Một trong những lý thuyết được nhiềunước áp dụng và đã thành công đó là lý thuyết "cái vòng luẩn quẩn và cúhuých từ bên ngoài", nó không đơn thuần chỉ dừng lại phác hoạ bức tranh củacác
Trang 1I LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Paul A.Samuelson là nhà kinh tế học người hoa kỳ, ông sống cáchchúng ta một khoảng thời gian khá dài nhưng những học thuyết kinh tế củaông đến nay vẫn còn nguyên giá trị Một trong những lý thuyết được nhiềunước áp dụng và đã thành công đó là lý thuyết "cái vòng luẩn quẩn và cúhuých từ bên ngoài", nó không đơn thuần chỉ dừng lại phác hoạ bức tranh củacác nước đang phát triển mà còn đưa ra những chính sách, chiến lược để pháttriển và tăng trưởng kinh tế Muốn thoát khỏi nghèo đói, thì cần phải có "cúhuých từ bên ngoài" nhằm phá vỡ vòng luẩn quẩn từ nhiều phía Điều đó cónghĩa là phải huy động và sử dụng tốt nguồn vốn trong và ngoài nước nhưngtrong phạm vi bài viết này em chỉ xin được đề cập đến vai trò của vốn đầu tưtrực tiếp nước ngoài bởi lẽ đây là vấn đề mới mẻ và cũng còn nhiều bất cập
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã được xem như chìa khoá của sựtăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia, thông qua đó cho phép các nước sở tạithu hút được các công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến nhằmkhai thác lợi thế so sánh của đất nước mình, thúc đẩy xuất khẩu, tăng năng lựccạnh tranh, điều chỉnh và chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với biến đổi củathị trường khu vực và trên thế giới Tạo nên sức mạnh tổng hợp cho đất nước
Để xây dựng Việt Nam trở thành một trong những điểm thu hút nhàđầu tư, cần phải nhận thức rõ thực trạng đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, từ
đó đưa ra giải pháp hữu hiệu, khoa học nhằm nâng cao hiệu quả của đầu tưnước ngoài
Qua quá trình tìm hiểu, nghiên cứu và đăc biệt được sự hướng dẫn của
cô Lê Vũ Sao Mai, em đã mạnh dạn chọn đề tài:
"
Vận dụng lý thuyết cái vòng luẩn quẩn và cú huých từ bên ngoài của Paul A Samuelson, từ đó nêu lên tầm quan trọng của chính sách đầu tư nước ngoài đối với việc tăng trưởng và phát triển kinh tế ở Việt Nam."
Trang 2CHƯƠNG I
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ “CÁI VÒNG LUẨN QUẨN VÀ CÚ HUÝCH
TỪ BÊN NGOÀI”
1.1 Lý thuyết cái vòng luẩn quẩn và cú huých từ bên ngoài.
1.1.1.Lý thuyết cái vòng luẩn quẩn và cú huých từ bên ngoài.
Trong thế giới hiện đại, sự phân hoá giàu nghèo giữa các quốcgia đang diễn ra ngày một sâu sắc, các nước đang phát triển đứng trước nguy
cơ tụt hậu ngày càng xa hơn về kinh tế so với các nước phát triển Vì vậy, vấn
đề tăng trưởng và phát triển đang là vấn đề cấp bách được đặt ra đối với cácquốc gia này Nhiều lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh kế đối với cácnước đang phát triển được đưa ra, trong đó tiêu biểu là: lý thuyết "Cất cánh"của W.Rostow; lý thuyết "Nhị nguyên" của A.Lewis; lý thuyết Tăng trưởng
và phát triển kinh tế ở khu vực châu Á - gió mùa của H.Toshima
Lý thuyết cái vòng luẩn quẩn do nhiều nhà kinh tế học tư sản đưa ra,trong đó có Paul A.Samuelson Theo lý thuyết này, để tăng trưởng kinh tế nóichung phải đảm bảo 4 nhân tố là nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, cơ cấu tưbản và kỹ thuật
1.2.1 Nhân lực
Ở những nước nghèo, tuổi thọ trung bình thấp, đạt khoảng 57 - 58 tuổi,trong đó các nước tiên tiến 72 - 75 tuổi Do đó, phải có chương trình kiểmsoát bệnh tật, nâng cao sức khoẻ và đảm bảo dinh dưỡng để họ làm việc cónăng suất cao hơn Điều đó đòi hỏi phải xây dựng bệnh viện, hệ thống bảo vệsức khoẻ, coi đó là những vốn xã hội có lợi ích sống chứ không phải là hàng
xa xỉ phẩm ở các nước đang phát triển, số người lớn biết chữ chỉ chiếm 32 52% Cho nên phải đầu tư cho chương trình xoá nạn mù chữ, trang bị cho conngười những kỹ thuật mới trong nông nghiệp, công nghiệp; phải gửi những
Trang 3-người thông minh ra nước ngoài để lấy kiến thức và kỹ thuật kinh doanh.Phần lớn lực lượng lao động của các nước đang phát triển làm trong nôngnghiệp Do vậy, phải chú ý tới tình trạng thất nghiệp trá hình - lãng phí trongthời gian sử dụng lao đông ở nông thôn, năng suất lao động không cao; sảnlượng sẽ không giảm nhiều khi lao động nông thôn chuyển nhiều sang côngnghiệp.
1.2.2 Tài nguyên thiên nhiên
Các nước nghèo thường cũng nghèo về tài nguyên thiên nhiên, đất đaichập hẹp, khoáng sản ít ỏi so với dân số đông đúc Tài nguyên thiên nhiênquan trọng nhất của các nước đang phát triển là đất nông nghiệp Do vậy việc
sử dụng đất đai có hiệu quả sẽ có tác dụng làm tăng sản lượng quốc dân.Muốn vậy phải có chế độ bảo vệ đất đai, đầu tư phân bón canh tác, thực hiện
tư hữu hoá đất đai để kích thích chủ trại đầu tư vốn và kỹ thuật
1.2.3 Cơ cấu tư bản
các nước nghèo, công nhân ít có tư bản, do vậy năng suất của họ thấp.Muốn có tư bản phải có tích luỹ vốn Song các nước nghèo năng suất laođộng thấp, chỉ đảm bảo cho dân cư có mức sống tối thiểu, không có tiết kiệm
Do đó không có vốn để phát triển kinh tế, xây dựng cơ sở hạ tầng Để có tưbản các nước này phải vay nước ngoài Trước đây các nước giàu cũng đầu tưvào nước nghèo, quá trình này cũng mang lại lợi ích cho cả hai bên Nhưnggần đây, do phong trào giải phóng dân tộc đe doạ sự an toàn của tư bản đầu
tư, nhiều nhà đầu tư ngần ngại không muốn đầu tư vào các nước đang pháttriển Thêm vào đó, hầu hết các nước đang phát triển là những con nợ lớn vàkhông có khả năng chi trả cả gốc lẫn lãi Vì vậy tư bản đối với các nước này
là vấn đề nan giải
1.2.4 Kỹ thuật
Trang 4Các nước đang phát triển có trình độ kỹ thuật rất kém, nhưng có lợi thế
là có thể bắt chước về công nghệ của các nước đi trước Đây là con đường rấthiệu quả để nắm bắt được khoa học, công nghệ hiện đại, quản lý và kinhdoanh vì sự nghiêp phát triển
Nhìn chung, ở các nước đang phát triển, bốn nhân tố trên đây rất khanhiếm và việc kết hợp chúng đang gặp trở ngại lớn Khó khăn lại càng tăngthêm trong "cái vòng luẩn quẩn" của sự nghèo khổ
Hình 1.1: Cái vòng luẩn quẩn
Thu nhập bình quân thấp khiến người dân thắt chặt chi tiêu cho nên đầu
tư và tiết kiệm không cao, tốc độ tích luỹ vốn thấp Vậy thì năng suất khôngthể cao được Và cứ thế "Vòng luẩn quẩn" của đói nghèo vẫn tiếp tục
Hơn ai hết, chúng ta nhận thấy rằng phải có một sự tác động lớn mới cóthể phá vỡ "Vòng luẩn quẩn", đưa các nước đang phát triển thoát khỏi vòngluẩn quẩn của đói nghèo, lạc hậu Cần phải tạo ra cú huých mà biện pháp hữuhiệu là tăng vốn đầu tư, huy động nguồn lực trong và ngoài nước đăc biệt làFDI (Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài)
Tiết kiệm vàđầu tư thấp
Năng suấtthấp
Tốc độ tíchluỹ vốn thấpThu nhập bình
quân thấp
Trang 51.1.2 Lý luận chung về đầu tư trực tiếp nước ngoài
1.1.2.1.Cỏi nhỡn tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI: Foreign Direct Investment) Đầu tư trực tiếp nước ngoài là hỡnh thức đầu tư dài hạn của cá nhânhay công ty nước này vào nước khác bằng cách thiết lập cơ sở sản xuất kinhdoanh Cá nhân hay công ty nước ngoái đó sẽ nắm giữ quyền quản lý cơ sởsản xuất kinh doanh này
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là nguồn vốn có nguồn gốc từ nướcngoài được đưa vào nước sở tại
Dự án đầu tư là tập hợp những ý kiến đề xuất về việc bỏ vốn đầu tư vàomột đối tượng nhất định và giải trình kết quả thu được từ hoạt động đầu tư.Việc các nhà đầu tư ở quốc gia này bỏ vốn đầu tư vào quốc gia khác theo mộtchương trình đã được hoạch định trong một khoảng thời gian dài nhằm đápứng các nhu cầu của thị trường và mang lại lợi ích hơn cho các chủ đầu tư vàcho xã hội được gọi là đầu tư quốc tế hay là đầu tư nước ngoài Đầu tư trựctiếp nước ngoài là một trong hai loại hình đầu tư quốc tế cơ bản, hai loại hìnhnày có thể không giống nhau song trong một điều kiện nào đó có thể chuyểnhoá cho nhau
Dự án đầu tư nước ngoài là những dự án đầu tư có sự khác nhau vềquốc tịch của các nhà đầu tư với nước sở tại tiếp nhận đầu tư và các nhà đầu
tư hoàn toàn có quyền trực tiếp quản lý dự án của mình trong thời gian dự ánhoạt động, khai thác
1.1.2.2 Hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài
Các hình thức đầu tư trực tiếp
+ Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh
Trang 6Đây là hình thức đầu tư phép theo đó bên nước đầu tư và tiếp nhận đầu
tư cùng nhau thực hiện hợp đồng được ký kết giữa hai bên Trong thời gianthực hiện hợp đồng các bên phải xác định rõ quyền lợi và nghĩa vụ cũng nhưtrách nhiệm của mỗi bên mà không tạo ra một pháp nhân mới đồng thời mỗibên vẫn giữ nguyên tư cách pháp nhân của mình
Hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức rất phổ biến và cónhiều ưu thế đối với việc phối hợp sản xuất các sản phẩm có tính chất phứctạp, yêu cầu kỹ thuật cao đòi hỏi sự kết hợp thế mạnh của nhiều quốc gia
+ Doanh nghiệp liên doanh
Trong luật đầu tư nước ngoài quy định rõ doanh nghiệp liên doanh làdoanh nghiệp do hai hoặc nhiều bên hợp tác ký kết giữa chính phủ của nước
sở tại với bên nước ngoài hay doanh nghiệp của nước sở tại với doanh nghiệpnước ngoài
Doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài là hình thức tổ chức kinhdoanh quốc tế của các bên tham gia không có cùng quốc tịch Bằng cách thựchiên ký kết các hợp đồng cùng tham gia góp vốn, cùng nhau quản lý và đều
có trách nhiệm cũng như nghĩa vụ thực hiện phân chia lợi nhuận và phân bổrủi ro như nhau
Theo hình thức kinh doanh này hai hay nhiều bên tham gia góp vốn vìthế quyền hạn của các bên là khác nhau tuỳ thuộc vào số vốn mà mình đãtham gia vào hợp đồng liên doanh Bên nào nhiều vốn bên đó có quyền lớnhơn trong các vấn đề doanh nghiệp cũng như được hưởng % ăn chia trong các
dự án
Trong luật đầu tư nước ngoài quy định bên đối tác liên doanh phải đóng
số vốn không dưới 30% vốn pháp định của doanh nghiệp liên doanh hoặc cóthể nhiều hơn tuỳ theo các bên thoả thuận và bên Việt Nam có thể sử dụngmặt bằng và tài nguyên thiên nhiên để tham gia góp vốn
+ Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam quy định doanh nghiệp 100%vốn nước ngoài là doanh nghiệp thuộc quyền sở hữu của cá nhân hay tổ chức
Trang 7nước ngoài và tổ chức thành lập theo quy định pháp luật nước ta cho phéptrên cơ sở tự quản lý.
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài được thành lập theo hình thứccông ty trách nhiệm hữu hạn có tư cách pháp nhân theo pháp luật nước ta đãban hành Và được thành lập sau cơ quan có thẩm quyền về hợp tác đầu tưnước sở tại cấp giấy phép và chứng nhận doanh nghiệp đã tiến hành đăng kýkinh doanh hợp pháp
Người đại diện cho doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài là Tổnggiám đốc doanh nghiệp Nếu Giám đốc doanh nghiệp không thường trú tạinước sở tại phải uỷ quyền cho người thường trú tại nước sở tại đảm nhiệm
1.1.2.3 Vai trò của vốn đầu tư nước ngoài.
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng khẳng định tầmquan trọng trong nền kinh tế Việt Nam
a Về mặt kinh tế:
FDI thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, bổ sung nguồn vốn cho phát triểnkinh tế-xã hội Đầu tư là yếu tố vô cùng quan trọng tác động đến tốc độ tăngtrưởng kinh tế Vốn đầu tư cho phát triển kinh tế được huy động từ hai nguồnchủ yếu là vốn trong nước và vốn ngoài nước Vốn trong nước được hìnhthành thông qua tiết kiệm và đầu tư Vốn nước ngoài được hình thành thôngqua vay thương mại, đầu tư gián tiếp và hoạt động FDI Với các nước nghèo
và đang phát triển, vốn là một yếu tố đặc biệt quan trọng đối với phát triểnkinh tế Những quốc gia này luôn lâm vào tình trạng thiếu vốn đầu tư, hoạtđộng sản xuất và đầu tư ở những nước này như là một "vòng đói nghèo luẩnquẩn" (theo Paul A Samuelson) Để phá vỡ vòng luẩn quẩn ấy, các nướcnghèo và đang phát triển phải tạo ra "một cú huých lớn", mà biện pháp hữuhiệu là tăng vốn đầu tư, huy động các nguồn lực để phát triển nền kinh tếnhằm tạo ra tăng trưởng kinh tế dẫn đến thu nhập tăng
b Về mặt xã hội
Các dự án đầu tư trực tiếp còn giúp chúng ta thu hút được đội ngũ laođộng tham gia đông đảo vào làm việc góp phần giải quyết công ăn việc làm
Trang 8cho người lao động, tăng thu nhập Nhìn chung chúng ta có một đội ngũ laođông tương đối lớn về số lượng còn về chất lượng tuy chưa so kịp với các nư-
ớc có trình độ phát triển kinh tế cao nhưng có khả năng tiếp thu những kiếnthức và tiếp cận với khoa học kỹ thuật hiện đại Số lượng công nhân viên đ-ược thu hút vào dự án có vốn đầu tư nước ngoài ngày càng đông Đội ngũ laođộng này được hoàn thiện từng ngày và ngày một nâng cao do được tham gialao động trong các doanh nghiệp có đầu tư từ nước ngoài
1.1.3 Lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế
Thuyết "Tăng trưởng mới" do hai nhà kinh tế học Romo Rucas vàScost đưa ra Hai ông đã vận dụng phương pháp nghiên cứu là kết hợpphương pháp toán học với vi mô hoá để giải thích tăng trưởng kinh tế hiện đạitrong điều kiện nền kinh tế quốc tế hoá hiện nay, lý thuyết này đang thịnhhành ở các nước phương Tây và có những nội dung chủ yếu sau:
Một là, nhập nhân tố "Tri thức" và "Tư bản nhân lực" vào mô thức tăngtrưởng kinh tế, cụ thể hoá tiến bộ kỹ thuật thành tri thức chuyên nghiệp hoá
và được thể hiện trong kỹ năng đặc thù của sức lao động, thấy rõ được vai tròcủa tiến bộ kỹ thuật, tri thức đối với sự Tăng trưởng kinh tế
Hai là, khẳng định tri thức chuyên nghiệp hoá và tích luỹ tư bản nhânlực làm cho thu nhập tăng dần
Ba là, vừa nhấn mạnh tiến bộ kỹ thuật là nhân tố quyết định đối vớităng trưởng kinh tế, đồng thời vừa phân tích mối quan hệ nhân quả của đầu tư
tư bản và tiến bộ kỹ thuật, nói rõ tầm quan trọng của tích lỹ tư bản đối vớiviệc thúc đẩy tiến bộ kỹ thuật và tăng trưởng kinh tế
Bốn là, phát triển mậu dịch quốc tế và tiền tệ quốc tế là động cơ củatăng trưởng kinh tế, nhấn mạnh tác động của mậu dịch quốc tế đối với tích luỹtri thức mang tính thế giới và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Năm là, tăng trưởng kinh tế hiện đại chủ yếu là do sự thúc đẩy của trithức và tư bản nhân lực Nước nào có tỷ lệ Tích luỹ tư bản nhân lực và trithức con người cao thì mức thu nhập tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao và ngượclại Nước có tư bản phong phú thì tỷ suất lợi nhuận không phải có xu hướng
Trang 9giảm mà là ổn định hoặc tăng lên, do đó thu hút được tư bản nước ngoài, vìvậy phải có sự chảy ngược của tư bản quốc tế.
CHƯƠNG II:
VẬN DỤNG Lí LUẬN “ CÁI VềNG LUẨN QUẨN VÀ CÚ HUíCH TỪ BấN NGOÀI” VÀO QUÁ TRèNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở VIỆT NAM 2.1 Tớnh tất yếu khỏch quan của việc vận dụng “ cỏi vũng luẩn quẩn và cỳ huýnh từ bờn ngoài”
Việt Nam đang nằm trong nhóm các nước đang phát triển, trong nhữngnăm trở lại đây chúng ta đó cú những bước phát triển vượt bậc Đặc biệt lànăm 2006 đánh dấu một mốc quan trọng khi Việt Nam chính thức trở thànhthành viên của tổ chức WTO Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó ViệtNam cũn cú rất nhiều hạn chế cần khắc phục
+Nguồn nhõn lực
-Nguồn nhân lực Việt Nam được cấu thành chủ yếu là nông dân, côngnhân, trí thức, doanh nhân, dịch vụ và nhân lực của các ngành, nghề Đến nay,nguồn nhân lực nông dân có gần 62 triệu người, bằng hơn 70 % dân số của cảnước Nguồn nhân lực công nhân là 9,5 triệu người, bằng gần 10% dân số của
cả nước Nguồn nhân lực trí thức, tốt nghiệp từ đại học, cao đẳng trở lên làhơn 2,5 triệu người, bằng 2,15% dân số của cả nước Việt Nam hiện nay đanghỡnh thành 2 loại hỡnh nhõn lực: nhân lực phổ thông và nhân lực chất lượngcao Nhân lực phổ thông hiện tại vẫn chiếm số đông, trong khi đó, tỷ lệ nhân
Trang 10lực chất lượng cao lại chiếm tỷ lệ rất thấp Cái thiếu của Việt Nam hiện naykhông phải là nhân lực phổ thông, mà là nhân lực chất lượng cao Nhân lựcphổ thông dồi dào Nhân lực chất lượng cao hiếm hoi Vỡ vậy, vấn đề đặt rahiện nay là phải đẩy mạnh nguồn nhân lực chất lượng cao từ nguồn nhân lựcphổ thông
-Nguồn nhân lực hiện nay của Việt Nam chưa đáp ứng được yêu cầucủa phát triển kinh tế, xó hội và hội nhập quốc tế, chưa có những đóng góplớn để nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm Chất lượng laođộng cũn rất thấp, yếu kộm, bất hợp lý về cơ cấu ngành, nghề Tư duy về pháttriển nguồn nhân lực của những người lónh đạo, quản lý chưa trở thành trí tuệ
và thông tuệ
+.Tài nguyờn thiờn nhiờn
Từ lâu tài nguyên nước ta đánh giá là “rừng vàng biển bạc”, Thật vậyViệt Nam có nguồn tài nguyên phong phú bao gồm: tài nguyên đất, tàinguyên nước,tài nguyên biển, tài nguyên sinh vật, tài nguyờn khoỏng sản vàtài nguyờn du lịch
- Tuy nhiên nước ta có nhiều tai biến do thiên nhiên gây ra như lũ lụt,hạn hán Gần như không năm nào không có thiên tai gây ra nhữn tổn thất nhấtđịnh cho nền kinh tế
- Trên một đơn vị diện tích số lượng tài nguyên nhiều, trữ lượng nhỏ lạiphân bố trong điều kiện như hiện nay thỡ đó gõy ra rất nhiều khú khăn choquá trỡnh khai thỏc
- Hơn nữa cho đến gần đây những hậu quả của chiến tranh để lại nhất làviệc khai thác tài nguyên không hợp lý đó dẫn đến tỡnh trạng nhiều loại bisuy giảm nghiờm trọng Hậu quả của việc khai thỏc bừa bói khụng theo mụtchiến lược nhất định Thực trạng khai thác tài nguyên ở Việt Nam rất khác
Trang 11nhau Trong khi tài nguyên biển chưa sử dụng được bao nhiêu thỡ cỏc loại tàinguyờn khỏc lại bị khai thỏc quỏ mức.
- Trỡnh độ khoa học kĩ thuật cũn rất hạn chế đó ảnh hưởng rất lớn đếnquá trỡnh khai thỏc và chế biến cỏc tài nguyờn
Có thể nói tài nguyên thiên nhiên là nguồn lực rất quan trọng để pháttriển kinh tế xó hội Với tỡnh trạng suy giảm đáng báo động như hiện nay thỡViệt Nam cần cú những biện phỏp hiệu quả để nâng cao chất lượng tàinguyên
+ Cơ cấu tư bản :
Các doanh nghiệp ở Việt Nam nói chung cơ sở vật chất còn chưa đồng
bộ, chính sách để đảm bảo điều kiện của công nhân còn chưa thực sự đượcquan tâm đúng mức đặc biệt các doanh nghiệp do nước ngoài đầu tư và quản
lý thì hiện tượng “bóc lột sức lao động “ còn khá phổ biến Từ đó ,đời sốngcông nhân không cao.Công nhân Việt Nam không nắm được Tư bản.ViệtNam còn phải vay vốn nước ngoài là rất nhiều
Vấn đề về tư bản ở Việt Nam nói riêng ở các nước nghèo và các nướcđang phát triển nói chung là vấn đề nan giải, đòi hỏi phải có các chính sáchkinh tế vĩ mô hiệu quả và thiết thực
+ Kĩ thuật:
Việt Nam đi lên từ một nước nông nghiệp nghèo nàn Trong nhữngnăm trở lại đây nước ta đó cú những cuộc cỏch mạng cụng nghiệp húa, hiệnđại hóa nhưng theo đánh giá của các chuyên gia thỡ trỡnh độ kĩ thuật của ViệtNam còn thấp Trong thời đại bùng nổ về khoa hoc và công nghệ thì để bắtkịp với những tiến bộ khoa hoc kỹ thuật ,đòi hỏi Việt Nam phải đầu tư rấtnhiều yếu tố ,trong đó phải kể đến tiền và nhân lực Trong khi ở các nướcphát triển ,họ chú trọng đầu tư phát triển khoa hoc công nghệ là rất lớn, đặc
Trang 12biệt là Nhật Bản thì ở Việt Nam vấn đề này còn chưa thực sự là vấn đềthen chốt Nguồn nhân lực để phục vụ cho việc hoc hỏi và ứng dụng các côngnghệ khoa hoc kỳ thuật nói chung chưa cao.Nước ta chủ yếu là mua máymóc,thiết bị ,công nghệ từ nước ngoài hoặc chỉ sản xuất các bộ phận đơn giảncòn công nghệ thì của nước ngoài Một số nước khi bán các sản phẩm choViệt Nam họ còn xem Việt Nam là nơi chứa các “phế phẩm “ công nghệ khibán các công nghệ lạc hậu Các công nghệ khoa học kỹ thuật cao,mới và hiệnđại thì nước ta không dủ tiền chi trả.
Để thoát khỏi “cái vũng luẩn quẩn” như hiện nay Việt Nam cần cúnhững cỳ huých từ bờn ngoài để thúc đẩy phát triển
+ Đầu tư
Đầu tư nước ngoài có vai trũ hết sức quan trọng, nú là nguồn bổ sungvốn cho đầu tư, là một cách để chuyển giao công nghệ, là một giải pháp tạoviệc làm và thu nhập cho người lao động, tạo nguồn thu cho ngân sách vàthúc đẩy nhanh quá trỡnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Có thể nói, thu hút đầu tư nước ngoài có nhiều thuận lợi nhất là khiViệt Nam đó chớnh thức trở thành thành viờn WTO Tỡnh hỡnh chớnh trị ổnđịnh, nền kinh tế tăng trưởng nhanh cùng với hỡnh ảnh Việt Nam ngày càngđược nâng cao trên trường quốc tế sẽ tiếp tục tạo nên sức thu hút sự quan tâmcủa các nhà đầu tư
Bên cạnh đó, môi trường kinh doanh càng được cải thiện theo cơ chếthị trường Hàng loạt luật quan trọng như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư,Luật Đấu thầu cũng như việc phân cấp triệt để việc cấp giấy chứng nhận đầu
tư cho các địa phương sẽ tạo ra một sự thông thoáng và thuận tiện hơn chonhà đầu tư Hệ thống kết cấu hạ tầng ngày càng được thay đổi góp phần đểmôi trường kinh doanh ngày càng thuận tiện hơn Việt Nam phải tạo ra cácđiều kiện thuận lợi nhằm kích thích tính tích cực của đầu tư tư bản nước
Trang 13ngoài Đây là một cú huých từ bờn ngoài nhằm phỏ vỡ “cỏi vũng luẩn quẩn”của Việt Nam
+Xuất khẩu lao động
Trong thời kỡ mở cửa hội nhập với nền kinh tế toàn cầu chỳng ta đóxõy dựng được nhiều mối quan hệ kinh tế quốc tế Một trong những mối quan
hệ này là việc hợp tác đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoàihay cũn gọi là xuất khẩu lao động Hoạt động xuất khẩu lao động đang ngàycàng mở rộng đến nhiều quốc gia và cỏc vựng lónh thổ trên thế giới đáp ứngmột phần nhu cầu về nguồn lao động của các nước với đủ các loại hỡnh laođộng khác nhau Đồng thời hoạt động này đó tạo cho người lao động ViệtNam nhiều cơ hội làm việc, tỡm kiếm được nguồn thu nhập tốt Theo thống
kê đến năm 2009 co 96000 lao động đi làm việc ở nước ngoài Phần lớn làngười lao động Việt Nam đi sang các thị trường truyền thống như Hàn quốc,Đài loan….chiếm khoảng 95%, số cũn lại đi sang các nước châu Âu, châu
Mỹ Việc mở rộng thị trường XKLĐ là hướng đi đúng đắn phù hợp với lộtrỡnh hội nhập, mở cửa gúp phần giải quyết công ăn việc làm cho người laođộng trong nước Tuy nhiên cần chú ý đến việc nâng cao tay nghề, chất lượnglao động,yêu cầu chấp hành kỷ luật cho người lao động
+Phỏt triển khoa học kĩ thuật
Khoa học kĩ thuật ngày nay được khẳng định là lực lượng sản xuất rấtquan trọng Do vậy mà việc phát triển khoa hoc kĩ thuật cân được quan tâm
và đầu tư đúng mức Sự tiến bộ khoa học kĩ thuật của nền kinh tế đất nướcđược thực hiện bằng cách kết hợp đẩy mạnh nhập khẩu công nghệ ở nướcngoài và tự phát triển, sáng tạo công nghệ tiên tiến trên nền tảng các côngnghệ nhập khẩu Trong thời kỳ đầu của quá trỡnh cụng nghiệp húa, hiện đạihóa đối với một nước đang trong quá trỡnh phỏt triển như Việt Nam thỡ nhậpkhẩu cụng nghệ tiờn tiến ở nước ngoài là phương pháp vừa tiết kiệm thời
Trang 14gian, vừa tiết kiệm chi phí nếu lựa chọn hiệu quả được những công nghệ cómức độ tiên tiến thích hợp với giá thành hạ trong quá trỡnh nhập khẩu Điềunày được gọi là lợi thế đi sau của các nước đang phát triển do không bắt buộcphải trải qua hành trỡnh tiến bộ cụng nghệ như các nước phát triển Khả năngsáng tạo công nghệ là con đường duy nhất để Việt Nam cũng như các nướcđang phát triển đuổi kịp và vượt trỡnh độ của các nước công nghiệp pháttriển, nhờ vậy mới có thể giảm bớt những khoản chi phí tốn kém cho việcnhập khẩu những công nghệ tiên tiến Khả năng sáng tạo công nghệ dựa trên
cơ sở óc sáng tạo và trỡnh độ quản lý hoạt động nghiờn cứu và trỡnh độnghiên cứu khoa học tự nhiên và công nghệ ứng dụng
2.2 Thực trạng thu hút đầu tư nước ngoài
2.2.1 Số lượng, quy mô dự án
Tính đến cuối năm 2008, cả nước có hơn 10981 dự án đầu tư nướcngoài được cấp giấy phép đầu tư với tổng số vốn kinh doanh khoảng 163,3 tỷUSD (kể cả vốn tăng thêm)
Trong 3 năm 1988-1990, mới thực thi luật đầu tư trực tiếp nước ngoàitại Việt Nam nên kết quả đầu tư với tổng số vốn đăng ký cấp mới là 1,6 tỷUSD, đầu tư nước ngoài chưa tác động đến tình hình kinh tế, xã hôi đất nước
Trong thời kỳ 1991-1995, vốn đầu tư nước ngoài đã tăng lên (1.409 dự
án với tổng vốn đăng ký cấp mới 18,3 tỷ USD và có tác động tích cực đếntình hình kinh tế, xã hội đất nước, Thời kỳ 1991-1996 được xem là thời kỳ
"bùng nổ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (có thể coi như làn sóng đầu tưnước ngoài vào Việt Nam) với 1.781 dự án được cấp phép có tổng vốn đăng
ký (gồm cả vốn cấp mới và tăng vốn) 28,3 tỷ USD Đây là giai đoạn mà môitrường đầu tư-kinh doanh tại Việt Nam đã bắt đầu hấp dẫn nhà đầu tư Trong
3 năm 1997-1999 có 961 dự án được cấp phép với tổng vốn đăng ký hơn 13
tỷ USD, nhưng vốn đăng ký của năm sau ít hơn năm trước (năm 1998 chỉ
Trang 15bằng 81,8% năm 1997, năm 1999 chỉ bằng 46,8% năm 1998), chủ yếu là các
dự án có quy mô vốn vừa và nhỏ Cũng trong thời gian này nhiều dự án đầu
tư nước ngoài được cấp phép trong những năm trước đã phải tạm dừng triểnkhai hoạt động do nhà đầu tư gặp khó khăn về tài chính (đa số từ Hàn Quốc
và Hồng Kong)
Từ năm 2000 đến 2003, dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Việt Nam códấu hiệu phục hồi chậm Vốn đăng ký cấp mới năm 2000 đạt 2,7 triệu USD,tăng 21% so với năm 1999 Năm 2001 tăng 18,2% so với năm 2000, năm
2002 vốn đăng ký giảm,chỉ bằng 91,6% so với năm 2001, năm 2003 (đạt 3,1
tỷ USD), tăng 6% so với cùng kỳ năm trước, và có xu hướng tăng nhanh từnăm 2001 (đạt 4,5 tỷ USD) tăng 45,1% so với năm trước; năm 2005 tăng50,8%; năm 2006 tăng 75,4% và năm 2007 đạt mức kỷ lục trong 20 năm qua20,3 tỷ USD, tăng 69% so với năm 2006, và tăng hơn gấp đôi so với năm
1996, năm cao nhất của thời kỳ trước khủng hoảng
2.2.2 Ngành đầu tư
Cơ cấu ngành đầu tư vào Việt Nam có sự thay đổi khá lớn vào nhữngnăm đầu thực hiện đầu tư chủ yếu tập trung vào những ngành khai thác và chếbiến là chủ yếu, những ngành sử dụng nhiều nguyên, nhiên vật liệu và sửdụng số lượng lao động lớn Nhưng từ khi ban hành luật đầu tư nước ngoàinăm 1988, Việt Nam đã chú trọng thu hút đầu tư vào lĩnh vực công nghiêp,xây dựng Chính phủ ban hành chính sách ưu đãi, khuyến khích các dự án:
+ Sản xuất sản phẩm thay thế hàng nhập khẩu
+ Sản xuất hàng xuất khẩu( có tỷ lệ xuất khẩu từ 50-80% trở lên)
+ Sử dụng nguồn vốn nguyên nhiên liệu trong nước và có tỷ lệ nội địahoá cao
Sau khi gia nhập WTO năm 2007, Việt Nam đã bãi bỏ các quy định về
ưu đãi đối với dự án có tỷ lệ xuất khẩu cao, không yêu cầu bắt buộc thực hiện
Trang 16tỷ lệ nội địa hoá và sử dụng nguyên liệu trong nước Qua các thời kỳ, địnhhướng thu hút đầu tư nước ngoài lĩnh vực công nghiệp-xây dựng tuy có thayđổi về lĩnh vực, sản phẩm cụ thể nhưng về cơ bản vẫn định hướng sản xuấtvật liệu mới, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ thông tin, cơ khí chế tạo,thiết bị cơ khí chính xác, sản xuất sản phẩm và linh kiện điện tử Đây cũngchính là các dự án có khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao và Việt Nam có lợithế so sánh khi thu hút đầu tư nước ngoài Nhờ vậy, cho đến nay các dự ánđầu tư nước ngoài thuộc các lĩnh vực nêu trên vẫn giữ vai trò quan trọng trongđóng góp cho tăng trưởng kinh tế Cơ cấu đầu tư có chuyển biến tích cực theohướng gia tăng tỷ trọng đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao, lọc dầu và côngnghệ thông với sự có mặt của các tập đoàn đa quốc gia nổi tiếng thế giơi:Intel, Panasonic, Canon Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực dịch vụ:
Nước ta có nhiều chủ trương chính sách, tạo điều kiện thuận lợi chohoạt động kinh doanh dịch vụ phát triển từ khi thi hành luật đầu tư nước ngoài
1988 Nhờ vậy, khu vực dịch dịch vụ đã có chuyển biến tích cực, đáp ứngngày càng tốt hơn nhu cầu sản xuất, tiêu dùng và đời sống nhân dân, góp phầntăng nhanh tăng trưởng kinh tế Một số ngành dịch vụ tăng trưởng rất nhanh.Cùng với việc thực hiện lộ trình cam kết thương mại dịch vụ trong WTO, ViệtNam tiếp tục đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài , phát triển các ngành dịch
vụ trực tiếp phục vụ sản xuất và xuất khẩu
Trong khu vực dịch vụ, đầu tư nước ngoài tập trung chủ yếu vào kinhdoanh bất động sản, bao gồm: xây dựng căn hộ, văn phòng, phát triển khu đôthị mới, kinh doanh hạ tầng, du lịch-khách sạn, giao thông vận tải đạt 498
dự án với 13,2 tỷ USD(tương ứng chiếm 59,3 và 81,2 tổng số dự án và vốnFDI cấp mới), trong khi ngành công nghiệp chi đạt 325 dự án với 3 tỷ USD(tương ứng chiếm 38,7% và 18,3%)
+ Đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực nông-lâm-ngư: