Tuy nhiên, ông cũng thấy đực những hạnchế của lý thuyết Keynes là bỏ qua vai trò của thị trường: không tôn trọng cácquy luật khách quan, không chỉ ra được các biện pháp để khắc phục các
Trang 1A MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Do tác động của quy luật kinh tế khách quan trong cơ chế thị trường nhưcác quy luật giá trị, quy luật cung cầu…hay chính là sự phát triển tự nhiên củanền kinh tế thị trường Đã xuất hiện nhiều thất bại của cơ chế thị trường nhưkhủng hoảng kinh tế, lạm phát, thất nghiệp, ô nhiễm môi trường… Do đó cầnphải có những giải pháp cần thiết để giải quyết những thất bại đó
Nền kinh tế thị trường ngày càng trở thành một xu thế chung được nhiềuquốc gia trên thế giới ứng dụng và phát triển mạnh mẽ Nó tạo động lực thúc đẩycạnh tranh giữa các thành phần kinh tế, tạo nền tảng phát triển kinh tế
Việt Nam cũng là quốc gia phát triển nền kinh tế theo cơ chế thị trường
Và trong những năm qua Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong phát triểnnền kinh tế, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra những chủ trương chính sách phùhợp với tình hình của đất nước Bên cạnh đó nền kinh tế thị trường ở nước tacòn gặp nhiều khó khăn và chưa có những giải pháp đúng đắn để khắc phục
Từ những lý do trên đây tôi quyết định chọn đề tài: Lý thuyết “Nền kinh
tế hỗn hợp” của P.A.Samuelson và việc vận dụng lý thuyết trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam.
2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Cho đến nay, vấn đề kết hợp cả hai bàn tay – thị trường và nhà nước đangđược rất nhiều sự quan tâm của các nhà kinh tế học trong và ngoài nước nghiêncứu và ứng dụng vào phát triển kinh tế
Đồng thời có rất nhiều các cuộc hội thảo khoa học, các diễn đàn cũng nhưhội nghị ở Việt Nam và trên thế giới bàn về vấn đề này
Vấn đề này còn được đề cập đến trong các đề tài cấp trường, cấp bộ, cấpquốc gia, các bài tham luận của nghiên cứu sinh cho các học vị thạc sĩ, tiến sĩ…
Đặc biệt còn có các bài viết, các tác phẩm nổi tiếng trên thế giới bàn vềchủ đề này như: tác phẩm “bàn tay vô hình” của A.Smith, lý thuyết “vai trò kinh
tế của nhà nước” của Keynes, trường phái tự do mới
Trang 23 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Tôi dựa vào các tài liệu, tác phẩm kinh tế về vấn đề kết hợp hai bàn tay cảtrong và ngoài nước, tập hợp hóa những vấn đề lien quan đến đề tài Từ đó giảiquyết các nội dung của đề tài
Đề tài có sử dụng các phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp,phương pháp so sánh, phương pháp khái quát hóa, phương pháp lịch sử
4 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đề tài: Lý thuyết “Nền kinh tế hỗn hợp” của P.A.Samuelson và vận dụng
lý thuyết vào sự phát triển nền kinh tế thị trường ở Việt Nam Làm sáng tỏ cácvấn đề thị trường, vai trò của thị trường, vai trò kinh tế của nhà nước trong nềnkinh tế Tìm hiểu về nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở ViệtNam Từ đó đưa ra những giải pháp để phát triển nền kinh tế thị trường ViệtNam
Trang 3B NỘI DUNG
P.A.Samuelson sinh năm 1915 tại Gary, bang Indiana (Mỹ) Ông là nhàphân tích kinh tế nổi tiếng thuộc trường phái hiện đại với các tác phẩm: “cơ sởphân tích kinh tế” (1947); “kinh tế học” (1948); “quy hoạch tuyến tính với phépnhân kinh tế” (1958) Ông là người sáng lập ra khoa kinh tế học của học việnMasachusetts Từ năm 1965-1968, ông làm việc tại hiệp hội kinh tế học Ông làngười Mỹ đầu tiên được nhận giải thưởng Nobel về kinh tế học năm 1970
Đặc điểm cơ bản về phương pháp luận trong cuốn “kinh tế học” là đã vậndụng tổng hợp các trường phái trong lịch sử các vấn đề của nền kinh tế thịtrường Ông cho rằng “kinh tế học là việc nghiên cứu xã hội sử dụng các nguồnlực khan hiếm như thế nào để sản xuất ra hàng hóa có giá trị và phân phối chúngcho các đối tượng khác nhau” Việc tổ chức nền kinh tế phải tuân theo các quyluật khan hiếm, phải lựa chọn các khả năng sản xuất, phỉa itnhs đến quy luậtnăng suất giảm dần và chi phí tương đối ngày càng tăng… Ông đã sử dụng cácphương pháp phân tích kinh tế vĩ mô và vi mô để trình bày các vấn đề của kinh
tế học
Lý thuyết về “Nền kinh tế hỗn hợp” là trọng tâm hệ thống lý thuyết củatrường phái chính hiện đại và là nội dung chủ yếu trong cuốn kinh tế học củaP.A.Samuelson
I LÝ THUYẾT “NỀN KINH TẾ HỖN HỢP” CỦA SAMUELSON 1.1 Bối cảnh xuất hiện
Mầm mống lý thuyết nền kinh tế hỗn hợp đã xuất hiện từ cuối năm 30 củathế kỷ 19, sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, nó được các nhà kinh tế học nhưA.Hasen (1887-1975) tiếp tục nghiên cứu và được P.A.Samuelson phát triểntrong kinh tế học
P.A.Samuelson đã kế thừa lý thuyết Keynes về “vai trò của nhà nước” đó
là nhận thấy được hậu quả của những thất bại của nền kinh tế thị trường nhưkhủng hoảng kinh tế, thất nghiệp, suy thoái, suy giảm tăng trưởng… Từ đó nhấn
Trang 4mạnh vai trò điều tiết của nhà nước Tuy nhiên, ông cũng thấy đực những hạnchế của lý thuyết Keynes là bỏ qua vai trò của thị trường: không tôn trọng cácquy luật khách quan, không chỉ ra được các biện pháp để khắc phục các thất bạicủa nền kinh tế thị trường… Dẫn đến thực tiễn áp dụng lý thuyết Keynes không
có hiệu quả tối đa
Đồng thời với việc nghiên cứu lý thuyết Keynes, P.A.Samuelson đãnghiên cứu lý thuyết “bàn tay vô hình” của A.Smith Ông thấy được sức mạnhcủa nền kinh tê thị trường: tôn trọng các quy luật khách quan như quy luật giátrị, quy luật cung cầu Nhưng hạn chế lại là không coi trọng vai trò điều tiết kinh
Từ đó, P.A.Samuelson đã kế thừa, phát triển và hoàn thiện lý thuyết nềnkinh tế hỗn hợp của mình Nếu các nhà kinh tế học thuộc trường phái “Cổ điển”
và “tân cổ điển” say sưa với “bày tay vô hình” tức là tuyệt đối hóa vai trò sựđiều tiết của kinh tế thị trường; trường phái Keynes say sưa với “bày tay hữuhình”, tức là cơ chế điều tiết kinh tế của nhà nước Trên cơ sở kế thừa các lýthuyết đó, thì P.A.Samuelson lại chủ trương phát triển kinh tế phải dựa vào cả
“hai bàn tay”, tức là cơ chế thị trường và nhà nước Ông cho rằng: “điều hànhmột nền kinh tế không có chính phủ hoặc thị trường cũng như vỗ tay bằng mộtbàn tay”
1.2 Nội dung lý thuyết “nền kinh tế hỗn hợp” của P.A.Samuelson
Lý thuyết “nền kinh tế hỗn hợp” của P.A.Samuelson được chia thành haiphần chính: vai trò của cơ chế thị trường và vai trò của chính phủ trong nền kinh
tế thị trường
Trang 5Khi đi vào phân tích vai trò của cơ chế thị trường, Samuelson đã đưa rakhái niệm cơ chế thị trường và thị trường
Theo Samuelson, cơ chế thị trường là một hình thức tổ chức kinh tế.Trong đó, cá nhân người tiêu dung và các nhà kinh doanh tác động lẫn nhau quathị trường để xác định ba vấn đề trung tâm của tổ chức kinh tế là: sản xuất cáigì? sản xuất như thế nào? sản xuất cho ai? Cơ chế thị trường không phải là sựhỗn độn mà là trật tự kinh tế Đó là một cơ chế tinh vi để phối hợp mọi người,mọi hoạt động và mọi doanh nghiệp thông qua hệ thống giá cả thị trường Nó làmột phương tiện giao tiếp dể tập hợp trí thức và hành động của hàng triệu cánhân khác nhau mà máy tính lớn nhất ngày nay không thể giải nổi Không aithiết kế ra thị trường, nhưng nó vẫn vận hành rất tốt Trong nền kinh tế thịtrường, không một cá nhân hay một tổ chức đơn lẻ nào có trách nhiệm sản xuất,tiêu dùng, phân phối hay định giá P.A.Samuelson nêu quan niệm về thị trường.Ông cho rằng, theo nghĩa đen thì thị trường là nơi mua - bán Ngày nay, thịtrường là một quá trình trong đó người mua và người bán tương tác với nhau đểxác định giá cả và số lượng hàng hóa Như vậy, nói đến thị trường là phải nóiđến các yếu tố của nó bao gồm: hàng hóa, giá cả, số lượng, người bán và ngườimua Hàng hóa bao gồm hàng tiêu dùng, dịch vụ và các yếu tố sản xuất như laođộng, đất đai, tư bản
Thị trường tồn tại với hầu hết mọi thứ Nó có thể tập trung như thị trườngchứng khoán, cũng có thể phi tập trung như thị trường nhà cửa hay lao động;hoặc có thể chỉ tồn tại qua các thiết bị điện tử như trường hợp nhiều loại tài sản
và dịch vụ tài chính vốn chỉ được trao đổi qua máy tính Điểm đặc thứ nhất củathị trường là nó đưa người mua và người bán đến với nhau để xác định giá cả vàsản lượng hàng hóa
Trong hệ thống thị trường, mỗi hàng hóa, mỗi loại dịch vụ đều có giá cảcủa nó Giá cả là giá trị của hàng hóa và dịch vụ được tính bằng tiền Giá cả thểhiện mức mà mọi người và các hàng tự nguyện trao đổi nhiều loại hàng hóakhác nhau
Trang 6Mỗi người đều nhận được những khoản thu nhập tương xứng với cái mà
họ đem bán vµ lại dùng thu nhập ấy để mua cái mà họ cần Nếu muốn thứ hànghóa nào có nhiều người cần hơn thì người bán sẽ tăng giá để phân phối mộtlượng cung hạn chế Giá lên cao sẽ thúc đẩy người sản xuất làm ra nhiêu hànghóa hơn Mặt khác, một mặt hàng nào được bán với khối lượng nhiều hơn thìbuộc phải hạ giá để giải quyết kho hàng của mình Vì hạ giá, người tiêu dùng sẽmua nhiều hơn, và người sản xuất sẽ thu hẹp khối lượng sản xuất mặt hàng này.Như vậy, trong cơ chế thị trường có một hệ thống tự tạo ra sự cân đối giữa giá cả
và sản xuất “giá cả là phương tiện tín hiệu của xã hội” Nó chỉ cho người ta biếtsản xuất cái gì? sản xuất như thế nào? và cho ai?
Về cân bằng thị trường, P.A.Samuelson cho rằng cơ chế thị trường chịu sựtác động của quy luật cung - cầu Đó là sự khái quát của hai lực lượng người bán
và người mua trên thị trường Sự biến động của giá cả làm cho trạng thái cânbằng cung - cầu biến đổi
Khi nói đến những nhân tố tác động đến nền kinh tế thị trường P.A.Samuelson cho rằng: người tiêu dùng và kỹ thuật Người tiêu dùng thống trị thịtrường, vì họ là người bỏ tiền ra mua hàng hóa cho các hµng sản xuất Song kỹthuật hạn chế người tiêu dùng vì nền sản xuất không thể vượt quá giới hạn khảnăng sản xuất Do vậy, người tiêu dùng phải chấp nhận cung ứng hµng hóa củanhà kinh doanh mà cung ứng này lại bị hạn chế bởi tài nguyên của một nền kinh
tế và những hạn chế của kỹ thuật trong việc biến những tài nguyên đó thànhhàng hoá của mình theo chi phí sản xuất nên họ sẵn sàng chuyển sang lĩnh vực
có nhiều lợi nhuận, bỏ các khu vực kinh tế không lợi nhuận Như vậy, việc sảnxuất ra cái gì phải do chi phí kinh doanh, các quyết định cung lẫn nhu cầu củangười tiêu dùng và hạn chế kỹ thuật
Theo P.A.samuelson động lực của nền kinh tế thị trường là lợi nhuận Lợinhuận đưa các nhà doanh nghiệp đến với khu vực sản xuất hàng hóa mà ngườitiêu dùng cần nhiều hơn, bỏ các khu vực có ít người tiêu dùng Hệ thống thị
Trang 7trường luôn dùng lãi và lỗ để quyết định ba vấn đề cơ bản của sản xuất: cái gì,thế nào và cho ai.
P.A.Samuelson cho rằng “cơ chế thị trường là một trật tự kinh tế chứkhông phải là sự hỗn độn” Kinh tế thị trường phải được hoạt động trong môitrường cạnh tranh do các quy luật kinh tế khách quan chi phối Trong “kinh tếhọc”, samuelson vận dụng nguyên lý “bàn tay vô hình” của A.smith và nguyên
lý “cân bằng tổng quát” của L.Walras để phân tích môi trường hoạt động củakinh tế thị trường Để phân tích cạnh tranh thị trường, ông đã vận dụng lý thuyếtchi phí bất biến của J.M.Clark, lý thuyết ba nhân tố sản xuất của J.B.Say;J.J.Mill, lý thuyết hiệu quả của Pareto nhằm đề ra các chiến lược thị trường, bảođảm cho các tổ chức độc quyền thu được nhiều lợi nhuận nhất
P.A.Samuelson đánh giá cao học thuyết “ bàn tay vô hình ” của A.smith là
đã phát hiển vai trò của nền kinh tế thị trường cạnh tranh, nổi bật sự hòa hợpgiữa lợi ích cá nhân và lợi ích công cộng Song, cũng chỉ ra những hạn chế thức
tế cña học thuyết này Đó là những khuyết tật do thị trường sinh ra, tự nó khônggiải quyết được, thị trường không phải lúc nào cũng đưa ra kết quả tối ưu Đó làtình trạng độc quyền và các hình thức cạnh tranh không hoàn hảo khác, nhữngtác động lan tỏa hay ảnh hưởng tiêu cực của nạn ô nhiễm môi trường; lạm phát;thất nghiệp…hoặc tình trạng phân phối thu nhập bất bình đẳng do hệ thống thịtrường mang lại Do vậy, để đối phó với những khuyết tật cña cơ chế thị trường,các nền kinh tế hiện đại phối hợp giữa “bàn tay vô hình” với “bàn tay hữu hình”như thuế khóa, chỉ tiêu và luật lệ của chính phủ
1.2.2 Vai trò kinh tế của nhà nước
Theo P.A.samuelson, mặc dù cơ chế thị trường có vai trò “thần kỳ” củasản xuất và phân phối hàng hóa, nhưng những khuyết tật của nó nhiều khi dẫntới kết cục kinh tế kém hiệu quả Vì vậy chính phủ (nhà nước) có thể tham giasửa chữa các khuyết tật đó Chính phủ có bốn chức năng chính trong nền kinh tếthị trường
Trang 8Chức năng thứ nhất là thiết lập khuôn khổ pháp luật chức năng này thực
tế vượt ra ngoài khuôn khổ của kinh tế học Chính phủ phải đề ra các quy tắc tròchơi kinh tế mà các doanh nghiệp, người tiêu dùng và cả bản thân chính phủcũng phải tuân thủ Nó bao gồm các quy định về tài sản, các quy tắc về hợpđồng và các hoạt động kinh doanh, các trách nhiệm tương hỗ của liên đoàn laođộng, ban quản lý và nhiều luật lệ để xác định môi trường kinh tế
Chức năng thứ hai là sửa chữa những thất bại của thị trường để thị
trường hoạt động có hiệu quả
Trước hết, những thất bại mà thị trường gặp phải làm cho hoạt động của
nó không hiệu quả là ảnh hưởng của độc quyền Các tổ chức độc quyền lợi dụng
ưu thế của mình có thể quy định giá cả để thu lợi nhuận cao và do đó phá vỡ ưuthế của cạnh tranh hoàn hảo Vì vậy phải cã sự can thiệp của chính phủ để hạnchế độc quyền, bảo đảm tính hiệu quả của cạnh tranh Nếu thị trường chỉ có mộtvài doanh nghiệp cạnh tranh thì chưa phải lµ cạnh tranh hoàn hảo Cạnh tranhhoàn hảo là thị trường có đủ số lượng doanh nghiệp hoặc mức độ cạnh tranh tớimức không một doanh nghiệp nào có thể ảnh hưởng đến giá cả hµng hóa đó Chỉ
có cạnh tranh hoàn hảo mới đảm bảo tính hiệu quả của nền kinh tế Song, trongnền kinh tế thị trường còn xuất hiện cạnh tranh không hoàn hảo, tình trạng độcquyền làm thay đổi giá cả của mặt hàng nào đó còn tồn tại thì chính phủ phảiđưa ra các luật chống độc quyền và các luật kinh tế để; làm tăng hiệu quả của hệthống thị trường cạnh tranh không hoàn hảo
Thứ hai là ngăn ngừa và khắc phục những tác động tiêu cực bên ngoài.Tác động bên ngoài xảy ra khi kinh doanh hoặc con người tạo ra chi phí lợi íchcho doanh nghiệp khác hoặc người khác mà doanh nghiệp hoặc con ngườikhông được nhận đúng những lợi ích mà họ còn được nhận hoặc không phải trảđúng số chi phí mà họ phải trả Những tác động bên ngoài đó làm cho thị trườnghoạt động không hiệu quả Vì vậy, chính phủ phải sử dụng luật lệ để điều hànhkinh tế nhằm ngăn chặn những tác động tiêu cực như ô nhiễm nước, không khí,
Trang 9khai thác khoáng sản, chất thải nguy hiểm cho thức ăn, đồ uống và các chấtphóng xạ…
Thứ ba là chính phủ phải đảm nhận sản xuất các hàng hóa công cộng.Theo trường phái nµy, hàng hóa tư nhân là một loại hàng hóa mà nếu một người
đã dùng thì người khác không dùng được nữa; còn hàng hóa công cộng là loạihàng hóa mà một người đã dùng hoặc đang dùng thì người khác vẫn có thể dùngđược Thí dụ: không khí trong sạch và quốc phòng là hàng hóa công cộng Hànghóa công cộng có đặc điểm:
Về kỹ thuật, một người tiêu dung không làm giảm số lượng sẵn có đối vớingười khác, không loại trừ bất kỳ ai ra khỏi việc tiêu dùng này, trừ chi phí phảitrả quá cao
Ích lợi giới hạn của hàng hóa công cộng đối với xã hội và tư nhân là khácnhau Nhìn chung, ích lợi giới hạn mà tư nhân thu được từ hàng hóa công cộng
là rất nhỏ Bởi vậy, tư nhân thường không muốn sản xuất hàng hóa công cộng.Mặt khác, có những hàng hóa công cộng có ý nghĩa quan trọng cho quèc gia nhưquốc phòng, luật pháp, trật tự trong nước…không thể giao cho tư nhân được nênchính phủ trực tiếp tham gia sản xuất
Thứ tư là thuế Trên thực tế, phần lớn chi phí của chính phủ được trả bằngthuế thu được Tất cả mọi người đều phải chịu theo luật thuế Thuế được đánhvào theo thu nhập cá nhân, công ty, tiền lương, vào các doanh thu bán hàng tiêudùng và vào các khoản khác
Như vậy,chính phủ phải can thiệp vào thị trường để nâng cao hiệu quảcủa thị trường
Chức năng thứ ba là đảm bảo sự công bằng cho dù cơ chế thị trường
hoạt động hoàn hỏa nhất, lý tưởng nhất, vẫn không thể tránh khỏi sự phân hóa,bất bình đẳng trong xã hội Một hệ thống thị trường có hiệu quả vẫn có thể gây
ra bất bình đẳng lớn Bởi vậy, chính phủ phải thông qua những chính sách đểphân phối thu nhập các công cụ mà chính phủ sử dụng là:
Trang 10Thuế lũy tiến: đánh thuế người giàu theo tỉ lệ thu nhập lớn hơn ngườinghèo.
Thiết lập hệ thống hỗ trợ thu nhập, giúp đỡ người già, người mù, người bịtàn tật, người phải nuôi con, bảo hiểm thất nghiệp
Đôi khi chính phủ trợ cấp tiêu dùng cho những nhóm có thu nhập bằngcách phát phiếu thực phẩm, trợ cấp y tế và cho thuê nhà trẻ
Chức năng thứ tư là ổn định kinh tế vĩ mô Từ khi ra đời, chủ nghĩa tư
bản đã từng gặp những thăng trầm chu lỳ của lạm phát (giá cả tăng) và suy thoái(nạn thất nghiệp rất cao) Đôi khi những hiện tượng này rất dữ dội, như thời kìsiêu lạm phát ở Đức trong những năm 20, thời kì đại suy thoái ở Mỹ trongnhững năm 30 của thế kỷ XX
Khi thực hiện các chức năng kinh tế, chính phủ phải đưa ra quyết định vềphương án lựa chọn Từ đó, hình thành lý thuyết lựa chọn công cộng Sự lựachọn công cộng là một sự tập hợp các yêu thích cá nhân thành một lựa chọn tậpthể Theo quy tắc nhất trước, tất cả các quyết định đều phải nhất trí thông qua.Công cụ để phân tích sự lựa chọn công cộng là đường giới hạn khả năng - giá trị
sử dụng Ở đây, các nhà kinh tế học sử dụng lý thuyết giới hạn và hiệu quả củaPareto để phân tích
Cũng như “bàn tay vô hình”, sự điều tiết của “bàn tay hữu hình”cũng cónhững khuyết tật Có những vấn đề chính phủ lựa chọn không đúng
Thí dụ: một cơ quan lập pháp rơi vào tay một số người; cách vận độnghậu trường có nhiều tiền hoặc dựa trên quyền lực; chính phủ tài trợ cho cácchương trình quá lín trong thời gian dài…Những khuyết tật đó gây ra tính khônghiệu quả của sự can thiệp của chính phủ
Do vậy, phải kết hợp giữa cơ chế thị trường và vai trò của chính phủ trongđiều hành nền kinh tế hỗn hợp Cả thị trường và chính phủ đều cần thiết cho mộtnền kinh tế vận hành lành mạnh
Trang 111.3 Ý nghĩa của lý thuyết “Nền kinh tế hỗn hợp” cña P.A.Samuelson
1.3.1 Ý nghĩa lý luận
Lý thuyết “Nền kinh tế hỗn hợp” của P.A.Samuelson đã phát triển và hoànthiện tư tưởng của A.smith về “bàn tay vô hình” và Keynes về “bàn tay hữuhình” Nghĩa là lý thuyết “nền kinh tế hỗn hợp” là sự kết hợp và khẳng định cảthị trường và chính phủ đều thiết yếu để một nền kinh tế hoạt động lành mạnh,nhằm xây dựng cơ chế thị trường “hoàn hảo”
Lý thuyết “Nền kinh tế hỗn hợp” cña P.A.Samuelson là nền tảng lý luậncho các nhà kinh tế trên thế giới cũng như Việt Nam xác đÞnh các chủ trương,chính sách phù hợp với thực tiễn ở mỗi quốc gia
tế đều được thực hiện dưới tác động của các quy luật khách quan
Sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thi trường là cần thiết để ngănngừa và khắc phục những khuyết tật của thị trường để thị trường hoạt động cóhiệu quả Thực chất, đây là sự mở rộng chức năng của nhà nước khi lực lượngsản xuất đã phát triển ở trình độ xã hội hóa cao
Các chức năng kinh tế của nhà nước được P.A.Samuelson quan tâm nhưthiết lập khuôn khổ pháp luật, sửa chữa thất bại của thị trường, bảo đảm côngbằng xã hội và sự ổn định kinh tế vĩ mô Đây là những nội dung quan trọng màcác nhà nước đều phải quan tâm khi xây dựng thể chế kinh tế thị trường màchúng ta có thể nghiên cứu vận dụng
Để làm tốt chức năng trên, nhà nước cần sử dụng các công cụ kinh tế vĩ
mô P.A.Samuelson đã chỉ ra các công cụ như pháp luật, chương trình kinh tế,chính sách kinh tế trong đó rất coi trọng chính sách tài chính, chính sách tiền tệ
Trang 12và các công cụ kinh tế khác Đây là những công cụ không thể thiếu được để nhànước quản lý một nền kinh tế thị trường hiện đại.
P.A.Samuelson nêu quan điểm không nên tuyệt đối hóa vai trò của thịtrường, cũng như không nên tuyệt đối hóa vai trò của kinh tế chính phủ (nhànước) trong vận hành một nền kinh tế Đây là một tổng kết thực tiễn rất quantrọng mà mỗi quốc gia trên thế giới cũng như Việt Nam cần quan tâm nghiêncứu và vận dụng
II VẬN DỤNG LÝ THUYẾT “NỀN KINH TẾ HỖN HỢP” CỦA P.A.SAMUELSON TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở VIỆT NAM
2.1 Khái niệm và đặc trưng của nền kinh tế thị trường định hướng XHCN ở Việt Nam
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là kiểu tổ chứcnền kinh tế - xã hội vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thịtrường, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội Bởivậy, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có hai nhóm nhân tố cơ bảntồn tại trong nhau, kết hợp với nhau và bổ sung cho nhau Đó là, nhóm nhân tốcủa kinh tế thị trường và nhóm nhân tố của xu hướng mới đang vận động, đangphát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa Trong đó, nhóm thứ nhất đóng vaitrò “động lực" thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển nhanh, hiệu quả; nhóm thứ haiđóng vai trò “hướng dẫn” sự vận động của nền kinh tế theo những mục tiêu đãxác định, bổ sung những mặt tích cực, hạn chế những mặt tiêu cực của thịtrường, hoàn thiện mô hình chủ nghĩa xã hội
Mục tiêu hàng đầu phát triển kinh tế thị trường ở nước ta được xác định làgiải phóng và phát triển lực lượng sản xuất, phát triển nền kinh tế, động viênmọi nguồn lực trong nước và ngoài nước để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuậtcủa chủ nghĩa xã hội tạo ra sự phát triển năng động, hiệu quả cao của nền kinh
Trang 13hiện sự công bằng, bình đẳng và lành mạnh các quan hệ xã hội Từ đó sẽ khắcphục được tình trạng tự túc tự cấp của nền kinh tế, thúc đẩy phân công lao động
xã hội phát triển, mở rộng ngành nghề, tạo việc làm cho người lao động Ápdụng khoa học, công nghệ, kỹ thuật mới vào sản xuất nhằm tăng năng suất laođộng xã hội, tăng số lượng, chủng loại và chất lượng hàng hóa, dịch vụ Thúcđẩy tích tụ, tập trung sản xuất, mở rộng giao lưu kinh tế giữa các địa phương,các vùng lãnh thổ, với các nước trên thế giới Động viên mọi nguồn lực trongnước và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài Phát huy tinh thần năng động, sángtạo của mỗi người lao động, mỗi đơn vị kinh tế, tạo ra sự phát triển năng động,hiệu quả cao của nền kinh tế, tạo ra tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững.Đưa nước ta thoát khỏi tình trạng một nước nghèo và kém phát triển, thực hiệnđược mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh
Sự thành công của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là ởchỗ đem thành quả của tăng trưởng kinh tế cao đến với mọi người bằng cáchkhông ngừng nâng cao đời sống nhân dân, bảo đảm tốt các vấn đề xã hội vàcông bằng, bình đẳng trong xã hội Chủ trương của Đảng ta là tăng trưởng kinh
tế phải gắn liền với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bướcphát triển Thực hiện tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh coi sản xuất và đờisống nhân dân như nước với thuyền, “nước đẩy thuyền lên”, tăng trưởng kinh tế
đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, động viên, khuyến khích làm giàu hợppháp gắn liền với xóa đói, giảm nghèo
Ở nước ta, trong quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hộichủ nghĩa, Nhà nước chủ động giải quyết ngay từ đầu mối quan hệ giữa tăngtrưởng với bảo đảm an sinh và công bằng xã hội
Việt Nam là một nền kinh tế hỗn hợp nghĩa là vừa vận hành theo cơ chếthị trường, vừa có sự điều tiết của nhà nước Các quy luật khách quan của nềnkinh tế thị trường được tôn trọng Các thông lệ quốc tế trong quản lý và điềuhành kinh tế được vận dụng một cách hợp lý Nền kinh tế chịu sự chi phối củacác quy luật kinh tế xã hội chủ nghĩa