Năng suất lao động xã hội của nước ta ở mức thấp như vậy là do các nguyênnhân chủ yếu sau: Thứ nhất, nguyên nhân xuất phát từ cơ cấu lao động theo ngành kinh tế của Việt Nam hiện nay vẫn
Trang 1CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG CỦA VIỆT NAM
Chương 1: CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG XÉT TRÊN KHÍA CẠNH KINH TẾ
Trong hai thập niên qua (1986 - 2006), kể từ khi áp dụng những chính sách cảicách kinh tế toàn diện với nội dung cốt lõi là sự kết hợp của tự do hóa, ổn định hóa,thay đổi thế chế, cải cách cơ cấu và mở cửa ra nền kinh tế thế giới, Việt Nam đã đạtđược những thành tựu kinh tế đáng ghi nhận
I KẾT QUẢ SẢN XUẤT VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TRƯỞNG CỦA NỀN KINH TẾ
Biểu đồ 1: Tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 1998 - 2005
Năm 1999, do ảnh hưởng tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ châu
Á tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đã giảm xuống còn 4, 8% Tăng trưởng giảmsút thể hiện ở hầu hết các ngành kinh tế chủ chốt như công nghiệp, dịch vụ và xuấtnhập khẩu Tuy nhiên, đến năm 2000, nền kinh tế đã có sự hồi phục nhanh chóng, tốc
0 1 2 3 4 5 6 7 8 9
1998 1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005
%
Trang 2độ tăng trưởng kinh tế đã đạt ở mức 6,8% và liên tiếp tăng trong các năm tiếp theo đạt7,0% (năm 2002); 7,3% (năm 2003); 7,6% (năm 2004); 8,5% (năm 2005).
So với các nước trong khu vực ASEAN, tăng trưởng GDP của Việt Nam vào loạicao nhất trong khu vực trong những năm gần đây, so với các nước Đông Á, tăngtrưởng GDP của Việt Nam đứng thứ 2 sau Trung Quốc Tuy nhiên, quy mô nền kinh tếcủa ta còn nhỏ bé, nên dù tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhưng thực lực nền kinh tếcủa ta còn yếu và hạn chế
2 GDP bình quân đầu người
Tăng trưởng kinh tế cao kéo theo thu nhập bình quân đầu người cũng được cảithiện đáng kể, tăng từ 140 USD năm 1990 lên 483 USD năm 2003, đạt 545 USD năm
2004 và 640 USD năm 2005, tăng gấp 2,65 lần so với năm 1986 Tính bình quân tronggiai đoạn 1986 – 2005, tốc độ GDP đầu người tăng trung bình là 5,28% Tuy nhiên,thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam vẫn còn thấp, còn chênh lệch khá lớn socác nước trong khu vực như Thái Lan (GDP đầu người của Thái Lan vào khoảng 2850USD, gấp 4,5 lần Việt Nam); Malaysia (GDP vào khoảng 4970 USD, gấp 7,8 lần).Nếu tính theo sức mua tương đương PPP thì thu nhập bình quân tăng lên là 2.490USD,trong khi Trung Quốc là 4.990 USD, cao gấp 2 lần; Thái Lan là 7.450 USD, cao gấp3lần; Hàn Quốc là 17.930 USD, gấp 7,2 lần và Nhật Bản là 28.620 USD, cao gấp 11,5lần Việt Nam Như vậy, kể cả Thái Lan là nước có cùng trình độ phát triển với ViệtNam vào thập kỷ 70 của thế kỷ XX thì chỉ sau 2 thập kỷ thu nhập bình quân đầu ngườicủa nước này đã cao gấp 2 lần Việt Nam
Bảng 1: So sánh thu nhập quốc dân (GNI)/người của Việt Nam
Theo ngang giá sức mua
Theo tỷ giá thị trường
Theo ngang giá sức mua
Trang 33 Cơ cấu kinh tế và cơ cấu ngành
3.1 Cơ cấu ngành kinh tế nhìn ở phía tổng cung
Sự tăng trưởng kinh tế nhanh đạt được trong thời gian qua là kết quả của nhữngthay đổi quan trọng trong cơ cấu của nền kinh tế Cơ cấu kinh tế đã chuyển dịch theohướng tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ, giảm dần của khu vực nông,lâm ngư nghiệp Từ một nước có nền công nghiệp kém phát triển đến nay, Việt Namđang từng bước xây dựng một nền công nghiệp theo hướng hiện đại.
Biểu đồ 2: Cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam
Tỷ trọng công nghiệp liên tục tăng, từ 22,67% (năm 1990) lên 41,04% (năm2005); tỷ trọng đóng góp của ngành nông nghiệp giảm, từ 38,74% (năm 1990) xuống20,89% (năm 2005); tỷ trọng ngành dịch vụ tăng lên cao trong giai đoạn 1993 –1995,
từ 38,59% (năm 1990) lên 44,06% (năm 1995), nhưng sau đó lại giảm dần và chỉchiếm 38,07% (năm 2005) Tốc độ tăng trưởng của các ngành cũng liên tục tăng trongcác năm, tăng nhẹ trong ngành nông – lâm - thủy sản; tăng cao nhất trong ngành côngnghiệp và xây dựng, luôn giữ tốc độ tăng trưởng trên 10%/năm cao hơn tốc độ tăngtrưởng toàn nền kinh tế
Bảng 2: Tốc độ tăng trưởng các ngành kinh tế giai đoạn 2000 – 2005
Trang 4Nếu xét theo giá trị tăng thêm, tỷ lệ giá trị gia tăng của khu vực nông nghiệpnước ta theo giá thực tế đã giảm từ 38% năm 1986 xuống còn khoảng 20% năm 2005.
Tỷ lệ giá trị gia tăng khu vực công nghiệp đã tăng lên từ 28,8% năm 1986 lên trên40% năm 2005 Giá trị gia tăng khu vực dịch vụ cũng tăng lên từ 33% năm 1986 lên38,5% năm 2005 Tỷ lệ cơ cấu ngành của Việt Nam năm 2005 gần giống tỷ lệ cơ cấungành của Malaysia các năm 1980 và của Thái Lan các năm 1970
Tuy nhiên, khi so sánh với một số nước ở Đông Á ta nhận thấy, tỷ trọng cácngành trong cơ cấu kinh tế của Việt Nam vẫn chưa thể đạt đến mức là một nước cónền kinh tế phát triển Ví dụ như Nhật Bản tỷ trọng nông nghiệp chỉ chiếm 2% GDP,ngành dịch vụ chiếm tới 61%; Hàn Quốc tỷ trọng nông nghiệp chỉ chiếm 6% GDP,dịch vụ chiếm tới 51% Ngành công nghiệp chế tác, một phân ngành quan trọng trongthời kỳ công nghiệp hóa đóng một vai trò quan trọng đối với nền kinh tế các nướcĐông Á Tỷ trọng của ngành này luôn chiếm đến 2/3 phần trăm trong tỷ lệ đóng gópcủa ngành công nghiệp trong GDP Tuy nhiên, ở Việt Nam, tỷ lệ này vẫn còn thấp,chiếm chưa đến 50%
Bảng 3: Cơ cấu kinh tế các nước Đông Á năm 1999
Đơn vi: %
Việt Nam 25,5 34,5 (CN chế tác chiếm 17,7%) 40
Nhìn chung về cơ cấu ngành, trong những năm vừa qua, nền kinh tế Việt Nam đã
đạt được mức tăng trưởng cao nhưng bản thân quá trình tăng trưởng vẫn thể hiện chất
lượng tăng trưởng còn thấp Tốc độ tăng trưởng của giá trị tăng thêm thấp hơn tốc độ
tăng trưởng của giá trị sản xuất, do chi phí trung gian (chi phí nguyên vật liệu tăng, chiphí quản lý, chi phí sản xuất) tăng với tốc độ cao cả ba khu vực Cụ thể, trong nôngnghiệp, tính chung trong thời kỳ 1991 - 2003, tăng trưởng giá trị sản xuất là 6,2%/năm,nhưng tăng trưởng giá trị tăng thêm chỉ đạt 4,1%, chỉ bằng 2/3 tốc độ tăng trưởng củagiá trị sản xuất Trong khu vực công nghiệp - xây dựng tốc độ của giá trị tăng thêmliên tục thấp hơn giá trị sản xuất trong một thời gian khá dài, tính chung trong thời kỳ
1991 - 2003, khi tốc độ tăng của giá trị sản xuất lên đến 13,9%/năm, thì giá trị tăngthêm chỉ đạt 11,7%/năm
Trang 5Chất lượng tăng trưởng thấp còn thể hiện ngay trong cơ cấu của từng ngành Tốc
độ chuyển dịch cơ cấu nông – lâm – ngư nghiệp còn rất chậm chạp, tuy tỷ trọng giá trịsản xuất nông nghiệp có giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn, tỷ trọng giá trị ngànhchăn nuôi, ngành thủy sản vẫn còn thấp Tỷ trọng chăn nuôi trong thời gian tới cónguy cơ giảm xuống do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm sẽ khiến cho đầu tư vàongành chăn nuôi gia cầm bị hạn chế Những cạnh tranh, tranh chấp đối với thủy sảnViệt Nam trong gần đây, những đe dọa của thiên tai bất thường, những khó khăn vềgiới hạn năng lực sản xuất và diện tích canh tác đối với ngành thủy sản cũng khiến chongành này đang phải đứng trước nguy cơ tỷ trọng sẽ giảm trong thời gian tới Ngànhlâm nghiệp sử dụng nhiều đất nhất trong tất cả các ngành kinh tế nhưng chỉ đóng góp1,2% vào GDP (số liệu năm 1999)
Tăng nhanh tỷ trọng giá trị dịch vụ là xu thế chủ đạo trong chuyển dịch cơ cấukinh tế của các nước phát triển, phù hợp với sự phát triển nhanh chóng của tiến bộcông nghệ và phát triển nền kinh tế tri thức Trong khi đó ở Việt Nam, tỷ trọng giá trịdịch vụ trong cơ cấu ngành kinh tế tăng với tốc độ chậm, thậm chí còn có xu hướnggiảm trong một số năm gần đây Điểm yếu của khu vực dịch vụ nước ta chính là cơcấu ngành dịch vụ và tỷ trọng các phân ngành còn có sự chênh lệch lớn Các ngànhdịch vụ cơ bản (khách sạn, nhà hàng, vận tải, kho bãi, thông tin liên lạc…) có tác dụngthúc đẩy sự phát triển của các phân ngành dịch vụ khác lại gần như không có sự tăngtrưởng Trong 10 năm (1995 - 2005), tỷ trọng của các ngành dịch vụ cơ bản chỉ chiếmdao động khoảng 46%, phân ngành khách sạn, nhà hàng trong nhiều năm vẫn giữ ởmức 7,9%, trong khi đó phân ngành thương nghiệp và sửa chữa vật phẩm tiêu dùngtăng nhanh và chiếm tỷ trọng cao, 40,1% Ngành vận tải và thông tin liên lạc là haingành tác động trực tiếp và không thể thiếu đối với các ngành sản xuất cũng chỉ chiếmmột tỷ lệ khiêm tốn là 9,2% năm 1995 và tăng lên 9,6% trong năm 2004 Các dịch vụcao cấp như ngân hàng, tài chính, chuyển giao công nghệ đang trong giai đoạn hìnhthành nên năng lực cạnh tranh vẫn còn thấp kém Tỷ trọng ngành dịch vụ khoa họccông nghệ mới chỉ chiếm 1,4 - 1,5%, ngành bảo hiểm cũng chỉ chiếm 2% GDP (năm2005), dự báo năm 2006 cũng chỉ tăng lên 2,5%
3.2 Cơ cấu kinh tế nhìn từ góc độ tổng cầu
Nếu nhìn nhận từ phía tổng cầu, ta thấy, mức tăng trưởng cao mà nền kinh tế đạtđược trong thời gian qua là do tỷ lệ tiêu dùng đã giảm, tiết kiệm nội địa tăng dẫn đếnđầu tư trong nước tăng lên
Biểu đồ 3: Tên biẻu đồ
Trang 6Xu hướng biến động của tiêu dùng, tiết kiệm và tích lũy tài sản trong nước củaViệt Nam tuân theo quy luật phát triển chung của các nền kinh tế Theo đó, tỷ lệ tiêudùng trong GDP giảm dần và thường giảm nhanh trong giai đoạn đầu của sự pháttriển, tiết kiệm dành cho tích lũy đầu tư sẽ tăng lên Tỷ lệ tiêu dùng của nước ta từ trên98% năm 1986 giảm xuống còn 70,1% GDP vào năm 2005; tỷ lệ tiết kiệm nội địa đãtăng lên từ 1,17% (1986) lên 29,9% (2005); tỷ lệ đầu tư tích lũy tài sản trong GDPtăng từ 11,96% (1986) lên trên 38% (2005) Tuy nhiên, tốc độ giảm tỷ lệ tiêu dùng củaViệt Nam còn chậm, trung bình dịch chuyển là 1,5% hàng năm, trong khi của TháiLan là 4,2%; Malaysia là 6,5% Tỷ lệ tiêu dùng của Việt Nam vẫn còn cao, chiếm70,1% (năm 2005), tương đương với tỷ lệ của Thái Lan năm 1987 so với Malaysia thìnăm đạt tỷ lệ đó còn lùi lại khá xa.
Một đặc trưng trong cơ cấu tổng cầu của Việt Nam đó là tỷ lệ nguồn vốn nướcngoài hay nguồn tiết kiệm nước ngoài - xác định bằng luồng tiền vào qua cân đối
ngoại thương - chiếm một tỷ lệ cao, đặc biệt trong các năm đầu của thời kỳ Đổi mới.
Năm 1986, tỷ lệ vốn nước ngoài bằng 9,85% GDP và chiếm trên 84% tổng vốn đầu tư;năm 1988, tỷ lệ này là 11,06% GDP và chiếm 77% tổng vốn đầu tư, chủ yếu từ nguồnviện trợ, vay vốn từ nước ngoài; năm 2005 tỷ lệ tiết kiệm nước ngoài chỉ đạt tỷ lệkhoảng 8,72% GDP, chiếm xấp xỉ 23% Thực chất, tổng vốn nước ngoài không ngừngtăng lên trong các năm, song nhờ kinh tế dần phục hồi và tăng trưởng cao trong mấynăm gần đây đã giúp cho nội lực kinh tế của Việt Nam mạnh dần lên, tỷ lệ tiết kiệmtrong nước vượt tổng số nguồn vốn nước ngoài Điều này cho thấy, chất lượng tăngtrưởng của Việt Nam ngày càng được đảm bảo ổn định, bền vững hơn, ít chịu tác động
từ các yếu tố bên động bên ngoài hơn
Trong cấu thành của cầu, mức đóng góp của xuất khẩu cho tốc độ tăng trưởngGDP đang ngày cao và càng gia tăng, trung bình là 19%/năm Năm 2004, kim ngạchxuất khẩu của Việt Nam đạt 26,503 tỷ USD, trở thành nước đứng thứ 50 trong danhsách 50 quốc gia và vùng lãnh thổ xuất khẩu hàng hoá lớn nhất thế giới
Tuy tốc độ tăng của xuất khẩu có xu hướng cao hơn nhiều so với tốc độ tăng củanhập khẩu (năm 2005, tăng xuất khẩu là 22,4%, nhập khẩu là 15,7%), song kim ngạchnhập khẩu luôn lớn hơn xuất khẩu, cán cân thương mại của Việt Nam vẫn đang ở tìnhtrạng thâm hụt Cụ thể, năm 2004, trong khi xuất khẩu của Việt Nam đạt kim ngạch26,503 tỷ USD thì nhập khẩu cũng tăng lên tới 31,1% Xu hướng này không hoàn toàn
có ý nghĩa tiêu cực, đây cũng là xu thế tất yếu của các nước đang trong giai đoạn đầutiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa cần nhập nhiều thiết bị, công nghệ máy mócnhằm nâng cao trình độ kỹ thuật cho sản xuất trong nước Song bên cạnh đó cơ cấuxuất nhập, khẩu của Việt Nam vẫn còn nhiều tồn tại gây hạn chế khả năng đóng gópxuất, nhập khẩu vào tăng trưởng
Trang 7- Thứ nhất, mặc dù xuất khẩu đã tăng trưởng rất nhanh trong thời kỳ sau đổi mới,
nhưng cơ cấu xuất khẩu lại hầu như không có nhiều thay đổi, chỉ thiên về xuất khẩunông sản chưa chế biến (lúa gạo, cà phê, thủy sản,…) và khoáng sản (chủ yếu là dầuthô), những mặt hàng có hàm lượng công nghệ, chất lượng cao xuất khẩu còn ít Tỷtrọng hàng hóa công nghệ cao xuất khẩu trên tổng giá trị chế biến hàng xuất khẩu củaViệt Nam chỉ khoảng 8,2%, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực, so vớiMalaixia là 67%; Trung Quốc 39%; Thái Lan 49%; Philippin; 33% và Inđônêxia 18%(năm 1999)
- Thứ hai, nước ta hiện nay vẫn chưa xây dựng được mạng lưới các ngành công
nghiệp phụ trợ phục vụ trực tiếp cho các hoạt động sản xuất để xuất khẩu Ngành sảnxuất xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là nhập khẩu nguyên liệu để gia công như ngành
da giày, may mặc,…
- Thứ ba, tỷ trọng hàng nhập khẩu phục vụ cho tiêu dùng và nguyên, vật liệu
trong cơ cấu hàng nhập khẩu tuy đã giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn; tỷ trọng nhậpkhẩu máy móc, thiết bị, công nghệ còn khiêm tốn
Như vậy, tuy đã có những sự thay đổi cơ bản trong cơ cấu kinh tế, nhưng nhìnmột cách tổng thế, cơ cấu kinh tế Việt Nam vẫn còn lạc hậu Hiện tại cơ cấu kinh tếcủa Việt Nam giống như cơ cấu kinh tế của một số quốc gia ASEAN đầu thập kỷ 80thế kỷ XX
4 Lạm phát
Lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ hai chiều mật thiết với nhau.Một nền kinh tế tăng trưởng cao thông thường sẽ kéo theo lạm phát cũng tăng Mộtnền kinh tế nếu lạm phát thấp, không có lạm phát hoặc thiểu phát (lạm phát âm) thìnền kinh tế đó cũng rất trì trệ và tăng trưởng thấp Thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đồngnghĩa đất nước đó phải đối mặt với vấn đề lạm phát gia tăng, Việt Nam cũng khôngphải là một ngoại lệ
Nền kinh tế Việt Nam đã trải qua hầu hết các loại lạm phát như lạm phát phi mãtrong thời kỳ 1986 - 1988 với tỷ lệ lạm phát trung bình năm đạt 463,9%/năm; lạm phátcao trong thời kỳ 1989 - 1992, với tỷ lệ lạm phát bình quân năm tương ứng là46,7%/năm; lạm phát thấp trong thời kỳ 1996 - 1999 và 2001 - 2003 với tỷ lệ lạm pháttương ứng là 4,4%/năm và 4,3%/năm; thậm chí là giảm phát trong năm 2000 (-0,6%).Tuy nhiên, trong hai năm 2004 - 2005 khi tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt khá cao7,79% (năm 2004) và 8,5% (năm 2005) thì lạm phát của Việt Nam cũng tăng lên ởmức 9,5% (năm 2004) và 8,4% (năm 2005), cao hơn cả tốc độ tăng trưởng kinh tế
Bảng 4: Tăng trưởng và lạm phát của Việt Nam giai đoạn 1998 – 2005
Tăng trưởng GDP 5,8 4,8 6,8 6,8 7,0 7,3 7,6 8,5
Trang 8Lạm phát 7,8 4,1 -1,7 0,8 1,5 3,0 9,5 8,4
Lạm phát thường được hiểu là sự gia tăng liên tục của mức giá chung theo thờigian hay là sự sụt giảm liên tục sức mua của đồng tiền trong một khoảng thời gian nhấtđịnh Yếu tố gây ra lạm phát bao gồm cả yếu tố trong nước gây tăng giá hàng hóa vàyếu tố tăng giá do bên ngoài tác động Lạm phát của nước ta tăng cao trong 2 năm trởlại đây chủ yếu do giá cả hàng hóa trên thế giới tăng đột biến như giá xăng dầu, giánguyên vật liệu (phân bón, phôi thép, ), giá vàng Trong khi nhóm hàng nguyên,nhiên, vật liệu chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu nhập khẩu của nước ta (chiếm 68% năm2004), do đó sự biến động giá cả các mặt hàng này trên thế giới đã tác động trực tiếpđến giá cả các mặt hàng này ở trong nước, gây tăng lạm phát
Các chính sách kinh tế vĩ mô có vai trò quan trọng trong việc điều tiết để ổn định
và kiểm soát được lạm phát Việc dùng chính sách bơm tiền để kích cầu nền kinh tếtrong năm 2000, khi nền kinh tế đang giảm phát, lạm phát âm đã giúp tình trạng trì trệđược cải thiện, tỷ lệ lạm phát nhích lên gần 1% năm 2001 là một minh chứng cụ thể.Trong bối cảnh hiện nay, Việt Nam cần phải phát huy và nâng cao hiệu quả của cácchính sách vĩ mô, phối hợp linh hoạt giữa chính sách tài chính - tiền tệ, chính sách tỷgiá nhằm điều tiết nền kinh tế ổn định, đảm bảo tăng trưởng có chất lượng và bềnvững
III ĐÁNH GIÁ KINH TẾ TĂNG TRƯỞNG THEO CHIỀU SÂU
Hơn mười năm qua, tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của ViệtNam liên tục tăng, năm sau cao hơn năm trước, với mức tăng bình quân hàng năm7,5% Từ một nước có nền công nghiệp kém phát triển, Việt Nam ngày nay từng bướcxây dựng một nền công nghiệp theo hướng hiện đại Tuy vậy, vấn đề nổi lên hiện nay
đó là vấn đề chất lượng tăng trưởng liên quan đến tỷ trọng đóng góp của TFP còn thấp
Sự tăng trưởng đạt được chủ yếu do tăng vốn đầu tư và số lượng lao động chứ khôngphải là do nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư, trình độ công nghệ và chất lượng laođộng Điều này đe doạ tính bền vững trong hiện thời và tương lai, tạo ra mâu thuẫngiữa tốc độ tăng trưởng (số lượng) và chất lượng, hiệu quả tăng trưởng
Hiện nay, ở nước ta, tăng trưởng kinh tế do yếu tố vốn và lao động còn chiếmchủ yếu, vai trò của TFP có tăng, nhưng còn rất thấp nếu so với ngay các nước đangphát triển ở châu Á
Bảng 5: Tỷ trọng đóng góp của các nhân tố đầu vào
đối với tăng trưởng GDP (%) Các yếu tố 1993 - 1997 1998 - 2002 2003 đến nay
Trang 9Lao động 15,9 20 19,1
Tổng hợp nguồn: Kinh tế Việt Nam 2003-2004 và Thời báo Kinh tế Việt Nam.
Từ 1993 đến nay, đóng góp của TFP vào GDP có tăng lên nhưng tăng còn dè dặt
và chiếm tỷ trọng không lớn (14,8% lên 28,2%); tỷ trọng đóng góp của lao động tănglên trong giai đoạn 1998 – 2002 nhưng lại có xu hướng giảm dần giai đoạn sau đó;đóng góp từ vốn có giảm xuống (từ 69,3% xuống còn 52,7%), tuy nhiên yếu tố vốnvẫn chiếm chủ yếu trong đóng góp vào tăng trưởng kinh tế So sánh với các nước trongkhu vực, tỷ trọng TFP trong tăng trưởng của nước ta thấp hơn rất nhiều (thời kỳ 1980– 2000 ở Hàn Quốc là 39,96%, Ấn Độ là 40,78%) Các chỉ số này phản ánh tính chất
của tăng trưởng nước ta còn nghiêng về chiều rộng hơn là chiều sâu Xu hướng phát
triển chủ yếu dựa vào yếu tố vốn đầu tư, trong khi đó, vốn tự có thấp, chủ yếu phải đivay từ nước ngoài, vay trong dân cư,… sẽ khiến cho tăng trưởng thiếu tính bền vững,
ổn định, dễ bị tác động từ các yếu tố bên ngoài, đặc biệt từ sự biến động của thị trườngvốn Yếu tố lao động được coi là nguồn lực nội sinh, hiện đang có lợi thế so sánh (nhưgiá rẻ, dồi dào…) thì chỉ đóng vai trò thấp hơn nhiều so với yếu tố vốn trong tăngtrưởng
Nguyên nhân của tình trạng này ở nước ta có thể được xem xét dựa trên các yếu
tố cơ bản trong năng suất nhân tố tổng hợp đó là hiệu quả đầu tư, chất lượng lao độngđược thể hiện qua năng suất lao động và tiến bộ khoa học công nghệ
* Hiệu quả đầu tư: Lượng vốn đầu tư liên tục tăng trong những năm qua, năm
2000 vốn đầu tư thực hiện theo giá thực tế là 151,2 nghìn tỷ đồng (bằng 34,2% GDP);năm 2005 tăng lên 324 nghìn tỷ đồng (bằng 38,7% GDP) Tốc độ tăng về vốn đầu tưthực hiện cao hơn tốc độ tăng GDP, tăng 22,3% (giai đoạn1991 – 1995); 12,2% (1996– 2000) và 13% (2001 – 2005) Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư lại thấp và ngày càng giảm,thể hiện qua chỉ số ICOR còn khá cao và liên tục tăng, cụ thể từ 2,7 (năm 1991) tăngdần lên 3,6 (năm 1997); tăng cao đột ngột năm 1998 và 1999 tương ứng là 5,3 và 6,1;sau giai đoạn này, chỉ số ICOR có giảm nhưng vẫn ở mức cao so với trước giai đoạnkhủng hoảng, 4,9 (năm 2003) và lên cao nhất vào năm 2005 (6,93)
Trang 10Đồ thị 4: Chỉ số ICOR các năm 1991 – 2005
Tổng hợp nguồn: Niên giám thống kê, Tổng cục Thống kê.
Có thể nói trong những năm đầu của công cuộc đổi mới, nhờ đổi mới cơ chế, nềnkinh tế đã huy động được tài sản cố định và khai thác hiệu quả các công suất đã đầu tưtrước đây, do vậy kết quả đầu tư tương đối có hiệu quả, hệ số ICOR thấp Sau cuộckhủng hoảng kinh tế châu Á, cùng với chính sách kích cầu, đầu tư vào kết cấu hạ tầng
ở nông thôn tăng nhanh, hệ số ICOR đã tăng nhanh Có nhiều nguyên nhân dẫn đếntình trạng đầu tư kém hiệu quả, hệ số ICOR cao, đó là:
- Thứ nhất, hệ số ICOR tăng một phần là vì nước ta đang trong thời kỳ đầu của
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần phải đầu tư nhiều vào các côngtrình xây dựng cơ bản, xây dựng cơ sở hạ tầng, là những dự án đòi hỏi số vốnđầu tư cao nhưng lại chậm thu hồi vốn, nhất là các công trình lớn và nhiềunăm nữa mới đi vào hoạt động
- Thứ hai, sự bất hợp lý trong cơ cấu vốn đầu tư, cụ thể chúng ta quá chú trọng
vào những ngành công nghiệp được xếp vào nhóm có sức cạnh tranh thấp, thuhồi vốn chậm (mía, đường, sắt, thép, phân bón, giấy…); đầu tư vào các dự áncần nhiều vốn nhưng sử dụng ít lao động; đầu tư dàn trải
- Thứ ba, hiệu quả vốn đầu tư của khu vực Nhà nước còn rất thấp Mặc dù vốn
đầu tư của khu vực Nhà nước chiếm hơn 56%, nhưng hiệu quả đầu tư ở khuvực này rất thấp Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, hệ số ICOR trongkhu vực Nhà nước là 7,2 trong khi đó ở khu vực tư nhân là 3,8
- Thứ tư, công tác giám sát đầu tư còn hạn chế Hầu hết các khâu từ quy hoạch,
thiết kế, dự toán, đấu thầu, thi công đến giám sát thi công đều chưa tốt dẫn đếnkhông bảo đảm chất lượng công trình Đồng thời, làm gia tăng thất thoát, lãngphí trong đầu tư xây dựng cơ bản, nhất là vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước và
0 1 2 3 4 5 6 7 8
1991 1993 1995 1997 1999 2001 2003 2005
Trang 11nguồn vốn ODA Vấn đề tham nhũng cũng là một trong những vấn đề gay gắthiện nay làm giảm hiệu quả đầu tư của nền kinh tế
Hệ số ICOR tăng nhanh là một vấn đề đáng báo động đối với tình hình chấtlượng đầu tư ở nước ta Các nhà kinh tế cho rằng, hệ số ICOR của nước ta hiện nay đãvượt qua ngưỡng an toàn Trong khi chỉ số ICOR của các nước trong khu vực ĐôngNam Á như Xingapo, Malaixia, Thái Lan… chỉ dao động trong khoảng 2,5 đến 3,5.Theo Báo cáo của Ngân hàng Thế giới, nếu so sánh với các nước ở giai đoạn tươngđồng thì chỉ số ICOR của Việt Nam so với Trung Quốc cao hơn khoảng 1,5 lần, vớiThái Lan là 1,35 lần
* Năng suất lao động xã hội: Một trong những nguyên nhân giải thích tại sao tỷ
trọng cũng như tốc độ tăng TFP của nước ta lại thấp như vậy xuất phát từ vấn đề năngsuất lao động xã hội Năng suất lao động của nước ta hiện đang kém từ 2 đến 15 lần sovới các nước trong khu vực ASEAN Năm 2004, năng suất lao động của Việt Nammới đạt 1.260 USD, thấp xa so với các mức năng suất 4.514,1 USD của Thái Lan,11.276,2 USD của Malaixia, 29.057,6 USD của Hàn Quốc Hơn nữa, năng suất laođộng của nước ta tăng rất chậm, chỉ khoảng 4 - 5%/năm Theo báo cáo năm 2004 củaADB Ngân hàng Phát triển châu Á đã so sánh năng suất lao động của Việt Nam vớicác nước Đông Nam Á, nếu năng suất lao động của Việt Nam là một thì năng suất laođộng của Inđônêxia là 1,24, năng suất của Philipin là 2,68 Như vậy, rõ ràng đóng gópnăng suất của lao động trong thời gian vừa qua, chẳng những không tăng lên nhiều, sovới các nước khu vực chúng ta lại càng bị cách xa thêm nữa
Năng suất lao động xã hội của nước ta ở mức thấp như vậy là do các nguyênnhân chủ yếu sau:
Thứ nhất, nguyên nhân xuất phát từ cơ cấu lao động theo ngành kinh tế của Việt
Nam hiện nay vẫn tập trung chủ yếu vào nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thuỷ sản(56,8%), còn nhóm ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng thấp (25,3%) và nhóm ngành côngnghiệp - xây dựng còn chiếm tỷ trọng thấp hơn nữa (17,9%), các tỷ lệ này gần nhưngược với các tỷ lệ tương ứng của các nước trong khu vực Trong khi đó, năng suất laođộng của nhóm ngành nông, lâm nghiệp - thuỷ sản chỉ đạt rất thấp (450 USD, riêngngành nông, lâm nghiệp đạt chưa được 400 USD), thấp xa so với năng suất lao độngcủa nhóm ngành dịch vụ (1.860 USD) và còn thấp hơn nữa so với năng suất lao độngcủa nhóm ngành công nghiệp - xây dựng (2.853 USD) Tính theo tỷ lệ năm suất laođộng trong ngành nông – lâm – ngư nghiệp chỉ chiếm bằng 12,3% năng suất lao độngcủa ngành công nghiệp và bằng 18% năng suất lao động ở khu vực dịch vụ
Thứ hai, chất lượng lao động của nước ta còn rất yếu kém, xếp vào loại thấp
(3,79 điểm/thang 10 điểm) Số lao động ở khu vực nông thôn chiếm chủ yếu trongtổng số lao động (trên dưới 75%, tương ứng khoảng 30 triệu người), tỷ lệ lao độngnông thôn qua đào tạo là rất thấp Theo kết quả điều tra nông thôn, nông nghiệp do
Trang 12Tổng cục Thống kê công bố đầu năm 2004, cả nước có 93% số lao động nông thônchưa qua đào tạo, 0,8% có trình độ cao đẳng, 0,7% ở trình độ đại học và tương đương.Ngoài ra, chỉ có 2,3% lao động được đào tạo tay nghề theo trình độ sơ cấp hoặc côngnhân kỹ thuật, 2,4% có trình độ trung cấp kỹ thuật Trong những năm gần đây, trình độhọc vấn của lao động cả nước nói chung và nông thôn nói riêng mặc dù không ngừngđược nâng cao nhưng vẫn có sự cách biệt khá lớn giữa khu vực thành thị và nông thôn,giữa nam và nữ, giữa các vùng lãnh thổ kinh tế về trình độ giáo dục Nhiều công trìnhnghiên cứu đã đưa ra kết luận ở nông thôn, dân trí thấp hơn 2 lần, nhân tài thấp hơn8,6 lần và nhân lực, trong đó có đào tạo nghề thấp hơn 10 lần so với khu vực thành thị.Hay theo số liệu thống kê được công bố ở khu vực đô thị, cứ 100 người tham gia lựclượng lao động thì có 67 người tốt nghiệp trung học cơ sở trở lên, cao hơn 1,5 lần sovới chỉ số này ở khu vực nông thôn; trong khi đó tỷ lệ chưa biết chữ ở khu vực nôngthôn cao gấp 4 lần so với thành thị Trong toàn nền kinh tế, tỷ lệ lao động đã qua đàotạo đến nay mới đạt 25%, còn tới 75% chưa qua đào tạo Trên thực tế, chưa có con sốthống kê chính xác về bao nhiêu phần trăm lao động đáp ứng được yêu cầu sử dụng.Thêm vào đó, cơ cấu đào tạo còn nhiều bất hợp lý, tồn tại tình trạng “thừa thầy thiếuthợ”.
Thứ ba, năng suất lao động xã hội thấp còn là do trình độ công nghệ của nước ta
còn thấp, hiệu quả quản lý kém, dẫn đến lãng phí các nguồn lực lao động, không pháthuy được tiềm năng
Theo chấm điểm và xếp hạng của Diễn đàn Kinh tế Thế giới, về sức cạnh tranhcủa lao động theo thang điểm 100 thì Việt Nam mới đạt 45 điểm về khung pháp lý, 20điểm về năng suất lao động, 40 điểm về thái độ lao động, 16 điểm về kỹ năng lao động
và 32 điểm về chất lượng lao động Các nhà kinh tế thế giới cũng cảnh báo rằng cácnền kinh tế có chất lượng nguồn nhân lực dưới 35 điểm đều có nguy cơ mất sức cạnhtranh trên thị trường toàn cầu Như đã phân tích ở trên, các nguyên nhân liên quan đến
cơ cấu lao động và chất lượng lao động đã dẫn đến năng suất lao động xã hội thấp, sửdụng vốn con người không hiệu quả, dẫn đến tỷ trọng thấp của TFP trong tăng trưởngkinh tế
* Tiến bộ khoa học công nghệ: Yếu tố cơ bản trong năng suất nhân tố tổng
hợp là tiến bộ khoa học công nghệ Tiến bộ khoa học công nghệ có tác động tăng năngsuất lao động xã hội và nâng cao hiệu quả đầu tư, thúc đẩy yếu tố năng suất nhân tốtổng hợp trong tăng trưởng
Đầu tư vào nghiên cứu, phát triển và ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất
ở nước ta trong những năm qua mặc dù đã có những tiến triển khả quan, tác động đếntăng trưởng trong nhiều lĩnh vực, góp phần tạo ra nhiều sản phẩm mới, có giá trị kinh
tế cao, song vẫn chưa tạo nên bước đột phá trong tỷ lệ đóng góp của tiến bộ khoa họccông nghệ vào tăng trưởng Theo tiêu chí đầu tư cho nghiên cứu và triển khai R&Dbình quân trên cán bộ nghiên cứu, Việt Nam thấp hơn Thái Lan 4 lần, Trung Quốc 7
Trang 13lần, 8 lần so với Malaixia và 26 lần so với Xingapo Đáng lưu ý là đầu tư R&D củakhu vực ngoài Nhà nước đang còn quá thấp, mới đạt khoảng 19% trong khi mức độnày ở Trung Quốc là 45%, Malaixia 60% và Nhật Bản đạt trên 72% Cuộc điều tra trên7.850 doanh nghiệp công nghiệp của Tổng cục Thống kê trong năm 2005 cũng chothấy, chỉ có 3,86% trong số 293 doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu khoa học và đổimới công nghệ, tỷ lệ này sút giảm gần 2 lần so với kỳ điều tra của năm 2002 (chiếm6,14%) Mặc dù chế biến là ngành được khuyến khích mạnh mẽ, nhưng chỉ có 38doanh nghiệp sản xuất thực phẩm và đồ uống (chiếm 3,4% số doanh nghiệp) đầu tưvào khoa học công nghệ
Số lượng các bằng phát minh sáng chế trên một người dân chỉ bằng 1/11 so vớiTrung Quốc và Thái Lan, bằng 1/88 so với Xingapo Năng lực nghiên cứu cơ bản vàphát triển công nghệ mặc dù được đánh giá là có tiến bộ khả quan song mới chỉ thểhiện dưới dạng tiềm năng Số lượng các cơ quan khoa học công nghệ so với các nước
là không nhiều, trình độ của cán bộ làm nghiên cứu khoa học công nghệ còn thấp sovới nhiều nước trong khu vực và khả năng đáp ứng nhu cầu xã hội còn hạn chế
Trình độ công nghệ trong nền kinh tế nước ta còn thấp, lạc hậu 3, 4 thế hệ so vớinhững nước công nghiệp phát triển, đứng thứ 92 trong số 104 nước được điều tra (WEF2004) Công nghệ trong các doanh nghiệp lạc hậu nhiều thế hệ so với khu vực Chuyểngiao công nghệ chưa có những tiến bộ cần thiết, đặc biệt trình độ công nghệ thông tincòn rất thấp Tỷ trọng doanh nghiệp có công nghệ cao mới đạt 20,6%, thấp xa so với cácnước ASEAN; rất ít doanh nghiệp quan tâm đến thông tin về khoa học và công nghệ, chỉ cókhoảng 8% doanh nghiệp đạt được trình độ tiên tiến (phần lớn là doanh nghiệp có vốn đầu tưnước ngoài) (Kết quả phân tích trên 41.000 doanh nghiệp ở 30 tỉnh, thành phố của Bộ Kếhoạch và Đầu tư cuối năm 2005)
III NĂNG LỰC CẠNH TRANH QUỐC GIA
Tăng trưởng về chất phải là quá trình tăng trưởng theo chiều sâu, đảm bảo nângcao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế nói chung và của ngành, củadoanh nghiệp nói riêng Tăng trưởng kinh tế đi liền với việc nâng cao năng lực cạnhtranh là tăng trưởng có chất lượng cao
Hiện nay, mặc dù đã thực hiện nhiều giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnhtranh, nhưng nhìn chung, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế nước tavẫn còn kém Xếp hạng năng lực cạnh tranh của nước ta rất thấp và liên tục tụt bậctrong bảng xếp hạng năng lực cạnh tranh toàn cầu của WEF trong những năm gần đây
Bảng 6: Xếp hạng năng lực cạnh tranh tăng trưởng của Việt Nam
Xếp hạng 48/33 49/59 64/75 60/80 60/102 77/104 81/117
Trang 14Nguồn: WEF – Global Competitiveness Report.
Xếp hạng của nước ta tụt giảm là do các chỉ số năng lực cạnh tranh thành phầnthấp (gồm có: chỉ số công nghệ - TI: Technology Index; chỉ số thế chế công – PII:Public Institution Index; chỉ số môi trường vĩ mô – MEI: MacroeconomicEnvironment Index) và có sự tụt giảm trong bảng xếp hạng:
Bảng 7: Xếp hạng các chỉ số năng lực cạnh tranh của Việt Nam
Năm
Hạng Điểm Hạng Điểm Hạng Điểm Hạng Điểm
Nguồn: WEF - Global Competitiveness Report.
Nguyên nhân dẫn đến xếp hạng chỉ số công nghệ của nước ta thấp do trình độcông nghệ của nước ta còn yếu kém Mặc dù đã có nhiều tiến bộ đáng kể trong việchoàn thiện hệ thống pháp luật (với sự ra đời của Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư vàLuật Đấu thầu năm 2006) và các chính sách cởi mở về xuất khẩu, song hệ thống phápluật của nước ta vẫn còn tồn tại nhiều bất cập; còn thiếu tính nhất quán và ổn định.Việc thực thi pháp luật không nghiêm cũng được coi là một nguyên nhân Nạn quanliêu, tham nhũng tuy đã có những biện pháp đấu tranh nhưng trong những năm gầnđây vẫn còn khá phổ biến và nghiêm trọng Dẫn đến chỉ số về năng lực thể chế củanước ta còn rất thấp Chỉ số về môi trường vĩ mô của Việt Nam cũng ở vị trí khiêmtốn Nguyên do môi trường kinh doanh còn chưa thực sự bình đẳng, còn quá nhiềudoanh nghiệp nhà nước độc quyền trên các lĩnh vực; tính minh bạch, công khai củanền kinh tế, bao gồm cả doanh nghiệp và cơ quan nhà nước còn thấp
Chương 2: CHẤT LƯỢNG TĂNG TRƯỞNG XÉT TRÊN KHÍA CẠNH MÔI TRƯỜNG
I ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG MÔI TRƯỜNG VIỆT NAM
Trang 15dụng (đất nông nghiệp tăng thêm 2.352.105 ha; đất lâm nghiệp có rừng tăng thêm2.180.235 ha và đất chuyên dùng tăng thêm 560.653 ha) Tuy nhiên, tổng diện tích đấtđưa vào sử dụng và diện tích đất bình quân đầu người thực tế lại đang có những biểuhiện đi ngược lại nỗ lực của tăng diện tích đất canh tác, đất sử dụng của Việt Nam.
1.1 Diện tích đất sử dụng cho canh tác ngày càng bị thu hẹp
Diện tích đất canh tác của Việt Nam vốn đã thấp nhưng lại giảm theo thời gian
do tệ phá rừng làm nương rẫy, sự xói mòn và thoái hoá đất, tình trạng sa mạc hóa, sức
ép tăng dân số tăng, mất đất do đô thị hoá, công nghiệp hoá và chuyển đổi mục đích sửdụng
Bảng 7: Giảm diện tích đất canh tác trên đầu người ở Việt Nam
Bình quân đầu người (ha/người) 0,2 0,16 0,13 0,11 0,10
Nguồn: Hội Khoa học Đất Việt Nam.
So sánh với các nước trong khu vực, số lao động trên 1 đơn vị diện tích của tathuộc hàng cao nhất Theo số liệu năm 2000 của FAO cho thấy nếu ở Việt Nam có 3,2lao động/ha thì ở Trung Quốc con số này là 0,9 LĐ/ha, Myanmar là 1,6 LĐ/ha,Inđônêxia là 3,1 LĐ/ha, điều này có nghĩa diện tích đất nông nghiệp trên một lao động
ở nước ta vào loại thấp nhất trong khu vực
- Mất đất do đô thị hoá
Đô thị ngày càng mở rộng đồng nghĩa với việc diện tích đất nông nghiệp ngàycàng bị thu hẹp lại, đặc biệt phần diện tích đất tốt, đất thuộc vùng đồng bằng châu thổtrù phú Điều này gây ảnh hưởng trực tiếp đe dọa đến nguy cơ thiếu đất canh tác trongtương lai gần, chưa kể đến các tác động tiêu cực về mặt xã hội (lao động nông thônkhông có việc làm, tệ nạn xã hội tăng lên,…) của quá trình này Trong vòng 10 năm
từ năm 1990 đến năm 2000, vùng đồng bằng sông Hồng, nơi tốc độ đô thị hoá diễn rasôi động nhất cả nước, phần đất dành cho cơ sở hạ tầng và nhà ở tăng thêm 63.780 hachiếm 4,31% diện tích đất tự nhiên, nghĩa là mỗi năm mất khoảng 0,43% đất tự nhiên
- Quá trình hoang mạc hóa làm diện tích đất canh tác bị thu hẹp
Nước ta hiện có khoảng 7.055.000 ha đang chịu tác động mạnh bởi hoang mạchóa, bao gồm đất trống bị thoái hóa mạnh, đất bị đá ong hóa (khoảng 7 ngàn ha); đất bịxói mòn tại Tây Bắc, Tây Nguyên và một số nơi khác là 120 ngàn ha; đất bị nhiễmmặn, nhiễm phèn ở đồng bằng sông Cửu Long là 30 ngàn ha; và đất khô hạn theo mùahoặc vĩnh viễn tập trung ở Nam Trung bộ là 300 ngàn ha
- Quy mô dân số lớn và ngày càng lớn hơn
Trang 16Quy mô dân số Việt Nam lớn, đứng thứ ba ở Đông Nam Á, thứ 14 trên thế giới
và là một trong những nước có mật độ dân số cao trên thế giới Trong hơn một thập kỷtrước đây, nước ta khống chế đựoc tốc độ gia tăng dân số quá nhanh Ty nhiên, từ saunăm 2000 đến nay, tốc độ này lại có chiều hướng gia tăng Nguy cơ tái bùng nổ dân sốđang đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước Đây là áp lực rất lớn đối với những
nỗ lực giải quyết việc làm, cung cấp các dịch vụ xã hội cơ bản và phát triển kinh tế xãhội, bảo vệ môi trường Quy mô phát triển dân số và mô hình tiêu dùng không hợp lý
đã tạo ra những sức ép rất lớn đối với đất đai, nguồn cung cấp năng lượng và tàinguyên thiên nhiên Cùng với sự gia tăng dân số, thì diện tích đất sử dụng cho canh tácngày càng bị thu hẹp
Bảng 8: Tỷ lệ hộ nông thôn không có đất
Nguồn: Việt Nam tấn công đói nghèo, Ngân Hàng Thế giới, Hà Nội.
1.2 Suy thoái và ô nhiễm đất
Ngoài các nguyên nhân khách quan như vị trí địa lý, khí hậu …, hoạt động củacon người như sự tăng dân số, đói nghèo, kỹ thuật canh tác không hợp lý, mất rừng,cháy rừng, phát triển cơ sở hạ tầng, xây dựng đô thị, khu công nghiệp, khai tháckhoáng sản… cũng tác động trực tiếp làm biến đổi tính chất đất và mất đất, làm chođất không còn tính năng sản xuất, từ đó dẫn đến quá trình suy thoái và ô nhiễm môitrường đất trở nên trầm trọng hơn Các nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường đất baogồm:
- Ô nhiễm do sử dụng phân bón hóa học: Sử dụng phân bón không đúng kỹ thuậttrong canh tác nông nghiệp, bón phân không cân đối, nặng về sử dụng phân đạm vàchất lượng phân bón không bảo đảm làm cho hiệu quả phân bón thấp Đồng thời lượngphân đạm dư thừa lại gây ô nhiễm môi trường đất (Ở nước ta, có trên 50% lượng đạm,50% lượng Kali và khoảng 80% lượng lân dư thừa)
- Ô nhiễm do thuốc bảo vệ thực vật: Thuốc bảo vệ thực vật gây chết tất cả nhữngsinh vật có hại và có lợi, và tồn dư lâu dài trong môi trường đất – nước Từ năm 2000,
Trang 17trung bình mỗi năm tiêu thụ trên 30 ngàn tấn thuốc bảo vệ thực vật thành phẩm Tổnglượng thuốc sử dụng hàng năm tăng từ 1,2 - 1,5 lần so với năm 1990 Mặc dù khốilượng thuốc bảo vệ thực vật được sử dụng ở Việt Nam còn ít so với các nước khác(trung bình từ 0,5 - 1kg/ha/năm), nhưng ở nhiều nơi đã phát hiện dư lượng thuốc bảo
vệ thực vật trong đất
Vùng bị ô nhiễm chủ yếu xảy ra ở ven một số thành phố lớn; khu công nghiệp vànhững nơi gia công kim loại không có công nghệ xử lý chất thải độc hại; những nơichuyên canh, thâm canh sử dụng phân bón và hoá chất bảo vệ thực vật không hợp lý,không có sự quản lý chặt chẽ Như đất phù sa của sông Hồng qua quá trình thâm canh,
sử dụng đất không hợp lý đã làm cho nhiều vùng đất bị thoái hoá tới mức không cònnhững đặc tính điển hình của đất phù sa như: Tỷ lệ sét giảm xuống còn dưới 13%, hàmlượng hữu cơ khoảng 1%, đạm tổng số 0,08%, lân tổng số 0,07%, canxi và magiê 2 - 4mili đương lượng, pH khoảng 4,5 Thâm canh tăng vụ không hợp lý, đất được gieotrồng liên tục không nghỉ làm đất bị khai thác quá mức, nhưng lại không được bổsung cân đối dẫn đến thiếu hụt nhiều nguyên tố dinh dưỡng dẫn đến thoái hoá đất vàtình trạng đất đai ngày càng bị “nghèo đi”
- Ô nhiễm chất thải vào môi trường đất do hoạt động công nghiệp: Trong nhữngnăm gần đây, hàm lượng kim loại nặng trong đất gần các khu công nghiệp đã tăng lênđáng kể, như tại cụm công nghiệp Phước Long, hàm lượng Cr cao gấp 15 lần, Cd từ1,5 đến 5 lần, As gấp 1,3 lần so với tiêu chuẩn
Suy thoái đất chủ yếu ở nước ta là xói mòn, rửa trôi; suy thoái hóa học mất chấtdinh dưỡng; đất bị chua; hoang mạc hóa Xói mòn là quá trình tiềm năng dẫn đếnthoái hóa đất mạnh nhất ở nước ta Lượng đất bị xói mòn thường phụ thuộc vào chế độcanh tác Chế độ du canh ở vùng đồi núi nước ta đã để lại hậu quả là từ đất rừng, saukhi khai phá trồng cây ngắn ngày, chu kỳ đất bỏ hóa để phục hồi độ phì nhiêu bị rútngắn nên hiện có khoảng 17,7 triệu ha đất dốc bị suy thoái ở các mức độ khác nhau
Sự suy thoái và ô nhiễm đất làm giảm năng suất cây trồng vật nuôi, làm nghèothảm thực vật, suy giảm đa dạng sinh học Đồng thời chúng có tác động ngược lại cànglàm cho quá trình xói mòn, thoái hóa đất diễn ra nhanh hơn Sự tích tụ cao các chấtđộc hại, các kim loại nặng trong đất sẽ làm tăng khả năng hấp thụ các nguyên tố có hạitrong cây trồng, vật nuôi và gián tiếp gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người Đểbảo vệ môi trường, nước ta cần có những chính sách quản lý, sử dụng đất đai thíchhợp
2 Về nguồn nước
Việt Nam có nguồn tài nguyên nước ngọt rất dồi dào, hoàn toàn có thể đảm bảođược nguồn nước sinh hoạt cho người dân (lượng nước tính trung bình trên đầu ngườicủa Việt Nam là 11.189 m3/người cao gần gấp đôi so với mức trung bình của thế giới),cũng như cho các mục đích để đáp ứng yêu cầu của phát triển bền vững Đây là một cơ
Trang 18sở rất quan trọng và thuận lợi cho Việt Nam để có thể đảm bảo được sự phát bền vữngcủa môi trường cũng như đạt được mục tiêu tăng trưởng có chất lượng.
Bảng 9: Tài nguyên nước tái tạo được của một số quốc gia (2002 - 2004)
Quốc gia Lượng nước (m 3 /người)
Trung bình các nước nghèo 50 - 500
Trung bình trên toàn cầu 6.538
Nguồn: Viện Tài nguyên Thế giới – WRI.
Mặc dù tài nguyên nước ngọt tương đối phong phú, đa dạng, có khả năng tái tạocao nhưng lại rất phức tạp về tính chất và đang có những diễn biến mà nếu không đượcquản lý tích cực và kịp thời sẽ là những khó khăn to lớn mà ta phải đối mặt tương laigần Quá trình phát triển kinh tế - xã hội, kéo theo những tác động đến môi trường môitrường nói chung, môi trường nước nói riêng tiềm ẩn những nguy cơ, thách thức trongtương lai gần
Ô nhiễm môi trường nước tác động trực tiếp đến sức khỏe con người, là nguyênnhân gây các bệnh suy dinh dưỡng, làm thiếu máu, gây kém phát triển, tử vong, nhất là
ở trẻ em Có đến 88% trường hợp bệnh tiêu chảy là do thiếu nước sạch, vệ sinh môitrường kém Có nhiều nguyên nhân làm ô nhiễm môi trường nước, trong đó chủ yếu lànhững nguyên nhân sau
2.1 Khai thác và sử dụng quá mức tài nguyên nước
Sự gia tăng dân số, quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóa mạnh mẽ tạo nên nhucầu sử dụng nước lớn trong khi nguồn tài nguyên nước không thay đổi, dẫn đến suygiảm nghiêm trọng cả về chất và về lượng đối với tài nguyên nước
Hiện nay có khoảng 60% đô thị có hệ thống cấp nước tập trung Tuy nhiên, dịch
vụ cấp nước đô thị còn nhiều hạn chế Hệ thống cấp nước đô thị xây dựng chắp vá,không hoàn chỉnh và đồng bộ Năm 2004, lượng nước cấp đô thị bị thất thoát khoảng
35 - 50% (mặc dù đã giảm khoảng 8 - 10% so với năm 2003) Mức bảo đảm nướctrung bình cho một người trong 1 năm từ 12.800 m3/người vào năm 1990, giảm còn10.900 m3/người vào năm 2000 và có khả năng chỉ còn khoảng 8500 m3/người vàokhoảng năm 2020 Tỷ lệ hộ được tiếp cận với nước sạch ở khu vực thành thị là 78%
Trang 19Trong khi đó tỷ lệ dân vùng nông thôn được cấp nước sạch và nước an toàn với tiêuchuẩn 50 lit/người/ngày là từ 40 - 60%, phụ thuộc vào từng vùng Nhiều vùng nôngthôn, đặc biệt là khu vực miền núi và đồng bằng sông Cửu Long còn gặp nhiều khókhăn về tiếp cận nguồn nước sạch So sánh với năm 2000 tổng lượng nước sử dụngtrong năm 2010 được dự báo sẽ tăng 14%; năm 2020, 25% và năm 2030, 38% Với đàgia tăng được dự báo trên đây đến năm 2030 lượng nước sử dụng sẽ có thể lên tới gần
90 tỷ m3/năm, tức bằng khoảng 11% tổng tài nguyên nước, hoặc 29% tài nguyên nướchình thành trên lãnh thổ quốc gia
Như vậy, mặc dù nước ta có nguồn tài nguyên nước ngọt khá dồi dào nhưng do
sự phân bố nguồn nước ngọt theo vị trí địa lý cũng như theo mùa là rất khác nhau nênviệc đảm bảo cung cấp đủ nguồn nước cần thiết cho mọi địa phương trong cả nước là
vô cùng khó khăn Đó là chưa kể đến nhu cầu sử dụng nước cho sinh hoạt cũng nhưcho sản xuất đang ngày càng gia tăng thực sự sẽ là một thách thức lớn cho mục tiêuđảm bảo tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững
2.2 Ô nhiễm nguồn nước và vấn đề xử lý nước thải
Việt Nam là một trong những nước đang ở tình trạng ô nhiễm nước nghiêm trọng
và diễn ra với tốc độ tăng nhanh nhất trên thế giới đặc biệt mức độ ô nhiễm nước ởmột số khu công nghiệp, khu chế xuất, cụm công nghiệp tập trung đã lên đến mức báođộng
Ô nhiễm nước mặt: Chất lượng nước ở thượng lưu của hầu hết các con sôngchính của Việt Nam còn khá tốt, trong khi mức độ ô nhiễm ở hạ lưu của các con sôngnày ngày càng tăng do ảnh hưởng của các đô thị và các cơ sở công nghiệp Đặc biệt,mức độ ô nhiễm tại các sông tăng cao vào mùa khô Ở các hệ thống sông chính trên cảnước đã thấy có hiện tượng hàm lượng BOD5 và N NH4- vượt mức tiêu chuẩn chophép từ 1,5 đến 3 lần, hàm lượng chất rắn lơ lửng vượt ngưỡng tiêu chuẩn cho phéploại A từ 1,5 đến 2,5 lần Một số điểm cũng đã có dấu hiệu bị ô nhiễm kim loại nặng.Trong khu vực nội thành của các thành phố lớn như Hà Nội, Hải Phòng, TP Hồ ChíMinh hệ thống các ao, hồ, kênh rạch và sông nhỏ đều ở tình trạng ô nhiễm nghiêmtrọng vượt quá mức tiêu chuẩn cho phép 5 - 10 lần Việc khai thác nước quá mức vàkhông có quy hoạch đã làm cho mực nước dưới đất bị hạ thấp Hiện tượng này thấynhiều ở các khu vực đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long Nước dưới đất
đã xuất hiện dấu hiệu ô nhiễm phốt phát và asen Khai thác nước dưới đất quá mứccũng đã dẫn đến hiện tượng xâm nhập mặn ở các vùng ven biển ở nhiều nơi Nướcdưới đất còn bị ô nhiễm do việc chôn lấp gia cầm bị dịch không đúng quy cách
2.3 Vấn đề xử lý nước thải
a Nước thải đô thị và công nghiệp
Hầu hết nước thải đô thị đều chưa được xử lý trước khi xả thải ra môi trường (chỉkhoảng 4,26% lượng nước thải công nghiệp được xử lý đảm bảo tiêu chuẩn) Ngoài ra,
Trang 20hiện nay cả nước chỉ có một số bãi chôn lấp rác có hệ thống xử lý nước rác hoạt độngthường xuyên và đảm bảo tiêu chuẩn môi trường Do đó, nước thải công nghiệp, nướcthải sinh hoạt, nước rò rỉ từ các bãi chôn lấp rác thải và cả nước thải bệnh viện (nguồnnước chứ nhiều thành phần nguy hiểm gây ô nhiễm nghiêm trọng cho môi trường)ngấm xuống đất và xâm nhập gây ô nhiễm các tầng chứa nước dưới đất.
b Nước thải từ hoạt động nông nghiệp và nước thải từ các nguồn khác tại khu vực nông thôn
Dư lượng hoá chất bảo vệ thực vật và phân khoáng trong hoạt động sản xuấtnông nghiệp, hoạt động của các làng nghề trong nước tạo ra một lượng chất thải xảvào môi trường một cách bừa bãi và không được xử lý gây ra phú ưỡng hoặc nhiềmđộc nước, dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước trầm trọng
Chất lượng nước không đảm bảo, nhất là nước sinh hoạt kéo theo đó là hàng loạt
các vấn đề sức khoẻ cộng đồng bị ảnh hưởng, chất lượng đời sống sẽ xấu đi Điều nàykhẳng định tăng trưởng của Việt Nam chưa thực sự bền vững về mặt môi trường và xãhội, tăng trưởng tuy có đạt được tốc độ cao nhưng chất lượng cuộc sống của người dânlại đi xuống, nhiều nguy cơ tiềm ẩn đe dọa đến người dân trong tương lai
3 Ô nhiễm không khí
Ô nhiễm môi trường không khí đang là một vấn đề bức xúc đối với môi trường
đô thị, công nghiệp và các làng nghề ở nước ta hiện nay Ô nhiễm môi trường khôngkhí có tác động xấu đối với sức khoẻ con người (đặc biệt là gây ra các bệnh đường hôhấp), ảnh hưởng đến các hệ sinh thái và biến đổi khí hậu (hiệu ứng "nhà kính", mưaaxít và suy giảm tầng ôzôn), Công nghiệp hoá càng mạnh, đô thị hoá càng phát triểnthì nguồn thải gây ô nhiễm môi trường không khí càng nhiều, áp lực làm biến đổi chấtlượng không khí theo chiều hướng xấu càng lớn, yêu cầu bảo vệ môi trường không khícàng quan trọng nhằm đảm bảo cho nền kinh tế tăng trưởng có chất lượng
3.1 Hiện trạng ô nhiễm
Ô nhiễm bụi: Nồng độ bụi trong không khí ở các thành phố lớn như Hà Nội,
thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng trung bình lớn hơn trị số tiêu chuẩn chophép từ 2 đến 3 lần, ở các nút giao thông thuộc các đô thị này nồng độ bụi lớn hơn tiêuchuẩn cho phép từ 2 đến 5 lần, ở các khu đô thị mới đang diễn ra quá trình thi côngxây dựng nhà cửa, đường sá và hạ tầng kỹ thuật thì nồng độ bụi thường vượt tiêuchuẩn cho phép từ 10 - 20 lần như thị xã Vĩnh Yên (nồng độ bụi: 0,70 - 1,23 mg/m3),thị xã Phúc Yên (0,99 - 1,33 mg/m3), thị trấn Hoà Mạc, Hà Nam (1,31 mg/m3), thị xã
Trang 21Vũng Tàu, Long An có nồng độ khí SO2 lớn nhất, nhưng vẫn thấp hơn trị số tiêuchuẩn cho phép tới 2 lần, ở các thành phố khác còn lại, như Hà Nội, Hải Phòng, HạLong, Thanh Hoá, Vinh, Huế, Cần Thơ, Cà Mau, Mỹ Tho, nồng độ khí SO2 trungbình ngày đều dưới 0,1 mg/m3, tức là thấp hơn trị số tiêu chuẩn cho phép tới 3 lần.
Ô nhiễm chì (Pb) trong không khí đô thị: Thực hiện chỉ thị 24/2000/CT-TTg của
Thủ tướng Chính phủ, ở nước ta đã sử dụng xăng không pha chì từ ngày 1/7/2001 Sốliệu quan trắc ô nhiễm giao thông cho thấy nồng độ chì trong không khí Hà Nội trungbình năm 2002 giảm đi khoảng 40 - 45% so với cùng thời kỳ năm trước; tương tự, ởthành phố Hồ Chí Minh nồng độ chì giảm đi khoảng 50%
Nồng độ khí độc hại (SO2, NO2, CO) ở phần lớn các đô thị và khu công nghiệpđều nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép, tức là chưa có tình trạng ô nhiễm bởi các loại khínày Song ở một số nhà máy và ở một số nút giao thông lớn trong đô thị, nồng độ cácloại khí độc hại trên vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần Trong khi mức độ ô nhiễmmôi trường không khí ở các khu vực rộng lớn chưa đáng kể, thì ô nhiễm môi trườngkhông khí trong nội bộ các cơ sở sản xuất (ô nhiễm môi trường lao động) lại là vấn đềđáng lo ngại
3.2 Nguyên nhân ô nhiễm không khí
Từ hoạt động công nghiệp:
Các hoạt động sản xuất công nghiệp vẫn là một trong những nguồn chính gây ra
ô nhiễm môi trường không khí Các cơ sở sản xuất công nghiệp cũ hầu như chưa cóthiết bị xử lý khí thải độc hại, công nghệ thì lạc hậu, thường dùng than, dầu FO để làm
nhiên liệu đốt nên thải ra nhiều chất gây ô nhiễm môi trường không khí, không đạt tiêu
chuẩn về chất lượng môi trường Công nghiệp cũ lại rất phân tán, do quá trình đô thịhoá, phạm vi thành phố ngày càng mở rộng nên hiện nay phần lớn công nghiệp cũ nàynằm trong nội thành của nhiều thành phố Ví dụ, ở thành phố Hồ Chí Minh, không kểcác cơ sở thủ công nghiệp, có khoảng 500 xí nghiệp trong tổng số hơn 700 cơ sở côngnghiệp nằm trong nội thành, ở thành phố Hà Nội có khoảng 200 xí nghiệp trong tổng
số khoảng 300 cơ sở công nghiệp nằm trong nội thành
Các cơ sở công nghiệp mới được đầu tư tập trung vào các khu công nghiệp Tuynhiên còn một số nhà máy lớn, vẫn còn nằm ở các vị trí riêng rẽ và chưa xử lý triệt để
ác khí thải độc hại nên vẫn gây ra ô nhiễm môi trường không khí xung quanh Trongcác năm gần đây nguồn ô nhiễm từ hoạt động công nghiệp nằm trong nội thành cóphần giảm bớt do các tỉnh, thành đã tích cực thực hiện chỉ thị xử lý triệt để các cơ sởgây ô nhiễm nghiêm trọng nằm xen kẽ trong các khu dân cư
Hoạt động công nghiệp gây ô nhiễm không khí còn từ các khu, cụm công nghiệp
cũ, như các khu công nghiệp: Thượng Đình, Minh Khai - Mai Động (Hà Nội), ThủĐức, Tân Bình (thành phố Hồ Chí Minh), Biên Hoà I (Đồng Nai), Khu Công nghiệpViệt Trì, Khu Gang thép Thái Nguyên, Các chất ô nhiễm không khí chính do công
Trang 22nghiệp thải ra là bụi, khí SO2, NO2, CO, HF và một số hoá chất khác Bụi và các loạikhí thải độc hại như SO2, NO2, CO,… do các khu công nghiệp, các làng nghề thải ra
có tác động trực tiếp ngay đến môi trường các khu vực xung quanh và ảnh hưởngnghiêm trọng đến đời sống cũng như sức khỏe dân cư gần các khu công nghiệp, cáclàng nghề hay chính người dân trong các làng nghề Do đó, nếu như chỉ vì mục tiêu vàlợi ích kinh tế mà gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe và môi trường thì cũngtăng trưởng đó là tăng trưởng không có chất lượng và không bền vững
Từ hoạt động giao thông vận tải: Cùng với quá trình công nghiệp hoá và đô thị
hoá, số lượng các phương tiện giao thông vận tải tăng nhanh Nguồn thải từ giao thôngvận tải đã trở thành một nguồn gây ô nhiễm chính đối với môi trường không khí ở đôthị, nhất là ở các đô thị lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Đà Nẵng.Theo đánh giá của chuyên gia môi trường, ô nhiễm không khí ở đô thị do giao thôngvận tải gây ra chiếm tỷ lệ khoảng 70% Do số lượng xe máy tăng lên rất nhanh, khôngnhững làm tăng nhanh nguồn thải gây ô nhiễm không khí, mà còn gây ra tắc nghẽngiao thông ở nhiều đô thị lớn
Từ hoạt động xây dựng: Ở nước ta hiện nay hoạt động xây dựng nhà cửa, đường
sá, cầu cống, diễn ra rất mạnh và ở khắp nơi, đặc biệt ở các đô thị Các hoạt độngxây dựng như đào lấp đất, đập phá công trình cũ, vật liệu xây dựng bị rơi vãi trong quátrình vận chuyển, thường gây ô nhiễm bụi rất trầm trọng đối với môi trường không khíxung quanh, đặc biệt là ô nhiễm bụi, nồng độ bụi trong không khí ở các nơi có hoạtđộng xây dựng vượt trị số tiêu chuẩn cho phép tới 10 - 20 lần
Từ sinh hoạt của nhân dân: Nhân dân ở nông thôn nước ta thường đun nấu bằng
củi, rơm, cỏ, lá cây và một tỷ lệ nhỏ đun nấu bằng than Nhân dân ở thành phố thườngđun nấu bằng than, dầu hoả, củi, điện và khí tự nhiên (gas) Đun nấu bằng than và dầuhoả sẽ thải ra một lượng chất thải ô nhiễm đáng kể, đặc biệt nó là nguồn gây ô nhiễmchính đối với môi trường không khí trong nhà, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ củangười dân Trong những năm gần đây nhiều gia đình trong đô thị đã sử dụng bếp gasthay cho bếp đun bằng than hay dầu hoả
Ngoài ra các nguyên nhân trên thì còn có một số nguyên nhân cũng làm ô nhiễmmôi trường như cháy rừng hay các nguồn ô nhiễm từ các quốc gia lân cận
II ĐÁNH GIÁ VỀ BẢO TỔN ĐA DẠNG SINH HỌC
Nước ta được quốc tế xếp thứ 10 về đa dạng sinh học, nhưng tốc độ suy giảmđược xếp vào loại nhanh Hiện nay, trên cả nước nhiều hệ sinh thái tự nhiên, khu bảotồn đang bị xâm phạm và phá hoại nghiêm trọng
1 Bảo vệ và phát triển rừng
Theo báo cáo của Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO),Việt Nam là một trong số 10 nước có diện tích trồng rừng lớn nhất trên thế giới Số
Trang 23liệu thống kê của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cho biết Việt Nam hiện cókhoảng 12,3 triệu ha rừng, trong đó có 10 triệu ha rừng tự nhiên Với dự án trồng mới
5 triệu ha rừng giai đoạn 1998 - 2005, Việt Nam đã nâng độ che phủ rừng lên 36,7%,tăng 3,5 % so với năm 1999 Trong nhóm 10 quốc gia nói trên, ngoài Việt Nam còn có
5 nước châu Á khác là Ấn Độ, Thái Lan, Nhật Bản, Inđônêxia và Trung Quốc Tuynhiên, tốc độ phá rừng tự nhiên cũng đang diễn ra mạnh, con số lên tới 0,8 triệu hécta/năm đã khiến số lượng nhiều loài động, thực vật giảm mạnh, làm gia tăng số lượng cácloài động thực vật có hại cho rừng và nông nghiệp, đồng thời gây bệnh cho con người.Thiệt hại này ước tính lên tới hàng trăm tỷ USD đối với toàn khu vực trong 5 năm qua.Quá trình quản lý chưa bền vững, độ che phủ của rừng ở Việt Nam đã giảm sútđến mức báo động Chất lượng của rừng tự nhiên còn lại đã bị hạ thấp quá mức Trướcđây phần lớn đất nước Việt Nam có rừng che phủ, nhưng chỉ khoảng một thế kỷ qua,rừng bị suy thoái nặng nề Hiện nay, độ che phủ của rừng còn lại khoảng 43% diệntích đất tự nhiên
Sau chiến tranh, diện tích rừng chỉ còn lại khoảng 9,5 triệu ha, chiếm 29% diệntích cả nước Trong mấy năm qua, diện tích rừng có chiều hướng tăng lên, 28,2% năm
1995 và cuối năm 2002 theo số liệu thống kê mới nhất thì độ che phủ rừng toàn quốclên đến là 35,8%
Bảng 10: Diễn biến diện tích rừng qua các thời kỳ
Đơn vị tính: 1.000.000ha
1945 1976 1980 1985 1990 1995 1999 2002
Tổng diện tích 14,300 11,169 10,608 9,892 9,175 9,302 10,995 11,784Rừng trồng 0 0,092 0,422 0,584 0,745 1,050 1,524 1,919Rừng tự nhiên 14,300 11,076 10,186 9,308 8,430 8,252 9,470 9,865
Độ che phủ
Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tính đến tháng 12 năm 2003.
Những con số thống kê về tăng diện tích rừng tự nhiên trong Bảng 10 đã phần
nào nói lên điều đó Diện tích rừng tự nhiên nước ta giảm dần từ 14,3 triệu ha năm
1945 đến 8,2525 triệu ha năm 1995, bỗng nhiên tăng lên 9,470737 triệu ha năm 1999
và đến năm 2002 là 9,865020 triệu ha, như vậy là trong 7 năm mỗi năm trung bìnhtăng hơn 230.000 ha Diện tích rừng tự nhiên tăng chủ yếu do sự phát triển của rừngtái sinh và rừng tre nứa Mặc dù diện tích rừng tăng nhưng chất lượng rừng bị suygiảm
Trang 24Cũng cần chú ý là công tác thống kê rừng của chúng ta tới nay còn nhiều hạnchế, các số liệu về diện tích rừng được công bố rất khác nhau, tuỳ nguồn tài liệu, vàtuỳ thời gian do thiếu thống nhất về phương pháp và các tiêu chí định lượng về rừng
2 Hệ sinh thái của Việt Nam
Các hệ sinh thái của Việt Nam rất đa dạng và phong phú, tạo nên môi trườngsống cho khoảng 10% số loài chim và thú trên toàn cầu Việt Nam có nhiều loài độngthực vật rất độc đáo mà nhiều quốc gia trên thế giới không có được, đã làm cho ViệtNam trở thành nơi tốt nhất (trong một số trường hợp là nơi duy nhất) để bảo tồn đadạng sinh học
Việt nam có khoảng 126 khu bảo tồn thiên nhiên, với tổng diện tích trên 2,5 triệu
ha, bao gồm các khu rừng bảo vệ cảnh quan, vườn quốc gia, khu bảo tồn loài và nơi cưtrú, khu dự trữ thiên nhiên tăng 28% diện tích so với trước khi nước ta tham giaCông ước quốc tế về đa dạng sinh học năm 1994 Diện tích rừng được bảo tồn ở nước
ta chỉ ở mức trung bình nếu so với các nước trong khu vực Xu hướng quần thể của rấtnhiều loại động thực vật tại Việt Nam đang suy giảm, ngày càng có nhiều loài phải đốimặt với nguy co tuyệt chủng Theo kết quả điều tra của các nhà sinh học, từ năm 1996đến nay, ở nước ta có 152 loài động vật và thực vật quý hiếm đang có nguy cơ tuyệtchủng Trong đó, đáng chú ý các loài tê giác 2 sừng, heo vòi, cầy rái cá, hươu sao, cáchép gốc, cá sấu hoa cà hầu như không tồn tại trong tự nhiên mà chỉ còn một số cáthể
Để bảo vệ và duy trì hệ sinh thái này, trong những năm qua, Việt Nam đã tăngcường đầu tư cho các chương trình, dự án bảo tồn sinh học Theo báo cáo môi trườngViệt Nam 2005, tổng kinh phí đầu tư cho bảo tồn đa dạng sinh học năm 2005 đạt xấp
xỉ 51,8 triệu USD, gấp 10 lần so với một thập kỷ trước Tuy nhiên, theo các chuyên giamôi trường: mặc dù tỷ lệ đầu tư cho các dự án bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nammỗi năm chiếm từ 20 - 30% nguồn kinh phí trong lĩnh vực môi trường, nhưng chấtlượng bảo tồn chưa cao
Hiện nay, khoảng 25 triệu người Việt Nam sống dựa vào các hệ sinh thái rừng vàkhoảng 8 triệu người khác có một phần thu nhập từ ngư nghiệp Các hệ sinh thái và đadạng sinh học đã góp phần quan trọng cải thiện điều kiện sống, cung cấp dinh dưỡng,lương thực, chất đốt, thuốc men, bảo vệ sức khoẻ và cung cấp nước sinh hoạt cho conngười Như vậy, các hệ sinh thái của nước ta còn có một ý nghĩa vô cùng quan trọngkhông chỉ về mặt môi trường môi sinh mà còn có ý nghĩa cả về mặt kinh tế đối vớimột bộ phận không nhỏ người dân, đồng thời góp phần vào tăng trưởng kinh tế của đấtnước
III TỔ CHỨC QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG
Ngày 17/8/2004, Định hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam(Chương trình Nghị sự 21 của Việt Nam) đã chính thức được ban hành theo quyết định
Trang 25số 153/2004/QĐ – TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đây là một chiến lượckhung, bao gồm những định hướng lớn làm cơ sở pháp lý để các bộ, ngành, địaphương, các tổ chức và cá nhân triển khai thực hiện và phối hợp hành động nhằm bảođảm phát triển bền vững đất nước trong thế kỷ XXI Việt Nam trở thành một trong 113nước trên thế giới đã xây dựng và triển khai thực hiện Chương trình Nghị sự 21 vềphát triển bền vững cấp quốc gia theo nghị quyết được 179 nước thông qua tại Hộinghị Thượng đỉnh Trái đất về Môi trường và phát triển được tổ chức năm 1992 ở Rio
de Janeiro
Hệ thống quản lý nhà nước về môi trường từ Trung ương đến địa phương đangtừng bước được xây dựng và hoàn thiện ở cả 4 cấp theo hướng gắn kết quản lý nhànước về môi trường với quản lý nhà nước về tài nguyên thiên nhiên Cụ thể Bộ Tàinguyên và Môi trường đã được thành lập năm 2002, chịu trách nhiệm là cơ quan chủquản trong các hoạt động khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên và môi trường Đồngthời, xây dựng cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành và địa phương trong việc bảo vệmôi trường Hội nghị môi trường toàn quốc tháng 4 năm 2005 đã thống nhất: Bảo vệmôi trường là nhiệm vụ hết sức khó khăn và nặng nề, đỏi hỏi phải có sự quyết tâm caocủa lãnh đạo các bộ, ban và ngành, đoàn thể ở Trung ương và đặc biệt là chính quyềncác địa phương Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục tăng cường vai trò chủ trì,phối hợp chỉ đạo xử lý các vấn đề môi trường có tính liên ngành, liên vùng Mới đâyngày 27/9/2005, Hội đồng Phát triển bền vững Quốc gia chính thức được thành lập đểgiúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo thống nhất việc thực hiện trong phạm vi cả nướcĐịnh hướng chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam Đây được coi như một bướctiến có ý nghĩa quan trọng trong việc hoàn thiện về mặt quản lý nhà nước từ Trungương đến địa phương trong việc triển khai thực hiện cụ thể Chương trình Nghị sự 21của Việt Nam
Chương 3: HIỆU LỰC QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC
I CÁC CHÍNH SÁCH VĨ MÔ
Thực tiễn kinh nghiệm phát triển của các nước tiên tiến trên thế giới đều thừanhận tầm quan trọng của vai trò quản lý nhà nước trong việc xây dựng môi trườngkinh tế vĩ mô ổn định và hợp lý để khuyến khích tích luỹ và đầu tư Những kinhnghiệm thành công nhất về phát triển ở Đông Á có được gần đây là nhờ các yếu tố nhưmức độ thâm hụt ngân sách thấp; tốc độ tăng trưởng tiền tệ và tín dụng hợp lý; tỷ lệlạm phát tương đối thấp; các khoản nợ của khu vực công cộng tăng ở mức độ hạn chế;lãi xuất thực được duy trì ở mức độ dương để khuyến khích tích luỹ trong nước; tỷ giáhối đoái được quản lý để tránh tình trạng giá trị đồng tiền quá cao, khuyến khích xuấtkhẩu và góp phần duy trì cán cân thanh toán và sự ổn định về tài chính… Nhờ có tính
ổn định và khả năng dự đoán tương đối của môi trường kinh tế vĩ mô, người dân yêntâm đầu tư tiết kiệm dài hạn vào thị trường tài chính và các nhà doanh nghiệp yên tâm
Trang 26khi đầu tư cho các dự án, kể cả các dự án có thời gian thu hồi vốn dài Chính vì vậy, tỷ
lệ tích luỹ (tiết kiệm nội địa) và đầu tư tăng mạnh, đẩy nhanh tốc độ tích luỹ các nguồnvốn, cả vật chất và con người, tạo tiềm lực cho tăng trưởng kinh tế cao, nâng cao sựphồn thịnh bền vững về kinh tế và nhanh chóng thực hiện công cuộc xoá đói giảmnghèo Chính vì vậy, trong nội dung nghiên cứu về hiệu quả các chính sách vĩ mô củaNhà nước, chuyên đề sẽ tập trung đi sâu vào nghiên cứu vào các chính sách tài khóa,chính sách tiền tệ, chính sách tỷ giá - những công cụ chính để nhà nước điều tiết vĩ môtoàn nền kinh tế
1 Chính sách tài khóa
(Sử dụng tư liệu bài viết “Tăng cường hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ
và chính sách tài khoá ở Việt Nam”, TS - Nguyễn Đại La, trang web NHNN.
Bài viết “Đánh giá mức độ bền vững của ngân sách nhà nước Việt Nam trong điều kiện hiện nay”, TS Bùi Đường Nghiêu, Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 1/2006).
Nhiều năm qua, chính sách tài khóa của nước ta được điều hành một cách thậntrọng với mục tiêu nhằm bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, tiền đề cho phát triển kinh tếbền vững Cụ thể, thực hiện chính sách cân đối ngân sách một cách tích cực và ngàycàng có những tiến bộ quan trọng, có dự trữ, giữ bội chi ở mức hợp lý, tổng nợ khu vựccông (cả nợ nước ngoài và nợ trong nước) thấp, luôn ở tình trạng có thể kiểm soátđược Tuy nhiên đi sâu vào tìm hiểu quy mô và cơ cấu thu, chi NSNN còn có nhiềuđiều bất ổn, có nguy cơ đe dọa đến tính bền vững và có chất lượng của Ngân sách Nhànước (NSNN)
Về cơ cấu thu, đã dựa vào nguồn nội lực trong nước là chính, chiếm khoảng 98%,
thu từ viện trợ nước ngoài chiếm phần không đáng kể Chính sách thuế được đổi mớitheo hướng đa dạng hóa cơ sở thuế để tăng thu, mỗi năm thu thuế chiếm khoảng 13%GDP Tuy nhiên, các khoản thu ít có tính ổn định bền vững chiếm tỷ trọng lớn như thu
từ dầu thô; từ nhà đất; thu sổ xố kiến thiết; thu từ xuất nhập khẩu… Cụ thể chiếm59,4% tổng thu NSNN năm 2004, chiếm 55,73% năm 2005 Trong đó chiếm tỷ trọngcao nhất là dầu thô chiếm 22,4% tổng thu NSNN năm 2004; các hoạt động liên quanđến XNK chiếm 21,3% Các khoản thu có tính bền vững là các khoản thu từ các sắcthuế (chủ yếu là thuế thu GTGT, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân,thuế thu nhập đặc biệt) thu từ các doanh nghiệp chỉ chiếm dưới 50% tổng thu NSNN(40,6% năm 2004; 44,27% năm 2005) Cơ cấu thu theo thành phần kinh tế đã có nhữngbước chuyển biến theo hướng thu từ khu vực kinh tế ngoài Nhà nước có xu hướng tăng,