự cân bằng vi khuẩnđường ruột của nó

Đến năm 2000, Verchuere và ctv đã đưa ra một định nghĩa được coi là hoàn chỉnh nhấtProbitics trong nuôi trồng thuỷ sản “Probiotics là thành phần bổ sung có nguồn gốc vi sinh vậtsống, có ảnh hưởng có lợi đối với vật chủ bằng cách cải thiện quần thể vi sinh vật sống xungquanh hay liên kết với vật chủ, tăng khả năng sử dụng thức ăn hay tăng chất dinh dưỡng củathức ăn, tăng cường khả năng chống lại mầm bệnh hay cải thiện chất lượng môi trường sốngxung quanh vật chủ

1.2.2 Thành phần của chế phẩm sinh học

Theo nghiên cứu của Phạm Văn Tình (2003) [20], cho biết thành phần của các loại chếphẩm sinh học thường chứa một vài nhóm vi sinh vật (là những vi khuẩn sống có lợi) như:

- Nitrosomonas sp: có tác dụng phân huỷ amoniac thành nitrite

- Nitrobacter sp: có tác dụng phân huỷ nitrite thành nitrate

- Bacillus sp: cạnh tranh sử dụng hết thức ăn của tảo, nguyên sinh động vật, các vi khuẩn

và Vibrio có hại, làm giảm sự phát triển của nguyên sinh động vật

- Lactobacillus lactacts, Lactobacillus helveticus sp, Pseudomonas putid, Sachromyces

crevisiae, Bacteridaes sp, Steptococcus sp, Cellulomonas sản phẩm, … là những vi khuẩn kị khí

không bắt buộc, enzym của chúng tiết ra có thể hoà tan các chất hữu cơ, đạm, chất béo, tinh bột,khống chế sự phát triển của động vật phù du, ổn định pH, cải thiện chất lượng nước

Ngoài ra, trong thành phần của một số chế phẩm sinh học còn chứa một số enzym (men

vi sinh) như: Protease, Lypase, Amilase … có công dụng hỗ trợ cho quá trình tiêu hoá và hấp

Trang 13

thu tốt thức ăn để trộn vào thức ăn cho tôm cá.

Theo Thạc sĩ Phạm Văn Tình (Trung tâm Khuyến ngư Quốc gia) hiện đã thống kê được

88 thương hiệu thuộc nhóm sản phẩm là những CPSH đang có trên thị trường Các CPSH đượcsản xuất ở 3 dạng: dạng viên, dạng bột và dạng nước

1.2.3 Tác dụng của chế phẩm sinh học

Khi đưa CPSH vào môi trường nước ao, các vi sinh vật sẽ sinh sôi và phát triển rất nhanhtrong môi trường nước Sự hoạt động của các vi sinh vật có lợi sẽ có tác dụng cho các ao hồnuôi thuỷ sản như:

- Phân huỷ các hợp chất hữu cơ được tạo nên bởi nhiều nguồn khác nhau trong ao nuôinhư thức ăn dư thừa, phân của tôm cá, xác chết của các sinh vật trong ao … làm cho đáy ao vàchất lượng nước được cải thiện

- Hấp thụ một số khí độc có thể tạo ra trong quá trình chuyển hoá chất hữu cơ và quá

trình trao đổi chất của vật nuôi, như Nitrosomonas spp có thể phân huỷ Amoniac thành Nitrite

và Nitrobacter spp phân huỷ Nitrite thành Nitrate, hoặc Rhodobacter spp và Rhodococcus spp

có khả năng làm giảm H2S trong đáy bùn ao, làm cho môi trường trong sạch hơn

Tác dụng của hai loại vi khuẩn Nitrosomonas sp và Nitrobacter sp trong quá trình làm

giảm hàm lượng Amoniac như sau:

Nitrosomonas sp

NH4+ + 3/2 O2 NO2 + 2 H+ + H2O

Nitrobacter sp

NO2- +1/2 O2 NO3

Nâng cao khả năng miễn dịch của tôm, cá (do kích thích tôm, cá sản sinh ra kháng thể)

- Ức chế sự hoạt động và phát triển của các vi sinh vật có hại (do các loài vi sinh vật cólợi sẽ cạnh tranh thức ăn và tranh giành vị trí bám với vi sinh vật có hại) Trong môi trườngnước, nếu vi sinh vật có lợi phát triển nhiều sẽ kìm hãm, ức chế, lấn át sự phát triển của vi sinh

vật có hại như: Vibrio spp, Aeromonas spp, do đó sẽ hạn chế được mầm bệnh phát triển để gây

bệnh cho tôm cá

- Giúp ổn định độ pH của nước, ổn định màu nước do CPSH hấp thu chất dinh dưỡng

Trang 14

hòa tan trong nước nên hạn chế tảo phát triển nhiều, do đó sẽ giảm chi phí thay nước Đồng thờiCPSH còn có tác dụng gián tiếp làm tăng oxy hòa tan trong nước, giúp tôm cá đủ oxy để thở, do

đó tôm cá sẽ khỏe mạnh, ít bệnh, ăn nhiều, mau lớn

Ngoài ra, một số CPSH còn được sử dụng trong trường hợp trộn vào thức ăn nuôi thuỷsản để nâng cao khả năng hấp thu chất dinh dưỡng của cơ thể tôm cá, làm giảm hệ số thức ăn vàphòng chống các bệnh nhiễm khuẩn đường ruột cho tôm cá Sau khi sử dụng thuốc kháng sinh

để điều trị bệnh cho tôm cá (sau khi sử dụng thuốc kháng sinh cho tôm cá ăn), hệ men đườngruột trong hệ tiêu hoá của tôm cá bị phá huỷ, do đó thường tôm, cá yếu đi, ăn ít, chậm lớn, vì cơthể hấp thu rất ít chất dinh dưỡng trong thức ăn, vì vậy ngưng dùng thuốc kháng sinh điều trịbệnh, ta phải cung cấp các loại chế phẩm sinh học hoặc các loại men vi sinh trộn vào thức ăn đểphục hồi lại hệ thống men tiêu hoá cho tôm cá

1.3 Tình hình nghiên cứu, sản xuất và sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi tôm trên thế giới và ở Việt Nam

1.3.1 Tình hình nghiên cứu, sản xuất và sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi tôm trên thế giới

Mục đích sử dụng vi khuẩn có lợi và enzim trong nông nghiệp, có tác dụng nâng caocộng đồng vi khuẩn trong đất và nước làm tăng số lượng vi khuẩn có khả năng phân huỷcellulo, vi khuẩn Nitơ hoá (NH3, NH4 ), vi khuẩn Nitơrat hoá (NO3-) và vi khuẩn Sulfit hoá(H2S) và một số vi khuẩn đặc biệt khác Ý tưởng nghiên cứu cải thiện chất lượng đất và nước là

sự khởi xướng từ các nhà khoa hoc của Liên Xô cũ Các nhà Liên Xô khẳng định rằng: cung cấpcác loại vi khuẩn có khả năng cố định đạm, khoáng hoá Phosphoris tăng dinh dưỡng cho đất,giúp tăng năng suất mùa màng (Cooper, 1959; Brawn, 1974) Cũng có những nghiên cứu củacác nhà khoa học ở các quốc gia khác nhau về vấn đề này, nhưng chưa thành công mà chỉ bổsung ít cho sự có lợi nhưng năng suất mùa màng tăng không đáng kể

Từ những năm 1960 trở lại đây, ngành công nghệ sinh học hiện đại phát triển mạnh mẽ và phân

ra làm nhiều ngành khác nhau: Công nghệ sinh học môi trường, công nghệ sinh học vi sinh vật, côngnghệ sinh học enzim…(Nguyễn Quang Thạch, 2005)[16]

Chế phẩm sinh học lần đầu tiên được Fuller (1989)[36] định nghĩa: Là thành phần thức

ăn có cấu tạo từ vi khuẩn sống, có tác động hữu ích lên vật chủ thông qua việc làm cải thiện sự

Trang 15

cân bằng vi khuẩn đường ruột của nó Từ chế phẩm sinh học (Probiotics) có nguồn gốc từ Hylạp bao gồm hai từ “Pro” có nghĩa là dành cho và “Biosis” có nghĩa là sự sống.

Chế phẩm sinh học được sử dụng rộng rãi trong các ao nuôi trồng thuỷ sản Phần lớn cácchế phẩm sinh học là các vi khuẩn sống có lợi hay còn gọi là chế phẩm vi sinh, các chiết xuất từthực vật, các vitamin, chất kích thích miễn dịch… chúng được bổ sung nhằm giảm thiểu tảo

Lam (Cyanobacteria), giảm thấp nhất các NO3- , NO2-, NH3, PO43-, tăng hàm lượng oxy hoà tan,tăng khả năng phân huỷ các vật chất hữu cơ (Boyd et al, 1998)[33], giảm tỷ lệ mắc bệnh, nângcao tốc độ sịnh trưởng và phát triển từ đó làm tăng năng suất tôm ao nuôi

Theo báo cáo khoa học năm 1993 của công ty Environmental Dynamic, việc sử dụng chế

phẩm Impact U.TM có chứa Bacillus subtilis với mục đích làm tăng chất lượng nước đã làm

tăng sản lượng cá và tôm nuôi trong các trang trại ở: Thái Lan, Nhật Bản, Pháp, Cannada và

Mỹ Trước đây, sản lượng nuôi trồng ở đây thường thấp được xác định là do chất lượng nước

kém Sau này nhờ áp dụng chế phẩm có chứa B subtilis đã cải thiện được chất lượng môi

trường và tăng năng suất tôm cá nuôi lên một cách đáng kể

Đầu năm 2000, tại Ấn Độ, chế phẩm Supper PS và Supper NB đang được đánh giá làhiệu quả hơn cả đối vùng nuôi sinh thái và nuôi quảng canh ở đây

- Supper PS bao gồm hai chủng vi khuẩn Rhodobacter và Rhodococus với mật độ

109CFU/ml có tác dụng hấp thụ khí H2S, ổn định môi trường pH ao nuôi và làm tăng mật độ các

vi sinh vật hữu ích

- Supper NB là chế phẩm bao gồm 3 chủng vi sinh vật: Bacillus, Pseudomonas và

Nitrobacter cũng với mật độ khuẩn lạc là 109 CFU/ml, có tác dụng phân giải mùn bã hữu cơ,oxy hoá amoni và nitrit trong nước, làm giảm các tác nhân gây stress ở tôm và tăng sức đềkháng cho tôm

* Chế phẩm vi sinh

Các chế phẩm vi sinh đang được sử dụng nhiều trên thế giới, thành phần chính của các

loại chế phẩm này là các chủng vi khẩn có lợi như: Nitrobacter sp, Pseudomonas, Enterobacter,

Cellulomonas và các vi khuẩn quang hợp cũng đang được sử dụng như các vi khuẩn có lợi

(Boyd, 1990) [32] Các vi khuẩn này tham gia vào các quá trình chuyển hoá vật chất trong aonuôi, làm sạch ao nuôi tạo môi trường thuận lợi cho đối tượng nuôi sinh trưởng và phát triển

Trang 16

Nhờ khả năng sinh trưởng và phát triển nhanh chóng mà chúng sẽ cạnh tranh thức ăn và chỗ ởlàm hạn chế các sinh vật có hại trong ao nuôi.

Ngoài ra một số chế phẩm sinh học có thể được sử dụng là thức ăn bổ sung cho tôm nuôi

có tác dụng hạn chế sự phát triển của vi khuẩn gây bệnh đường ruột, với thành phần là nhữngenzim giúp tôm tiêu hoá thức ăn tốt nâng cao khả năng sử dụng thức ăn, tăng hiệu quả sản xuất

Trong các chủng vi khuẩn có lợi thì chủng Bacillus được ứng dụng nhiều nhất Đã có

nhiều nghiên cứu của các nhà khoa học trên thế giới về hiệu quả của việc sử dụng chế phẩm visinh trong nuôi trồng thuỷ sản được thực hiện Rengpipat et al., 1998 [39] khi nghiên cứu sử

dụng Bacillus S11 để làm sạch môi trường ao nuôi thấy hàm lượng NH4 trong ao nuôi chỉkhoảng 0,5 mg/l trong khi đó ao không xử lý NH4+ đạt 1,67 mg/l

Bên cạnh đó chế phẩm sinh học cũng được sử dụng như một thức ăn bổ sung nhằm tăngkhả năng tiêu hoá thức ăn, tăng tỷ lệ sống (Rengpipat etal., 1998; Boyd et al., 1998)[39]

Theo nghiên cứu so sánh sử dụng thức ăn bổ sung cho tôm Sú (Penaeus monodon) ở giai đoạn Postlave là Bacillus S11 và Artemia của Rengpipat et al., 1998)[39] nhận thấy rằng tôm sử dụng chế phẩm Bacillus S11 có tốc độ sinh trưởng và phát triển nhanh hơn

1.3.2 Tình hình nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng chế phẩm sinh học trong nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam

Trong những năm gần đây, để giảm thiểu những bất lợi do sử dụng hoá chất trong nuôitrồng thuỷ sản, việc nghiên cứu và sử dụng các chế phẩm sinh học trong quá trình nuôi tôm ởnước ta đang phát triển mạnh Theo Cục Bảo vệ nguồn lợi thuỷ sản, hiện có khoảng trên 200thương hiệu chế phẩm sinh học và vitamin đang bán trên thị trường nước ta Đa số các chếphẩm sinh học có nguồn gốc nhập ngoại và một số chế phẩm được sản xuất trong nước nhưngphần lớn các chế phẩm này chưa được công bố về xuất xứ nguồn gốc Hiện nay ũng chưa cónghiên cứu nào đánh giá việc đưa các chủng vi sinh vật ngoại nhập có phù hợp với điều kiệnngoại nhập của Việt Nam hay không? Có làm ảnh hưởng đến sự bền vững của hệ sinh thái môitrường không? Trước tình hình đó, Bộ Thuỷ sản, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên vàMôi trường đã thực hiện một số đề tài nghiên cứu nhằm xây dựng cơ sở khoa cho những giảipháp tổng thể khắc phục những bất cập nêu trên và tạo ra các chế phẩm vi sinh vật phù hợp vớiđiều kiện khí hậu của Việt Nam phục vụ Nuôi trồng thuỷ sản

Trang 17

Năm 2002 tại viện Nghiên cứu Nuôi trồng thuỷ sản I một số đề tài liên quan đến tìnhhình sử dụng chế phẩm sinh học đã được thực hiện như: Bùi Quang Tề (2002)[14] thực hiện đềtài: “Nghiên cứu lựa chọn bước đầu các chất thay thế một số hoá chất, kháng sinh và chế phẩmsinh học trong nuôi trồng thuỷ sản” Năm 2003 Bùi Quang Tề [15] tiến hành nuôi tôm sạch tạiThạch Hà (Hà Tĩnh) và Quý Kim (Hải Phòng) Mai Văn Tài(2003) [13] thực hiện đề tài: “Điềutra đánh giá các loại thuốc, hoá chất và chế phẩm sinh học trong Nuôi trồng thuỷ sản” nhằm đềxuất giải pháp quản lý Trong hội nghị phát triển nuôi tôm trên cát tại Ninh Thuận (2002) vấn

đề sử dụng chế phẩm sinh học trong nuôi tôm Sú thương phẩm cũng được đề cập Hội nghị nêu

ra hiệu quả, thành phần và tác dụng chủ yếu của Chế phẩm sinh học đến môi trường và sinhtrưởng của tôm Gần đây, tại hội thảo toàn quốc bảo vệ môi trường và nguồn lợi thuỷ hải sản tạiHải Phòng năm 2005, Nguyễn Văn Nam[9] đã báo cáo thử nghiệm chế phẩm làm sạch nền đáy

và phòng bệnh tôm nuôi công nghiệp Bio-DW tại Quý Kim và Đình Vũ (Hải Phòng), thửnghiệm đã cho thành công nhất định Mới đây nhất Nguyễn La Anh (2006)[2] thực hiện đề tài:

“Nghiên cứu ứng dụng công nghệ sinh học trong xử lý môi trường ao nuôi tôm công nghiệpnăng suất cao” và đã sản xuất được chế phẩm sinh học Biodanta và cho thử nghiệm thành công

ở một số nơi như: Tỉnh Gia (Thanh Hoá), Quý Kim (Hải Phòng)

* Các chế phẩm sinh học đang sử dụng trong Nuôi trồng thuỷ sản ở Việt Nam:

Chế phẩm xử lý môi trường nuôi tôm: gồm một số chế phẩm đang được thương mại hoánhư: Accelobacdag, Agrostimtm, Vime – Yucca, Bio – Dibapes, Environ - Actm, Eco Marine, Mic– 999, Supper Mazo, Mic – 888, BRF – 2 Aquakit, Supper Clean, Aqua – Mix, ESM, Bio Marine,Bio – Bacter, Pond – Clear, Soil Pro, Bio – DW, Bio – Yucca, BZT Trung Quốc, Long Lizyme,Microzyme, Biotic For Shrimp, Super Mazal, EMS có tác dụng khử ô nhiễm bùn, nước, loại thảikhí độc (NH3, H2S, NO2 ), phân hủy các chất thải và chất hữu cơ, tăng nguồn dinh dưỡng cho sựphát triển của phiêu sinh vật, kích thích sự tăng trưởng, cải thiện hệ số chuyển hóa thức ăn, giảmchất cặn bã, độ axit ở đáy ao, ổn định pH cho môi trường, ngăn ngừa dịch bệnh, tăng độ oxy hòatan, kiểm soát các chất lơ lửng trong nước…

Các vi khuẩn có ích, các enzim tiêu hoá được bổ sung với thức ăn (Probiotic) Một sốchế phẩm đang được bán trên thị trường như như: Feedadd ne 5.1, Primi, Mic – E, Tope – 35,

V.E.M, AR – 01, Biozyme, Thepazyme, Larva…là hỗn hợp vi khuẩn (Enterococcus Faecium,

Trang 18

Streptomyces Cinnamonensis, Bacillus Subtilis, Lactobacillus sp, Acetobacteria sp, Saccharomyces sp, Pedicoccus Acidilatici, Lactobacilus Acidophilus, L.Sporogenes…), các hệ

enzim, các vitamin: A, E, B1, B2, B3, B6… và các nguyên tố vi lượng

Các chế phẩm trên là các tác nhân làm tăng tính ngon miệng, giúp tiêu hoá hoàn toàn cácchất dinh dưỡng có trong thức ăn, giảm tiêu hao thức ăn do tiêu hoá kém, tăng cường sức đềkháng, phòng ngừa các bệnh đường ruột như nhiễm Ecoli, ức chế sự phát triển có hại Các chếphẩm này còn tăng hàm lượng các vi sinh vật có lợi trong đường ruột của tôm…

Trong quá trình nuôi tôm cao sản, khối lượng bùn được tạo ra hàng năm rất lớn, làm ônhiễm môi trường và phát sinh bệnh cho tôm Sử dụng các chế phẩm sinh học đã góp phần làmgiảm thiểu ô nhiễm môi trường Nhìn chung các chế phẩm sinh học đang lưu hành trên thị trườngnước ta có thành phần VSV rất hạn chế, chủ yếu là các vi khuẩn có hoạt tính phân giải protein và tinhbột và nhóm vi khuẩn nitrat hóa Rất ít chế phẩm có các nhóm nấm sợi, xạ khuẩn phân hủy xenluloza

và kitin

Để nâng cao chất lượng của các chế phẩm sinh học phục vụ xử lý môi trường nuôi trồng thuỷsản, cần xây dựng các phương pháp để giám sát chất lượng của các chế phẩm sinh học nhập ngoạicũng như sản xuất trong nước, đảm bảo cho ngành nuôi trồng thuỷ sản ngày càng lớn mạnh, góp phầnxây dựng và phát triển đất nước

1.3 Một số yếu tố môi trường ảnh hưởng đến tôm nuôi

Môi trường ao nuôi là yếu tố trực tiếp và có tác động lớn tới tôm trong ao nuôi Viêc quản lýchất lượng nước, đảm bảo các thông số môi trường ở mức cho phép là điều kiện quan trọng cho sinhtrưởng và phát triển cũng như nâng cao tỷ lệ sống của tôm nuôi

1.3.1 Nhiệt độ nước

Nhiệt độ nước ảnh hưởng tới nhiều phương diện trong đời sống của tôm: hô hấp, tiêu thụthức ăn, đồng hoá thức ăn, khả năng kháng bệnh, sự tăng trưởng,… (Vũ Thế Trụ, 2003) [22]

Tôm Sú ở nhiệt độ 28oC tôm lớn tương đối chậm, trên 30oC tôm lớn nhanh nhưng dễ mắc

bệnh, nhất là bệnh MBV (Monodon Baculovirus) (Vũ Thế Trụ, 2003)[22] Nhiều nghiên cứu

cho thấy lúc còn nhỏ (1g/con) tôm lớn nhanh hơn trong nước ấm (30oC), khi tôm lớn hơn 18g) tôm lớn nhanh nhất ở 27oC và khi tôm lớn (> 18g/con) thì thích hợp với nhiệt độ < 27oC.Tôm Sú có khả năng chịu được ngưỡng nhiệt độ cao tới 37,5oC, khi nhiệt độ thấp dưới 12oC

Trang 19

(12-tôm sẽ chết (Trần Văn Vỹ và CTV, 1993)[24].

Nhiệt độ cũng ảnh hưởng tới khả năng bắt mồi của tôm Theo nghiên cứu củaChanratchakool et al., 1994[34] khi nhiệt độ cao hơn 32 – 33oC hay thấp hơn 25oC thì mức độbắt mồi có thể giảm 30 – 50% Nhiệt độ thay đổi đột ngột sẽ làm ảnh hưởng đến tôm nhiều hơn

là thay đổi từ từ[14]

Khi nhiệt độ thấp dưới mức nhu cầu sinh lý của tôm sẽ ảnh hưởng tới quá trình chuyểnhoá vật chất bên trong cơ thể, tôm ngừng bắt mồi Nếu nhiệt độ thấp kéo dài, tôm sẽ chết Khinhiệt độ cao kéo dài tôm sẽ bị rối loạn sinh lý: tôm ít hoạt động, ngừng ăn, tăng cường hô hấp

và chết (Đại học Cần Thơ, 1994)[30] Theo nghiên cứu của Vũ Thế Trụ, 2003[22] nhiệt độnước thích hợp nhất cho sự sinh trưởng và phát triển của tôm Sú là 28 – 30oC

1.3.2 Độ mặn

Độ mặn ảnh hưởng trực tiếp đến việc điều hoà áp suất thẩm thấu của thuỷ sinh vật Sựthay đổi độ mặn vượt ra khỏi giới hạn chịu đựng của thuỷ sinh vật đều gây ra các phản ứng sốccho cơ thể, làm giảm khả năng đề kháng bình thường của động vật nuôi[4]

Tôm Sú có thể chịu được sự biến thiên của độ mặn từ 3 - 45‰ , nhưng độ mặn lý tưởngcho tôm Sú là 18 - 20‰ (Vũ Thế Trụ, 2003) [22] Khi độ mặn thay đổi đột ngột tôm sẽ bị sốc

và giảm khả năng đề kháng, tôm dễ bị nhiễm bệnh Độ mặn quá thấp tôm dễ bị bệnh mềm vỏ,chất lượng thịt kém Độ mặn < 5‰ sẽ ảnh hưởng tới tăng trọng của tôm sau 3 tháng nuôi, còn

độ mặn lớn hơn 40‰ sẽ ảnh hưởng tới tăng trọng của tôm sau 1,5 tháng đầu (Tưởng Phi Lai,2003)[7]

1.3.3 Hàm lượng oxy hoà tan DO (mg O 2 /lít)

Hàm lượng oxy thích hợp là rất cần thiết trong tất cả các hệ thống nuôi tôm Hàm lượng oxyphong phú là dấu hiệu của vùng nước sạch, thuận lợi cho đời sống của thuỷ sinh vật Khi hàmlượng oxy hoà tan giảm, nó sẽ dẫn đến các yếu tố bất lợi: kìm hãm tốc độ tăng trưởng tôm cá nuôi,tôm cá hoạt động yếu, lượng thức ăn sử dụng ít, thúc đẩy sự xuất hiện các độc tố NH3, H2S trongao[13] Oxy trong ao được cung cấp trước hết bởi sự khuếch tán từ không khí vào nước, tiếp đó làquá trình quang hợp của các thuỷ sinh vật đã cung cấp cho nguồn nước một lượng oxy đáng kể[4]

Trang 20

Trong các hệ thống nuôi tôm năng suất cao, ngoài các nguồn cung cấp trên oxy được bổsung vào ao bởi hệ thống quạt nước và hệ thống cung cấp oxy đáy là những giải pháp quantrọng nhằm duy trì sự ổn định oxy trong ao nuôi.

Theo Chanratchakool et al., 1994[34] cho rằng ở nồng độ oxy nhỏ hơn 4 mg/lít thì tômvẫn bắt mồi nhưng tiêu hoá thức ăn không hiệu quả và dễ mắc bệnh Hàm lượng oxy ở khoảng 2– 3 mg/lít tôm ngừng bắt mồi và yếu nhiều Tôm chết ngạt khi hàm lượng oxy nhỏ hơn 2 mg/lít(Nguyễn Anh Tuấn, 2003)[23] Hàm lượng oxy hoà tan thích hợp cho tôm sinh trưởng và pháttriển tốt trong khoảng 4 – 7 mg/lít (tốt nhất >5mg/lít) (Vũ Thế Trụ, 2003)[22]

1.3.5 Độ trong

Độ trong của nước có quan hệ mật thiết với sự phát triển của tảo, sự xói lở bờ ao, sự tích

tụ chất hữu cơ ngay trong ao nuôi và ao lắng, mà chúng ta thay nước vào Sự biến động độ trong

quá cao hay quá thấp đều ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến sự tăng trưởng của tôm[38].

Khi độ trong thấp hơn 20 cm thì nước ao quá đục, còn khi độ trong > 50 cm thì nước lạiquá trong, đồng nghĩa với ao quá nghèo dinh dưỡng (Vũ Thế Trụ, 2003) [22] Độ trong củanước ao nuôi từ 30 – 40 cm thích hợp nhất đối với sự sinh trưởng và phát triển của tôm(TưởngPhi Lai, 2003)[7]

1.3.6 Chỉ số pH

Chỉ số pH của nước ao rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp đến tôm nuôi và

Trang 21

phiêu sinh vật Sự biến động lớn của pH trong ngày và trong tuần là nguyên nhân dẫn đến tìnhtrạng gây sốc cho tôm Khả năng thích ứng độ pH của tôm nằm trong khoảng 6,5 – 9,0 Ao hồnuôi tôm có pH trong khoảng 7,2 – 8,8 được coi là thích hợp, pH thích hợp nhất cho nuôi tôm

Sú là trong khoảng 7,5 – 8,5 (Vũ Thế Trụ, 2003)[22] Khi pH trong ao nuôi giảm thấp thườnglàm tổn thương mang và gây trở ngại cho việc lột xác của tôm, làm tôm bị mềm vỏ Khi pH cao,

NH3 tồn tại dạng khí sẽ nhiều và H2S dạng khí ít, khi pH thấp H2S dạng khí sẽ nhiều và ít NH3

dạng khí Các chất này có độc tính cao đối với tôm nuôi khi ở dạng khí[14]

1.3.7 Hàm lượng Amoniac NH 3 (mg/lít)

NH3 xuất hiện trong ao là sản phẩm do sự biến dưỡng của động vật trong nước cũng như

từ sự phân huỷ của các hợp chất hữu cơ dưới tác dụng của vi khuẩn Sự tồn tại của khí NH3

trong hệ thống nuôi trồng thuỷ sản hoàn toàn bất lợi cho đời sống của vật nuôi, có thể ức chếquá trình đào thải NH3 của cơ thể và sự ứ đọng NH3 trong cơ thể đã đầu độc sinh vật nuôi, nặng

có thể gây chết, nhẹ có thể gây sốc, lượng NH3 trong máu tăng lên làm ảnh hưởng đến hoạtđộng của các cơ quan hô hấp, gan tụy và thần kinh Nồng độ NH3 giới hạn an toàn trong ao nuôitôm Sú là < 0,1 mg/l (Nguyễn Việt Thăng, 1996)

Trong nước Amoniac tồn tại ở hai dạng NH3 và NH4 , sự tồn tại này phụ thuộc vào nhiệt

độ và pH của nước Nước càng mang tính axit (pH thấp) NH3 càng chuyển sang NH4+ ít độc.Môi trường càng kiềm, NH3 càng bền vững và gây độc hại cho tôm Hàm lượng NH3 cao đến0,45 mg/l sẽ làm giảm tốc độ sinh trưởng của tôm He đi 50% (Kỹ thuật nuôi giáp xác, NguyễnThức Tuấn, 2004)[37]

Bảng 1.5 Yêu cầu của một số yếu tố môi trường trong ao nuôi tôm Sú

Yếu tố Khoảng thích ứng cho

tôm sinh trưởng

Giá trị tối ưu cho tôm sinh trưởng

Trang 22

2.1.1 Đối tượng nghiên cứu

* Chế phẩm sinh học: BRF – 2 Aquakit và Aqua Mix

Thành phần của các chế phẩm như sau:

- Chế phẩm sinh học BRF – 2 Aquakit:

Trong 1kg sản phẩm có chứa:

+ Các giống vi khuẩn: Bacillus subtilis 1.0 × 10 8 CFU/g

Bacillus licheniformis 1.0 × 10 8 CFU/g Bacillus megaterium 1.0 × 10 8 CFU/g

Trang 23

Bacillus polymisa 1.0 × 10 8 CFU/g Aspergilus oryzae 1.0 × 10 8 CFU/g

+ Enzim: Amilase, Protease, Lipase, Cellulose

+ Các chất dinh dưỡng sinh học và khoáng chất đông khô trong quá trình kích hoạt sinhtrưởng ban đầu của Bacillus, xúc tác hoạt tính các enzyme trong môi trường

- Chế phẩm sinh học Aqua Mix:

Trong 1kg sản phẩm chứa:

Các giống vi khuẩn: Bacillus subtilis 1.0 × 10 8 CFU/g

Bacillus licheniformis 1.0 × 10 8 CFU/g

Pediococcus acidilactici 1.0 × 10 8 CFU/g

* Tôm Sú nuôi ở hai mật độ thả giống 25 con/m2 và 40 con/m2

2.1.2 Địa điểm nghiên cứu

Trại nuôi tôm công nghiệp Út Cây Dương – Tân Lộc – Thới Bình – Cà Mau

2.1.3 Thời gian nghiên cứu

Từ ngày 08/05/2008 đến ngày 30/08/2008

2.2 Vật liệu và nội dung nghiên cứu

2.2.1 Vật liệu nghiên cứu

- Tôm Sú (Penaeus monodon, Fabricius, 1978)

- Thức ăn LaOne (được sản xuất từ công ty TNHH Uni President) và các chất phụ gia

- Các ao thí nghiệm: A1, A2, A3, A4, B1, B2, B3, B4

- Trang thiết bị phụ trợ:

+ Trang thiết bị phục vụ thí nghiệm: nhiệt kế, tỷ trọng kế, test pH, test độ kiềm, thước

đo, đĩa Secchi, cân tiểu ly, xô, chài, …

+ Trang thiết bị phụ trợ khác: quạt nước, xuồng cho ăn, chậu thau, ca,…

Ngày đăng: 22/12/2013, 12:52

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.2. Sản lượng tôm nuôi trên thế giới từ năm 2001 đến 2005 - Hiệu quả sử dụng các chế phẩm BRF 2 AQUAKIT và AQUAMIX trong ao nuôi công nghiệp tôm sú ở hai mật độ thả giống 25 conm2 và 40 conm2 tại thới bình   cà mau
Bảng 1.2. Sản lượng tôm nuôi trên thế giới từ năm 2001 đến 2005 (Trang 7)
Bảng 1.3. Một số thị trường nhập khẩu tôm trên thế giới. - Hiệu quả sử dụng các chế phẩm BRF 2 AQUAKIT và AQUAMIX trong ao nuôi công nghiệp tôm sú ở hai mật độ thả giống 25 conm2 và 40 conm2 tại thới bình   cà mau
Bảng 1.3. Một số thị trường nhập khẩu tôm trên thế giới (Trang 8)
Bảng 1.4. Diện tích và sản lượng tôm nuôi ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2005 - Hiệu quả sử dụng các chế phẩm BRF 2 AQUAKIT và AQUAMIX trong ao nuôi công nghiệp tôm sú ở hai mật độ thả giống 25 conm2 và 40 conm2 tại thới bình   cà mau
Bảng 1.4. Diện tích và sản lượng tôm nuôi ở Việt Nam giai đoạn 2000 – 2005 (Trang 9)
Bảng 1.5. Yêu cầu của một số yếu tố môi trường trong ao nuôi tôm Sú - Hiệu quả sử dụng các chế phẩm BRF 2 AQUAKIT và AQUAMIX trong ao nuôi công nghiệp tôm sú ở hai mật độ thả giống 25 conm2 và 40 conm2 tại thới bình   cà mau
Bảng 1.5. Yêu cầu của một số yếu tố môi trường trong ao nuôi tôm Sú (Trang 21)
2.3.1.2. Sơ đồ nghiên cứu - Hiệu quả sử dụng các chế phẩm BRF 2 AQUAKIT và AQUAMIX trong ao nuôi công nghiệp tôm sú ở hai mật độ thả giống 25 conm2 và 40 conm2 tại thới bình   cà mau
2.3.1.2. Sơ đồ nghiên cứu (Trang 25)
Hình 2.1. Sơ đồ nghiên cứu - Hiệu quả sử dụng các chế phẩm BRF 2 AQUAKIT và AQUAMIX trong ao nuôi công nghiệp tôm sú ở hai mật độ thả giống 25 conm2 và 40 conm2 tại thới bình   cà mau
Hình 2.1. Sơ đồ nghiên cứu (Trang 26)
Bảng 2.2. Phương pháp xác định các yếu tố môi trường - Hiệu quả sử dụng các chế phẩm BRF 2 AQUAKIT và AQUAMIX trong ao nuôi công nghiệp tôm sú ở hai mật độ thả giống 25 conm2 và 40 conm2 tại thới bình   cà mau
Bảng 2.2. Phương pháp xác định các yếu tố môi trường (Trang 27)
Bảng 3.1. Biến động của các yếu tố nhiệt độ nước, pH, độ mặn và độ kiềm - Hiệu quả sử dụng các chế phẩm BRF 2 AQUAKIT và AQUAMIX trong ao nuôi công nghiệp tôm sú ở hai mật độ thả giống 25 conm2 và 40 conm2 tại thới bình   cà mau
Bảng 3.1. Biến động của các yếu tố nhiệt độ nước, pH, độ mặn và độ kiềm (Trang 30)
Bảng 3.2. Biến động của các yếu tố DO, độ trong và NH 3 - Hiệu quả sử dụng các chế phẩm BRF 2 AQUAKIT và AQUAMIX trong ao nuôi công nghiệp tôm sú ở hai mật độ thả giống 25 conm2 và 40 conm2 tại thới bình   cà mau
Bảng 3.2. Biến động của các yếu tố DO, độ trong và NH 3 (Trang 33)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w