1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của chính sách xã hội trong việc phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay

30 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Vai Trò Của Chính Sách Xã Hội Trong Việc Phát Triển Nền Kinh Tế Thị Trường Ở Nước Ta Hiện Nay
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 179,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong nềnkinh tế thị trường xã hội người ta luôn đặt ra mối quan hệ giữa thị trường vànhững người chịu trách nhiệm tích cực, các ông chủ doanh nghiệp và người laođộng làm thuê, sự bảo đả

Trang 1

Thiên nhiên Việt Nam đa dạng, trên đại thể bao gồm các vùng đồngbằng ven biển, trung du, cao nguyên và núi rừng Việt Nam nằm trong vùngnhiệt đới – gió mùa, có nhiều vùng tiểu khí hậu và thế giới động, thực vật phongphú Trong lòng đất Việt Nam tàng trữ nhiều khoáng sản có giá trị kinh tế cao.Đây có thể coi được coi là một vùng thiên nhiên “hào phóng”.

Việt Nam hiện nay có 54 dân tộc người với hơn 76 triệu dân, trong đóriêng người kinh chiếm khoảng 87% và 53 tộc người thiểu số chiếm khoảng13% dân số Lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước gian truân hào hùng đã kếttinh thành những gí trị truyền thống tiêu biểu cho sức sống và bản sắc dân tộccùng với đó là sự phát triển kinh tế

Do đó việc đi sâu tìm hiểu về nền kinh tế thị trường cũng như vai tròcủa chính sách xã hội đối với sự phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam làkinh nghiệm quý báu cho Việt Nam trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế

Từ thực tiễn đó, nên tôi chọn “Vai trò của chính sách xã hội trong việc phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay” làm đề tài tiểu luận của

mình

II MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Tìm hiểu vai trò của chính sách xã hội trong việc phát triển nền kinh tế thịtrường ở nước ta hiện nay, thấy được những thành tựu cũng như những hạn chế

Trang 2

để từ đó rút ra được những kinh nghiệm trong xây dựng và phát triển nền kinh tếthị trường, bồi dưỡng quan điểm thực tiễn và nâng cao lập trường tư tưởng chobản thân.

III ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.1 Đối tượng

Chính sách xã hội trong việc phát triển nền kinh tế thị trường

1.2 Phạm vi nghiên cứu

Giai đoạn hiện nay

IV NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu phải phản ánh được thực tiễn, vai trò của chính sách xã hộitrong việc phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay Tìm ra đượcnhững đặc điểm và những quy luật của các chính sách xã hội của nước ta hiệnnay Qua đó rút ra được bài học kinh nghiệm phục vụ cho xây dựng và phát triểnnền kinh tế thị trường

V PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

- Phương pháp đọc, nghiên cứu, thu thập, xử lý thông tin tài liệu

- Phương pháp phân tích, tổng hợp, khái quát hoá vấn đề.

VI ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

Việc nghiên cứu đè tài này sễ làm giàu thêm kiến thức, làm sâu thêm lýluận và làm sáng tỏ thêm thực tiễn vai trò chính sách xã hội trong việc phát triểnnền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay

VII KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI

Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài bao gồm: 3 chương

Chương I Lý luận chung

Chương II Chính sách xã hội trong việc phát triển nền kinh tế thị trương

ở nước ta hiện nay

Chương III Sự can thiệp của các chính sách xã hội trong nền kinh tế thịtrường

PHẦN NỘI DUNG

Trang 3

CHƯƠNG I LÝ LUẬN CHUNG

1.1 Khái niêm về tăng trưởng và phát triển kinh tế

Hiện nay, mỗi quốc gia đều có những mục tiêu phấn đấu cho sự tiến bộcủa quốc gia mình Sự tiến bộ của mỗi quốc gia trong thời gian nhất đinh thườngđược đánh giá ở hai mặt: là sự gia tăng về kinh tế và sự biến đổi về xã hội Sựtiến bộ ở hai mặt đó được thể hiện thông qua hai thuật ngữ là tăng trưởng vàphát triển kinh tế

- Tăng trưởng kinh tế

Thuật ngữ về tăng trưởng kinh tế có nhiều cách đinh nghĩa khác nhau: Theo cách định nghĩa của Ngân hàng thế giới(WB) trong “Báo cáo vềphát triển thế giới năm 1991” cho rằng: Tăng trưởng kinh tế chỉ là sự gia tăng vềlượng của những đại lượng chính đặc trưng cho một trạng thái kinh tế, trước hết

là tổng sản phẩm xã hội, có tính đến mối liên quan với dân số

Trong tác phẩm “Kinh tế học của các nước đang phát triển”, nhà kinh tếhọc E wayne naFziger cho rằng: tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng về sản lượnghoặc sự gia tăng về thu nhập bình quân đầu người của một nước

Có một số quan điểm cho rằng: Tăng trưởng kinh tế là sự tăng thêm(hay gia tăng) về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhấtđịnh…

Như vậy, có nhiều cách định nghĩa khác nhau, song có thể định nghĩamột cách khái quát như sau:

Tăng trưởng kinh tế là sự gia tănng về tổng sản phẩm xã hội và tăng thunhập bình quân đầu người

Hiện nay, các quốc gia luôn quan tâm đến sự tăng trưởng kinh tế liêntục trong một thời kỳ tương đối dài – tức là tăng trưởng kinh tế bền vững

Tăng trưởng kinh tế bền vững là tăng trưởng kinh tế đạt mức tương đốicao và ổn định trong thời gian tương đói dài ( thường là một thế hệ từ 20- 30năm)

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sự tăng trưởng kinh tế, song tăng trưởngkinh tế phụ thuộc vào những yếu tố cơ bản như sau:

Một là, vốn: Đây là yếu tố rất quan trọng trong phát triển kinh tế Nói đếnyếu tố vốn ở đây bao gồm cả tăng lượng vốn và tăng hiệu quả sử dụng vốn

Trang 4

Hai là, con người: Là yếu tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế bền vững.

Đó phải là con người có sức khoẻ, có trí tuệ, có tay nghề cao, có động lực vànhiệt tình lao động được tổ chức chặt chẽ

Ba là, kỹ thuật và công nghệ: Kỹ thuật tiên tiến, công nghệ hiện đại lànhân tố quyết định chất lượng của sự tăng trưởng kinh tế, vì nó tạo ra năng suấtlao động cao, do đó tích luỹ đầu tư lớn

Bốn là, cơ cấu kinh tế: Xây dựng được cơ cấu kinh tế càng hiện đại thìtăng trưởng kinh tế càng nhanh và bền vững

Năm là, thể chế chính trị và kinh tế nhà nước: Thể chế chính trị càng ổnđịnh, tiến bộ thì tăng trưởng kinh tế càng nhanh Nhà nước càng đề ra được cácđường lối, chính sách phát triển kinh tế đúng đắn thì tăng trưởng kinh tế càngnhanh

- Phát triển kinh tế

Theo định nghĩa của ngân hàng thế giới (WB) trong “Sự thách thức củaphát triển” năm 1991, phát triển kinh tế là sự tăng bền vững các chỉ tiêu sốngbao gồm tiêu dùng vật chất, giáo dục, sức khoẻ và bảo vệ môi trường

Còn nhiều định nghĩa khác nhưng hiện nay, người ta định nghĩa kháiquát phát triển kinh tế như sau: Phát triển kinh tế là sự tăng trưởng kinh tế đikèm với sự tiến bộ của cơ cấu kinh tế, thể chế kinh tế và chất lượng cuộc sống

Như vậy phát triển kinh tế bao gồm những nội dung chủ yếu như sau: Thứ nhất là, sự tăng trưởng là sự tăng lên của tổng sản phẩm xã hội vàthu nhập bình quân đầu người

Thứ hai là, sự biến đỏi cơ cấu kinh tế theo hướng tỷ trọng nghành nôngnghiệp ngày càng giảm, còn tỷ trọng nghành công nghiệp và dịch vụ ngày càngtăng( đặc biệt là dịch vụ) trong tổng sản phẩm quốc dân

Thứ ba là, đời sống của nhân dân ngày càng cao về phúc lợi xã hội, tiêuchuẩn sống, giáo dục, sức khoẻ và sự bình đẳng về kinh tế, chính trị, xã hội

Mục tiêu của các quốc gia không chỉ dừng lại ở phát triển kinh tế mà cơbản hơn là phát triển kinh tế bền vững

Thừa nhận và nhất trí cách định nghĩa của Hội đồng Thế giới về Môitrường và Phát triển: “Phát triển kinh tế bền vững là phát triển đáp ứng các nhucầu của hiện tại mà không làm thương tổn đến khả năng đáp ứng các nhu cầucủa các thế hệ tương lai”

Trang 5

Phát triển kinh tế phụ thuộc vào những yếu tố cơ bản như sau:

Một là, lực lượng sản xuất: Trình độ phát triển của lực lượng sản xuấtcàng cao tức công nghệ càng hiện đại và trình độ con người càng cao thì càngthúc đẩy phát triển kinh tế nhanh

Hai là, quan hệ sản xuất: Quan hệ sản xuất mà phù hợp với tính chất vàtrình độ phát triển của lực lượng sản xuất thì thúc đẩy phát triển kinh tế cangnhanh, bền vững và ngược lại kìm hãm sự phát triển kinh tế

Ba là, kiến trúc thượng tầng: Tuy là quan hệ phái sinh, nhưng kiến trúcthượng tầng có tác động trở lại đối với sự phát triển kinh tế hoặc kìm hãm sựphát triển kinh tế Trong kiến trúc thượng tầng, ảnh hưởng sâu sắc nhất là chínhtrị

Tăng trưởng và phát triển kinh tế là hai thuật ngữ khác nhau nhưngluôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Tăng trưởng kinh tế chưa phải là pháttriển kinh tế, nhưng tăng trưởng kinh tế là yếu tố cơ bản nhất của phát triển kinh

tế Nếu không có tăng trưởng kinh tế thì sẽ không có phát triển kinh tế Pháttriển kinh tế bao hàm trong đó có tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững hơn Vìvậy, các chuyên gia WB cho rằng: Tăng trưởng chư phải là phát triển, song tăngtrưởng là một cách cơ bản để có phát triển và không thể nói phát triển kinh tế màtrong đó lại không có tăng trưởng kinh tế

1.2 Kinh tế thị trường – Việt Nam thuộc các nước đang phát triển

Trang 6

được điều tiết theo giá cả Đó là một nền kinh tế hàng hoá trao đổi và tự do cạnhtranh, thi đua là thực sự cần thiết Sự cạnh tranh đầy đủ trong nền kinh tế thịtrường không chỉ điều tiết nền kinh tế cả theo chiều dọc và chiều ngang mà cònthường xuyên điều chỉnh các diễn biến kinh tế và kích thích tính hiệu quả củanền kinh tế Hiệu quả hoạt động của nền kinh tế thị trường được thể hiện ở động

cơ sản xuất và năng xuất, ở mức thu nhập quốc dân và mức sống xã hội caocũng như các khả năng cung ứng tốt các hàng hoá và dịch vụ

Các chức năng trật tự, điều hành và điều phối cân bằng cần phải đượcđảm bảo nhằm chế ngự được tính độc quyền của sản xuất hàng hoá nhưng đồngthời cũng phải mang lại khả năng thịnh vượng chung cho toàn xã hội Khái niệm

về Kinh tế thị trường đến nay đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển với nhiềugóc độ nhìn nhận khác nhau Nhưng dù sao khi thiết lập các nguyên tắc hoạtđộng trong Luật kinh tế người ta cũng phải đảm bảo được tác động thực sự(thuần khiết) của sự cạnh tranh trên thị trường Đồng thời, cũng đề cập đếnnhững định mức chuẩn như thu hẹp tính độc quyền cá nhân, uốn nắn những lệchlạc, sai phạm hoặc ngăn cản sự cạnh tranh Bên cạnh đó, Nhà nước với chínhsách kinh tế của mình cũng điều tiết và định hướng cho sự phát triển của hệthống kinh tế thị trường Tuy nhiên, các nguyên tắc này cũng không bảo hànhcho các mục tiêu chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân như đầy đủ việc làm,

ổn định giá cả… Mặc dù nguyên tắc tự điều chỉnh nền kinh tế thông qua cạnhtranh là điều kiện rất cần thiết nhưng cũng cần phải được bổ sung trong lĩnh vựckinh tế vĩ mô thông qua các biện pháp điều chỉnh tổng thể của Nhà nước

Thực ra trên thế giới hiện nay có nhiều mô hình kinh tế thị trường khácnhau, điều đó phụ thuộc vào sự thích ứng của từng nước đối với điều kiện, hoàncảnh tự nhiên, kinh tế xã hội cũng như tập quán dân tộc mà lựa chọn một môhình kinh tế thích hợp Sẽ không bao giờ có một mô hình kinh tế thị trườngkhuôn mẫu thích hợp cho tất cả các nước hoặc dù chỉ điển hình cho một nhómnước cùng thực hiện Ở đây phải kể ra một số mô hình kinh tế thị trường tiêubiểu như: kinh tế thị trường xã hội của Cộng hoà liên bang Đức, kinh tế thịtrường tự do tương đối của Mỹ, mô hình của Nhà nước thịnh vượng trong nềnkinh tế thị trường của Thụy Điển, kinh tế thị trường xã hội xã hội chủ nghĩa củaTrung Quốc, kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiếtcủa Nhà nước ở Việt Nam… Tuy nhiên, điều cần xem xét chung là khi tiến

Trang 7

hành nền kinh tế thị trường người ta phải biết chấp nhận cả những bất lợi do hậuquả của nền kinh tế thị trường mang lại cho xã hội và ở mỗi nước khác nhau đều

có cách nhìn nhận và giải quyết vấn đề này một cách khác nhau Cụ thể là vấn

đề thời vận kinh tế nhất là lúc suy thoái, nạn lạm phát và nạn thất nghiệp Điều

đó có nghĩa là không có sự bảo hành trên con đường tiến hành kinh tế thịtrường Do vậy, phải có các biện pháp mang tính bị động nhằm ngăn chặn hoặchạn chế những hậu quả xấu xảy ra đối với xã hội cũng như đối với các tầng lớpdân cư "yếu" hơn trong xã hội Và điều này được nhìn nhận một cách đơn giản

là những công cụ nhằm mục đích bảo đảm xã hội, ổn định xã hội trong mọi tìnhhuống – đây là một trong những nhiệm vụ chính của chính sách xã hội

Chúng ta có thể minh hoạ thêm về khái niệm kinh tế thị trường thông quanền kinh tế thị trường xã hội của CHLB Đức và nền kinh tế thị trường địnhhướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước ở Việt Nam để hiểu rõthêm về bản chất nền kinh tế thị trường Tư tưởng xây dựng nền kinh tế thịtrường xã hội được hình thành ở CHLB Đức từ những năm 50 (chính xác hơn làđược xem xét đến từ sau chiến tranh thế giới thứ hai) trên cơ sở lựa chọn, khắcphục nhược điểm của nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa không thể kiểm trađược với nền kinh tế hành chính tập trung quan liêu Nền kinh tế thị trường xãhội là khả năng của sự hoà hợp giữa sự tự do về kinh tế với tư tưởng Nhà nước

xã hội, tương tự như sự bảo đảm xã hội và sự bình đẳng cần đạt được Trong nềnkinh tế thị trường xã hội người ta luôn đặt ra mối quan hệ giữa thị trường vànhững người chịu trách nhiệm tích cực, các ông chủ doanh nghiệp và người laođộng làm thuê, sự bảo đảm xã hội cũng như vai trò, trách nhiệm của Nhà nước.Điều đó được thể hiện ở chỗ: Sự tự do trên thị trường (cho các ông chủ doanhnghiệp) nối liền với sự bảo đảm xã hội xác định được (cho người lao động)trong đó nhiệm vụ của Nhà nước là xây dựng và thực hiện pháp luật theo hướngcác chính sách tổng thể và chính sách quá trình Quá trình hoạt động kinh tếtrong nền kinh tế thị trường xã hội được đặt dưới sự cân nhắc về mặt xã hội.Diễn giải về từ "xã hội" thu hoạch được từ hệ thống "kinh tế thị trường xã hội"này là tất yếu vì nó thực hiện trước hết cho sự phát triển kinh tế thông qua cáckhả năng, hiệu quả của nền kinh tế thị trường cạnh tranh có tổ chức, "Sự thịnhvượng cho tất cả" là có thể được và thứ hai là sự tự do kinh tế cho tất cả đượctôn trọng Con người trong hệ thống này một mặt là một cá nhân, sự tự do và

Trang 8

đặc tính cá thể của nó được bảo vệ và khuyến khích Mặt khác, về góc độ bảnchất xã hội, con người được nối liền với nghĩa vụ và những ràng buộc của tự dotrong xã hội

Nguyên tắc cao nhất của nền kinh tế thị trường xã hội là sự nối liền tự dotrên thị trường với đòi hỏi cân bằng xã hội theo phương thức: Sự quyết định tự

do của các chủ thể kinh tế (ngân sách của cá nhân hoặc ngân sách doanh nghiệp)

về thị trường được bảo đảm mà ở đó sự cố gắng đạt được một cách đồng đều vềbảo đảm xã hội và sự thịnh vượng chung toàn xã hội ở nước ta, nền kinh tế thịtrường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước đã thể hiện rõ

sự phát triển của nền kinh tế thị trường nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh gắnliền sự phát triển của một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Điều đó cónghĩa là sự tôn trọng, khuyến khích và sử dụng tối đa các đặc tính ưu việt củanền kinh tế thị trường có tổ chức, của các tổ chức kinh tế nhằm đáp ứng cho sựphát triển nhanh và mạnh nền kinh tế quốc dân Và nhịp độ phát triển kinh tếnày luôn được gắn chặt với sự phát triển con người và xã hội Vì vậy, vai trò củaNhà nước đối với sự phát triển nền kinh tế thị trường mang đặc trưng riêng ởnước ta giữ vai trò hết sức quan trọng Đặc điểm chung là nền kinh tế thị trườngcủa nước ta được chuyển biến từ một nền kinh tế kế hoạch hóa hành chính tậptrung Trải qua 20 năm chuyển đổi, với sự điều chỉnh từng bước của Nhà nước

đã không gây nên những biến động làm ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hộicũng như đời sống của đại bộ phận người lao động và dân cư trong toàn xã hội.Trái lại, sự thành công của công cuộc chuyển đổi kinh tế đã mang lại bộ mặtmới cho đời sống xã hội cả nước Thành công đó là do một mặt chúng ta từngbước áp dụng các yếu tố kinh tế thị trường vào từng ngành, từng khu vực; từngbước đa dạng hoá các thành phần kinh tế, tăng cường năng lực cạnh tranh vàbình đẳng của các thành phần kinh tế; chuyển đổi cơ cấu kinh tế; tạo ra các hànhlang pháp luật cần thiết cho hoạt động thị trường đi đúng hướng, mặt khác Nhànước ta rất coi trong công cụ điều tiết xã hội, sử dụng toàn diện các công cụ củachính sách xã hội như: xoá đói giảm nghèo, cho vay vốn ưu đãi để sản xuất kinhdoanh; khuyến khích người lao động tự tạo việc làm và tăng thêm thu nhập;nâng cao chất lượng cung cấp cho các đối tượng hưởng ưu đãi xã hội; mở rộngdiện đối tượng tham gia BHXH, đặc biệt là màng lưới BHYT; từng bước quantâm đến vấn đề nhà ở cho mọi người dân…nhằm từng bước phấn đấu mang lại

Trang 9

sự công bằng, bình đẳng cả về mặt chính trị, tinh thần lẫn đời sống kinh tế chotừng thành viên hay nhóm thành viên trong xã hội.

- Việt Nam là nước đang phát triển có mức sống còn khiêm tốn, có nềntảng công nghiệp kém phát triển và có chỉ số phát triển con người(HDI) khôngcao Thu nhập đầu người ít ỏi(GDP 1100 USD/người /năm) thông kê năm 2009

1.3 Mở rộng

- Việt Nam hoàn tất quá trình gia nhập WTO vào ngày 07/1/2006 cònchính thức làm lễ gia nhập và tham gia các hoạt động của WTO vào ngày11/1/2007

WTO là một tổ chức thương mại lớn thứ nhất toàn cầu Ngay từ khithành lập (1995) WTO đã có 136 thành viên (nước và vùng lãnh thổ)

Những nước nhỏ nhất như Cuba, Mianmar và các nước đang phát triểnnhư Thái Lan, Malaysia, Philippines cũng đón cơ hội và tham gia từ đầu Từ đóđến nay, WTO đã kết nạp thêm 18 thành viên mới, đưa tổng số thành viên lên

148, trong đó 2/3 là các nước đang và chậm phát triển Liên hiệp quốc có 189nước thành viên thì có hơn 140 thành viên của WTO

Hoạt động của các tổ chức này, được điều tiết bởi 16 hiệp định chính vềcác lĩnh vực: Thương mại và thuế quan (GATT, 1991), nông nghiệp (AOA), ápdụng các biện pháp kiểm định động và thực vật (SPS), dệt may (ATC), các hàngrào kỹ thuật trong thương mại (TBT), các biện pháp đầu tư liên quan đến thươngmại (TRIMS), chống bán phá giá (AD), trị giá tính thuế hải quan (CVA), giámđịnh hàng hoá trước khi xếp hàng (PI), quy tắc xuất xứ (ROO), cấp phép nhậpkhẩu (IL), trợ cấp và các biện pháp đối kháng (SCM), các biện pháp tự vệ đặcbiệt (SG), thương mại dịch vụ (ATS), các khía cạnh của quyền sở hữu trí tuệkiên quan đến thương mại (TRIPS) Ngoài ra WTO còn có một số hiệp địnhnhiều bên như Hiệp định về mua sắm Chính phủ, Hiệp định về Công nghệ thôngtin Xuất phát từ vai trò và vị trí rất quan trọng của WTO đối với thương mạitoàn cầu, Việt Nam đàm phán thành công vào ngày 11/1/2007 Việt Nam chínhthức gia nhập, gia nhập WTO Việt Nam đứng trước cơ hội và thách thức

Những cơ hội mà Việt Nam có được:

- Gia nhập WTO, Việt Nam có cơ hội mở rộng thị trường tiêu thụ sảnphẩm do tiếp cận thị trương quốc tế rộng lớn với 148 thành viên, và vị thế thịtrường ngang nhau với tất cả các quốc gia đó Hàng hoá thâm nhập thị trường

Trang 10

khổng lồ này mà không gặp bất cứ trở ngại nào, miễn là không vi phạm nhữngquy chế và cam kết đã ký.

- Việt Nam được đối xử tối huệ quốc vô điều kiện Thuế nhập khẩu váocác nước thành viên sẽ giảm đáng kể; được huơngr chế độ ưu đãi thuế quan phổcập vì là nước đang phát triển

- Gia nhập WTO, Việt Nam sẽ tiếp cận nhưng công nghệ tiên tiến, nhữngthị trường tài chính hàng đầu của thế giới Bởi lẽ, thành viên WTO có nhữngquốc gia là những nền kinh tế hàng đầu thế giới có khoa học công nghiệp, nănglực quản lý ở trình độ cao, hệ thống tài chính, tiền tệ phát triển Từ đó Việt Nam

sẽ tiếp cận nhưng công nghệ mới, ứng dụng vào sản xuất, quản lý Mặt khác,Việt Nam sẽ tiếp nhận được nguồn lực và vật lực lớn từ những nước này

- Là thành viên của WTO, Việt Nam sẽ nâng cao vị thế trong các mốiquan hệ quốc tế Trong việc biểu quyết những vấn đè liên quan đến WTO, đặcbiệt trong việc giải quyết những tranh chấp trong kinh doanh thương mại quốc

tế Việt Nam bình đẳng với các quốc gia thành viên của WTO

- Khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO, hàng hoá các nước sẽthâm nhâoj vào thi trương Việt Nam Vì thế sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp ViệtNam không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm giá thành… Nâng caosức cạnh tranh nhằm tồn tại và phát triển Điều này người tiêu dùng trong nướcđược hưởng lợi nhiều hơn

- Gia nhập WTO, Việt Nam còn có cơ hội hoàn thiên các chính sách kinhtế;các cơ quan quản lý nhà nước cũng sẽ hoàn thiện hoạt động, tuân thủ quy chếWTO với tiêu chí tự do hoá thương mại;kiên quyết xoá bỏ những rào cản bấthợp lý trong thuơng mai quốc tế, góp phần làm trong sạch bộ máy nhà nước,nâng cao hiệu quả thực hiện các chính sách kinh tế của chính phủ, tạo được hệthống chính sách minh bạch làm cơ sở thu hút đầu tư nước ngoài

Bên cạnh những cơ hội thuận lợi chủ yếu trên, Việt Nam phải đối mặt vớinhưng thách thức rất lớn là cạnh tranh với các doanh nghiệp nước ngoài trongkhi đó, khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp nước ta chưa cao, khiến cácdoanh nghiệp Việt Nam phải đứng trước hai sự lựa chọn: Hoặc chấp nhận sựcạnh tranh, mạnh dạn đổi mới công nghệ, vận hành hệ thống quản lý kinh tế tiêntiến, nâng cao chất lượng, hạ giá thành sản phẩm, dịch vụ, tạo sức cạnh tranh vớisản phẩm, dịch vụ cùng loại, chiếm lĩnh thị trường trong nước và hướng tới xuất

Trang 11

khẩu bền vững; hoặc bị đào thải khỏi thị trường, mà hậu quả là số lao đọng thấtnghiệp tăng cao, một gánh nặng cho xã hội và Chính phủ.

Thách thức lớn thứ hai khi gia nhập WTO là Việt Nam phải thực hiệnhàng loạt những cam kết, những thoả thuận đã ký trong những hiệp định thươngmại song phương, đâ phương, cũng như quy chế WTO, trong khi đó, hệ thốngchính sách kinh tế của đang trong quá trình hoàn thiện, chưa đồng bộ

Ngoài ra, việc gia nhập WTO cũng đòi hỏi Nhà nước phải đẩy mạnhviệc đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có khả năng tiếp thu những tiến bộ khoahọc kỹ thuật, những công nghệ tiên tiến, những kinh nghiệm quản lý để đáp ứngnhu cầu của bộ máy quản lý đa năng và chuyên nghiệp hoá

Trang 12

Ch¬ng II ChÝnh s¸ch x· héi trong viÖc ph¸t triÓn nÒn kinh tÕ thÞ tr¬ng ë níc ta hiÖn nay

2.1 Tình hình kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay

Việt Nam là một quốc gia nghèo và đông dân đang dần bình phục và pháttriển sau sự tàn phá của chiến tranh, sự mất mát viện trợ tài chính từ khối cácnước xã hội chũ nghĩa trước đây và sự yếu kém của nền kinh tế tập trung Chínhsách đổi mới năm 1986 thiết lập nền "kinh tế thị trường theo định hướng xã hộichủ nghĩa" Các thành phần kinh tế được mở rộng nhưng các ngành kinh tế thenchốt vẫn dưới sự điều hành của Nhà nước Sau năm 1986, kinh tế Việt Nam đã

có những bước phát triển to lớn và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế trungbình khoảng 9% hàng năm từ 1993 dến 1997 Tăng trưởng GDP 8,5% vào năm

1997 đã giảm xuống 4% vào năm 1998 do ảnh hưởng của sự kiện khủng hoảngkinh tế Á châu năm 1997, và tăng lên đến 4,8% năm 1999 tăng trưởng GDPtăng lên lên từ 6% đến 7% giữa những năm 2000-2002 trong khi tình hình kinh

tế thế giới đang trì trệ Hiện nay, giới lãnh đạo Việt Nam tiếp tục các nỗ lực tự

do hóa nền kinh tế và thi hành các chính sách cải cách, xây dựng cơ sở hạ tầngcần thiết để đổi mới kinh tế và tạo ra các ngành công nghiệp xuất khẩu có tínhcạnh tranh hơn

Mặc dù có tốc độ phát triển kinh tế cao trong một thời gian dài nhưng dotình trạng tham nhũng không được cải thiện và luôn bị xếp hạng ở mức độ caocủa thế giới cộng với các khó khăn về vốn, đào tạo lao động, đất đai, cải cáchhành chính, cơ sở hạ tầng gây ra cho việc kinh doanh với hàng chục ngàn thủ tục

từ 20 năm trước đang tồn tại và không phù hợp với nền kinh tế thị trường nênvới con số cam kết đầu tư trực tiếp của nước ngoài (FDI) cao kỷ lục 61 tỉ USDnăm 2008 chưa nói lên được mức độ tin tưởng của các nhà đầu tư quốc tế đốivới Việt Nam và Việt Nam đang bị các nước trong khu vực bỏ lại khá xa, theoBáo cáo phát triển Việt Nam 2009 của Ngân hàng Thế giới WB thì Việt Nam đã

bị tụt hậu về kinh tế tới 51 năm so với indonesia, 95 năm so với Thái Lan và 158năm so với singapore

Phát huy vai trò của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay chính là cách thiết thực góp phần bảo đảmcông bằng xã hội, vì sự phát triển dân chủ, văn minh của đất nước, song vẫn giữđược bản sắc chính trị - xã hội của dân tộc trong thời kỳ hội nhập toàn cầu

Trang 13

Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trongnhững vấn đề căn bản của triết lý phát triển ở Việt Nam hiện nay Không phảiđến khi khủng hoảng tiền tệ xuất phát từ Mỹ năm 2008 gây ảnh hưởng lan tỏa rahầu khắp thế giới như hiện nay, cùng những giải pháp cơ bản mà các nước đang

sử dụng với hy vọng ngăn ngừa những kết cục bi thảm về mặt kinh tế - xã hội dokhủng hoảng đó gây ra, chúng ta mới thấy tính phi lý của cái gọi là "thị trường

tự do", "bàn tay vô hình" Từ rất sớm, chúng ta đã khẳng định, nền kinh tế mà

chúng ta đang xây dựng phải có sự quản lý của Nhà nước Kiên trì tư tưởng đó,

tại Đại hội X, Đảng ta nhấn mạnh sự cần thiết phải "bảo đảm vai trò quản lý,điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa"

Ở Việt Nam hiện nay, vai trò của Nhà nước đối với kinh tế không chỉ xuấtphát từ yêu cầu phổ biến của quá trình phát triển kinh tế thị trường, mà còn xuất

phát từ tính đặc thù của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Bài

viết này chỉ tập trung vào khía cạnh thứ hai vừa nêu

Thị trường, kinh tế thị trường là một kiểu quan hệ giữa người với ngườitrong sản xuất, trao đổi và tiêu dùng, nên mang đậm dấu ấn của quan hệ xã hội,của thể chế chính trị mà nền kinh tế đó tồn tại Với mức độ đáng kể, sự pháttriển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay bị chi phối và nhằm phục vụ chođịnh hướng xã hội chủ nghĩa Đương nhiên, nhân tố sâu xa bảo đảm định hướngchính trị đối với kinh tế là đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của ĐảngCộng sản cầm quyền Song, để đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảngbiến thành hiện thực vận động của nền kinh tế, chúng phải được thể chế hóathành hệ thống pháp luật, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội vàđược triển khai bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước, dưới sự quản lý của Nhànước do Đảng lãnh đạo Xét từ giác độ đó, Nhà nước có tác động trực tiếp nhấttới việc định hướng sự vận động của kinh tế thị trường Pháp luật, chương trình,

kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước chỉ đúng, khi chúng phản ánhchính xác yêu cầu phát triển khách quan của thị trường, lấy quy luật thị trường

làm cơ sở Xét ở mặt này, chúng mang tính khách quan Nhưng chúng lại là sự

thể chế hóa, cụ thể hóa mục tiêu chính trị của Đảng, nên cũng có mặt chủ quan.Trong quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,định hướng chủ quan (ý chí của Đảng, của Nhà nước và nhân dân ta) là ở chỗ,cùng với việc bảo đảm lợi ích hợp lý của doanh nhân, thì việc ưu tiên bảo vệ lợi

Trang 14

ích hợp pháp, chính đáng của người lao động là một vấn đề có tính nguyên tắc.

Nhà nước có cơ chế, chính sách để bảo đảm sự ưu tiên đó, thể hiện ở cả ba lĩnhvực kinh tế cơ bản sau:

Trên lĩnh vực sở hữu: Sự tồn tại của ba chế độ sở hữu (sở hữu toàn dân,

sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân), ba hình thức sở hữu (hình thức sở hữu nhànước, hình thức sở hữu tập thể, hình thức sở hữu tư nhân) là một đòi hỏi kháchquan của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay Nhà nước thông qua hệthống chính sách, pháp luật, đòn bẩy kinh tế để định hướng, làm cho kinh tế nhànước từng bước vươn lên nắm vai trò chủ đạo, kinh tế nhà nước cùng kinh tế tậpthể tạo thành nền tảng của nền kinh tế quốc dân

Trên lĩnh vực quản lý: Nhà nước xây dựng cơ chế, chính sách tạo điều

kiện thuận lợi cho người lao động trực tiếp hay thông qua các khâu trung giannhất định tham gia quá trình hoạch định, tổ chức, giám sát, kiểm tra việc thựchiện các kế hoạch phát triển của doanh nghiệp

Trên lĩnh vực phân phối: Nhà nước vừa thông qua hệ thống chính sách

kinh tế do mình hoạch định, vừa sử dụng các nguồn lực - trực tiếp là bộ phậnkinh tế nhà nước - để định hướng, can thiệp vào lĩnh vực phân phối và phân phốilại theo hướng ưu tiên phân phối theo lao động và qua phúc lợi xã hội; kết hợptăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội; hoạch định các chính sáchxóa đói, giảm nghèo, đền ơn đáp nghĩa

Đặc biệt, trong sự phát triển kinh tế thị trường ở nước ta, Nhà nước có vaitrò to lớn trong việc bảo đảm sự ổn định vĩ mô cho phát triển và tăng trưởng

kinh tế "Ổn định" ở đây thể hiện sự cân đối, hài hòa các quan hệ nhu cầu, lợi

ích giữa người và người, tạo ra sự đồng thuận xã hội trong hành động vì mụctiêu phát triển của đất nước Tính đúng đắn, hợp lý và kịp thời của việc hoạchđịnh và năng lực tổ chức thực hiện các chính sách phát triển vĩ mô do Nhà nướcđảm nhiệm là điều kiện tiên quyết nhất hình thành sự đồng thuận đó Là nhữngcông cụ tạo ra sự đồng thuận xã hội, từ đó mà có ổn định xã hội cho phát triển

và tăng trưởng kinh tế, các chính sách, pháp luật của Nhà nước, một mặt, phảiphản ánh đúng những nhu cầu chung của xã hội, của mọi chủ thể kinh tế ; mặtkhác, phải tôn trọng tính đa dạng về nhu cầu, lợi ích cụ thể của các chủ thể đó

Nhà nước ta cũng có vai trò to lớn trong việc bảo đảm gia tăng phúc lợi

xã hội, bởi mục tiêu căn bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

Trang 15

nghĩa ở Việt Nam là góp phần thực hiện "dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh" Có chính sách xã hội hợp lý; bảo đảm phúc lợi ngàymột gia tăng nhờ hiệu quả tác động của chính sách kinh tế tiến bộ do Nhà nướchoạch định và tổ chức thực hiện bằng những nỗ lực của nhiều chủ thể kinh tếkhác nhau là nhân tố có vai trò quyết định trong vấn đề này.

Công bằng xã hội là một động lực của sự phát triển xã hội nói chung, của

sự phát triển và tăng trưởng kinh tế bền vững nói riêng Một trong những mụctiêu của quá trình phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

mà Nhà nước hướng tới là xóa bỏ tình trạng vi phạm công bằng xã hội Đây làmột nhiệm vụ lâu dài Ở nước ta hiện nay, công bằng xã hội trên lĩnh vực kinh tếđược biểu hiện không chỉ ở chỗ lao động ngang nhau thì được hưởng thụ ngangnhau, mà còn ở chỗ cống hiến - đóng góp cả về vật chất lẫn tinh thần trong quákhứ cũng như trong hiện tại - ngang nhau cho sự phát triển đất nước thì đượchưởng ngang nhau Từ đó, việc bảo đảm yêu cầu thực hiện tiến bộ, công bằng xãhội được thể hiện đầy đủ ngay trong từng bước và từng chính sách phát triểnkinh tế là một nhiệm vụ cơ bản của Nhà nước ta trong việc thực hiện chức năngphát triển, tăng trưởng kinh tế trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa

Nhà nước chủ động tham gia kinh tế thị trường nhằm bảo hộ cho hìnhthức tổ chức sản xuất chứa đựng các yếu tố của quan hệ sản xuất xã hội chủnghĩa và tạo điều kiện cho chúng phát huy ưu thế của mình; tạo vị thế cho kinh

tế nhà nước có sức mạnh định hướng xây dựng mô hình kinh tế cho phép giảiphóng con người; ngăn chặn các xu hướng phát triển kinh tế không có lợi choquảng đại người lao động

Để thực hiện các mục tiêu đó, điều quan trọng nhất là Nhà nước tạo lập

khung khổ pháp lý cho hoạt động sản xuất kinh doanh diễn ra hiệu quả Chỉ duy

nhất nhà nước có được chức năng này Hệ chuẩn pháp luật kinh tế của nhà nướccàng được xây dựng đồng bộ, đúng đắn, nhất quán và kịp thời bao nhiêu, càng

có tác động tích cực tới sự vận hành của nền kinh tế bấy nhiêu Song, tự nó,pháp luật kinh tế không gây ra những biến đổi trong hiện thực kinh tế Để chocác luật kinh tế trở thành tác nhân kích thích phát triển kinh tế, chúng phải đượcđưa vào vận hành Nhà nước chính là thiết chế chủ yếu đảm đương nhiệm vụ

Ngày đăng: 23/08/2021, 15:40

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w