1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài thu hoạch thực tế Trung cấp lý luận chính trị về xây dựng và phát triển văn hóa xã ,....

12 169 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 160 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Văn hóa có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển đất nước. Đảng ta nhấn mạnh văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội. Hiện nay, Chính phủ đang tiến hành tổng kết Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2020. Vì thế, việc đánh giá chính xác, khách quan sự phát triển văn hóa thời gian qua chính là cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách đối với lĩnh vực đặc thù này. Trước tiên, có thể thấy văn hóa Việt Nam có bề dày truyền thống mấy nghìn năm lịch sử, trải qua nhiều cuộc chiến tranh, nhiều biến cố thăng trầm nên kết tinh và lắng đọng được nhiều giá trị tích cực, như truyền thống yêu nước và lòng dũng cảm, khả năng thích ứng cao với sự thay đổi của hoàn cảnh, sự khoan dung, tinh thần cộng đồng, sự nhân ái, lạc quan và hồn hậu, trọng nghĩa tình, sự cần cù, siêng năng Thứ hai, Việt Nam có nền văn hóa phong phú, giàu bản sắc, được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử. Nguồn tài nguyên văn hóa Việt Nam dồi dào, đa dạng về loại hình và có giá trị cao trên nhiều phương diện, được công nhận cả ở tầm khu vực và quốc tế là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội.Thứ ba, các văn bản pháp lý về quản lý văn hóa của nước ta từng bước được hoàn thiện. Trong thời gian qua, nhiều văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng mới hoặc sửa đổi, bổ sung, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động văn hóa phù hợp với tình hình mới. Thứ tư, chủ trương “xã hội hóa” hoạt động văn hóa đã thu được những kết quả thiết thực, bước đầu huy động được nhiều nguồn lực trong xã hội. Thứ năm, sản phẩm văn hóa, văn học nghệ thuật ngày càng phong phú, đa dạng; có sự thể nghiệm nhiều phương thức, hình thức biểu đạt mới làm phong phú thể loại, phong cách sáng tác và sản phẩm nghệ thuật với các đề tài, chủ đề được mở rộng bên cạnh những nỗ lực bảo tồn và phát huy các loại hình nghệ thuật truyền thống Thứ sáu, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện là tiền đề góp phần thúc đẩy việc hình thành thị trường tiêu dùng văn hóa với nhu cầu ngày càng lớn. Thứ bảy, hợp tác quốc tế về văn hóa được đẩy mạnh, góp phần tăng cường quảng bá hình ảnh đất nước, văn hóa và con người Việt Nam ra thế giới, tạo nên “sức mạnh mềm” cho đất nước. Thứ tám, công nghệ thông tin, nhất là thông tin đại chúng có bước phát triển mạnh. Hạ tầng mạng lưới viễn thông, In-tơ-nét tiếp tục được đầu tư phát triển mạnh mẽ. Thứ chín, nhiều phong trào, cuộc vận động văn hóa được thực hiện và có những thành tựu nhất định, góp phần tạo môi trường văn hóa, bảo vệ và phát huy những giá trị nhân văn truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Trang 1

A PHẦN MỞ ĐẦU:

I Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu.

Văn hóa có vai trò quan trọng trong quá trình phát triển đất nước Đảng ta nhấn mạnh văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội Hiện nay, Chính phủ đang tiến hành tổng kết Chiến lược phát triển văn hóa Việt Nam đến năm 2020 Vì thế, việc đánh giá chính xác, khách quan sự phát triển văn hóa thời gian qua chính là cơ sở khoa học cho việc hoạch định các chính sách đối với lĩnh vực đặc thù này

Trước tiên, có thể thấy văn hóa Việt Nam có bề dày truyền thống mấy nghìn

năm lịch sử, trải qua nhiều cuộc chiến tranh, nhiều biến cố thăng trầm nên kết tinh

và lắng đọng được nhiều giá trị tích cực, như truyền thống yêu nước và lòng dũng cảm, khả năng thích ứng cao với sự thay đổi của hoàn cảnh, sự khoan dung, tinh thần cộng đồng, sự nhân ái, lạc quan và hồn hậu, trọng nghĩa tình, sự cần cù, siêng năng

Thứ hai, Việt Nam có nền văn hóa phong phú, giàu bản sắc, được hình thành qua hàng nghìn năm lịch sử Nguồn tài nguyên văn hóa Việt Nam dồi dào, đa dạng

về loại hình và có giá trị cao trên nhiều phương diện, được công nhận cả ở tầm khu vực và quốc tế là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội

Thứ ba, các văn bản pháp lý về quản lý văn hóa của nước ta từng bước được hoàn thiện Trong thời gian qua, nhiều văn bản quy phạm pháp luật được xây dựng

mới hoặc sửa đổi, bổ sung, tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động văn hóa phù hợp với tình hình mới

Thứ tư, chủ trương “xã hội hóa” hoạt động văn hóa đã thu được những kết

quả thiết thực, bước đầu huy động được nhiều nguồn lực trong xã hội

Thứ năm, sản phẩm văn hóa, văn học nghệ thuật ngày càng phong phú, đa

dạng; có sự thể nghiệm nhiều phương thức, hình thức biểu đạt mới làm phong phú thể loại, phong cách sáng tác và sản phẩm nghệ thuật với các đề tài, chủ đề được

mở rộng bên cạnh những nỗ lực bảo tồn và phát huy các loại hình nghệ thuật truyền thống

Thứ sáu, kinh tế phát triển, đời sống nhân dân được cải thiện là tiền đề góp

phần thúc đẩy việc hình thành thị trường tiêu dùng văn hóa với nhu cầu ngày càng lớn

Thứ bảy, hợp tác quốc tế về văn hóa được đẩy mạnh, góp phần tăng cường

quảng bá hình ảnh đất nước, văn hóa và con người Việt Nam ra thế giới, tạo nên

“sức mạnh mềm” cho đất nước

Thứ tám, công nghệ thông tin, nhất là thông tin đại chúng có bước phát triển

mạnh Hạ tầng mạng lưới viễn thông, In-tơ-nét tiếp tục được đầu tư phát triển mạnh mẽ

Thứ chín, nhiều phong trào, cuộc vận động văn hóa được thực hiện và có

những thành tựu nhất định, góp phần tạo môi trường văn hóa, bảo vệ và phát huy những giá trị nhân văn truyền thống tốt đẹp của dân tộc

1

Trang 2

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được thì văn hóa nước ta thời gian qua còn tồn tại một số hạn chế

Một là, tư duy quản lý văn hóa chưa theo kịp sự phát triển của xã hội Dấu

ấn của tư duy bao cấp, “xin cho”, tư duy hành chính - mệnh lệnh, tác nghiệp vẫn còn nặng nề

Hai là, Việt Nam vẫn đang trong quá trình chuyển đổi tiếp diễn, nền kinh tế

thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn đang trong quá trình hoàn thiện, điều kiện khoa học, kỹ thuật của đất nước, nguồn nhân lực còn nhiều hạn chế Kinh tế phát triển chưa bền vững, có những ảnh hưởng đến sự phát triển các mặt của đời sống xã hội, trong đó có lĩnh vực văn hóa

Ba là, nguồn nhân lực cho sự phát triển văn hóa còn yếu và thiếu các kỹ

năng chuyên môn và quản lý, đặc biệt là năng lực đổi mới sáng tạo, các kỹ năng quản trị kinh doanh Chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý về văn hóa ở các cấp không theo kịp sự phát triển phong phú, đa dạng, và phức tạp của hoạt động văn hóa, dẫn tới lúng túng trong hoạch định chính sách, trong hướng dẫn tổ chức thực hiện, trong xử lý các vụ, việc vi phạm pháp luật và các chính sách về văn hóa

Bốn là, đầu tư cho văn hóa chưa tương xứng với vai trò, vị trí của văn hóa

trong phát triển

Năm là, chất lượng dịch vụ, sản phẩm văn hóa chưa cao; còn thiếu các

thương hiệu văn hóa ở cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế, thiếu những sản phẩm văn hóa có chất lượng cao, góp phần bồi bổ tâm hồn, xây dựng nhân cách, giáo dục đạo đức

Sáu là, bản sắc văn hóa dân tộc có nguy cơ bị phai nhạt Nhiều dân tộc thiểu

số đã và đang mất dần những nét văn hóa đặc sắc trong tiến trình phát triển, hội nhập, đời sống văn hóa nghệ thuật nghèo nàn

Bảy là, môi trường văn hóa còn tồn tại tình trạng thiếu lành mạnh, ngoại lai,

trái với thuần phong mỹ tục; tệ nạn xã hội, mê tín dị đoan, tội phạm có chiều hướng gia tăng Văn hóa ứng xử nơi công cộng, ở công sở, trong gia đình, nhà trường có nhiều bất cập Sự suy thoái về tư tưởng, xuống cấp về đạo đức, tha hóa

về lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, gây bức xúc trong xã hội, ảnh hưởng đến niềm tin của người dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ

Tám là, hoạt động lý luận, phê bình văn học, nghệ thuật còn hạn chế, chưa

đáp ứng được nhiều vấn đề của đời sống, còn xa rời thực tiễn sáng tác Khoảng cách của nhiều vấn đề lý luận với cuộc sống hiện thực không những chưa được thu hẹp mà có xu hướng mở rộng thêm

Tại tỉnh Kon Tum: Báo cáo Chính trị trình Đại hội XVI Đảng bộ tỉnh nhiệm

kỳ 2020-2025 (Đại hội XVI) và Đại hội các địa phương, cơ sở (huyện Đại hội lần thứ XIX nhiệm kỳ 2020-2025) đã đánh giá tổng thể, chi tiết các thành tựu đã đạt được trong lĩnh vực văn hóa: Hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể dục, thể thao chuyển biến tích cực; các thiết chế văn hóa được đầu tư xây dựng, nhất là cấp xã; nhiều giá trị văn hóa của các dân tộc được khôi phục, bảo tồn và phát huy Phong

Trang 3

trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” và việc xây dựng cơ quan, đơn vị văn hóa đạt kết quả, có 587/1.045 cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp đạt chuẩn văn hóa, đạt tỷ lệ 56%; tỷ lệ thôn, làng, tổ dân phố văn hóa đạt 74% Cơ sở hạ tầng, thiết chế thể thao được đầu tư; phong trào thể dục thể thao quần chúng được đông đảo Nhân dân hưởng ứng, tham gia; thể thao thành tích cao có bước phát triển; chỉ rõ các hạn chế, yếu kém và nguyên nhân: Đời sống văn hóa, nhất là vùng sâu, vùng xa còn nghèo nàn Hệ thống các thiết chế văn hóa, thể dục thể thao từ tỉnh đến cơ sở chưa đồng bộ, hiệu quả sử dụng thấp Một số di tích lịch sử, văn hóa chậm được khôi phục, tôn tạo Phong trào thể dục, thể thao quần chúng chưa đều, chất lượng chưa cao; thể thao thành tích cao phát triển chưa mạnh Thu hút nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước và xã hội hóa văn hóa, thể thao còn khó khăn, từ đó Nghị quyết Đại hội (tỉnh Kon Tum và huyện …… ) đã đề ra được các chỉ tiêu, nhiệm vụ và giải pháp như: Tiếp tục triển khai có kết quả công tác khôi phục, bảo tồn, phát huy giá trị bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc thiểu số, các di tích lịch sử cách mạng gắn với phát huy các tuyến, điểm du lịch Đầu tư đồng bộ gắn với sử dụng hiệu quả các thiết chế văn hoá từ tỉnh đến cơ sở Chủ động hợp tác và giao lưu quốc tế về văn hóa Thực hiện tốt phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh” bảo đảm đi vào chiều sâu, thiết thực và hiệu quả; phấn đấu đến năm 2025, có 60% phường, xã, thị trấn có nhà văn hóa, 90% thôn, tổ dân phố đạt danh hiệu văn hóa Tập trung phát triển mạnh mẽ phong trào thể dục, thể thao quần chúng; ; chú trọng đầu tư phát triển các môn thể thao chuyên nghiệp, thể thao thành tích cao mà tỉnh có thế mạnh; Nâng cao chất lượng dịch vụ truyền thông, xuất bản, báo chí, chủ động định hướng thông tin, tuyên truyền văn hóa, đạo đức

xã hội nhằm xây dựng một xã hội lành mạnh, tốt đẹp; tăng cường kiểm soát, hạn chế thông tin giả, xấu, độc hại, phản cảm Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của Đài Phát thanh- Truyền hình tỉnh, hệ thống Truyền thanh-truyền hình các huyện, thành phố; đa dạng hóa về nội dung và tăng cường thời lượng phát sóng các chương trình phát thanh, truyền hình địa phương trên các phương tiện truyền thông Để đạt được các chỉ tiêu đề ra, đòi hỏi toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị phải quyết tâm cao, nỗ lực và hành động quyết liệt hơn nữa; Trong đó hoạt động văn hóa có ý nghĩa, vai trò hết sức quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi mục tiêu của địa phương trong giai đoạn mới

II Mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu:

1 Mục đích nghiên cứu: Khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về thực hiện xây dựng và phát triển văn hóa và liên hệ thực tiễn tại địa phương (xã …… ), từ

đó đề xuất một số giải pháp để củng cố, tăng cường xây dựng và phát triển văn hóa tại địa phương

2 Đối tượng nghiên cứu: Việc thực hiện xây dựng và phát triển văn hóa ở xã thuộc vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn

3 Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu vấn đề việc thực hiện xây dựng và phát triển văn hóa ở phạm vi hẹp – cấp xã trong những năm gần đây

B PHẦN NỘI DUNG:

Trang 4

I Khái quát cơ sở lý luận liên quan đến chủ thể nghiên cứu:

Theo UNESCO: Văn hóa là tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống,

hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin Văn hóa bao gồm tất cả làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia

Văn hóa: là hệ thống các giá trị XH (giá trị vật chất và tinh thần) cũng như phương thức tạo ra chúng, kỹ năng sử dụng các giá trị đó vì sự tiến bộ của con người và sự truyền thụ các giá trị đó từ thế hệ này sang thế hệ khác

1 Vai trò của văn hóa và quản lý hoạt động văn hóa đối với sự phát triển của đất nước và địa phương:

Là mục tiêu của phát triển kinh tế- xã hội: VH do con người sáng tạo ra, chi phối toàn bộ hoạt động của con người; Văn hóa là một trong những tiêu chí đánh giá sự phát triển của một quốc gia; Mục tiêu của phát triển là văn hóa, là nâng cao chất lượng cuộc sống; Phát triển bền vững: tăng trưởng kinh tế, gắn phát triển VH, thực hiện tiến bộ và công bằng XH

Văn hóa là động lực thúc đẩy phát triển: VH tồn tại tiềm tàng trong quá trình phát triển, trong cả kinh tế và xã hội;VH là hệ điều tiết sự phát triển kinh tế

và xã hội; Mọi sự phát triển đều do con người quyết định;VH khơi dậy tiềm năng sáng tạo của con người, cung cấp cho XH lực lượng lao động có năng lực và đạo đức; VH gắn với sự bền vững: phát triển ổn định, đảm bảo cân đối KT-XH-môi trường; VH là hệ giá trị, chuẩn mực thúc đẩy và điều chỉnh hoạt động con người

từ đó thúc đẩy phát triển đời sống XH

2 Quan điểm của Đảng về văn hóa và văn hóa ở cơ sở:

Văn hoá là nền tảng tinh thần của xã hội vừa là mục tiêu, vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển KT- XH; nền văn hoá mà chúng ta xây dựng là nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; nền văn hoá Việt Nam là nền văn hoá thống nhất

mà đa dạng trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam; xây dựng và phát triển văn hoá

là sự nghiệp của toàn dân mà đội ngũ trí thức giữ vai trò quan trọng;văn hoá là một mặt trận, xây dựng văn hoá là một sự nghiệp cách mạng lâu dài, cần phải có ý chí

cách mạng, đồng thời phải có sự kiên trì và thận trọng (Nghị quyết TW 5 khóa VIII)

3 Nội dung hoạt động quản lý văn hóa ở cơ sở:

QLNN về văn hóa: Sự tác động, điều chỉnh thường xuyên của Nhà nước, bằng quyền lực NN đối với hoạt động VH, từ đó định hướng, thiết lập trật tự, kỷ cương nhằm hướng đến mục tiêu, yêu cầu của sự phát triển quốc gia

Đối tượng QLNN về văn hóa: Các lĩnh vực: Di sản văn hóa, nghệ thuật biểu diễn, báo chí, xuất bản, quảng cáo, ; dịch vụ công lĩnh vực VH-Thông tin; đại diện chủ sở hữu phần vốn NN tại DN có vồn NN thuộc lĩnh vực VH-Thông tin

Phạm vi QLNN về văn hóa tại cơ sở: Sản phẩm VH (vật thể, phi vật thể); toàn thể cảnh quan VH (tự nhiên, nhân tạo); toàn thể thiết chế VH (nhà rông, thư

Trang 5

viện, ), thiết chế XH; hệ thống những ứng xử VH trong đời sống hàng ngày và những ứng xử VH đối với thế giới siêu nhiên (lễ hội, phong tục, tập quán ); nếp sống VH mới

QLNN về văn hóa cấp xã: Tuân thủ đối tượng và biện pháp quản lý NN trong ĩnh vực VH-Thông tin, hạn chế hơn về phạm vi và cấp độ Đối tượng chủ yếu tập trung vào một số hoạt động: hoạt động của các câu lạc bộ, hoạt động giáo dục truyền thống, hoạt động văn nghệ quần chúng, hoạt động thư viện, đọc sách báo, hoạt động xây dựng nếp sống văn hóa, hoạt động thể dục, thể thao, vui chơi giải trí

Chỉ đạo tổ chức và vận động nhân dân xây dựng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa Mục đích: Xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc

Chỉ đạo tổ chức và vận động nhân dân xây dựng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa Nội dung bao gồm: Phát triển kinh tế, giúp nhau làm giàu, xóa đói giảm nghèo; xây dựng tư tưởng chính trị lành mạnh; xây dựng nếp sống văn minh, kỷ cương xã hội, sống và làm việc theo pháp luật; xây dựng môi trường văn hóa sạch – đẹp – an toàn; xây dựng các thiết chế văn hóa và nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa thể thao cơ sở Phong trào cụ thể như: xây dựng người tốt, việc tốt, các điển hình tiên tiến; xây dựng gia đình văn hóa; toàn dân đoàn kết xây dựng cuộc sống mới ở khu dân cư; xây dựng làng, bản, ấp, khu phố văn hóa; xây dựng công sở, doanh nghiệp, đơn vị lực lượng vũ trang có nếp sống văn hóa; toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại; đẩy mạnh phong trào học tập, lao động sáng tạo Mục tiêu là tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức về vị trí, vai trò VH, con người; đẩy mạnh các phong trào quần chúng; giữ gìn, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, loại bỏ hủ tục lạc hậu, hình thành phong tục tập quán mới phù hợp

Tổ chức quản lý các hoạt động thông tin, tuyên truyền và cổ động Nhiệm

vụ là hướng dẫn tư tưởng và hành động của quần chúng thực hiện chính sách, đường lối, chính sách; làm sáng tỏ quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật nhà nước; cổ vũ, động viên nhân dân tham gia phong trào và hành động cách mạng; chống âm mưu thế lực thù địch Hình thức tuyên truyền, cổ động gồm thông qua Tin tức, lời nói trực tiếp, trực quan, hoạt động văn nghệ

Xây dựng nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội: Bảo tồn

có chọn lọc, cải tiến, đổi mới những phong tục tập quán tốt đẹp của dân tộc; loại bỏ những hình thức lỗi thời, lạc hậu; lành mạnh, tiết kiệm, tránh xa hoa, lãng phí, phiền nhiễu; chống khuynh hướng kinh doanh, vụ lợi; xóa bỏ hủ tục, bài trừ mê tín

dị đoan

Bảo vệ và phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hóa: Di sản văn hóa gồm

di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể; và Di tích lịch sử như công trình, địa điểm, di vật, cổ vật, …

Công tác bảo vệ và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa của UBND cấp xã: Gồm tổ chức bảo vệ, bảo quản; tiếp nhận những khai báo về di tích lịch sử văn

Trang 6

hóa, chuyển cấp trên; phòng ngừa, ngăn chặn kịp thời và xử lý theo thẩm quyền mọi hành vi ảnh hưởng an toàn di tích

Chỉ đạo xây dựng và hoàn thiện các thiết chế văn hóa ở cơ sở: TCVHCS là

hệ thống các cơ quan văn hóa ở địa phương Đó là cơ sở và điều kiện để tổ chức các hoạt động nghiệp vụ VH nhằm phục vụ nhu cầu VH tinh thần của cộng đồng

Quản lý các hoạt động dịch vụ văn hóa: Vai trò là xây dựng nền VH tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; giáo dục nếp sống lành mạnh, phong cách ứng xử VH; kế thừa,phát huy truyền thống nhân ái, nghĩa tình, thuần phong mỹ tục; làm phong phú đời sống tinh thần; ngăn chặn, bài trừ VH độc hại; góp phần thúc đẩy KT-XH phát triển Các hoạt động VH công cộng và dịch vụ VH ở địa bàn xã bao gồm: Lưu hành, kinh doanh băng đĩa nhạc; viết, đặt biển hiệu; kinh doanh karaoke, trò chơi điện tử; các hoạt động VH, dịch vụ VH và các hình thức vui chơi giải trí khác từ đó nâng cao đời sống, tạo môi trường học tập, vui chơi, giải trí lành mạnh cho nhân dân

Quản lý các hoạt động dịch vụ văn hóa: Nội dung bao gồm: Bài trừ các loại văn hóa phẩm độc hại; bài trừ các tệ nạn xã hội Biện pháp là nắm vững đối tượng

và tình hình hoạt động văn hóa tại địa bàn; thực hiện sự quản lý chặt chẽ của chính quyền, sự lãnh đạo của cấp ủy đảng, phối hợp các lực lượng giám sát hoạt động dịch vụ văn hóa; kết hợp chặt chẽ các biện pháp tuyên truyền giáo dục với biện pháp hành chính, kinh tế

Nhiệm vụ của chính quyền cơ sở trong việc quản lý các hoạt động văn hóa

ở cơ sở: Thực hiện xã hội hóa các phong trào; điều tra, đánh giá thực trạng nhằm

có biện pháp giải quyết đúng đắn; tổ chức các hoạt động văn hóa thông tin với quy

mô khác nhau; liên kết, phối hợp các ngành, đơn vị, tổ chức để huy động lực lượng, tài năng, cơ sở vật chất, kinh phí Xây dựng chương trình, kế hoạch hành động dài hạn, dự trù kinh phí cho hoạt động; vận động các tổ chức quần chúng xây dựng quỹ hoạt động văn hóa; nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hóa; có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, quy hoạch phát triển hệ thống thiết chế văn hóa

Phương thức quản lý các hoạt động văn hóa ở cơ sở: Trước tiên, việc thể chế hóa, cụ thể hóa các quan điểm, đường lối của Đảng về văn hóa, hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách về văn hóa ở nước ta đã và đang tiếp tục được hoàn thiện để phù hợp với thực tiễn Quốc hội đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng, như Luật Điện ảnh, Luật Quảng cáo, Pháp lệnh Thư viện ; kịp thời đề nghị sửa đổi, bổ sung một số văn bản luật đã ban hành để phù hợp với tình hình mới, như Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện ảnh, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa Bên cạnh đó là hàng loạt các văn bản dưới luật đã được xây dựng, ban hành; Thứ hai, hệ thống tổ chức bộ máy quản lý ngành văn hóa ngày càng được kiện toàn và củng cố, từng bước nâng cao năng lực quản lý, đổi mới phương thức quản lý, thúc đẩy sự phát triển và hạn chế những tiêu cực trong đời sống văn hóa, văn nghệ; Thứ ba, Bộ Văn hóa, Thể thao

và Du lịch đã phối hợp với các bộ, ngành liên quan và các địa phương đẩy mạnh công tác nghiên cứu, kiểm kê, lập hồ sơ đề nghị xếp hạng, ghi danh di sản văn hóa

Trang 7

ở trong nước và quốc tế; Thứ tư, công tác bảo tàng cũng có những bước phát triển đáng ghi nhận 166 bảo tàng (127 bảo tàng công lập và 39 bảo tàng ngoài công lập)

- nơi lưu giữ và phát huy giá trị của hơn 3 triệu hiện vật phản ánh toàn diện về đất nước và con người Việt Nam trong trường kỳ lịch sử, đã và đang phát huy giá trị góp phần không nhỏ trong việc giáo dục cho thế hệ trẻ về truyền thống đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, về bản sắc văn hóa dân tộc; đồng thời tạo ra những điểm, tuyến du lịch hấp dẫn, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển du lịch; Thứ năm, công tác quản lý

và tổ chức lễ hội trên địa bàn cả nước đã có sự chuyển biến tích cực, dần đi vào nền nếp Các hoạt động lễ hội diễn ra trang trọng, an toàn, tiết kiệm, cùng nhiều hoạt động văn hóa, thể thao và các trò chơi dân gian sôi nổi thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham gia; Thứ sáu, việc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, vượt bậc so với những giai đoạn trước Quốc hội đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo - một kết quả quan trọng, nỗ lực nhằm mục đích thể chế hóa một cách đầy đủ nhất quan điểm, chính sách của Đảng về tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân; Thứ bảy, hoạt động giao lưu văn hóa với nước ngoài từng bước được mở rộng cùng với quá trình đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ quốc tế, hoạt động giao lưu các đoàn biểu diễn nghệ thuật và trao đổi sách, báo, phim ảnh, triển lãm, nghiên cứu, đào tạo giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới ngày càng được đẩy mạnh; Thứ tám, phát triển công nghiệp văn hóa cũng đạt những thành tựu nhất định Doanh thu khu vực doanh nghiệp điện ảnh năm 2018 đạt 3.353 tỷ đồng (tương đương khoảng 145 triệu USD), dự báo đến năm 2020 ngành điện ảnh có thể đạt mức 150 triệu USD;

II Thực trạng vấn đề nghiên cứu:

1 Khái quát về tình hình địa phương: xã , huyện , tỉnh Kon Tum (số liệu thống kê năm 2019):

Xã là xã đặc biệt khó khăn của huyện , xã nằm trong chương trình 135, Nghị quyết 30a của CP Xã gồm 12 thôn 23 làng 1.144 hộ với 4.197 nhân khẩu; 98% là dân tộc Xê Đăng; kinh tế chủ yếu là nông nghiệp và chăn nuôi với điểm xuất pháp thấp, nhận thức của người dân vẫn còn nhiều hạn chế và khó khăn, xác định những thuận lợi và khó khăn; vì vậy xây dựng và phát triển văn hóa

trên địa bàn xã luôn xác định đó là phòng trào nòng cốt để tập trung để xây

dựng và tuyên truyền đầy đủ các nội dung và các chính sách xuống tới tận người dân và coi đó là nhiệm vụ thường xuyên của cấp ủy và chính quyền địa phương và Ban chỉ đạo nhằm thực hiện và hoàn thành thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ

xã lần thứ XVIII đề ra giai đoạn 2015- 2020

2 Những thành tựu đạt được:

2.1 Phong trào xây dựng gương người tốt, việc tốt, các điển hình tiên tiến:

Trong 5 năm qua, cuộc vận động “TDĐKXDĐSVH” xã đã xuất hiện nhiều gương sản xuất kinh doanh giỏi, cán bộ tận tụy với phong trào và gương “người tốt -việc tốt” Từ năm 2015 đến năm 2019, toàn xã có 135 gia đình văn hóa tiêu biểu

Trang 8

được xã biểu dương và tặng giấy khen; 159 gia đình, cá nhân tiêu biểu được UBND huyện biểu dương và tặng Giấy khen

Những tấm gương tiêu biểu như: trong phong trào nông dân sản xuất giỏi có ông A Manh, A Lễ (Thôn ); A Xiên, A Liêm(Thôn ); A Hạnh(Thôn ); A Linh (Thôn ), A Đường (Thôn ); A Sâm (Thôn ), A Dương (Thôn ), là những hộ chăn nuôi, trồng trọt giỏi vươn lên làm giàu từ nông nghiệp, …

Cán bộ các Chi hội phụ nữ xã rất tích cực trong việc tổ chức cho phụ nữ nghèo vay vốn xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống, bảo vệ quyền lợi cho phái nữ,

đã có những gương điển hình tiên tiến được các cấp khen thưởng tiêu biểu như Y Kôn thôn Tu Nông

Bên cạnh đó trong cuộc sống hằng ngày còn có rất nhiều gương “người tốt, việc tốt” xuất hiện trong quá trình thực hiện cuộc vận động “TDĐKXDĐSVH” ở cơ

sở, tạo nét đẹp trong cộng đồng dân cư ngày càng đậm nét hơn

2.2 Xây dựng gia đình văn hoá:

Công tác xây dựng “Gia đình văn hóa” xã đã triển khai thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quy định của Trung ương, tỉnh, huyện từ việc tổ chức đăng ký đến bình xét, công nhận và cấp Giấy chứng nhận cho các hộ đạt chuẩn GĐVH Việc bình xét GĐVH được nhiều xã thực hiện chặt chẽ, công khai, dân chủ có tác dụng giáo dục Những nội dung được chú ý khi bình xét Gia đình văn hóa là việc chấp hành luật pháp của Nhà nước về an toàn giao thông, vệ sinh môi trường, gia đình không có người mắc tệ nạn xã hội, giữ gìn vệ sinh môi trường, gia đình hòa thuận, không có bạo lực trong gia đình, tham gia sinh hoạt thôn; Phong trào xây dựng gia đình văn hóa đã có tác dụng góp phần nâng cao nhận thức trong cán bộ, đảng viên, Nhân dân

về vai trò, vị trí quan trọng của gia đình trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, coi đầu tư cho gia đình là đầu tư cho phát triển

Từ những kết quả thực hiện xây dựng gia đình văn hóa, năm 2015, toàn xã có

375 hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa đạt tỷ lệ 52%, đến năm 2018, có 755/1.098 hộ gia đình đạt danh hiệu gia đình văn hóa đạt tỷ lệ 68,7%

2.3 Xây dựng “Làng văn hóa”, “Thôn văn hóa”:

Xã đã triển khai thực hiện nghiêm túc các văn bản chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh, huyện về các tiêu chuẩn đạt danh hiệu “Làng văn hóa”, “Thôn văn hóa” đến từng thôn Đến cuối năm 2015, toàn xã có 12/12 thôn đã phát động xây dựng “Làng văn hóa”, “Thôn văn hóa”, chiếm tỷ lệ 100% Đến nay xã có 7/12 thôn được UBND huyện công nhận Thôn văn hóa đạt 58,3%

Việc xây dựng Hương ước các thôn được tiến hành chặt chẽ Nội dung Hương ước được xây dựng phù hợp với pháp luật hiện hành và tình hình thực tiễn của địa phương, có tính thống nhất chung và mang tính tự nguyện cao Quyền làm chủ của nhân dân được phát huy trong việc đề ra các nội dung, biện pháp xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư trong Hương ước Nhiều thôn đã làm tốt công tác tuyên truyền, vận động nhân dân thực hiện Hương ước Qua việc thực hiện Hương ước, ý thức chấp hành luật pháp, thực hiện nếp sống văn minh, tình làng nghĩa xóm,

Trang 9

giữ gìn thuần phong mỹ tục trong cộng đồng dân cư ngày càng được nâng cao, các tệ nạn xã hội được tích cực ngăn chặn Việc tham gia sinh hoạt, hoạt động vì lợi ích chung của cộng đồng dân cư ngày càng được nâng lên, tỉ lệ hộ nhân dân tham dự các cuộc họp thôn đông hơn Mọi vấn đề liên quan đến hoạt động của khu dân cư đều được đưa ra bàn bạc dân chủ, công khai trong cuộc họp ở thôn

2.4 Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở khu dân cư” và Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh trong giai đoạn mới:

Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư” gắn với xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh, các phong trào thi đua yêu nước, các cuộc vận động được Mặt trận và các tổ chức thành viên đã triển khai thực hiện được các tầng lớp Nhân dân hưởng ứng đã đem lại nhiều kết quả đáng phấn khởi Cuộc vận động đã làm khơi dậy mạnh mẽ tinh thần đoàn kết giúp nhau phát triển sản xuất, xóa đói giảm nghèo, làm giàu hợp pháp ở địa bàn dân cư và được các tầng lớp nhân dân tích cực hưởng ứng tham gia; Với phương châm “Huy động sức dân để chăm lo cuộc sống cho dân”, lấy nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân làm mục tiêu, lấy khu dân cư làm địa bàn thực hiện, cuộc vận động đã tạo điều kiện

mở rộng dân chủ trực tiếp của dân, tăng cường sự nhất trí về chính trị tư tưởng trong nhân dân, tạo sự đồng thuận xã hội, mở rộng khối Đại đoàn kết toàn dân tộc Với 05 nội dung của cuộc vận động ngày càng đi vào chiều sâu và gắn với lợi ích của dân và được nhân dân đồng thuận

Kết quả tổ chức “Ngày hội đại đoàn kết ở khu dân cư”: 100% các thôn thực hiện tốt với chất lượng ngày càng cao

2.5 Xây dựng Xã văn hóa nông thôn mới

Trong 5 năm triển khai thực hiện Đề án xây dựng nông thôn mới, bộ mặt nông thôn ở 12 thôn đã có sự thay đổi rõ rệt: Hệ thống giao thông, điện, trường học, trạm y tế được đầu tư xây dựng, cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất phát triển phù hợp, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ, hệ thống chính trị cơ sở được tăng cường, an ninh trật tự, an toàn xã hội được giữ vững Cuối năm 2019, xã phấn đấu đạt 14/19 tiêu chí nông thôn mới

2.6 Xây dựng cơ quan, đơn vị, trường học văn hóa:

Việc xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp văn hóa được gắn với việc thực hiện các chỉ tiêu nhiệm vụ chuyên môn của đơn vị Trong đó phải hoàn thành các nội dung tiêu chí như: Hoàn thành nhiệm vụ sản xuất, kinh doanh dịch vụ, thực hiện nếp sống văn minh, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của người lao động và nghiêm chỉnh chấp hành đường lối, chủ trương của đảng, pháp luật của Nhà nước

Từ những kết quả của phong trào xây dựng cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp văn hóa năm 2015 đến nay 5 đơn vị trường học, trạm y tế luôn phấn đấu đạt cơ quan văn hóa

2.7 Phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”:

Trang 10

Cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” được xã quan tâm chỉ đạo thực hiện nghiêm túc, đến nay phong trào thể dục, thể thao quần chúng phát triển sâu rộng, mạnh mẽ đến với tất cả các đối tượng, các đơn vị, trường học đến thôn

Người tập luyện TDTT thường xuyên, đạt 40% so với tổng số dân

Hàng năm, ngoài kinh phí nhà nước đầu tư xây dựng các thiết chế thể thao, các hoạt động tổ chức thi đấu, tập luyện, xã còn vận động các tổ chức, cá nhân đóng góp để tham gia các giải thi đấu do huyện tổ chức

2.8 Phong trào học tập, lao động, sáng tạo:

Trong thời gian qua Ban chỉ đạo thường xuyên phối hợp với các ban, ngành chức năng tuyên truyền cho nhân dân 12/12 thôn tiếp thu khoa học kỹ thuật và ứng dụng công nghệ vào sản xuất nông nghiệp góp phần nâng cao năng suất cây trồng, vật nuôi và đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Phong trào “Học tập, lao động sáng tạo” được phát huy, nhất là trong đội ngũ cán bộ, giáo viên, nhân dân lao động cũng như mọi tầng lớp nhân dân, góp phần nâng cao trình độ nghề nghiệp trong các lĩnh vực kinh tế-xã hội

Hiện nay nhiều hộ gia đình được công nhận “Gia đình nông dân sản xuất giỏi”, nhiều mô hình sản xuất kinh tế có hiệu quả đã được nhân rộng trong toàn xã thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển, ổn định và bền vững.Trong 5 năm qua, xã đã ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo phong trào nhằm phù hợp với từng giai đoạn như: Kế hoạch về việc triển khai phong trào TDĐKXDĐSVH 5 năm (2016 – 2020); Chương trình của Ban Chỉ đạo xã về thực hiện phong trào TDĐKXDĐSVH giai đoạn

2016 – 2020; Kế hoạch về việc thực hiện phong trào TDĐKXDĐSVH từng năm Các văn bản trên đã được tổ chức phổ biển, triển khai đến tận các đoàn thể chính trị- xã hội , thôn, làng các công chức có liên quan và trên cơ sở đó từng nội dung, giao cụ thể

để xây dựng kế hoạch cụ thể để thực hiện phong trào

3 Những hạn chế, yếu kém:

- Chất lượng phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá ở khu dân cư gắn với xây dựng nông thôn mới và đô thị văn minh” xã còn chưa cao

- Ý thức chấp hành pháp luật, nếp sống văn minh, vệ sinh môi trường của một bộ phận Nhân dân còn hạn chế

- Hoạt động quản lý nhà nước về văn hóa còn nhiều hạn chế, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang; việc công nhận các danh hiệu văn hóa còn chạy theo thành tích, số lượng

- Kinh phí chi cho hoạt động văn hóa còn quá ít và không tương xứng với nhu cầu hưởng thụ văn hóa của Nhân dân Một số thôn có nhà văn hóa nhưng chưa đảm bảo theo quy định cũng như khu vui chơi cho thanh thiếu niên

4 Nguyên nhân của những hạn chế:

4.1 Nguyên nhân khách quan:

Ngày đăng: 23/08/2021, 14:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w