Bảo tồn và phát huy hệ thống di sản văn hóa trên địa bàn phường An Hoạch, thành phố Thanh Hóa phục vụ phát triển du lịch 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề DSVH là một thành tố quan trọng, cấu thành nên văn hóa. Diện mạo văn hóa của một dân tộc dễ nhận ra trước tiên đó chính là những tài sản văn hóa đời trước để lại cho đời sau. Vẻ đẹp giá trị của di sản văn hóa giống như những lớp trầm tích, phù sa bồi lắng của văn hóa trong dòng chảy không gian và thời gian. Có lẽ vì thế mà khi nghiên cứu văn hóa, di sản văn hóa được xem là lĩnh vực hấp dẫn giới nghiên cứu. Trong Hội nghị quốc tế “Bảo vệ di sản văn hóa vật thể và phi vật thể; Hướng đến phương pháp tiếp cận tổng thể” tổ chức tại Nara, Nhật Bản từ 19 đến 23102004, Tuyên bố Yamato về Phương pháp tiếp cận tổng thể trong bảo vệ di sản văn hóa vật thể và phi vật thể đã được thông qua. Với bản Tuyên bố này, các quan niệm về DSVH đã được nhân loại định nghĩa cụ thể trên phương diện lý luận theo Công ước và Quy chế của UNESCO 63, 64, 65. Đây là những quan điểm cụ thể nhằm giúp nhận diện một cách đúng đắn khoa học về DSVH vật thể và phi vật thể trên thế giới. Ở Việt Nam, nghiên cứu về DSVH trước tiên phải kể đến công trình Việt Nam văn hóa sử cương của học giả Đào Duy Anh từ năm 1938 với quan điểm: “Ta muốn trở thành một nước cường thịnh về vật chất, vừa về tinh thần thì phải giữ văn hóa cũ (di sản) làm thế (gốc, nền tảng); mà lấy văn hóa mới làm dụng nghĩa là phải khéo điều hòa tinh túy của văn hóa phương Đông với những điều sở trường về khoa học của văn hóa phương Tây” 1, tr 71. Năm 1997, GS.TS Hoàng Vinh hoàn thành cuốn sách “Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc”. Trên cơ sở những quan niệm khoa học về DSVH của quốc tế và Việt Nam, tác giả đã đưa ra một hệ thống lý luận về DSVH, đồng thời bước đầu vận dụng nghiên cứu DSVH nước ta 69, tr 99. Công trình Một con đường tiếp cận di sản văn hóa do Bộ Văn hóa – Thông tin ấn hành (2006) đã tập hợp nhiều bài nghiên cứu về lý luận DSVH cũng như thực tiễn, có thể kể đến các bài như: Khảo cổ học với công tác bảo vệ và phát huy di sản văn hóa (Vũ Quốc Hiền); Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng của phát triển bền vững (Lê Thành Vinh). Theo hướng vai trò của cộng đồng trong bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, có các tác giả như: Võ Quang Trọng (2009), Nguyễn Thị Song Hà (2015), Nguyễn Chí Bền (2010), Đặng Văn Bài (2007), Trịnh Ngọc Chung (2009) nhấn mạnh giáo dục về di sản văn hóa cho cộng đồng để giúp cộng đồng hiểu biết sâu sắc hơn về quá khứ, nguồn gốc, giúp cộng đồng ý thức hơn về chính mình, gắn công tác đào tạo với bảo tồn. Trong báo cáo đề dẫn hội thảo khoa học: “Bảo tồn di tích và cuộc sống đương đại”, ngày 1612007, tại Hà Nội của Đặng Văn Bài, với bài viết “Bảo tồn di sản văn hóa trong quá trình phát triển” tác giả đã chỉ ra rằng việc bảo tồn di sản văn hóa đòi hỏi một sự sáng tạo không ngừng nghỉ và khả năng linh hoạt trong việc vận dụng các nguyên tắc khoa học để lựa chọn phương án xử lý thích hợp cho từng di tích cụ thể, phải gắn di tích với cuộc sống đương đại, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển qua đó mở rộng giao lưu quốc tế. Trong cuốn Tạp chí Cộng sản số 20 năm 2003, PGS.TS Nguyễn Văn Huy đã nghiên cứu “Một số vấn đề bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa các dân tộc hiện nay”. Trong bài viết của mình tác giả đã đề cập đến những vấn đề lý luận và thực tiễn của công tác bảo tồn phát huy di sản văn hóa trên phạm vi cả nước. Ở Thanh Hóa, cũng đã có một số công trình, đề tài nghiên cứu, các chương trình phát triển liên quan đến di sản, bảo tồn di sản văn hóa như: Đề tài khoa học cấp tỉnh năm 2007:“Nghiên cứu di sản văn hóa truyền thống Thanh Hóa loại hình tín ngưỡng, phong tục, lễ hội cổ truyền” của Võ Hồng Hà của Trường Đại học Hồng Đức thực hiện. Đề tài đã được nghiệm thu và hệ thống hóa được các loại hình DSVH phi vật thể hiện tồn trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, tiềm năng và giải pháp để bảo tồn phục vụ giáo dục truyền thống, phát triển KT XH tỉnh Thanh Hóa 22. Song song với đó, cũng trong năm này, Trường Cao đẳng VHNT (nay là Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa) triển khai nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu di sản văn hóa truyền thống Thanh Hóa loại hình kiến trúc điêu khắc” do TS Lê Văn Tạo chủ trì 45. Đây cũng là đề tài nghiên cứu hệ thống về tiềm năng, thực trạng, giải pháp bảo tồn, phát huy các di tích lịch sử văn hóa, di sản văn hóa vật thể tập trung chủ yếu vào các loại hình đình, đền, chùa, lăng mộ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Kết quả của 2 đề tài nghiên cứu này cho ta cái nhìn tương đối hệ thống về hệ thống DSVH vật thể và phi vật thể của tỉnh Thanh Hóa và một phần trong số này có liên quan đến phạm vi đề tài nghiên cứu của tác giả như cụm thắng tích núi Nhồi, đền thờ Mãn Quận Công, đền thờ Quan Thánh đế quân nay ở phường An Hoạch (Tp Thanh Hóa). Năm 2010, Trường CĐ VHNT Thanh Hóa tiếp tục triển khai đề tài: Nghiên cứu tiềm năng sản phẩm văn hóa du lịch phục vụ phát triển KT XH tỉnh Thanh Hóa 46. Đề tài đã chỉ ra thực trạng và tiềm năng các tài nguyên du lịch của tỉnh Thanh Hóa có khả năng khai thác, phục vụ phát triển KTXH. Đặc biệt trong nhóm tài nguyên sinh thái, thắng cảnh, thắng tích Núi Nhồi trên địa bàn phường An Hoạch cùng hệ thống DSVH ở đây đã được nhắc đến trong tầm nhìn phát triển du lịch theo hướng kết nối với các tài nguyên khác trên địa bàn thành phố Thanh Hóa. Năm 2014, Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức hội thảo khoa học quốc tế: Thanh Hóa và liên kết phát triển du lịch quốc gia, quốc tế 61. Trong hội thảo này có nhiều bài viết về khả năng khai thác, đánh thức tiềm năng du lịch từ hệ thống DSVH trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói chung và thành phố Thanh Hóa nói riêng. Đặc biệt, có bài viết gợi ý khá mới mẻ về khả năng khai thác làng nghề chế tác đá An Hoạch phục vụ du lịch theo mô hình làng nghề đá ở núi Ngũ Hành Sơn (Đà Nẵng) của hai tác giả Lã Thị Tuyên và Lê Thị Hồng 61, tr 240 247. Một số đề tài lấy di sản văn hóa làm đối tượng nghiên cứu trong quan điểm kết nối, gắn kết với phát triển KT XH, đặc biệt là phát triển du lịch và xử lý hài hòa giữa mục tiêu phát triển du lịch với bảo tồn DSVH tiêu biểu như “Nghiên cứu đề xuất giải pháp phát triển kinh tế du lịch gắn với bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa Thanh Hóa trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” (năm 2015) do PGS.TS.Lê Văn Tạo chủ trì, cùng đội ngũ giảng viên chuyên ngành của Trường Đại học VH,TTDL Thanh Hóa thực hiện. Ở góc độ địa phương, đây được đánh giá là đề tài nghiên cứu khá mới mẻ, đáp ứng xu thế chung ở trong nước và trên thế giới giai đoạn hiện nay, về việc luận bàn di sản văn hóa trong xu hướng gắn kết, phát triển bền vững với phát triển du lịch. Ngoài ra, các ấn phẩm chuyên ngành do Ban quản lý Di tích và Danh thắng Thanh Hóa (nay là Trung tâm Bảo tồn DSVH Thanh Hóa) xuất bản như các tập “Di tích và Danh thắng Thanh Hóa” (12 tập), địa chí Thanh Hóa và địa chí các huyện trong tỉnh; các bài viết nghiên cứu về di sản địa phương thuộc các loại hình của nhiều tác giả như: Phạm Tuấn, Phạm Tấn, Hoàng Minh Tường, Trần Thị Liên, Phạm Văn Đấu, các tác giả là giảng viên Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch,…đều có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về di sản văn hóa trong tỉnh, đặc biệt đi sâu vào tìm hiểu giá trị của hệ thống di sản trong tỉnh, các đề xuất về kết hợp di sản văn hóa với khai thác, phục vụ phát triển du lịch. Về các công trình liên quan đến không gian và địa điểm nghiên cứu về di sản văn hóa ở thành phố Thanh Hóa nói chung và ở phường An Hoạch nói riêng có thể kể đến một số công trình như: Đề án “Phát triển du lịch thành phố Thanh Hóa đến năm 2030” của UBND thành phố Thanh Hóa 75, tìm hiểu “về nghề chạm khắc đá An Hoạch” của tác giả Lê Thị Thảo 50 đã khảo sát chuyên sâu về làng nghề chế tác đá An Hoạch. Những nghiên cứu này là các tư liệu khoa học đáng quý cho tác giả luận văn triển khai nghiên cứu theo mục tiêu của đề tài. Nhìn chung đã có nhiều công trình nghiên cứu về di sản văn hóa trong đó có những nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa. Tuy chưa có một nghiên cứu cụ thể nào về việc bảo tồn và phát huy hệ thống di sản văn hóa ở phường An Hoạch, thành phố Thanh Hóa, những điều kiện để các di sản văn hóa này phát huy được vai trò của nó trong giai đoạn hiện nay. Chưa đề ra giải pháp cụ thể cho từng điểm di tích lịch sử văn hóa hay khu vực danh lam thắng cảnh để bảo tồn, phát huy gắn với phát triển du lịch của phường An Hoạch. Nhưng những công trình này cũng đã cung cấp cách nhìn, cách đánh giá sâu sắc và phong phú để tác giả thực hiện luận văn Cao học tiếp cận, nghiên cứu sâu hơn trong đề tài của mình. 3. Mục đích nghiên cứu Làm rõ cơ sở lý luận việc bảo tồn, phát huy hệ thống di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch. Đánh giá thực trạng việc bảo tồn, phát huy giá trị hệ thống di sản văn hóa phục vụ phát triển du lịch trên địa bàn phường An Hoạch trong giai đoạn hiện nay. Đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm khai thác, phát huy giá trị hệ thống di sản văn hóa gắn với phát triển du lịch trên địa bàn phường An Hoạch trong giai đoạn hiện nay một cách hữu hiệu. 4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống DSVH trên một khu vực hành chính cụ thể là phường An Hoạch, thành phố Thanh Hóa trong cái nhìn gắn kết với phát triển du lịch; Về không gian: nghiên cứu trên địa bàn phường An Hoạch Phạm vi không gian phường An Hoạch được giới hạn như sau: + Phía Đông giáp các phường Phú Sơn, Tân Sơn, Đông Vệ và xã Đông Hưng + Phía Nam giáp xã Đông Hưng. + Phía Tây giáp xã Đông Tân. + Phía Bắc giáp xã Đông Tân và phường Phú Sơn. Về thời gian: Luận văn nghiên cứu về công tác quản lý, bảo vệ, khai thác, phát huy hệ thống DSVH trên địa bàn phường An Hoạch từ năm 2010 đến nay. 5. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu viết về DSVH vật thể và phi vật thể để từ đó phân loại các nguồn tư liệu theo mục đích và nội dung của đề tài nghiên cứu. Trong phương pháp này, tác giả luận văn tuân thủ phương pháp kế thừa các nguồn sử liệu, tài liệu đã nghiên cứu về công tác bảo tồn, phát huy giá trị hệ thống các DSVH trong nước, trong tỉnh cũng như nghiên cứu về hệ thống DSVH phường An Hoạch. Phương pháp điền dã thực địa: Kết hợp với việc nghiên cứu các DSVH vật thể, phi vật thể qua các tài liệu viết, tác giả đã đi điền dã thực tế tại các điểm di tích danh thắng trên địa bàn phường An Hoạch, để khảo sát thực trạng các đền, chùa, tìm hiểu làng nghề, lễ hội, phong tục tập quán nơi đây, tìm hiểu thái độ và sự nhận thức của địa phương về di sản văn hóa, ý thức bảo vệ, gìn giữ của cộng đồng. Đánh giá mức độ xuống cấp, nguy hại của các loại hình DSVH đang tồn tại ở địa phương. Phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh: Qua việc thu thập, nghiên cứu các tài liệu viết và khảo sát thực tế tại các di tích danh thắng trên địa bàn phường An Hoạch tác giả tiến hành tổng hợp, thống kê, phân tích so sánh các công trình nghiên cứu, các chính sách của địa phương tác động đến các DSVH để làm căn cứ củng cố cho nhận định khoa học của tác giả luận văn. Phương pháp chuyên gia: tham vấn chuyên môn, chuyên gia để đưa ra giải pháp bảo tồn, phát huy giá trị các DSVH phường An Hoạch một cách khoa học, hữu hiệu, phù hợp với quan điểm thực tiễn và khoa học chuyên ngành. Nhất quán sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành trên cơ sở chủ đạo của phương pháp nghiên cứu các ngành văn hóa học, quản lý văn hóa, du lịch học như lấy phương pháp nghiên cứu ngành quản lý văn hóa làm trọng tâm. 6. Những đóng góp của luận văn Luận văn đưa ra cái nhìn hệ thống, toàn diện về tiềm năng, giá trị và khả năng bảo tồn, phát huy hệ thống DSVH trên địa bàn phường An Hoạch phục vụ phát triển du lịch trong đời sống cộng đồng địa phương hiện nay. Đây sẽ là nguồn tư liệu tham khảo hữu ích cho chính quyền địa phương, cấp ban ngành, đặc biệt là ngành văn hóa, thể thao và du lịch địa phương có cái nhìn toàn diện, đúng đắn, khoa học về hệ thống DSVH nhiều giá trị của phường An Hoạch. Luận văn là tư liệu tham khảo bổ ích về quản lý DSVH nói chung và quản lý, bảo tồn, phát huy hệ thống DSVH ở phường An Hoạch nói riêng. Là nguồn tư liệu hữu ích phục vụ tốt cho hoạt động tuyên truyền, giáo dục truyền thống, lịch sử cho thế hệ trẻ tại thành phố Thanh Hoá, là tài liệu tham khảo cho các cấp quản lý văn hoá ở thành phố Thanh Hoá nói riêng; sở ban ngành của tỉnh nói chung nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định công tác quản lý, bảo tồn và phát huy DSVH của địa phương phù hợp với thực tiễn cuộc sống và đảm bảo lợi ích của người dân. 7. Bố cục của luận văn Ngoài phần mở đầu (9 trang), kết luận (2 trang), tài liệu tham khảo (6 trang) và phụ lục (11 trang), luận văn được bố cục 3 chương gồm, Chương 1: Cơ sở lý luận việc bảo tồn, phát huy giá trị hệ thống DSVH và tổng quan về phường An Hoạch, Tp Thanh Hóa (27 trang), Chương 2: Thực trạng bảo tồn, phát huy giá trị hệ thống DSVH phục vụ phát triển du lịch trên địa bàn phường An Hoạch hiện nay (43 trang), Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn, phát huy giá trị hệ thống DSVH trên địa bàn phường An Hoạch phục vụ phát triển du lịch (28 trang). Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ PHƯỜNG AN HOẠCH 1.1. Hệ thống khái niệm 1.1.1. Di sản văn hóa Trong lĩnh vực văn hóa, thuật ngữ di sản văn hóa có lẽ là một thuật ngữ có nhiều định nghĩa nhất, đứng sau thuật ngữ văn hóa với thống kê hàng mấy trăm định nghĩa tính cho đến nay. Các định nghĩa này được rút ra từ nhiều văn bản được viết ra bởi nhiều tổ chức, ở những thời kỳ khác nhau, ở nhiều quốc gia khác nhau nhằm cung cấp tài liệu tham khảo căn bản cho Nhóm làm việc về Di sản và Xã hội của tổ chức ICCROM (Trung tâm Quốc tế về nghiên cứu Bảo tồn và Bảo quản các tài sản văn hóa) trong công tác hoạch định các kế hoạch chiến lược. Trong số 60 định nghĩa được liệt kê này, có đến 18 định nghĩa do UNESCO đưa ra. Các định nghĩa của tổ chức UNESCO về di sản văn hóa là những định nghĩa được sử dụng phổ biến nhất trong các công trình nghiên cứu học thuật và trong các văn kiện pháp lý quốc tế và quốc gia ở nhiều nước liên quan đến di sản và tài sản văn hóa. Di sản văn hóa được Công ước Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên của thế giới của UNESCO 63 xác định bao gồm các di tích, quần thể kiến trúc và thắng cảnh. Cụ thể là: Các di tích: Các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội họa hoành tráng, các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ, các văn bản, các hang động và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học. Các quần thể kiến trúc: Các nhóm công trình xây dựng đứng một mình hoặc liên kết nhau có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc, sự thống nhất hoặc sự nhất thể hóa của chúng vào cảnh quan. Các thắng cảnh: Các công trình của con người hoặc những công trình của con người kết hợp với các công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, 15 kể cả các di chỉ khảo cố học, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử, thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học 63: Điều 1, Mục I. Định nghĩa về di sản văn hóa và thiên nhiên. Cũng trong Công ước này, UNESCO đã phân loại di sản thành di sản văn hóa và di sản thiên nhiên. Trong Công ước về Bảo tồn Di sản văn hóa phi vật thể 64, UNESCO định nghĩa khái niệm về di sản văn hóa phi vật thể như sau: Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di sản văn hóa của họ. Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dang văn hóa và tính sáng tạo của con người. Di sản văn hóa phi vật thể được thể hiện dưới các hình thức sau: a) các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ là phương tiện của di sản văn hóa phi vật thể; b) nghệ thuật trình diễn; c) tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội; d) tri thức và tập quán liên quan đến tự nhiên và vũ trụ; e) nghề thủ công truyền thống 65: Điều 2, Mục I. Các điều khoản chung. Luật Di sản văn hóa số 282001QH10 quy định rằng di sản văn hóa, bao gồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác. Theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa số 322009QH12 (Điều 1), di sản văn hóa phi vật thể được quy định là “sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, 16 truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” (Theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa số 322009QH12, ngày 18062009). Theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam số 282001QH10 di sản văn hóa vật thể cần được hiểu như là “sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.” 41: Điều 4, Chương 1. Như vậy, ở Việt Nam, di sản văn hóa được thống nhất chia thành hai nhóm: vật thể và phi vật thể, tương đồng với cách phân nhóm di sản văn hóa của UNESCO và nhiều tổ chức văn hóa khác trên thế giới. Trong thực tế, không phải lúc nào cũng có thể phân loại rõ ràng rằng di sản này thuộc hoàn toàn loại này hay loại kia. Một điểm di sản không đơn giản hoàn toàn là văn hóa hoặc thiên nhiên, thậm chí là vật thể hay phi vật thể. Nhiều điểm di sản thiên nhiên như là các công viên quốc gia ở nhiều nước cũng có các thành tố liên quan đến hoạt động của con người. Một số điểm di sản khác như là di chỉ kiến trúc, di chỉ khảo cố học, đồ tạo tác hoặc di tích có thể hiển hiện và được nhìn thấy như là những tài sản vật thể, thế nhưng lịch sử của chúng, giá trị thẩm mỹ, kiểu kiến trúc, các câu chuyện và con người gắn kèm với mỗi di sản lại là những di sản phi vật thể đi cùng với những biểu hiện vật chất. Nhiều tài sản khác rõ ràng là một tổng thể phức hợp của các yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể. Chính sự không rõ ràng này tạo nên sự đa dạng trong phương thức biểu hiện của di sản. Hiểu rõ về bản chất của một điểm di sản, thiên nhiên, văn hóa hay hỗn hợp, là điều cần thiết nhất để có thể thiết kế ra được các mục tiêu, kế hoạch và phương tiện phù hợp cho công tác bảo tồn và phát triển di sản đó. Mỗi cách phân loại có cơ sở lập luận riêng khi nhóm loại di sản, tuy nhiên, tất cả các công trình này đều thống nhất chung ở một điểm là khẳng định giá trị văn hóa đặc sắc của di sản ở mọi vùng miền và quốc gia trên thế giới. Bản thân từ di sản đã hàm nghĩa một thứ gì đó được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, đóng vai trò chuyên chở các giá trị lịch sử từ quá khứ và giao các giá trị này cho thế hệ hiện tại như một phần của truyền thống văn hóa của một xã hội. Giá trị của di sản đối với một xã hội là không thể phủ nhận về mọi mặt, từ lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ, giáo dục và rõ ràng là về cả mặt kinh tế khi đặt di sản trong mối quan hệ với du lịch văn hóadu lịch di sản. Như vậy, quản lý di sản văn hóa một cách hợp lý là điều cốt lõi để một xã hội có thể lưu giữ được các tài sản văn hóa của mình cho thế hệ người dân hiện tại và tương lai. Ở Việt Nam, di sản văn hóa là chủ đề của nhiều công trình nghiên cứu văn hóa và được nhiều nhà khoa học định nghĩa. Năm 1938 học giả Đào Duy Anh đã đề cập đến quan niệm di sản trong nhận định về vai trò của nhân tố nội sinh trong sự giao lưu tiếp biến văn hóa bản địa: “Ta muốn trở nên một nước cường thịnh vừa về vật chất, vừa về tinh thần thì phải giữ văn hóa cũ (di sản) làm thể; mà lấy văn hóa mới làm dụng, nghĩa là phải khéo điều hòa tinh túy của văn hóa Phương Đông với những điều sở trường về khoa học và kỹ thuật của văn hóa Phương Tây” 1, tr.71. GS Hoàng Vinh nhận định: Những thành tựu của những hoạt động sáng tạo (những hoạt động sáng tạo này sinh ra hiểu biết, kinh nghiệm sống, đúc kết thành truyền thống, thị hiếu, giá trị…), bất kể là vật thể hay phi vật thể, hữu hình hay vô hình, qua thời gian sàng lọc, thử thách, kết tinh lại thành di sản văn hóa 69, tr.99. Nhà nghiên cứu Lưu Trần Tiêu cho rằng: Di sản văn hóa là toàn bộ những sản phẩm vật chất (hay còn gọi là vật thể) và tinh thần (hay còn gọi là phi vật thể), có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, do con người sáng tạo và tiếp nhận trong điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế xã hội của mình, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác 57, tr.2. Tóm lại, di sản văn hóa là những tài sản vô giá, có vai trò gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, là cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và là tiền đề cho hội nhập và giao lưu văn hóa. Chính vì lẽ đó, việc bảo tồn, kế thừa và phát huy những giá trị tốt đẹp của di sản văn hóa trong đời sống xã hội là một việc làm có ý nghĩa, góp phần vào sự phát triển bền vững của các quốc gia, dân tộc. 1.1.2. Bảo tồn di sản văn hóa Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạng thức vốn có của nó. Bảo tồn DSVH là một khái niệm có nội hàm rộng (cả đối tượng DSVH vật thể và di sản văn hóa phi vật thể) do có sự khác nhau cơ bản về mặt kỹ thuật và quan điểm. Bảo tồn là giữ lại, không để mất đi, không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái. Theo cách hiểu biết phổ biến thì Bảo tồn di sản văn hóa là tất cả những nỗ lực nhằm hiểu biết về lịch sử hình thành, ý nghĩa của di sản văn hóa nhằm bảo đảm sự an toàn, phát triển lâu dài cho di sản văn hóa và khi cần đến phải đảm bảo việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục và tôn tạo lại để khai thác khả năng phục vụ cho hoạt động tiến bộ của xã hội. Giữa bảo tồn và phát huy DSVH luôn gắn kết chặt chẽ biện chứng. Đó là hai lĩnh vực thống nhất, tương hỗ, chi phối ảnh hưởng qua lại trong hoạt động giữ gìn tài sản văn hóa. Bảo tồn DSVH thành công thì mới phát huy được các giá trị văn hóa. Phát huy cũng là một cách bảo tồn DSVH tốt nhất. Công tác bảo tồn DSVH có nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm các hoạt động: bảo tồn nguyên trạng, trùng tu, gia cố, tái định vị, phục hồi, tái tạo làm lại, qui hoạch bảo tồn. Đến nay trên thế giới vẫn thừa nhận 2 quan điểm phổ biến đối với bảo tồn di sản văn hóa là: bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn kế thừa. Quan điểm của UNESCO năm 1972 nghiêng về “bảo tồn nguyên vẹn”, tức là di sản văn hóa bị “đóng gói” và bảo vệ trong môi trường khép kín để tránh mọi tác động bên ngoài làm phương hại đến chúng. Khuynh hướng này mang lại một số kết quả rất đáng quan tâm, như các công trình kiến trúc vẫn tồn tại dù trải qua một giai đoạn thời gian rất dài... Tuy nhiên, văn hóa nói chung trong đó có DSVH luôn gắn bó tồn tại song song với đời sống, con người, với môi trường xã hội. Do đó, nó luôn trong tình trạng giao lưu, tiếp biến, biến đổi để phù hợp với mọi thay đổi của cuộc sống. Bởi vậy, bảo tồn theo khuynh hướng này bộc lộ hạn chế, làm cho DSVH không phát huy hết giá trị. Đối với quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa cũng cần phải có những điều chỉnh trong tình hình hiện nay sao cho phù hợp. Di sản văn hóa có sức sống mãnh liệt, có giá trị, có nền tảng vững chắc do được chắt lọc, chưng cất, được thử thách qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử. Theo quy luật kế thừa thì những DSVH nào tồn tại trong đời sống xã hội, nếu không phù hợp với hệ giá trị xã hội tại thời điểm lịch sử hiện tại thì sẽ bị triệt tiêu và vĩnh viễn biến mất. Nếu lấy quan điểm này làm quan điểm bảo tồn độc lập thì chúng ta sử dụng hệ giá trị hôm nay làm thước đo sự thay đổi các sản phẩm văn hóa truyền thống, khuynh hướng thả nổi sẽ đẩy nhanh quá trình làm biến dạng các tiêu chí và chuẩn mực vốn đó được định hình trong DSVH. Nguyên tắc quan trọng của bảo tồn DSVH là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của DSVH theo dạng thức vốn có. Bảo tồn đồng nghĩa với không để DSVH mai một, bị thay đổi, biến dạng. Xuất phát từ sự duy trì ý nghĩa văn hóa của DSVH mà trong hoạt động bảo tồn không chấp nhận việc cải biến, nâng cao hay phát triển. Di sản văn hóa cần được xem là tinh hoa văn hóa, do vậy việc khẳng định giá trị đích thực dưới những thể trạng và hình thức khác nhau cũng như khả năng tồn tại theo thời gian của nó là điều quan trọng. Quan điểm lựa chọn bảo tồn DSVH hợp lý là việc lựa chọn, bảo vệ, giữ gìn những giá trị từ quá khứ đến hiện tại, cái được bảo tồn tất yếu phải phù hợp với thời đại, chứa đựng những khả năng có thể được làm giàu thêm về giá trị và có thể tiếp tục được phát huy, phát triển vì lợi ích của cộng đồng, xã hội, vì sự phát triển của văn hóa. Không có một hình thức, phương pháp chung nào có thể áp dụng cho việc bảo tồn tất cả các loại hình DSVH do sự đa dạng, phong phú của DSVH. Sự đa dạng đó cũng biểu hiện trong các điều kiện không gian và thời gian mà DSVH tồn tại và phát huy tác dụng, giá trị lịch sử, Nghiên cứu khoa học văn hóa về DSVH là tìm ra cách lựa chọn bảo tồn có ý thức, thích hợp và đảm bảo các khả năng lan tỏa ý nghĩa văn hóa trong cộng đồng, phát huy giá trị của DSVH vào đời sống tinh thần cộng đồng, là động lực cho sự phát triển. 1.1.3. Phát huy giá trị di sản văn hóa Phát huy được hiểu là những tác động làm cho cái hay, cái đẹp, cái tốt tỏa tác dụng và tiếp tục nảy nở từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ đơn giản đến phức tạp. Có thể nói, phát huy chính là việc khai thác, sử dụng sản phẩm một cách có hiệu quả. Phát huy giá trị di sản văn hóa là một hoạt động có tính liên ngành, có tiêu chí chung, mục đích là phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội, gúp phần giáo dục truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời là nhịp cầu nối với bạn bè năm châu. Do tính đa dạng của DSVH nên cách thức phát huy từng DSVH có thể khác nhau ở từng thời điểm khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm văn hóa của từng vùng cũng như nhận thức của chủ thể tổ chức các hoạt động phát huy cũng như cộng đồng, nhưng nguyên tắc cao nhất của phát huy DSVH là phải dựa vào những giá trị hiện có của DSVH, tôn vinh giá trị và phát triển những tinh hoa của giá trị DSVH vì lợi ích cộng đồng cũng như sự phát triển văn hóa. Mục đích quan trọng nhất của hoạt động phát huy giá trị DSVH là làm cho các ý nghĩa văn hóa, tinh hoa các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp lan tỏa vào cộng đồng, tiếp tục duy trì sức sống của nó trong đời sống tinh thần cộng đồng, góp phần quan trọng vào hoạt động giáo dục truyền thống và đặc biệt là giữ gìn bản sắc dân tộc trong thế giới tôn trọng đa dạng văn hóa hôm nay, tạo cơ sở, bản lĩnh cho giao lưu, tiếp biến, phát triển văn hóa, phục vụ cho sự tiến bộ xã hội. Trong phương pháp nhằm phát huy tốt nhất giá trị của DSVH thì phương pháp kết hợp giữa bảo tồn và phát huy đạt hiệu quả cao. Nếu chúng ta chỉ bảo tồn, không sử dụng, không đưa các giá trị văn hóa vào cuộc sống thì không thể phát huy DSVH và thời gian sẽ làm di sản mai một đi, có thể rơi vào tình trạng bị lãng quên. Chỉ khi giá trị các di sản văn hóa được phát huy thì chúng ta mới có cơ sở, căn cứ làm điều kiện để bảo tồn. 1.1.4. Du lịch Du lịch đã trở thành một trong những hình thức sinh hoạt khá phổ biến của con người trong thời đại ngày nay. Nhà nước ta đã xác định du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạo việc làm và phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Theo Luật du lịch Việt Nam ban hành ngày 1962017: Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định 42: Điều 3, chương I. Các hoạt động du lịch liên quan một cách chặt chẽ với môi trường (bao gồm cả môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn) và chủ yếu thông qua tài nguyên du lịch, tài nguyên ấy chính là di sản văn hóa trong đó di tích và danh thắng là nhân tố cơ bản. Luật Du lịch (2017) cũng cho rằng: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch. Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa” 42, tr. 7. Như vậy có thể thấy du lịch là một trong những ngành kinh tế có định hướng tài nguyên rõ rệt, đổng thời cũng rất nhạy cảm với sự biển đổi của môi trường. Tài nguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến việc hình thành, chuyên môn hóa các vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt động dịch vụ, còn môi trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng các sản phẩm du lịch, đến sức hấp dẫn của du lịch. Điều đó có nghĩa là hoạt động phát triển du lịch luôn gắn liền với việc khai thác các tiềm năng tài nguyên môi trường tự nhiên cũng như các giá trị văn hóa, nhân văn; sự xuống cấp của môi trường đổng nghĩa với sự đi xuống của hoạt động du lịch. 1.1.5. Phát triển du lịch bền vững Phát triển du lịch bền vững theo quan điểm của Luật Du lịch (2017) là: “Sự phát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế xã hội và môi trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai” 42, tr 7. Hay nói một cách đơn giản nhất, du lịch được coi là phát triển bền vững khi nền du lịch đó tốt cho đất nước lúc này và còn bền vững dài lâu mai sau. Trong việc phát triển du lịch bền vững thì Mạng lưới Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên Hợp Quốc (United Nation World Tourism Organization Network UNWTO) chỉ ra rằng, muốn hướng đến phát triển du lịch bền vững thì cần phải: Về môi trường: Sử dụng tốt nhất các tài nguyên môi trường đóng vai trò chủ yếu trong phát triển du lịch, duy trì quá trình sinh thái thiết yếu, và giúp duy trì di sản thiên nhiên và đa dạng sinh học tự nhiên. Về xã hội và văn hóa: Tôn trọng tính trung thực về xã hội và văn hóa của các cộng đồng địa phương, bảo tồn DSVH và các giá trị truyền thống đã được xây dựng và đang sống động, và đóng góp vào sự hiểu biết và chia sẻ liên văn hóa.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
NGUYỄN THỊ THU HẰNG
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY HỆ THỐNG DI SẢN VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG AN HOẠCH, THÀNH PHỐ THANH HÓA PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
THANH HÓA, NĂM 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH
NGUYỄN THỊ THU HẰNG
BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY HỆ THỐNG DI SẢN VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG AN HOẠCH, THÀNH PHỐ THANH HÓA PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ VĂN HÓA
Chuyên ngành: Quản lý Văn hóa
Mã số: 8.319.042
Người hướng dẫn khoa học: TS Lê Thanh Hà
THANH HÓA, NĂM 2019
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học trong luận văn chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học khác.
Tác giả
Nguyễn Thị Thu Hằng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỤC LỤC 1
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN 4
MỞ ĐẦU 5
1 Tính cấp thiết của đề tài 5
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3 Mục đích nghiên cứu 10
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 11
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Những đóng góp của luận văn 12
7 Bố cục của luận văn 13
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN VỀ PHƯỜNG AN HOẠCH 14
1.1 Hệ thống khái niệm 14
1.1.1 Di sản văn hóa 14
1.1.2 Bảo tồn di sản văn hóa 17
1.1.3 Phát huy giá trị di sản văn hóa 19
1.1.4 Du lịch 20
1.1.5 Phát triển du lịch bền vững 21
1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa 22
1.3 Vai trò của di sản văn hóa đối với phát triển du lịch 27
1.4 Tổng quan về phường An Hoạch, thành phố Thanh Hóa 29
1.4.1 Khái quát về đơn vị hành chính và các điều kiện tự nhiên 29
1.4.2 Các điều kiện kinh tế- xã hội 31
1.4.3 Tiềm năng di sản văn hóa và các tài nguyên du lịch 32
* Tiểu kết chương 1 35
Trang 5Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN
PHƯỜNG AN HOẠCH HIỆN NAY 36
2.1 Hệ thống di sản văn hóa trên địa bàn phường An Hoạch 36
2.1.1 Hệ thống di sản văn hóa vật thể 36
2.1.2 Hệ thống di sản văn hóa phi vật thể 44
2.2 Đánh giá về công tác bảo tồn, phát huy giá trị hệ thống DSVH trên địa bàn phường An Hoạch trong thời gian qua 50
2.2.1 Những mặt đạt được 50
2.2.2 Những hạn chế, tồn tại 59
2.2.3 Các nguyên nhân chủ yếu 67
2.3 Những thách thức đang đặt ra đối với việc bảo tồn, phát huy hệ thống DSVH phục vụ phát triển du lịch trong bối cảnh hiện nay 68
*Tiểu kết chương 2 73
Chương 3 GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY HỆ THỐNG DSVH PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG AN HOẠCH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY 74
3.1 Nhóm giải pháp chung 74
3.1.1 Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nhân dân hiểu rõ giá trị và tầm quan trọng của hệ thống DSVH 74
3.1.2 Xây dựng quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi hệ thống di tích/di sản 75
3.1.3 Đổi mới cơ chế, chính sách để đấy mạnh khai thác DSVH trong du lịch 76
3.1.4 Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với DSVH của chính quyền địa phương 79
3.1.5 Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực theo mục tiêu gắn kết giữa quản lý văn hóa với quản lý du lịch 81
3.2 Nhóm giải pháp cụ thể 82
Trang 63.2.1.Tăng tính hấp dẫn của DSVH đối với khách du lịch 82
3.2.2 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch 84
3.2.3 Hình thành và phát triển đội ngũ hướng dẫn viên tại điểm 85
3.2.4 Đẩy mạnh thông tin quảng bá du lịch gắn với xây dựng thương hiệu điểm đến 87
3.2.5 Xây dựng các sản phẩm du lịch độc đáo gắn với mô hình du lịch “làng nghề thủ công chế tác đá An Hoạch” 88
3.2.6 Tăng cường công tác phối hợp liên ngành 91
3.2.7 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra tại các điểm di tích/di sản .91
3.3 Những kiến nghị, đề xuất 93
3.3.1 Đối với các cơ quan quản lý nhà nước về văn hóa ở Trung ương: 93
3.3.2 Đối với Ủy ban nhân dân Tỉnh và Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Thanh Hóa 94
3.3.3 Đối với Ủy ban nhân dân thành phố Thanh Hóa 95
3.3.4 Khuyến nghị với các tổ chức đoàn thể xã hội và người dân phường An Hoạch 95
* Tiểu kết chương 3 96
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
MỤC LỤC CỦA PHỤ LỤC 108
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
CNH – HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
1.1 Bước sang thế kỷ XXI, xu hướng tất yếu của nhiều quốc gia trên thế giớitrong đó có Việt Nam là bằng mọi biện pháp để khơi dậy, đánh thức các tiềm lựcphục vụ cho hội nhập và phát triển Và trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày nay, di sảnvăn hóa (DSVH) đang được xem như một nguồn lực quan trọng góp phần quảng báhình ảnh quốc gia, đóng góp cho phát triển KT-XH, đặc biệt là đối với những nướcđang phát triển, DSVH vừa là sợi dây liên kết quá khứ - hiện tại - tương lai, phục vụphát triển bền vững Việt Nam là một quốc gia có nền văn hóa lâu đời, tích tụ nhiềugiá trị DSVH giàu giá trị Hệ thống này nếu được bảo vệ và phát huy đúng cách sẽnguồn lực vật chất, tinh thần to lớn của đất nước
1.2 Với vị trí trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của tỉnh ThanhHóa, có lịch sử ra đời và phát triển trên 200 năm; thành phố Thanh Hóa là địaphương có số lượng DSVH mật tập và nhiều giá trị An Hoạch tiền thân là thị TrấnNhồi - huyện Đông Sơn được sáp nhập về thành phố Thanh Hoá từ năm 2012 làphường có nhiều di tích – danh thắng nổi tiếng như cụm thắng tích núi Nhồi, lăngQuận Mãn, chùa Hinh Sơn, chùa Tiên Sơn, đền Thượng Bên cạnh đó An Hoạchcòn là vùng đất với lịch sử hình thành từ rất sớm, giàu truyền thống văn hóa, với hệthống di sản văn hóa phi vật thể nhiều loại hình, giàu giá trị Đó là những lễ hội,phong tục tập quán, tín ngưỡng, làng nghề thủ công lâu đời được địa phương vàtrong nước biết đến, tiêu biểu như nghề chạm khắc đá truyền thống An Hoạch
1.3 Theo thống kê cho thấy, mặc dù công tác quản lý, xếp hạng, tu bổ, tôntạo các di tích – danh thắng trên địa bàn phường An Hoạch được triển khai hàngnăm và đạt được một số kết quả Tuy nhiên, bởi chưa có kế hoạch quản lý, khai tháctổng thể cũng như quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đang diễn ranhanh chóng với quy mô và tốc độ cao đã dẫn đến các hoạt động dân sinh của đờisống xã hội đang chồng lấn, xâm hại, lấn chiếm di tích Việc khôi phục và phát triển
Trang 9các loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian, nâng cao công tác lễ hội truyền thốngchưa thật sự được chú trọng Có thực tế này do nhiều nguyên nhân khách quan lẫnchủ quan nên việc bảo tồn các di sản văn hóa phường An Hoạch vẫn chưa phát huyđược hết các giá trị vốn có của nó.
1.4 Nghiên cứu khoa học đã chỉ ra mối liên hệ mật thiết, tất yếu giữa việcbảo tồn DSVH với phát triển du lịch trong bối cảnh hiện nay, để bảo tồn tốt nghĩa làphải đưa di sản, di tích vào dòng chảy du lịch Ngược lại, du lịch sẽ góp phần nângcao ý thức, trách nhiệm cộng đồng chung tay bảo vệ di sản văn hóa theo tinh thầnLuật Di sản văn hóa của nước ta Đồng thời có khai thác du lịch bền vững thìDSVH vật thể và phi vật thể mới có cơ hội, đúng hơn là có được nguồn kinh phí dồidào để duy trì, bảo tồn, bảo vệ Với cách đặt vấn đề nêu trên, tôi đi đến lựa chọn đề
tài: “Bảo tồn và phát huy hệ thống di sản văn hóa trên địa bàn phường An Hoạch, thành phố Thanh Hóa phục vụ phát triển du lịch” làm đề tài luận văn
Cao học Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp cho sự nhìn nhận, đánh giá về việcbảo tồn, phát huy hệ thống di sản văn hóa ở phường An Hoạch theo cái nhìn quanđiểm khoa học; đề xuất các giải pháp hữu hiệu trên cơ sở gìn giữ lâu dài các tàinguyên địa lý- nhân văn và lịch sử- văn hóa của phường An Hoạch để DSVH nơiđây xứng đáng là một trong những điểm hẹn văn hóa - du lịch nổi tiếng của người
xứ Thanh nói riêng và cả nước nói chung
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
DSVH là một thành tố quan trọng, cấu thành nên văn hóa Diện mạo văn hóacủa một dân tộc dễ nhận ra trước tiên đó chính là những tài sản văn hóa đời trước đểlại cho đời sau Vẻ đẹp giá trị của di sản văn hóa giống như những lớp trầm tích,phù sa bồi lắng của văn hóa trong dòng chảy không gian và thời gian Có lẽ vì thế
mà khi nghiên cứu văn hóa, di sản văn hóa được xem là lĩnh vực hấp dẫn giớinghiên cứu
Trong Hội nghị quốc tế “Bảo vệ di sản văn hóa vật thể và phi vật thể;
Hướng đến phương pháp tiếp cận tổng thể” tổ chức tại Nara, Nhật Bản từ 19 đến
Trang 1023/10/2004, Tuyên bố Yamato về Phương pháp tiếp cận tổng thể trong bảo vệ di sảnvăn hóa vật thể và phi vật thể đã được thông qua Với bản Tuyên bố này, các quanniệm về DSVH đã được nhân loại định nghĩa cụ thể trên phương diện lý luận theoCông ước và Quy chế của UNESCO [63, 64, 65] Đây là những quan điểm cụ thểnhằm giúp nhận diện một cách đúng đắn khoa học về DSVH vật thể và phi vật thểtrên thế giới.
Ở Việt Nam, nghiên cứu về DSVH trước tiên phải kể đến công trình ViệtNam văn hóa sử cương của học giả Đào Duy Anh từ năm 1938 với quan điểm: “Tamuốn trở thành một nước cường thịnh về vật chất, vừa về tinh thần thì phải giữ vănhóa cũ (di sản) làm thế (gốc, nền tảng); mà lấy văn hóa mới làm dụng nghĩa là phảikhéo điều hòa tinh túy của văn hóa phương Đông với những điều sở trường về khoahọc của văn hóa phương Tây” [1, tr 71] Năm 1997, GS.TS Hoàng Vinh hoàn thành
cuốn sách “Một số vấn đề về bảo tồn và phát triển di sản văn hóa dân tộc” Trên cơ
sở những quan niệm khoa học về DSVH của quốc tế và Việt Nam, tác giả đã đưa ramột hệ thống lý luận về DSVH, đồng thời bước đầu vận dụng nghiên cứu DSVHnước ta [69, tr 99] Công trình Một con đường tiếp cận di sản văn hóa do Bộ Vănhóa – Thông tin ấn hành (2006) đã tập hợp nhiều bài nghiên cứu về lý luận DSVH
cũng như thực tiễn, có thể kể đến các bài như: Khảo cổ học với công tác bảo vệ và
phát huy di sản văn hóa (Vũ Quốc Hiền); Bảo tồn di tích, nhân tố quan trọng của phát triển bền vững (Lê Thành Vinh) Theo hướng vai trò của cộng đồng trong bảo
vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa, có các tác giả như: Võ Quang Trọng (2009),Nguyễn Thị Song Hà (2015), Nguyễn Chí Bền (2010), Đặng Văn Bài (2007), TrịnhNgọc Chung (2009) nhấn mạnh giáo dục về di sản văn hóa cho cộng đồng để giúpcộng đồng hiểu biết sâu sắc hơn về quá khứ, nguồn gốc, giúp cộng đồng ý thức hơn
về chính mình, gắn công tác đào tạo với bảo tồn Trong báo cáo đề dẫn hội thảo
khoa học: “Bảo tồn di tích và cuộc sống đương đại”, ngày 16/1/2007, tại Hà Nội của Đặng Văn Bài, với bài viết “Bảo tồn di sản văn hóa trong quá trình phát triển”
tác giả đã chỉ ra rằng việc bảo tồn di sản văn hóa đòi hỏi một sự sáng tạo không
Trang 11ngừng nghỉ và khả năng linh hoạt trong việc vận dụng các nguyên tắc khoa học đểlựa chọn phương án xử lý thích hợp cho từng di tích cụ thể, phải gắn di tích với cuộcsống đương đại, góp phần thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển qua đó mở rộng giao lưuquốc tế Trong cuốn Tạp chí Cộng sản số 20 năm 2003, PGS.TS Nguyễn Văn Huy đã
nghiên cứu “Một số vấn đề bảo tồn và phát huy những di sản văn hóa các dân tộc
hiện nay” Trong bài viết của mình tác giả đã đề cập đến những vấn đề lý luận và
thực tiễn của công tác bảo tồn phát huy di sản văn hóa trên phạm vi cả nước
Ở Thanh Hóa, cũng đã có một số công trình, đề tài nghiên cứu, các chươngtrình phát triển liên quan đến di sản, bảo tồn di sản văn hóa như:
- Đề tài khoa học cấp tỉnh năm 2007:“Nghiên cứu di sản văn hóa truyền
thống Thanh Hóa loại hình tín ngưỡng, phong tục, lễ hội cổ truyền” của Võ Hồng
Hà của Trường Đại học Hồng Đức thực hiện Đề tài đã được nghiệm thu và hệthống hóa được các loại hình DSVH phi vật thể hiện tồn trên địa bàn tỉnh ThanhHóa, tiềm năng và giải pháp để bảo tồn phục vụ giáo dục truyền thống, phát triểnKT- XH tỉnh Thanh Hóa [22]
- Song song với đó, cũng trong năm này, Trường Cao đẳng VH-NT (nay làTrường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch Thanh Hóa) triển khai nghiên cứu đề
tài: “Nghiên cứu di sản văn hóa truyền thống Thanh Hóa loại hình kiến trúc- điêu
khắc” do TS Lê Văn Tạo chủ trì [45] Đây cũng là đề tài nghiên cứu hệ thống về
tiềm năng, thực trạng, giải pháp bảo tồn, phát huy các di tích lịch sử văn hóa, di sảnvăn hóa vật thể tập trung chủ yếu vào các loại hình đình, đền, chùa, lăng mộ trên địabàn tỉnh Thanh Hóa Kết quả của 2 đề tài nghiên cứu này cho ta cái nhìn tương đối
hệ thống về hệ thống DSVH vật thể và phi vật thể của tỉnh Thanh Hóa và một phầntrong số này có liên quan đến phạm vi đề tài nghiên cứu của tác giả như cụm thắngtích núi Nhồi, đền thờ Mãn Quận Công, đền thờ Quan Thánh đế quân nay ở phường
An Hoạch (Tp Thanh Hóa)
Năm 2010, Trường CĐ VH-NT Thanh Hóa tiếp tục triển khai đề tài: Nghiêncứu tiềm năng sản phẩm văn hóa- du lịch phục vụ phát triển KT- XH tỉnh Thanh
Trang 12Hóa [46] Đề tài đã chỉ ra thực trạng và tiềm năng các tài nguyên du lịch của tỉnhThanh Hóa có khả năng khai thác, phục vụ phát triển KT-XH Đặc biệt trong nhómtài nguyên sinh thái, thắng cảnh, thắng tích Núi Nhồi trên địa bàn phường AnHoạch cùng hệ thống DSVH ở đây đã được nhắc đến trong tầm nhìn phát triển dulịch theo hướng kết nối với các tài nguyên khác trên địa bàn thành phố Thanh Hóa.
- Năm 2014, Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức hội thảokhoa học quốc tế: Thanh Hóa và liên kết phát triển du lịch quốc gia, quốc tế [61].Trong hội thảo này có nhiều bài viết về khả năng khai thác, đánh thức tiềm năng dulịch từ hệ thống DSVH trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói chung và thành phố ThanhHóa nói riêng Đặc biệt, có bài viết gợi ý khá mới mẻ về khả năng khai thác làngnghề chế tác đá An Hoạch phục vụ du lịch theo mô hình làng nghề đá ở núi NgũHành Sơn (Đà Nẵng) của hai tác giả Lã Thị Tuyên và Lê Thị Hồng [61, tr 240- 247]
- Một số đề tài lấy di sản văn hóa làm đối tượng nghiên cứu trong quan điểmkết nối, gắn kết với phát triển KT- XH, đặc biệt là phát triển du lịch và xử lý hài hòa
giữa mục tiêu phát triển du lịch với bảo tồn DSVH tiêu biểu như “Nghiên cứu đề
xuất giải pháp phát triển kinh tế - du lịch gắn với bảo tồn phát huy giá trị di sản văn hóa Thanh Hóa trong bối cảnh kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế” (năm
2015) do PGS.TS.Lê Văn Tạo chủ trì, cùng đội ngũ giảng viên chuyên ngành củaTrường Đại học VH,TT&DL Thanh Hóa thực hiện Ở góc độ địa phương, đây đượcđánh giá là đề tài nghiên cứu khá mới mẻ, đáp ứng xu thế chung ở trong nước vàtrên thế giới giai đoạn hiện nay, về việc luận bàn di sản văn hóa trong xu hướng gắnkết, phát triển bền vững với phát triển du lịch
- Ngoài ra, các ấn phẩm chuyên ngành do Ban quản lý Di tích và Danh thắng
Thanh Hóa (nay là Trung tâm Bảo tồn DSVH Thanh Hóa) xuất bản như các tập “Di
tích và Danh thắng Thanh Hóa” (12 tập), địa chí Thanh Hóa và địa chí các huyện
trong tỉnh; các bài viết nghiên cứu về di sản địa phương thuộc các loại hình củanhiều tác giả như: Phạm Tuấn, Phạm Tấn, Hoàng Minh Tường, Trần Thị Liên,Phạm Văn Đấu, các tác giả là giảng viên Trường Đại học Văn hóa, Thể thao và Du
Trang 13lịch,…đều có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về di sản văn hóa trong tỉnh, đặcbiệt đi sâu vào tìm hiểu giá trị của hệ thống di sản trong tỉnh, các đề xuất về kết hợp
di sản văn hóa với khai thác, phục vụ phát triển du lịch
Về các công trình liên quan đến không gian và địa điểm nghiên cứu về di sảnvăn hóa ở thành phố Thanh Hóa nói chung và ở phường An Hoạch nói riêng có thể
kể đến một số công trình như: Đề án “Phát triển du lịch thành phố Thanh Hóa đến năm 2030” của UBND thành phố Thanh Hóa [75], tìm hiểu “về nghề chạm khắc đá
An Hoạch” của tác giả Lê Thị Thảo [50] đã khảo sát chuyên sâu về làng nghề chếtác đá An Hoạch Những nghiên cứu này là các tư liệu khoa học đáng quý cho tácgiả luận văn triển khai nghiên cứu theo mục tiêu của đề tài
Nhìn chung đã có nhiều công trình nghiên cứu về di sản văn hóa trong đó cónhững nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Tuy chưa có một nghiên cứu cụ thểnào về việc bảo tồn và phát huy hệ thống di sản văn hóa ở phường An Hoạch, thànhphố Thanh Hóa, những điều kiện để các di sản văn hóa này phát huy được vai tròcủa nó trong giai đoạn hiện nay Chưa đề ra giải pháp cụ thể cho từng điểm di tíchlịch sử văn hóa hay khu vực danh lam thắng cảnh để bảo tồn, phát huy gắn với pháttriển du lịch của phường An Hoạch Nhưng những công trình này cũng đã cung cấpcách nhìn, cách đánh giá sâu sắc và phong phú để tác giả thực hiện luận văn Caohọc tiếp cận, nghiên cứu sâu hơn trong đề tài của mình
Trang 144 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hệ thống DSVH trên một khu vực hànhchính cụ thể là phường An Hoạch, thành phố Thanh Hóa trong cái nhìn gắn kết vớiphát triển du lịch;
- Về không gian: nghiên cứu trên địa bàn phường An Hoạch
Phạm vi không gian phường An Hoạch được giới hạn như sau:
+ Phía Đông giáp các phường Phú Sơn, Tân Sơn, Đông Vệ và xã Đông Hưng+ Phía Nam giáp xã Đông Hưng
+ Phía Tây giáp xã Đông Tân
+ Phía Bắc giáp xã Đông Tân và phường Phú Sơn
- Về thời gian: Luận văn nghiên cứu về công tác quản lý, bảo vệ, khai thác,phát huy hệ thống DSVH trên địa bàn phường An Hoạch từ năm 2010 đến nay
5 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Nghiên cứu các tài liệu viết về DSVHvật thể và phi vật thể để từ đó phân loại các nguồn tư liệu theo mục đích và nộidung của đề tài nghiên cứu Trong phương pháp này, tác giả luận văn tuân thủphương pháp kế thừa các nguồn sử liệu, tài liệu đã nghiên cứu về công tác bảo tồn,phát huy giá trị hệ thống các DSVH trong nước, trong tỉnh cũng như nghiên cứu về
hệ thống DSVH phường An Hoạch
- Phương pháp điền dã thực địa: Kết hợp với việc nghiên cứu các DSVH vậtthể, phi vật thể qua các tài liệu viết, tác giả đã đi điền dã thực tế tại các điểm di tíchdanh thắng trên địa bàn phường An Hoạch, để khảo sát thực trạng các đền, chùa,tìm hiểu làng nghề, lễ hội, phong tục tập quán nơi đây, tìm hiểu thái độ và sự nhậnthức của địa phương về di sản văn hóa, ý thức bảo vệ, gìn giữ của cộng đồng Đánhgiá mức độ xuống cấp, nguy hại của các loại hình DSVH đang tồn tại ở địa phương
Trang 15- Phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh: Qua việc thu thập, nghiên cứucác tài liệu viết và khảo sát thực tế tại các di tích- danh thắng trên địa bàn phường
An Hoạch tác giả tiến hành tổng hợp, thống kê, phân tích so sánh các công trìnhnghiên cứu, các chính sách của địa phương tác động đến các DSVH để làm căn cứcủng cố cho nhận định khoa học của tác giả luận văn
- Phương pháp chuyên gia: tham vấn chuyên môn, chuyên gia để đưa ra giảipháp bảo tồn, phát huy giá trị các DSVH phường An Hoạch một cách khoa học, hữuhiệu, phù hợp với quan điểm thực tiễn và khoa học chuyên ngành
Nhất quán sử dụng phương pháp nghiên cứu liên ngành trên cơ sở chủ đạocủa phương pháp nghiên cứu các ngành văn hóa học, quản lý văn hóa, du lịch họcnhư lấy phương pháp nghiên cứu ngành quản lý văn hóa làm trọng tâm
6 Những đóng góp của luận văn
Luận văn đưa ra cái nhìn hệ thống, toàn diện về tiềm năng, giá trị và khảnăng bảo tồn, phát huy hệ thống DSVH trên địa bàn phường An Hoạch phục vụphát triển du lịch trong đời sống cộng đồng địa phương hiện nay Đây sẽ là nguồn
tư liệu tham khảo hữu ích cho chính quyền địa phương, cấp ban ngành, đặc biệt làngành văn hóa, thể thao và du lịch địa phương có cái nhìn toàn diện, đúng đắn, khoahọc về hệ thống DSVH nhiều giá trị của phường An Hoạch
Luận văn là tư liệu tham khảo bổ ích về quản lý DSVH nói chung và quản lý,bảo tồn, phát huy hệ thống DSVH ở phường An Hoạch nói riêng
Là nguồn tư liệu hữu ích phục vụ tốt cho hoạt động tuyên truyền, giáo dụctruyền thống, lịch sử cho thế hệ trẻ tại thành phố Thanh Hoá, là tài liệu tham khảocho các cấp quản lý văn hoá ở thành phố Thanh Hoá nói riêng; sở ban ngành củatỉnh nói chung nhằm cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định công tác quản lý,bảo tồn và phát huy DSVH của địa phương phù hợp với thực tiễn cuộc sống và đảmbảo lợi ích của người dân
Trang 167 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu (9 trang), kết luận (2 trang), tài liệu tham khảo (6 trang)
và phụ lục (11 trang), luận văn được bố cục 3 chương gồm, Chương 1: Cơ sở lýluận việc bảo tồn, phát huy giá trị hệ thống DSVH và tổng quan về phường AnHoạch, Tp Thanh Hóa (27 trang), Chương 2: Thực trạng bảo tồn, phát huy giá trị hệthống DSVH phục vụ phát triển du lịch trên địa bàn phường An Hoạch hiện nay (43trang), Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo tồn, phát huy giá trị hệ thốngDSVH trên địa bàn phường An Hoạch phục vụ phát triển du lịch (28 trang)
Trang 17Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN VĂN HÓA
VÀ TỔNG QUAN VỀ PHƯỜNG AN HOẠCH
1.1 Hệ thống khái niệm
1.1.1 Di sản văn hóa
Trong lĩnh vực văn hóa, thuật ngữ di sản văn hóa có lẽ là một thuật ngữ cónhiều định nghĩa nhất, đứng sau thuật ngữ văn hóa với thống kê hàng mấy trăm địnhnghĩa tính cho đến nay Các định nghĩa này được rút ra từ nhiều văn bản được viết
ra bởi nhiều tổ chức, ở những thời kỳ khác nhau, ở nhiều quốc gia khác nhau nhằmcung cấp tài liệu tham khảo căn bản cho Nhóm làm việc về Di sản và Xã hội của tổchức ICCROM (Trung tâm Quốc tế về nghiên cứu Bảo tồn và Bảo quản các tài sảnvăn hóa) trong công tác hoạch định các kế hoạch chiến lược Trong số 60 địnhnghĩa được liệt kê này, có đến 18 định nghĩa do UNESCO đưa ra Các định nghĩacủa tổ chức UNESCO về di sản văn hóa là những định nghĩa được sử dụng phổ biếnnhất trong các công trình nghiên cứu học thuật và trong các văn kiện pháp lý quốc
tế và quốc gia ở nhiều nước liên quan đến di sản và tài sản văn hóa Di sản văn hóađược Công ước Bảo vệ Di sản văn hóa và thiên nhiên của thế giới của UNESCO[63] xác định bao gồm các di tích, quần thể kiến trúc và thắng cảnh Cụ thể là:
Các di tích: Các công trình kiến trúc, điêu khắc hoặc hội họahoành tráng, các yếu tố hay kết cấu có tính chất khảo cổ, các văn bản,các hang động và các nhóm yếu tố có giá trị quốc tế đặc biệt về phươngdiện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học Các quần thể kiến trúc: Các nhómcông trình xây dựng đứng một mình hoặc liên kết nhau có giá trị quốc tếđặc biệt về phương diện lịch sử, nghệ thuật hay khoa học, do kiến trúc,
sự thống nhất hoặc sự nhất thể hóa của chúng vào cảnh quan Các thắngcảnh: Các công trình của con người hoặc những công trình của con ngườikết hợp với các công trình của tự nhiên, cũng như các khu vực, 15 kể cảcác di chỉ khảo cố học, có giá trị quốc tế đặc biệt về phương diện lịch sử,
Trang 18thẩm mỹ, dân tộc học hoặc nhân chủng học [63: Điều 1, Mục I Địnhnghĩa về di sản văn hóa và thiên nhiên]
Cũng trong Công ước này, UNESCO đã phân loại di sản thành di sản vănhóa và di sản thiên nhiên Trong Công ước về Bảo tồn Di sản văn hóa phi vật thể[64], UNESCO định nghĩa khái niệm về di sản văn hóa phi vật thể như sau:
Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hìnhthức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công
cụ, đồ vật, đồ tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà cáccộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân,công nhận là một phần di sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế
hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng
và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường vàmối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồngthời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích
lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dang văn hóa và tính sáng tạo của conngười Di sản văn hóa phi vật thể được thể hiện dưới các hình thức sau:a) các truyền thống và biểu đạt truyền khẩu, trong đó ngôn ngữ làphương tiện của di sản văn hóa phi vật thể; b) nghệ thuật trình diễn; c)tập quán xã hội, tín ngưỡng và các lễ hội; d) tri thức và tập quán liênquan đến tự nhiên và vũ trụ; e) nghề thủ công truyền thống [65: Điều 2,Mục I Các điều khoản chung]
Luật Di sản văn hóa số 28/2001/QH10 quy định rằng di sản văn hóa, baogồm di sản văn hóa vật thể và di sản văn hóa phi vật thể, là sản phẩm tinh thần, vậtchất, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệkhác Theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Di sản văn hóa số 32/2009/QH12 (Điều 1), di sản văn hóa phi vật thể được quy định là “sản phẩm tinh thần gắnvới cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch
sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo vàđược lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, 16 truyền nghề,trình diễn và các hình thức khác” (Theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật
Trang 19di sản văn hóa số 32/2009/QH12, ngày 18/06/2009) Theo Luật Di sản văn hóa ViệtNam số 28/2001/QH10 di sản văn hóa vật thể cần được hiểu như là “sản phẩm vậtchất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danhlam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.” [41: Điều 4, Chương 1] Như vậy,
ở Việt Nam, di sản văn hóa được thống nhất chia thành hai nhóm: vật thể và phi vậtthể, tương đồng với cách phân nhóm di sản văn hóa của UNESCO và nhiều tổ chứcvăn hóa khác trên thế giới
Trong thực tế, không phải lúc nào cũng có thể phân loại rõ ràng rằng di sảnnày thuộc hoàn toàn loại này hay loại kia Một điểm di sản không đơn giản hoàntoàn là văn hóa hoặc thiên nhiên, thậm chí là vật thể hay phi vật thể Nhiều điểm disản thiên nhiên như là các công viên quốc gia ở nhiều nước cũng có các thành tốliên quan đến hoạt động của con người Một số điểm di sản khác như là di chỉ kiếntrúc, di chỉ khảo cố học, đồ tạo tác hoặc di tích có thể hiển hiện và được nhìn thấynhư là những tài sản vật thể, thế nhưng lịch sử của chúng, giá trị thẩm mỹ, kiểu kiếntrúc, các câu chuyện và con người gắn kèm với mỗi di sản lại là những di sản phivật thể đi cùng với những biểu hiện vật chất Nhiều tài sản khác rõ ràng là một tổngthể phức hợp của các yếu tố văn hóa vật thể và phi vật thể Chính sự không rõ ràngnày tạo nên sự đa dạng trong phương thức biểu hiện của di sản Hiểu rõ về bản chấtcủa một điểm di sản, thiên nhiên, văn hóa hay hỗn hợp, là điều cần thiết nhất để cóthể thiết kế ra được các mục tiêu, kế hoạch và phương tiện phù hợp cho công tácbảo tồn và phát triển di sản đó
Mỗi cách phân loại có cơ sở lập luận riêng khi nhóm loại di sản, tuy nhiên,tất cả các công trình này đều thống nhất chung ở một điểm là khẳng định giá trị vănhóa đặc sắc của di sản ở mọi vùng miền và quốc gia trên thế giới Bản thân từ di sản
đã hàm nghĩa một thứ gì đó được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, đóngvai trò chuyên chở các giá trị lịch sử từ quá khứ và giao các giá trị này cho thế hệhiện tại như một phần của truyền thống văn hóa của một xã hội Giá trị của di sảnđối với một xã hội là không thể phủ nhận về mọi mặt, từ lịch sử, văn hóa, thẩm mỹ,giáo dục và rõ ràng là về cả mặt kinh tế khi đặt di sản trong mối quan hệ với du lịchvăn hóa/du lịch di sản Như vậy, quản lý di sản văn hóa một cách hợp lý là điều cốt
Trang 20lõi để một xã hội có thể lưu giữ được các tài sản văn hóa của mình cho thế hệ ngườidân hiện tại và tương lai.
Ở Việt Nam, di sản văn hóa là chủ đề của nhiều công trình nghiên cứu vănhóa và được nhiều nhà khoa học định nghĩa Năm 1938 học giả Đào Duy Anh đã đềcập đến quan niệm di sản trong nhận định về vai trò của nhân tố nội sinh trong sựgiao lưu tiếp biến văn hóa bản địa: “Ta muốn trở nên một nước cường thịnh vừa vềvật chất, vừa về tinh thần thì phải giữ văn hóa cũ (di sản) làm thể; mà lấy văn hóamới làm dụng, nghĩa là phải khéo điều hòa tinh túy của văn hóa Phương Đông vớinhững điều sở trường về khoa học và kỹ thuật của văn hóa Phương Tây” [1, tr.71]
GS Hoàng Vinh nhận định:
Những thành tựu của những hoạt động sáng tạo (những hoạt động sáng tạonày sinh ra hiểu biết, kinh nghiệm sống, đúc kết thành truyền thống, thị hiếu, giátrị…), bất kể là vật thể hay phi vật thể, hữu hình hay vô hình, qua thời gian sànglọc, thử thách, kết tinh lại thành di sản văn hóa [69, tr.99]
Nhà nghiên cứu Lưu Trần Tiêu cho rằng:
Di sản văn hóa là toàn bộ những sản phẩm vật chất (hay còn gọi là vật thể)
và tinh thần (hay còn gọi là phi vật thể), có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, do conngười sáng tạo và tiếp nhận trong điều kiện lịch sử, văn hóa, kinh tế - xã hội củamình, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác [57, tr.2]
Tóm lại, di sản văn hóa là những tài sản vô giá, có vai trò gắn kết cộng đồngdân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, là cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và làtiền đề cho hội nhập và giao lưu văn hóa Chính vì lẽ đó, việc bảo tồn, kế thừa vàphát huy những giá trị tốt đẹp của di sản văn hóa trong đời sống xã hội là một việclàm có ý nghĩa, góp phần vào sự phát triển bền vững của các quốc gia, dân tộc
1.1.2 Bảo tồn di sản văn hóa
Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật hiện tượng theo dạngthức vốn có của nó Bảo tồn DSVH là một khái niệm có nội hàm rộng (cả đốitượng DSVH vật thể và di sản văn hóa phi vật thể) do có sự khác nhau cơ bản về
Trang 21mặt kỹ thuật và quan điểm Bảo tồn là giữ lại, không để mất đi, không để bị thay
đổi, biến hóa hay biến thái Theo cách hiểu biết phổ biến thì Bảo tồn di sản văn
hóa là tất cả những nỗ lực nhằm hiểu biết về lịch sử hình thành, ý nghĩa của di sản văn hóa nhằm bảo đảm sự an toàn, phát triển lâu dài cho di sản văn hóa và khi cần đến phải đảm bảo việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục và tôn tạo lại để khai thác khả năng phục vụ cho hoạt động tiến bộ của xã hội Giữa bảo tồn và
phát huy DSVH luôn gắn kết chặt chẽ biện chứng Đó là hai lĩnh vực thống nhất,tương hỗ, chi phối ảnh hưởng qua lại trong hoạt động giữ gìn tài sản văn hóa.Bảo tồn DSVH thành công thì mới phát huy được các giá trị văn hóa Phát huycũng là một cách bảo tồn DSVH tốt nhất
Công tác bảo tồn DSVH có nhiều cấp độ khác nhau, bao gồm các hoạtđộng: bảo tồn nguyên trạng, trùng tu, gia cố, tái định vị, phục hồi, tái tạo - làmlại, qui hoạch bảo tồn
Đến nay trên thế giới vẫn thừa nhận 2 quan điểm phổ biến đối với bảo tồn
di sản văn hóa là: bảo tồn nguyên vẹn và bảo tồn kế thừa Quan điểm củaUNESCO năm 1972 nghiêng về “bảo tồn nguyên vẹn”, tức là di sản văn hóa bị
“đóng gói” và bảo vệ trong môi trường khép kín để tránh mọi tác động bên ngoàilàm phương hại đến chúng Khuynh hướng này mang lại một số kết quả rất đángquan tâm, như các công trình kiến trúc vẫn tồn tại dù trải qua một giai đoạn thờigian rất dài Tuy nhiên, văn hóa nói chung trong đó có DSVH luôn gắn bó tồntại song song với đời sống, con người, với môi trường xã hội Do đó, nó luôntrong tình trạng giao lưu, tiếp biến, biến đổi để phù hợp với mọi thay đổi củacuộc sống Bởi vậy, bảo tồn theo khuynh hướng này bộc lộ hạn chế, làm choDSVH không phát huy hết giá trị
Đối với quan điểm bảo tồn trên cơ sở kế thừa cũng cần phải có những điềuchỉnh trong tình hình hiện nay sao cho phù hợp Di sản văn hóa có sức sốngmãnh liệt, có giá trị, có nền tảng vững chắc do được chắt lọc, chưng cất, đượcthử thách qua nhiều bước thăng trầm của lịch sử Theo quy luật kế thừa thìnhững DSVH nào tồn tại trong đời sống xã hội, nếu không phù hợp với hệ giá trị
Trang 22xã hội tại thời điểm lịch sử hiện tại thì sẽ bị triệt tiêu và vĩnh viễn biến mất Nếulấy quan điểm này làm quan điểm bảo tồn độc lập thì chúng ta sử dụng hệ giá trịhôm nay làm thước đo sự thay đổi các sản phẩm văn hóa truyền thống, khuynhhướng thả nổi sẽ đẩy nhanh quá trình làm biến dạng các tiêu chí và chuẩn mựcvốn đó được định hình trong DSVH.
Nguyên tắc quan trọng của bảo tồn DSVH là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tạicủa DSVH theo dạng thức vốn có Bảo tồn đồng nghĩa với không để DSVH maimột, bị thay đổi, biến dạng Xuất phát từ sự duy trì ý nghĩa văn hóa của DSVH
mà trong hoạt động bảo tồn không chấp nhận việc cải biến, nâng cao hay pháttriển Di sản văn hóa cần được xem là tinh hoa văn hóa, do vậy việc khẳng địnhgiá trị đích thực dưới những thể trạng và hình thức khác nhau cũng như khả năngtồn tại theo thời gian của nó là điều quan trọng
Quan điểm lựa chọn bảo tồn DSVH hợp lý là việc lựa chọn, bảo vệ, giữgìn những giá trị từ quá khứ đến hiện tại, cái được bảo tồn tất yếu phải phù hợpvới thời đại, chứa đựng những khả năng có thể được làm giàu thêm về giá trị và
có thể tiếp tục được phát huy, phát triển vì lợi ích của cộng đồng, xã hội, vì sựphát triển của văn hóa
Không có một hình thức, phương pháp chung nào có thể áp dụng cho việcbảo tồn tất cả các loại hình DSVH do sự đa dạng, phong phú của DSVH Sự đadạng đó cũng biểu hiện trong các điều kiện không gian và thời gian mà DSVHtồn tại và phát huy tác dụng, giá trị lịch sử, Nghiên cứu khoa học văn hóa vềDSVH là tìm ra cách lựa chọn bảo tồn có ý thức, thích hợp và đảm bảo các khảnăng lan tỏa ý nghĩa văn hóa trong cộng đồng, phát huy giá trị của DSVH vàođời sống tinh thần cộng đồng, là động lực cho sự phát triển
1.1.3 Phát huy giá trị di sản văn hóa
Phát huy được hiểu là những tác động làm cho cái hay, cái đẹp, cái tốt tỏatác dụng và tiếp tục nảy nở từ ít đến nhiều, từ hẹp đến rộng, từ đơn giản đếnphức tạp Có thể nói, phát huy chính là việc khai thác, sử dụng sản phẩm một
Trang 23cách có hiệu quả Phát huy giá trị di sản văn hóa là một hoạt động có tính liên
ngành, có tiêu chí chung, mục đích là phục vụ cho sự tiến bộ của xã hội, gúp phần giáo dục truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, đồng thời là nhịp cầu nối với bạn bè năm châu Do tính đa dạng của DSVH nên cách
thức phát huy từng DSVH có thể khác nhau ở từng thời điểm khác nhau, tùythuộc vào đặc điểm văn hóa của từng vùng cũng như nhận thức của chủ thể tổchức các hoạt động phát huy cũng như cộng đồng, nhưng nguyên tắc cao nhấtcủa phát huy DSVH là phải dựa vào những giá trị hiện có của DSVH, tôn vinhgiá trị và phát triển những tinh hoa của giá trị DSVH vì lợi ích cộng đồng cũngnhư sự phát triển văn hóa
Mục đích quan trọng nhất của hoạt động phát huy giá trị DSVH là làm chocác ý nghĩa văn hóa, tinh hoa các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp lan tỏa vàocộng đồng, tiếp tục duy trì sức sống của nó trong đời sống tinh thần cộng đồng,góp phần quan trọng vào hoạt động giáo dục truyền thống và đặc biệt là giữ gìnbản sắc dân tộc trong thế giới tôn trọng đa dạng văn hóa hôm nay, tạo cơ sở, bảnlĩnh cho giao lưu, tiếp biến, phát triển văn hóa, phục vụ cho sự tiến bộ xã hội
Trong phương pháp nhằm phát huy tốt nhất giá trị của DSVH thì phươngpháp kết hợp giữa bảo tồn và phát huy đạt hiệu quả cao Nếu chúng ta chỉ bảotồn, không sử dụng, không đưa các giá trị văn hóa vào cuộc sống thì không thểphát huy DSVH và thời gian sẽ làm di sản mai một đi, có thể rơi vào tình trạng
bị lãng quên Chỉ khi giá trị các di sản văn hóa được phát huy thì chúng ta mới
có cơ sở, căn cứ làm điều kiện để bảo tồn
1.1.4 Du lịch
Du lịch đã trở thành một trong những hình thức sinh hoạt khá phổ biến củacon người trong thời đại ngày nay Nhà nước ta đã xác định du lịch là một ngànhkinh tế tổng hợp quan trọng, mang nội dung văn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liênvùng và xã hội hóa cao; phát triển du lịch nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, giải trí,nghỉ dưỡng của nhân dân và khách du lịch quốc tế, góp phần nâng cao dân trí, tạoviệc làm và phát triển kinh tế, xã hội của đất nước
Trang 24Theo Luật du lịch Việt Nam ban hành ngày 19/6/2017: Du lịch là các hoạt
động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định [42: Điều 3, chương I].
Các hoạt động du lịch liên quan một cách chặt chẽ với môi trường (bao gồm
cả môi trường tự nhiên và môi trường nhân văn) và chủ yếu thông qua tài nguyên
du lịch, tài nguyên ấy chính là di sản văn hóa trong đó di tích và danh thắng là nhân
tố cơ bản Luật Du lịch (2017) cũng cho rằng: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan
thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch Tài nguyên
du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch văn hóa” [42, tr.
7] Như vậy có thể thấy du lịch là một trong những ngành kinh tế có định hướng tàinguyên rõ rệt, đổng thời cũng rất nhạy cảm với sự biển đổi của môi trường Tàinguyên du lịch ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến việchình thành, chuyên môn hóa các vùng du lịch và hiệu quả kinh tế của hoạt độngdịch vụ, còn môi trường sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng các sản phẩm dulịch, đến sức hấp dẫn của du lịch Điều đó có nghĩa là hoạt động phát triển du lịchluôn gắn liền với việc khai thác các tiềm năng tài nguyên môi trường tự nhiên cũngnhư các giá trị văn hóa, nhân văn; sự xuống cấp của môi trường đổng nghĩa với sự
đi xuống của hoạt động du lịch
1.1.5 Phát triển du lịch bền vững
Phát triển du lịch bền vững theo quan điểm của Luật Du lịch (2017) là: “Sựphát triển du lịch đáp ứng đồng thời các yêu cầu về kinh tế - xã hội và môi trường,bảo đảm hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia hoạt động du lịch, không làm tổn
hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu về du lịch trong tương lai” [42, tr 7] Hay nói một
cách đơn giản nhất, du lịch được coi là phát triển bền vững khi nền du lịch đó tốtcho đất nước lúc này và còn bền vững dài lâu mai sau Trong việc phát triển du lịchbền vững thì Mạng lưới Tổ chức Du lịch Thế giới của Liên Hợp Quốc (United
Trang 25Nation World Tourism Organization Network - UNWTO) chỉ ra rằng, muốn hướngđến phát triển du lịch bền vững thì cần phải:
- Về môi trường: Sử dụng tốt nhất các tài nguyên môi trường đóng vai tròchủ yếu trong phát triển du lịch, duy trì quá trình sinh thái thiết yếu, và giúp duy trì
di sản thiên nhiên và đa dạng sinh học tự nhiên
- Về xã hội và văn hóa: Tôn trọng tính trung thực về xã hội và văn hóa củacác cộng đồng địa phương, bảo tồn DSVH và các giá trị truyền thống đã được xâydựng và đang sống động, và đóng góp vào sự hiểu biết và chia sẻ liên văn hóa
- Về kinh tế: Bảo đảm sự hoạt động kinh tế tồn tại lâu dài, cung cấp nhữnglợi ích kinh tế xã hội tới tất cả những người hưởng lợi và được phân bổ một cáchcông bằng, bao gồm cả những nghề nghiệp và cơ hội thu lợi nhuận ổn định vàcác dịch vụ xã hội cho các cộng đồng địa phương, và đóng góp vào việc xóa đóigiảm nghèo
Trên thực tế, nước ta với hệ thống DSVH phong phú, đa dạng và nhiều giátrị, các địa phương hoàn toàn có lợi thế gắn kết việc bảo tồn DSVH với phát triển
du lịch để vừa phục vụ tốt mục tiêu gìn giữ và bảo vệ giá trị tốt đẹp của nền văn hóaViệt Nam cũng như khai thác, phát huy hữu hiệu hệ thống này nhằm tăng cườngnguồn tài chính cho đất nước, địa phương
1.2 Quan điểm của Đảng, chính sách của Nhà nước về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa
Thành công của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã lập ra nước Việt NamDân chủ Cộng Hòa Giữa bối cảnh sau chiến tranh, đất nước còn gặp khó khăn,thử thách và nhiều nhiệm vụ chính trị cần được quan tâm thực hiện hàng đầu.Đảng và Nhà nước ta đã xác định xây dựng văn hóa là nhiệm vụ then chốt quantrọng và vấn đề giữ gìn di sản văn hóa dân tộc được đặt ra thực hiện Ngày23/11/1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký và công bố Sắc lệnh số 65/SL về bảo tồn cổtích trên toàn cõi Việt Nam
Trang 26Ngày 29/10/1957, Nghị định số 519-TTg về bảo vệ di tích lịch sử và danhlam thắng cảnh do Thủ tướng Chính phủ công bố đã tạo điều kiện cho ngành Vănhóa thông tin tiến hành kiểm kê phổ thông các di tích lịch sử văn hóa và danh lamthắng cảnh ở các tỉnh và thành phố toàn miền Bắc; giúp bảo vệ những di tích quantrọng nhất của đất nước như Đền Hùng, cổ Loa, Văn Miếu, Bãi Cọc Bạch Đằng;xây dựng được hệ thống bảo tàng Cách mạng Việt Nam, Bảo tàng Quân đội, Bảotàng Hải Phòng, Bảo tàng Việt Bắc và nhiều bảo tàng khác ở cơ sở.
Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh do Hộiđồng Nhà nước công bố ngày 31/3/1984, đó chứng tỏ sự quan tâm của Đảng vàChính phủ đối với công tác giữ gìn di sản văn hóa của dân tộc
Công cuộc đổi mới là một bước ngoặt quan trọng trong sự nghiệp phát triểnđất nước Những thay đổi sâu sắc nhất bắt đầu từ lĩnh vực kinh tế, ở đó, thay vì nềnkinh tế quan liêu, bao cấp, Đảng và Nhà nước ta đó chủ trương thực hiện phát triểnnền kinh tế thị trường - nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường, có nhiều thànhphần tham gia theo định hướng xã hội chủ nghĩa Để có những thay đổi mang tínhchất cách mạng trong đời sống chính trị - kinh tế - xã hội và văn hóa, Đảng và Nhànước ta đó ban hành hàng loạt các chủ trương, định hướng, luật, chính sách; nhữngvăn bản có tác động sâu sắc đến quá trình giữ gìn bảo vệ và phát triển của di sảnvăn hóa
Năm 1986, trong Nghị quyết Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VIđưa ra khái niệm Bản sắc văn hoá dân tộc Hiến pháp Nước Cộng Hòa Xã Hội ChủNghĩa Việt Nam năm 1992 đã quy định trách nhiệm của Nhà nước và xã hội trongbảo tồn, phát triển nền văn hóa Việt Nam dân tộc, hiện đại, nhân văn; kế thừa vàphát huy những giá trị của nền văn hiến các dân tộc Việt Nam, tư tưởng, đạo đức,phong cách Hồ Chí Minh; tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; phát huy mọi tàinăng sáng tạo trong nhân dân
Tháng 11 năm 1993, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII họp Hộinghị lần thứ 4 đó dành riêng một Nghị quyết về một số nhiệm vụ văn hóa văn nghệ
Trang 27trong những năm trước mắt Trong sáu định hướng về công tác tư tưởng, có mộtđịnh hướng lớn là phát triển văn hóa với hai nội dung cơ bản là phát huy bản sắcvăn hóa dân tộc và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại.
Tháng 7 năm 1998, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương 5 (khoá VIII) raNghị quyết về xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.Toàn bộ tinh thần của Nghị quyết đó làm sáng lên bức tranh của nền văn hoá đấtnước trong tương lai Đó là nền văn hoá với vai trò là nền tảng tinh thần của xã hội, làmục tiêu, động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển, gắn với sự nghiệp công nghiệphóa - hiện đại hóa đất nước, gắn với những vấn đề nảy sinh trong xu thế toàn cầu hoá
và nền kinh tế thị trường Đây là nghị quyết về chiến lược văn hóa của Đảng ta trongthời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa và toàn cầu hóa Nghị quyết nhấnmạnh phương hướng chung của sự nghiệp văn hóa nước ta là phát huy chủ nghĩa yêunước và truyền thống đại đoàn kết dân tộc, ý thức độc lập tự chủ, tự cường xây dựng
và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, tiếp thu tinhhoa văn hóa nhân loại, làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hành động
xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, từng địa bàn dân
cư, vào mỗi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người, tạo ra trên đất nước ta đời sốngtinh thần cao đẹp, trình độ dân trí cao, khoa học phát triển, phục vụ đắc lực sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh xã hội công bằng vănminh, tiến bước vững chắc lên chủ nghĩa xã hội [13, tr 54]
“Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốtlõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưuvăn hóa Hết sức coi trọng bảo tồn, kế thừa, phát huy những giá trị vănhóa truyền thống (bác học và dân gian), văn hóa cách mạng, bao gồm cảvăn hóa vật thể và phi vật thể” [13, tr 371]
Trên tinh thần Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII, hàng loạt các giải phápxây dựng và phát triển văn hóa, nâng cao đời sống tinh thần cho người dân đã rađời Chỉ thị số 27-CT/TW ngày 12/01/1998, của Bộ Chính trị, Ban Chấp hànhTrung ương Đảng về việc thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ
Trang 28hội; Chỉ thị số 14/1998/CT-TTg ngày 28/3/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việcthực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới hỏi, việc tang, lễ hội đã dẫn đến việc
ra đời Thông tư số 04/1998/TTg-BVHTT ngày 11/7/1998 của Bộ Văn hóa thông tinhướng dẫn thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội Hệ thốngpháp luật có liên quan đến di sản văn hóa truyền thống, như những văn bản được cụthể hóa bằng các luật như Luật Di sản văn hóa, bằng các quy chế như Quy chế tổchức lễ hội Bên cạnh đó, Chính phủ cũng đó tiến hành đầu tư qua Chương trìnhQuốc gia có mục tiêu về văn hóa cho việc nghiên cứu, sưu tầm, phục hồi các giá trị disản văn hóa, nhờ đó, huy động được sự quan tâm của cộng đồng đối với các DSVH
Ngày 19/1/1993, Thủ tướng Chính phủ ra Quyết định số 25/TTg về các chínhsách nhằm xây dựng và đổi mới sự nghiệp văn hóa nghệ thuật, trong đó xác địnhphát triển văn hóa truyền thống mang bản sắc dân tộc Việt Nam là trách nhiệm,nghĩa vụ của toàn dân
Tại văn bản số 4739/KG - TW ngày 26/8/1994, Thủ tướng Chính phủ đó chophép Bộ văn hóa thông tin triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia Đây là sự thểhiện một sự đầu tư đúng hướng, trên cơ sở các định hướng chính sách đúng đắn củaĐảng và Nhà nước đối với sự nghiệp bảo vệ và phát huy di DSVH
Để triển khai Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ươngkhóa VIII và các quyết định của Chính phủ trong lĩnh vực di sản văn hóa, Bộ Vănhóa Thông tin đó ban hành:
- Công văn số 4432/VHTT-BTBT ngày 20/10/1998 của Bộ văn hóa thôngtin hướng dẫn tăng cường quản lý cổ vật
- Công văn số 488/2/VHTT-BTBT ngày 18/11/1988 của Bộ văn hóa thôngtin hướng dẫn việc đăng ký kiểm kê, bảo vệ di tích lịch sử, văn hóa và danh lamthắng cảnh
- Chỉ thị số 60/CT-BVHTT ngày 6/5/1999 của Bộ trưởng Bộ văn hóa thôngtin về việc tăng cường quản lý và bảo vệ di tích
Đến Đại hội IX, những tư tưởng chủ yếu của Đảng về phát triển văn hoá tiếptục được thể hiện trên cơ sở thực tiễn thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóaVIII; nhấn mạnh vị trí, vai trò của văn hoá trong lịch sử phát triển của dân tộc ta;
Trang 29khẳng định sức sống lâu bền của những quan điểm, tư tưởng nêu trong nghị quyếtTrung ương 5 khóa VIII trong đời sống xã hội, trong sự nghiệp xây dựng và phát
triển đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta Về ý nghĩa “văn
hoá là nền tảng tinh thần của xã hội”, Nghị quyết nhấn mạnh đó là tầm cao, chiều
sâu của sự phát triển của dân tộc, khẳng định và làm rõ vị trí của văn hoá trong đờisống dân tộc, trong cách mạng xã hội chủ nghĩa Tại hội nghị Trung ương 10 khoá
IX, Ban Chấp hành Trung ương đã tổ chức kiểm điểm 5 năm thực hiện Nghị quyếtTrung ương 5 khoá VIII và ra kết luận tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp xây dựng vàphát triển văn hoá làm nền tảng tinh thần xã hội, gắn kết và đồng bộ với phát triểnkinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt [14]
Đại hội X, Đảng xác định tiếp tục phát triển sâu rộng, nâng cao chất lượngnền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc Gắn kết chặt chẽ hơn vớiphát triển kinh tế xã hội Làm cho văn hoá thấm sâu và mọi lĩnh vực đời sống xãhội Xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con người Việt Nam Bảo vệ và pháthuy bản sắc văn hoá dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhậpkinh tế quốc tế Bồi dưỡng các giá trị văn hoá trong thanh niên, sinh viên, học sinh,đặc biệt là lý tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hoáViệt Nam Đầu tư cho việc bảo tồn, tôn tạo các di tích lịch sử cách mạng, khángchiến, di sản văn hóa vật thể, phi vật thể Kết hợp hài hoà giữa bảo tồn, phát huy với
kế thừa và phát triển, giữ gìn di tích với phát triển kinh tế du lịch, tinh thần tựnguyện, tính tự quản của nhân dân trong xây dựng văn hoá [15]
Đại hội XI, nhiệm vụ chăm lo phát triển văn hóa được đúc kết cô đọng hơn, cụthể hơn, tập trung vào 4 nội dung quan trọng, trong đó nhiệm vụ thứ hai là: Phát triển
sự nghiệp văn học, nghệ thuật; bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn hóa truyềnthống, cách mạng Theo đó, tiếp tục phát triển nền văn học, nghệ thuật Việt Nam tiêntiến, đậm đà bản sắc dân tộc, giàu chất nhân văn, dân chủ, vươn lên hiện đại, phảnánh chân thật, sâu sắc đời sống, lịch sử dân tộc và công cuộc đổi mới đất nước [71]
Đối với văn học, nghệ thuật hay bảo tồn phát huy các di sản văn hóa cũngphải có mục tiêu cụ thể, nhằm đạt tới kết quả cuối cùng là có giá trị tư tưởng vànghệ thuật cao, thực sự phát huy chức năng giáo dục, định hướng thẩm mỹ cho côngchúng, nâng cao ý thức dân tộc, trách nhiệm của mỗi người với những giá trị đó
Trang 30Luật Di sản văn hóa được Quốc hội khóa 10, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày14/6/2001, có hiệu lực từ ngày 01/01/2002 là cơ sở pháp lý cao nhất nhằm bảo vệ vàphát huy giá trị di sản văn hóa ở Việt Nam Các khái niệm, nội dung của di sản vănhóa; phạm vi, đối tượng điều chỉnh của luật; chính sách biện pháp chủ yếu của Nhànước nhằm bảo vệ di sản; trách nhiệm của cơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân vàcủa toàn xã hội trong việc bảo vệ DSVH dân tộc; giải thích các từ ngữ về di sản vănhóa và bảo vệ, phát huy di sản văn hóa; xác định quyền sở hữu toàn dân do Nhànước thống nhất quản lý và các hình thức sở hữu khác đối với DSVH; những mụcđích sử dụng và phát huy giá trị DSVH; các điều cấm nhằm bảo vệ DSVH đó được
đề cập đến Bên cạnh đó, trong văn bản luật này có các chương đề cập đến quyền vànghĩa vụ của tổ chức, cá nhân đối với DSVH; việc bảo vệ và phát huy giá trị DSVHphi vật thể; DSVH vật thể; việc quản lý Nhà nước về DSVH; việc khen thưởng và xử
lý vi phạm; và các điều khoản thi hành
Quy hoạch tổng thể Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử văn hóa vàdanh lam thắng cảnh đến năm 2020 đã được Bộ Trưởng Bộ văn hóa thể thao kýQuyết định phê duyệt số 1706/QĐ-BVHTT ngày 24/7/2001, kèm theo danh sách 32
di tích ưu tiên đầu tư chống xuống cấp và tôn tạo đến năm 2020 Dự án này đóngvai trò quan trọng trong việc định hướng các dự án cụ thể bảo tồn và phát huy giá trị
di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh ở nước ta hiện nay
1.3 Vai trò của di sản văn hóa đối với phát triển du lịch
Di sản văn hóa là nguồn lực cho phát triển du lịch Văn hóa có vai trò đặcbiệt quan trọng đối với sự phát triển toàn diện của đất nước về chính trị, kinh tế, xãhội trong đó có du lịch, một ngành kinh tế quan trọng trong chiến lược phát triểnkinh tế - xã hội của nước ta trong kỷ nguyên mới
Nhiều người cho rằng, nếu không có truyền thống, vẻ đẹp độc đáo, những giátrị của các công trình kiến trúc, văn hóa thì du lịch Việt Nam sẽ không thể phát triểnmạnh, sẽ mất đi tính hấp dẫn riêng Trong Luật Du lịch 2005 nói rõ: “cảnh quanthiên nhiên, yếu tố tự nhiên, di tích lịch sử - văn hóa, công trình lao động sáng tạocủa con người và các giá trị nhân văn khác có thể sử dụng nhằm đáp ứng nhu cầu dulịch, là yếu tố cơ bản để hình thành các khu du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch [42,
Trang 31điều 3 chương 1, tr 7] Có thể nói, phần lớn các tài nguyên du lịch được tạo dựngbởi các giá trị văn hóa, các công trình kiến trúc, điêu khắc, lễ hội truyền thống của dân tộc trong sự gắn bó với môi trường tự nhiên và xã hội.
Bên cạnh đó, DSVH (tài nguyên du lịch) còn gắn trực tiếp với tiến trình lịch
sử của đất nước, với truyền thống văn hóa của dân tộc qua các thời kỳ lịch sử khácnhau Như vậy, đối với du lịch, đặc biệt đối với du lịch bền vững, DSVH trở thànhtài nguyên tạo nên tính hấp dẫn và chiều sâu nhất đối với du lịch Và sở dĩ du lịch làmột ngành kinh tế có sức hút mạnh mẽ là bởi nó hàm chứa nội dung văn hóa sâu sắc
và phong phú
Di sản văn hóa mang dấu ấn của quá khứ và nó làm phong phú thêm chonguồn tài nguyên du lịch nhân văn Trong đó các di tích, lễ hội là mảng quan trọngcủa DSVH và khi trở thành sản phẩm văn hóa du lịch thì giá trị khai thác không cạnkiệt mà ngày càng gia tăng theo thời gian Thực tế là những di tích sau khi được tu
bổ đã thúc đẩy sự phát triển của du lịch, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế của địaphương và mang lại nhiều lợi ích thiết thực cho cộng đồng dân cư như tại Cố đôHuế, phố cổ Hội An, thánh địa Mỹ Sơn
Ngày nay, xu hướng du lịch sinh thái, du lịch cảnh quan và du lịch văn hóađang trở thành những loại hình du lịch chủ yếu Ở nhiều nước trên thế giới, kinhnghiệm cho thấy rằng nếu quốc gia nào có truyền thống văn hóa lâu đời, có nhiều disản văn hóa thì quốc gia đó sẽ là điểm đến hấp dẫn
Di sản văn hóa còn góp phần cấu thành nên môi trường văn hóa cho hoạtđộng du lịch Văn hóa làm cho khách du lịch sung sướng, thỏa mãn, vừa lòng, cónhững tình cảm tốt lành, những kỷ niệm đẹp cho du khách sau những chuyến đi thú
vị Văn hóa cung cấp tri thức, phép ứng xử văn minh lịch sự cho hoạt động du lịch
Tóm lại, vai trò quan trọng của phát triển du lịch ở các điểm di sản là khôngphải bàn cãi qua những thừa nhận của nhiều nhà hoạt động và nhiều nhà nghiên cứutrong lĩnh vực này Đồng thời, họ cũng nhận thức rất rõ được những mặt trái của dulịch văn hóa Mối quan hệ giữa phát triển du lịch và quản lý DSVH không chỉ đơn
Trang 32giản là mối quan hệ cung - cầu hoặc sản xuất - tiêu thụ Mối quan hệ này phức tạphơn nhiều vì cái cốt lõi trong đó là DSVH, một tài sản rất quan trọng và không thểtái tạo lại được của con người đòi hỏi sự quan tâm, cân nhắc hơn so với các sảnphẩm khác Về mặt lý thuyết, du lịch tốt cho sự phát triển kinh tế và bảo tồn di sản;thế nhưng trong thực tế, du lịch là một con dao hai lưỡi đối với cộng đồng và vớiviệc quản lý DSVH ở một vùng, một địa phương.
1.4 Tổng quan về phường An Hoạch, thành phố Thanh Hóa
1.4.1 Khái quát về đơn vị hành chính và các điều kiện tự nhiên
Mặc dù chỉ là một đơn vị hành chính cấp xã, phường nhưng địa danh AnHoạch lại có quá trình lịch sử lâu đời và là một trong những vùng đất cổ của xứThanh Nằm về phía trung tâm của khu vực đồng bằng tỉnh Thanh Hóa Tài liệu
thành văn sớm nhất có nhắc đến địa danh An Hoạch là An Hoạch sơn Báo Ân tự bi
ký, niên đại 1100 Trong tấm bia này, tên gọi An Hoạch xuất hiện với tư cách là một
dãy, ngọn núi Thực tế, An Hoạch là một dãy núi lớn bao quanh phía Tây Nam đôthị Thanh Hóa gồm 3 núi chính là: núi Nhồi (hay núi Vọng Phu), núi Đống và núi
Nấp Trong cuốn Đại Việt sử ký toàn thư có chép sự kiện năm Quang Thái thứ 3 (1390), vua Trần: “sai thợ đá ở An Hoạch mở cửa hang núi Thiên Kiện và hang núi
Khuẩn Mai để lấy tiền của chôn ở đó khi trước” [66, tr 181].
Các tài liệu cho biết, thời thuộc Hán, vùng đất này thuộc huyện Cư Phong,quận Cửu Chân [28, tr 643] Và do vùng đất Đông Sơn nhiều lần thay đổi đơn vịhành chính trước thế kỷ XIX cho nên chưa có nhiều tài liệu giúp chúng ta khảo tảchi tiết và nhận biết chân xác được tên gọi cũng như cương vực của địa danh AnHoạch xưa
Từ thế kỷ XIX, theo cuốn Đồng Khánh dư địa chí thì An Hoạch là một xã
nằm trong tổng Quảng Chiếu có 5 làng/thôn gồm: thôn Thượng, thôn Nhuệ, thônQuảng Nạp, thôn Đống, thôn Thọ Vực [55, tr 1106] Còn trong Địa chí huyện ĐôngSơn thì xã An Hoạch thời gian này bao gồm 6 làng là: làng Tiến, làng Toản, làngNấp, làng Vức, làng Thắng Sơn và làng Nhồi [28, tr 643] Các làng trên được hình
Trang 33thành từ lâu đời Làng Tiến, xưa kia gọi là thôn Đồng Nhuệ Làng Toản còn gọi làxóm Toản (còn có tên gọi khác nữa là làng Trại) Làng Nấp còn gọi là xóm Quang,trước kia gọi là Quảng Nạp Làng Nấp, xưa kia gọi là làng Vi Giang, sau đó đượcchia thành 2 thôn là thôn Trần và thôn Hưng Làng Thắng Sơn, xưa kia là làng PhùSơn thuộc xã Quảng Thắng Làng Nhồi, xưa kia là làng Nhuệ Thôn, sau năm 1945chia thành 3 làng là: làng Nấp, làng Tu và làng Sau thuộc xã Yên Hưng Hiện nayđổi tên thành xóm Trung, xóm Bắc và xóm Nam Do yêu cầu đã chia thành 2 xóm:xóm Tây Hưng và xóm Nam Hưng Từ 1953 đến năm 2005, An Hoạch được chiathành: An Hoạch Thượng (làng Nhồi Thượng), thôn Đống thuộc xã Đông Tân; AnHoạch Hạ (làng Nhồi Hạ, Nhuệ thôn) thuộc xã Đông Hưng
Thị trấn Nhồi thuộc huyện Đông Sơn được thành lập theo Nghị định số40/2006/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2006 của Chính phủ trên cơ sở 184,34 hadiện tích tự nhiên và 4.577 nhân khẩu của xã Đông Hưng và 3 ha diện tích tự nhiên
và 478 nhân khẩu của xã Đông Tân
Ngày 29/2/2012 Thủ tướng Chính phủ đã ra Nghị quyết số 05/NQ-CP vềviệc mở rộng địa giới hành chính thành phố Thanh Hoá, sáp nhập thị trấn Nhồi vềthành phố Thanh Hoá và chuyển tên thành phường An Hoạch từ ngày 01/7/2012.Phường An Hoạch có vị trí tiếp giáp với các phường Phú Sơn, Tân Sơn, Đông Vệ
và 2 xã Đông Hưng, Đông Tân Phường gồm có 7 khu phố là: Nam Sơn, TrungSơn, Quan Sơn, Tây Sơn, Tân Sơn, Bắc Sơn, Cao Sơn
Về địa giới hành chính của phường An Hoạch nay phía Bắc giáp xã ĐôngTân, phía Nam giáp các xã Đông Vinh, Đông Quang, phía Đông giáp thành phốThanh Hóa, phía tây giáp xã Đông Văn Diện tích đất tự nhiên là 640 ha, là mộttrong những phường có quỹ đất tương đối hẹp, bình quân 0,78 ha/người Diện tíchđất nông nghiệp là 283,76 ha chiếm 44,3% diện tích đất tự nhiên Diện tích đất ở là
29 ha còn diện tích đất chưa sử dụng là 150,14 ha Hệ thống giao thông chỉ gồmđường quốc lộ 45 chạy qua hầu hết địa bàn phường Dân số toàn phường ướckhoảng 10.165.000 người Đặc biệt, phường An Hoạch thông với 2 hệ thống sông,
Trang 34kênh là Kênh nhà Lê và hệ thống thủy nông sông Chu.
Khí hậu nằm trong khu vực nhiệt đới, gió mùa, nóng ẩm, trong một năm chịuảnh hưởng của hai mùa nóng và lạnh rõ rệt Mùa nóng bắt đầu từ cuối Xuân đếngiữa mùa thu Ở khoảng thời gian này trong năm, thời tiết nắng lắm, mưa nhiều, gây
ra lụt lội và hạn hán Những ngày có gió Lào, nhiệt độ còn được đẩy cao tới 39-40
độ C Mùa lạnh bắt đầu từ giữa mùa thu đến hết mùa xuân năm sau Mùa nàythường hay xuất hiện gió mùa Đông Bắc, lại mưa ít; đầu mùa thường hanh khô.Mùa lạnh nhiệt độ có thể xuống thấp tới 5 - 6 độ C Nhiệt độ trung bình cả năm từ23,3 đến 23,6 độ C
Chế độ nhiệt của có cán cân bức xạ hàng năm đạt khoảng 86,1kcl/cm2; tổngnhiệt độ hàng năm từ 8.000 - 8.5000C ở vùng đồng bằng Đây là những yếu tố cơbản tạo nên nền nhiệt độ cao Nơi đây có 3 mùa gió: một là gió mùa Đông Bắc vớikhông khí lạnh từ vùng Siberia thổi vào, gây ra mùa đông lạnh và giá buốt; Hai làgió Tây Nam từ vịnh Bengan qua Thái Lan rồi qua Lào, mang theo không khí nóng
và khô rát vào những ngày hè Cường độ gió Lào không mạnh như các địa phươngtrong tỉnh Thanh Hóa Lượng mưa trung bình hàng năm dao động ở mức 1.700 -1.800mm, với 90 - 160 ngày mưa trong năm; khoảng 85% lượng mưa tập trung vàomùa hè (từ tháng 5 đến tháng 10), đặc biệt mưa lớn vào tháng 8, tháng 9 Chế độmưa phong phú cũng tạo nên một nền độ ẩm cao đến 85%
1.4.2 Các điều kiện kinh tế- xã hội
Phát huy truyền thống quê hương, nhiều thập kỷ gần đây, cán bộ, nhân dânphường An Hoạch đã không ngừng vươn lên, vượt mọi khó khăn gìn giữ, tôn tạo vàxây dựng nơi đây thêm nhiều vẻ đẹp đáng ghi nhận Phường An Hoạch xây dựng cơ
sở hạ tầng đường giao thông đi lại thuận tiện Xây dựng nhiều công trình văn hóa
đồ sộ Trụ sở làm việc khang trang, trường học, trạm y tế đạt chuẩn Quốc Gia, họcsinh trưởng thành nhiều mặt, sức khỏe cộng đồng được nâng cao Ngành nghề tiểuthủ công nghiệp phát triển không ngừng Đặc biệt là với lợi thế của một vùng đất,nơi sinh ra làng nghề chế tác đá nổi tiếng, lâu đời ở xứ Thanh, nhiều doanh nghiệp
Trang 35sản xuất đá ốp lát xuất khẩu, đá mĩ nghệ được hình thành và phát triển mạnh mẽ,đem lại nguồn thu hàng trăm tỷ đồng/năm.
Theo số liệu báo cáo tổng kết KT-XH năm 2018 của địa phương thì cơ cấukinh tế của phường An Hoạch gồm công nghiệp xây dựng chiếm 55%, dịch vụthương mại 44,7%, nông nghiệp 0,3%
Tốc độ tăng trưởng kinh tế trên 20%, thu nhập bình quân đầu người ước đạt
55 triệu đồng/người/năm Có 206 công ty, doanh nghiệp và 580 hộ gia đình sản xuấtkinh doanh dịch vụ thương mại, tăng 12 hộ so với năm 2017, các ngành nghề dịch
vụ thương mại có bước phát triển khá, một số lĩnh vực như: Đá xuất khẩu, đá mỹnghệ, dịch vụ sữa chữa, dịch vụ hàng hoá có sự khởi sắc, tạo ra được nhiều việc làmcho lao động có thu nhập ổn định Thu nhập từ ngành nghề tiểu thủ công nghiệp,dịch vụ, thương mại ước đạt 509 tỷ đồng, tăng 87 tỷ đồng so với cùng kỳ
Về nông nghiệp, chăn nuôi: Diện tích gieo cấy 2,4ha, năng suất bình quân 63tạ/ha, thu nhập từ kinh tế nông nghiệp ước đạt 2.863.400.000 đồng Thu nhập từchăn nuôi ước đạt 1.033.500.000 đồng
Phường An Hoạch có cơ sở hạ tầng đường giao thông đi lại thuận tiện, là cửangõ quan trọng phía Tây thành phố Thanh Hoá, án ngữ con đường tỉnh lộ từ trungtâm thành phố Thanh Hóa đi Đông Sơn, Triệu Sơn, Thọ Xuân, Thường Xuân, NgọcLặc, Lang Chánh, Quan Hóa, Bá Thước, Như Xuân Ngoài ra phường An Hoạchcòn xây dựng nhiều công trình văn hóa, trụ sở làm việc khang trang, trường học,trạm y tế đạt chuẩn Quốc gia, học sinh trưởng thành nhiều mặt, sức khỏe cộng đồngđược nâng cao
1.4.3 Tiềm năng di sản văn hóa và các tài nguyên du lịch
An Hoạch được xem một trong những đơn vị hành chính cấp xã, phường cómật độ di tích, danh thắng, làng nghề đa dạng, phong phú với nhiều loại hình vàgiàu giá trị trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói chung và thành phố Thanh Hóa nóiriêng Cụm thắng tích núi Nhồi được nhà nước công nhận là danh lam thắng cảnh
Trang 36cấp quốc gia từ năm 1992 Cùng với các công trình kiến trúc tín ngưỡng và thắngtích trong quần thể cũng như sự phát triển sôi động của làng nghề chế tác đá mỹnghệ An Hoạch, làng đá Nhồi xưa đã làm cho địa phương có những tiềm năng nổitrội với các thắng tích, di tích, làng nghề gắn liền với cảnh quan sinh thái, núi, sôngcùng với các di tích văn hóa, lịch sử rất thuận lợi cho việc phát triển du lịch sinhthái kết hợp du lịch văn hóa, du lịch tham quan
Hệ thống danh lam thắng cảnh của phường An Hoạch thực sự hấp dẫn, nổi bậtbởi sự hòa quyện, thống nhất giữa tính huyền thoại của tự nhiên với các di tích LS-
VH Tính đến năm 2018, trên địa bàn phường An Hoạch có 6 di tích lịch sử văn hóa.Đây là những di sản văn hóa đã ghi lại những chứng tích hào hùng của dân tộc vớitruyền thống hàng nghìn năm lịch sử lập nước và giữ nước của các thế hệ cha ông
Trong không gian lịch sử – văn hóa làng Nhồi, nổi bật là quần thể khu vựcnúi Nhồi: Núi Nhồi (hay còn gọi An Hoạch, núi Khế, hoặc Nhuệ Sơn) là nơi cảnhsắc non nước hữu tình, hình thế của sự xen lẫn của núi, sông và xóm làng êm ả.Tương truyền, núi Nhồi từng là nơi tụ họp của các đạo sĩ để đàm đạo về cảnh đẹp
Đỉnh núi Nhồi được tạo bởi những khối đá đồ sộ cao hơn 25m, trong tiềmthức của dân gian được hình tượng hóa thành “Vọng phu thạch” (đá trông chồng).Câu thơ còn lưu truyền trong dân gian Thanh Hóa: “Vọng phu trẻ mãi không già/Thủy chung đứng đó biết là chờ ai?”
Hình tượng đó được tạo hóa khắc vào thiên nhiên như một biểu tượng sángngời cho vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ Việt Nam Dẫu thời gian có đổi thay,nhưng tấm lòng thủy chung, son sắt của người vợ vẫn đứng đó chờ chồng
Từ núi Nhồi nhìn về phía Tây là núi Đống, phía Tây Nam là núi Chân Thầy,núi Chồng Mâm (núi Đình Thượng) ở phía Bắc đứng liền kề nhau; cùng với núiLong và núi Mật ở phía Đông, núi rừng Thông ở phía Tây Bắc, núi Hàm Rồng ởphía Đông và núi Vức ở phía Nam… tạo nên quần thể núi đá kỳ vĩ Núi Nhồi, đượcthiên nhiên kiến tạo bởi chất đá quý, hiếm nơi nào có được Bởi thế đá núi Nhồiđược các sách sử ghi nhận như: Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn, Thanh Hóa tỉnh
Trang 37chí, đặc biệt Đại Nam nhất thống chí đã ghi nhận rằng: “Ở phía Nam huyện ĐôngSơn có một quả núi lớn gọi là núi An Hoạch, sản xuất nhiều loại đá đẹp Đó là sảnvật quý giá của mọi người, sắc đá óng ánh như ngọc lam, chất xanh biếc như khóinhạt Sau này đục đá làm khí cụ, vì đẽo thành khánh đánh lên thì tiếng ngân muôndặm, dùng làm bia văn chương để lại thì còn mãi mãi nghìn đời” [50, tr 93].
Ngay từ thế kỷ III sau Công Nguyên đá núi Nhồi đã được khai thác làmkhánh, xây dựng thành Thăng Long, chùa Diên Hựu, chùa Bút Tháp Cuối thế kỷXIV, nhà Hồ lấy đá xây thành Tây Đô, thế kỷ XVIII, Nguyễn Huệ lấy đá làm thànhPhú Xuân (Huế), thế kỷ XIX, nhà Nguyễn lấy đá xây kinh đô Huế Năm 1973 đánúi Nhồi góp mặt xây dựng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh
Chủ nhân của núi đá quý đó đã sinh cơ lập nghiệp ở đây từ lâu đời, họ chính
là cư dân làng Nhồi Những người thợ làm nghề chạm khắc đá đã cùng tồn tại vàphát triển với nghề hàng ngàn năm lịch sử Theo sử sách, nghề làm đá núi Nhồi có
từ lâu đời Trải qua các thời đại phong kiến từ Đinh – Lê – Lý – Trần – Lê Sơ –Nguyễn, những người thợ chạm khắc đá làng Nhồi đã được huy động vào việc tạodựng các công trình quan trọng của quốc gia như: Đúc đá núi Thiên Kiện, KhuẩnMai thời Trần và các công trình kiến trúc tôn giáo như: đình, chùa, lăng tẩm, cungvua, phủ chúa Dưới bàn tay tài hoa của người thợ chạm khắc đá làng Nhồi tạo dựngnên biết bao tác phẩm nghệ thuật độc đáo để lại ngàn đời
Đặc biệt, dưới chân núi Nhồi còn lưu giữ một quần thể di tích lịch sử – vănhóa như: chùa Hinh Sơn, chùa Tiên Sơn, Đình Thượng, Lăng Quận Mãn…
Giá trị văn hóa vùng núi Nhồi không chỉ ở hệ thống đền chùa, miếu mạođược hình thành qua nhiều thế kỷ, mà còn là giá trị di sản mỹ thuật đá được lưutruyền đến mãi ngàn năm Núi Nhồi có thể xem một bảo tàng điêu khắc đá “độcnhất vô nhị” của xứ Thanh
Trải qua biến cố thăng trầm của lịch sử, hiện nay làng Nhồi vẫn là làng nghềtruyền thống chế tác đá nổi tiếng ở Thanh Hóa Đặc biệt, vùng đất nơi đây hội tụđược các yếu tố: lịch sử, văn hóa, di tích, danh thắng, nghệ thuật kiến trúc điêu khắc,
Trang 38làng nghề… tạo nên giá trị đặc trưng của không gian lịch sử – văn hóa làng Nhồi.Góp phần làm phong phú và nâng cao giá trị di sản văn hóa phi vật thể của xứ Thanh.
Ngày nay, khi hoạt động du lịch dựa trên khai thác thế mạnh các tài nguyênthiên nhiên và nhân văn đang được đẩy mạnh Có thể nói, với tiềm năng đa dạngcác loại hình DSVH, phường An Hoạch hứa hẹn trong tương lai sẽ trở thành mộtđiểm đến hấp dẫn về du lịch văn hóa tâm linh, du lịch làng nghề đối với du kháchtrong và ngoài tỉnh
* Tiểu kết chương 1
Di sản văn hóa là một bộ phận cấu thành của đời sống văn hóa, có giá trị tolớn trong công tác giáo dục truyền thống, phục vụ phát triển KT- XH Di sản vănhóa là tài sản vô giá trong đời sống của một cộng đồng xã hội cần được bảo tồn, kếthừa và phát huy một cách đúng đắn, khoa học, hợp lý Trong xu hướng toàn cầuhóa, di sản văn hóa đang đứng trước những thách thức có thể dẫn đến bị mai một vàbiến mất Bảo tồn các di sản văn hóa là yếu tố quan trọng để giúp các di tích pháttriển vì các di sản văn hóa được coi là nguồn tài nguyên quan trọng góp phần pháttriển hoạt động du lịch
Phường An Hoạch là một vùng đất lịch sử lâu đời với nghề chạm khắc đátruyền thống nổi tiếng có tuổi đời hàng ngàn năm, quần tụ nhiều di tích/di sản vớigiá trị văn hóa vật chất, tinh thần quý giá Thông qua hệ thống DSVH ở phường AnHoạch đã cho chúng ta một cái nhìn tương đối tổng thể về giá trị, tiềm năng các tàinguyên văn hóa của địa phương
Từ thực tế và nhu cầu xã hội đã đặt vấn đề bảo tồn và phát huy di sản vănhóa phải bắt nguồn từ nhận thức rõ ràng về vai trò, tầm quan trọng của di sản vănhóa trong công cuộc phát triển kinh tế, xã hội của địa phương Cần nghiên cứu kỹlưỡng về lĩnh vực này để có thể đưa ra những chính sách văn hóa phù hợp, nhằmthúc đẩy sự nghiệp xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến đậm đà bản sắc dântộc cùng với quá trình xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Trang 39Chương 2 THỰC TRẠNG BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ TRỊ DI SẢN
VĂN HÓA PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN PHƯỜNG
AN HOẠCH HIỆN NAY
2.1 Hệ thống di sản văn hóa trên địa bàn phường An Hoạch
2.1.1 Hệ thống di sản văn hóa vật thể
2.1.1.1 Núi Nhồi
Núi Nhồi là một núi đá không cao lắm, đột khởi giữa đồng bằng sông Nhuệ,nằm ở Đông Nam huyện Đông Sơn, là bình phong án ngữ phía Tây tỉnh Thanh Hóa
Đá núi Nhồi là một loại đá đặc biệt, đã được sử sách ghi chép từ gần 1000 năm
trước Đó là loại đá sắc óng ánh như ngọc lam, chất xanh biếc như khói nhạt, đục
làm khí cụ tiếng ngân muôn dặm, dùng làm bia, văn chương để lại còn mãi muôn đời [5, tr 117] Đứng trên đỉnh núi Nhồi nhìn về bốn phía có thể quan sát cả một
vùng đồng bằng bát ngát, phì nhiêu, xen lẫn những làng quê trù phú Cảnh trí thiênnhiên thật là ngoạn mục
Từ nguồn nguyên liệu đá quý ấy, ở đây đã sớm hình thành một nghề khaithác và đục đẽo đá Tài năng của các nghệ nhân làng Nhồi chủ yếu thể hiện qua việcchế tác các sản phẩm mang tính nghệ thuật và còn được sử dụng vào việc xây dựngnhững công trình kiến trúc bằng đá tiêu biểu qua các triều đại Lý, Trần, Lê,Nguyễn Sản phẩm của nghệ nhân làng Nhồi còn ảnh hưởng và lan tỏa ra các địaphương khác
Thắng cảnh núi Nhồi xưa vốn là thắng tích xứ Thanh, nên rất nhiều các danh
sĩ đã từng đến đây chiêm ngưỡng cảnh đẹp và đã có không ít các bài thơ cảm tácphong cảnh núi Nhồi và Vọng Phu Thạch Năm Canh Dần thời vua Thành Thái(1890), tổng đốc Thanh Hóa lúc bấy giờ là Nguyễn Thuật đã cho khắc chữ vào cột
đá Vọng Phu Bia có chiều cao 2,0 m, rộng 0,70 m Có 3 dòng chữ, bên phải là niên
Trang 40hiệu Thành Thái Canh Dần thu, bên trái ghi tên người đề tự, ở giữa khắc 4 chữ Kiệt
nhiên trung chữ (Cao ngất giữa trời không)
Cụm di tích lịch sử văn hóa và danh thắng núi Nhồi là sự tổng hòa của nhiềuloại di tích kiến trúc nghệ thuật, lịch sử văn hóa kết hợp với thắng cảnh tự nhiên, màđặc trưng nhất của nó là nghệ thuật điêu khắc đá và làng nghề đá truyền thống xứThanh có từ lâu đời Đây là một cụm di tích cần được các cấp, ngành ở địa phươngquan tâm hơn nữa nhằm lưu giữ những giá trị văn hóa đặc biệt này
Cụm thắng tích núi Nhồi đã được Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Vănhóa, Thể thao và Du lịch) công nhận là Di tích Lịch sử văn hóa cấp quốc gia tạiQuyết định số 983/VH-QĐ ngày 4/8/1992 Quần thể thắng tích núi An Hoạch (Núi
Nhồi) bao gồm một hệ thống thắng cảnh và di tích lịch sử- văn hóa khá đa dạng,
phong phú nhiều loại hình gồm: núi Vọng Phu, chùa Tiên Sơn (tức chùa QuanThánh), chùa Hinh sơn (tức chùa Thánh Mẫu), Đình Thượng (còn gọi là đình BốnBan), lăng Quận Mãn hay lặng quận công Lê Trung Nghĩa
2.1.1.2 Núi Vọng Phu
Núi Vọng Phu có diện tích 5576m2, ở độ cao hơn 100m, chu vi khoảng4.000m Phía đông giáp làng Nhồi, tây bắc giáp núi Chồng Mâm có vẻ đẹp kỳ thú,phía nam giáp núi Nấp Với dáng vẻ như một con voi khổng lồ đang nằm phủ phục,núi Nhồi đã cùng với núi Long phía bên kia sông Nhà Lê (sông được đào từđời Hồng Đức nhà Lê) tạo nên cảnh thế “Voi phục hổ chầu” Nổi bật nhất của cảnhquan núi Nhồi là trên đỉnh núi có một cột đá đứng sừng sững, cao khoảng 25m,giống hình một người phụ nữ bế con, đứng nhìn đăm đăm về phía biển Đông, mà từ
xa xưa, bằng trí tưởng tượng phong phú, nhân dân đã gọi là Hòn Vọng Phu - Người
vợ chờ chồng Cũng như nàng Tô Thị ở vùng núi Lạng Sơn và ở ven biển BìnhĐịnh, Hòn Vọng Phu nơi đây cũng được tồn tại với một truyền thuyết đầy tính nhânbản [5, tr 117]