1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập nhóm dân sự: Ông Nguyễn Văn A có 3 người con L, M, N (anh L là con trai duy nhất). Năm 2016 ông A quyết định trao toàn bộ diện tích nhà cho anh L.

11 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 33 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ông Nguyễn Văn A có 3 người con L, M, N (anh L là con trai duy nhất). Năm 2016 ông A quyết định trao toàn bộ diện tích nhà cho anh L. Ông A đã tới phòng công chứng làm hợp đồng tặng cho nhà, đất của mình cho anh L (mảnh đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) với điều kiện anh L phải có nghĩa vụ chăm sóc cho cháu B (10 tuổi) một đứa trẻ bị mồ côi cha mẹ sống trong làng thay ông đến khi cháu B tròn 18 tuổi. Trong thời gian ông A còn sống, anh L làm đúng nghĩa vụ chăm sóc cháu B như yêu cầu của ông A. Tuy nhiên, đến năm 2017, khi ông A chết, anh L không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc cháu B nữa. Hỏi: 1. Quan hệ giữa ông A và anh L là quan hệ dân sự gì? 2. Anh L có được coi là vi phạm về điều kiện trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với ông A không? 3. Những người con còn lại của ông A (bao gồm M và N) có quyền đòi lại tài sản ông A đã cho anh L không? 4. Bảo vệ lợi ích của cháu B như thế nào?

Trang 1

MỤC LỤC

1 Quan hệ giữa ông A và anh L là quan hệ dân sự gì? 2

2 Anh L có được coi là vi phạm về điều kiện trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với

ông A không? 3

3 Những người con còn lại của ông A (bao gồm M và N) có quyền đòi lại tài sản ông

A đã cho anh L không? 5

4 Bảo vệ lợi ích của cháu B như thế nào? 6

Trang 2

ĐỀ BÀI

Ông Nguyễn Văn A có 3 người con L, M, N (anh L là con trai duy nhất) Năm 2016 ông

A quyết định trao toàn bộ diện tích nhà cho anh L Ông A đã tới phòng công chứng làm

hợp đồng tặng cho nhà, đất của mình cho anh L (mảnh đất có giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất) với điều kiện anh L phải có nghĩa vụ chăm sóc cho cháu B (10 tuổi) - một đứa

trẻ bị mồ côi cha mẹ sống trong làng thay ông đến khi cháu B tròn 18 tuổi Trong thời

gian ông A còn sống, anh L làm đúng nghĩa vụ chăm sóc cháu B như yêu cầu của ông A

Tuy nhiên, đến năm 2017, khi ông A chết, anh L không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc

cháu B nữa Hỏi:

1 Quan hệ giữa ông A và anh L là quan hệ dân sự gì?

2 Anh L có được coi là vi phạm về điều kiện trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với ông

A không?

3 Những người con còn lại của ông A (bao gồm M và N) có quyền đòi lại tài sản ông A

đã cho anh L không?

4 Bảo vệ lợi ích của cháu B như thế nào?

BÀI LÀM

1 Quan hệ giữa ông A và anh L là quan hệ dân sự gì?

Quan hệ giữa ông A và anh L là quan hệ tặng cho tài sản có điều kiện

Trước hết theo đề bài, ông Nguyễn Văn A quyết định trao toàn bộ diện tích nhà cho anh

L Căn cứ vào Điều 457, BLDS năm 2015: “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận

giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho

bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận”, việc trao

diện tích nhà của ông A cho anh L được xác định là hợp đồng tặng cho Vì hợp đồng

giữa ông A và anh L được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa bên tặng cho là ông A

với bên được tặng cho là anh L, theo đó ông A giao tài sản của mình và chuyển quyền sở

Trang 3

hữu cho anh L mà không yêu cầu đền bù và được xác lập dựa trên sự đồng ý nhận của

anh L Hơn nữa, vì đối tượng trong hợp đồng tặng cho ở đây là bất động sản nên ông A

đã đến phòng công chứng làm hợp đồng tặng cho nhà phù hợp với quy định tại Điều

459, BLDS năm 2015

Đồng thời, khi tặng cho, ông A cũng có điều kiện là anh L phải có nghĩa vụ chăm sóc

cháu B đến khi cháu B tròn 18 tuổi Vì vậy theo quy định tại Điều 462, BLDS năm 2015

thì hợp đồng tặng cho giữa ông A và anh L là hợp đồng tặng cho có điều kiện

Điều 462, BLDS năm 2015 quy định về tặng cho tài sản có điều kiện như sau:

“1 Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ

trước hoặc sau khi tặng cho Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật,

không trái đạo đức xã hội.

2 Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã

hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh

toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.

3 Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không

thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.”

Kết luận: Quan hệ giữa ông A và anh L là quan hệ tặng cho tài sản có điều kiện.

2 Anh L có được coi là vi phạm về điều kiện trong việc thực hiện nghĩa vụ đối

với ông A không?

Căn cứ vào Điều 462, BLDS năm 2015, điều kiện tặng cho được hiểu là một hoặc nhiều

nghĩa vụ mà bên được tặng cho phải thực hiện trước hoặc sau khi nhận tài sản tặng cho

Thông thường, điều kiện tặng cho do bên tặng cho đưa ra và được sự chấp thuận của bên

được tặng cho Việc xác định điều kiện tặng cho phụ thuộc vào ý chí của các bên trong

hợp đồng Tuy nhiên, các bên không được phép thỏa thuận điều kiện mà vi phạm điều

cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội Việc thực hiện điều kiện có thể tiến hành

Trang 4

trước hoặc sau khi tặng cho tài sản, phụ thuộc vào sự thống nhất ý chí của bên tặng cho

và bên được tặng cho

Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực

hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại Vì để nhận

được tài sản thì bên được tặng cho phải hoàn thành điều kiện, do đó, nếu bên tặng cho

không thực hiện điều kiện đồng nghĩa với việc họ không được nhận tài sản và phải trả

lại cho bên tặng cho

Theo khoản 3 Điều luật này, bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản nếu bên được tặng cho

không thực hiện điều kiện Quy định mới chỉ giải quyết được trường hợp “bên được tặng

cho không thực hiện điều kiện.” Tuy nhiên, thực tế tồn tại rất nhiều trường hợp bên được

tặng cho thực hiện điều kiện nhưng chỉ thực hiện một phần, trong từng khoảng đoạn thời

gian, đặc biệt là đối với những điều kiện có thời gian thực hiện lâu, không xác định được

thời điểm chấm dứt như điều kiện nuôi dưỡng, không được bán tài sản tặng cho,… thì

khoản 3 chưa giải quyết được

Trong trường hợp này, anh L - bên được được tặng cho tài sản là đất, nhà với điều kiện

sẽ phải chăm sóc cháu B đến năm 18 tuổi Điều kiện này do ông A đưa ra và được sự

chấp thuận của hai bên đó là ông A và anh L.Thời gian ông A còn sống, anh L đã thực

hiện đúng nghĩa vụ của mình đó là chăm sóc cháu B Tuy nhiên, khi ông A mất, anh L

không chăm sóc cháu B nữa Như vậy, anh L có thực hiện điều kiện của hợp đồng giữa

anh và ông A, nhưng chỉ thực hiện một phần trong khoảng thời gian ông A còn sống,

ngay sau khi ông A chết, anh đã không thực hiện nữa Theo đó, Anh L đã vi phạm nghĩa

vụ của người nhận chăm sóc thay thế trẻ em theo quy định tại khoản 1, Điều 64, Luật

Trẻ em năm 2016:

“1 Người nhận chăm sóc thay thế có trách nhiệm sau đây:

a) Bảo đảm Điều kiện để trẻ em được sống an toàn, thực hiện quyền và bổn phận

của trẻ em phù hợp với Điều kiện của người nhận chăm sóc thay thế;

Trang 5

b) Thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú về tình hình sức khỏe thể

chất, tinh thần, sự hòa nhập của trẻ em sau 06 tháng kể từ ngày nhận chăm sóc thay

thế và hằng năm; trường hợp có vấn đề đột xuất, phát sinh thì phải thông báo kịp thời.”

Như vậy, anh L đã vi phạm điều kiện trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với ông A

3 Những người con còn lại của ông A (bao gồm M và N) có quyền đòi lại tài sản

ông A đã cho anh L không?

Theo như dữ liệu đề bài, giữa ông A và L có giao kết một hợp đồng tặng cho tài sản theo

đó, ông A tặng cho anh L toàn bộ diện tích nhà Hợp đồng đã được công chứng và đã có

hiệu lực pháp luật Việc tặng cho là có điều kiện theo đó anh L có nghĩa vụ chăm sóc

cho cháu B (10 tuổi) – một đứa trẻ mồ côi cha mẹ sống trong làng thay ông đến khi cháu

B tròn 18 tuổi

Nghĩa vụ chăm sóc cho cháu B thay ông A cho đến khi cháu B tròn 18 tuổi trong hợp

đồng là nghĩa vụ không trái pháp luật và đạo đức xã hội Việc thực hiện nghĩa vụ là điều

kiện tặng cho trong vụ việc này thuộc trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 462 BLDS

2015: "Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho

không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt

hại" Theo điều luật trên, bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản nếu bên tặng cho không

thực hiện điều kiện Quy định chỉ mới giải quyết được trường hợp bên tặng cho không

thực hiện điều kiện, chưa giải quyết được trường hợp bên được tặng cho có thực hiện

điều kiện nhưng chỉ thực hiện một phần, trong từng khoảng thời gian, đặc biệt là đối với

những điều kiện có thời gian thực hiện lâu dài như trong vụ việc trên Tuy nhiên, trên

thực tế, Pháp luật Việt Nam vẫn cho phép bên tặng cho tài sản có quyền đòi lại tài sản

nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện hay thực hiện không đủ điều kiện đã giao kết

Như vậy, trong trường hợp trên L đã vi phạm về điều kiện trong hợp đồng do chỉ thực

hiện một phần điều kiện trong hợp đồng tặng cho, mà không hoàn thành nghĩa vụ chăm

sóc cháu B đến năm 18 tuổi, do đó, bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản Tuy nhiên, bên

Trang 6

tặng cho, cụ thể là ông A, đã chết nên không ai có đủ thẩm quyền để đòi lại tài sản đã

tặng M và N tuy là con của ông A nhưng không phải là chủ thể của bên có quyền nên

không có quyền đòi lại tài sản, trừ trường hợp trong hợp đồng cho tặng giữa ông A và L

có quy định M và N có quyền thay ông A đòi lại tài sản nếu L vi phạm hợp đồng

Vì vậy, những người con còn lại của ông A (bao gồm cả M và N) không có quyền đòi lại

tài sản ông A đã để lại cho anh L

4 Bảo vệ lợi ích của cháu B như thế nào?

Theo khoản 1 Điều 66 Luật trẻ em năm 2016 quy định: “1 Chủ tịch Ủy ban nhân dân

cấp xã quyết định giao trẻ em cho cá nhân, gia đình nhận chăm sóc thay thế trên cơ sở

xem xét các Điều kiện quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 63 của Luật này.

Trường hợp trẻ em được nhận chăm sóc thay thế không có người giám hộ đương nhiên

theo quy định của pháp luật và người nhận chăm sóc thay thế đồng ý, Chủ tịch Ủy ban

nhân dân cấp xã quyết định cử người nhận chăm sóc thay thế đồng thời là người giám

hộ cho trẻ em.”

Xét trong trường hợp này, anh L là người giám hộ cho B theo luật định Tuy nhiên đề

bài không đề cập đến việc anh L đã đi đăng kí ở cơ quan cấp xã hay chưa Vì vậy, có thể

chia thành hai trường hợp:

Trường hợp 1: Việc giám hộ của anh L đã được đăng ký tại cơ quan cấp xã L là

người giám hộ cho cháu B.

Theo quy tại Khoản 3 Điều 46 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về Giám hộ: “3 Việc

giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp

luật về hộ tịch.” Nếu trong trường hợp này việc giám hộ của anh L đối với cháu B đã

được đăng ký với cơ quan nhà nhà nước có thẩm quyền về hộ tịch thì anh L đương nhiên

sẽ là người giám hộ của cháu B

Trang 7

Theo Điều 55, BLDS năm 2015 quy định về Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người

được giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi:

“1 Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ.

2 Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp

luật quy định người chưa đủ mười lăm tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch

dân sự.

3 Quản lý tài sản của người được giám hộ.

4 Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.”

Xét trong trường hợp sau khi ông A chết, anh L không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ chăm

sóc cháu B thì theo quy định trên, anh L đã vi phạm nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục người

được giám hộ là cháu B và đồng thời vi phạm nghĩa vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

của cháu B (khoản 1, 4, Điều 55 BLDS năm 2015)

Theo Khoản 1, Điều 60, BLDS năm 2015 quy định về thay đổi người giám hộ:

“1 Người giám hộ được thay đổi trong trường hợp sau đây:

a) Người giám hộ không còn đủ các điều kiện quy định tại Điều 49, Điều 50 của Bộ luật

này;

b) Người giám hộ là cá nhân chết hoặc bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi

dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, mất năng lực hành vi dân sự,

mất tích; pháp nhân làm giám hộ chấm dứt tồn tại;

c) Người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ;

d) Người giám hộ đề nghị được thay đổi và có người khác nhận làm giám hộ.”

Như vậy cháu B là người chưa thành niên, không có người giám hộ đương nhiên, mà

anh L thuộc trường hợp người giám hộ theo luật định, nhưng anh L đã vi phạm nghiêm

Trang 8

trọng nghĩa vụ của người giám hộ quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 60 BLDS 2015, do

đó cần phải thay đổi người giám hộ đối với cháu B

Theo Điều 360 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm bồi thường do vi phạm

nghĩa vụ: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải

bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định

khác” Và theo Điều 54 quy định về Cử, chỉ định người giám hộ: “Trường hợp người

chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương

nhiên theo quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này thì Ủy ban nhân dân cấp xã

nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ.”.

Như vậy, anh L đã vi phạm nghĩa vụ của người giám hộ nên anh L phải bồi thường toàn

bộ thiệt hại cả về thể chất lẫn tinh thần cho cháu B, và đồng thời theo quy định của điều

54, BLDS năm 2015 thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cháu B đang sinh sống sẽ có trách

nhiệm cử người giám hộ cho cháu B để cháu B được chăm sóc, giáo dục và phát triển

một cách tốt nhất

Trường hợp 2: Việc giám hộ của anh L chưa được đăng ký tại cơ quan cấp xã, anh

L chỉ giữ vai trò là người nhận chăm sóc thay thế.

“Người chăm sóc trẻ em là người đảm nhận nhiệm vụ chăm sóc trẻ em, bao gồm người

giám hộ của trẻ em; người nhận chăm sóc thay thế hoặc người được giao trách nhiệm

cùng với cha, mẹ của trẻ em cấp dưỡng, chăm sóc, bảo vệ trẻ em” (khoản 4 Điều 4) như

vậy anh L chính là người chăm sóc cháu B (10 tuổi) trên tư cách người nhận chăm sóc

thay thế Trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em không nơi nương tựa theo quy định tại khoản 1, Điều

10, Luật Trẻ em 2016 là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Theo quy định tại khoản 2 Điều 6

Luật này quy định những hành vi “ Bỏ rơi, bỏ mặc, mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm

đoạt trẻ em” là một trong những hành vi bị nghiêm cấm Trong đó “Bỏ rơi, bỏ mặc trẻ

em là hành vi của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em không thực hiện hoặc thực hiện

Trang 9

không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em”

(theo quy định tại Khoản 9, Điều 4)

Xét trên hành vi thực tế, anh L đã bỏ rơi, bỏ mặc cháu B từ năm 2017 ngay sau khi ông

A – người giao nghĩa vụ chăm sóc cháu B cho L, mất đi Như vậy hành vi của L đã vi

phạm điều cấm, xâm phạm đến quyền của trẻ em được ghi nhận trong Luật Trẻ em

2016 Quyền của B là quyền được nhận chăm sóc thay thế “Trẻ em được chăm sóc thay

thế khi không còn cha mẹ; không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; bị ảnh

hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang vì sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ

em”; Nhưng B đã bị xâm phạm quyền được bảo vệ để không bị bỏ rơi, bỏ mặc “Trẻ em

có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn

hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em”

Trong quá trình chăm sóc thay thế anh L đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình,

không hoàn thành yêu cầu của việc thực hiện chăm sóc thay thế Người nhận chăm sóc

thay thế có trách nhiệm bảo đảm điều kiện để trẻ em được sống an toàn, thực hiện

quyền và bổn phận của trẻ em phù hợp với điều kiện của người nhận chăm sóc thay thế.

Như vậy, anh L đáp ứng đủ các điều kiện để chăm sóc thay thế tuy nhiên anh đã không

đảm bảo cho cháu B được sống an toàn, được thực hiện các quyền và bổn phận của trẻ

em, mà còn có hành vi bỏ rơi, bỏ mặc cháu B vi phạm điều cấm của Luật Trẻ em 2016

Hành vi của anh L phải được xử lý thích đáng để bảo vệ quyền lợi cho cháu B và cháu B

cũng cần được áp dụng biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng thay thế để đảm bảo được bảo

vệ và phát triển tốt nhất

“Cơ quan lao động - thương binh và xã hội cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm: Thanh

tra, kiểm tra việc chăm sóc thay thế tại gia đình và cơ sở trợ giúp xã hội; xử lý theo

thẩm quyền trường hợp xâm hại trẻ em hoặc vi phạm tiêu chuẩn chăm sóc trẻ em.”

(Theo quy định tại Điều 68 Luật Trẻ em 2016)

Trang 10

Trẻ em cần được bảo vệ khẩn cấp là trẻ em đang bị đe dọa hoặc bị gây tổn hại nghiêm

trọng đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm hoặc cha, mẹ, người chăm sóc chính là

người gây tổn hại cho trẻ em

Nghị định hướng dẫn thi hành luật Trẻ em tại Khoản 3 Điều 31 quy định: “Trách nhiệm

của người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã: Thông báo, kết nối với công an xã hoặc

lực lượng cảnh sát phản ứng nhanh để ngăn chặn các hành vi đe dọa hoặc gây tổn hại

nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của trẻ em xảy ra trên địa bàn; Việc

can thiệp trong trường hợp trẻ em cần được bảo vệ khẩn cấp phải được thực hiện trong

thời gian nhanh nhất có thể và trong vòng 12 (mười hai) giờ từ khi nhận được thông

tin.”

Tại Điều 69 Luật trẻ em 2016 quy định: “Cá nhân, gia đình nhận chăm sóc thay thế vi

phạm quy định tại Điều 6 của Luật này gây tổn hại cho trẻ em được nhận chăm sóc thay

thế” thì việc chăm sóc thay thế phải bị chấm dứt Như vậy cơ quan lao động – thương

binh và xã hội, người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã có trách nhiệm thanh tra, kiểm

tra quá trình chăm sóc cháu B của anh L, phát hiện cháu B bị bỏ mặc bỏ rơi thì ngay lập

tức xử lí bảo vệ khẩn cấp cho cháu B, trước hết cần tạo điều kiện cho cháu B được chăm

sóc “Việc tạm thời cách ly trẻ em khỏi cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em và áp dụng biện

pháp thay thế theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 50 Luật trẻ em được thực

hiện đối với trường hợp trẻ em bị xâm hại, có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi bởi

cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em; trẻ em bị xâm hại nhưng cha, mẹ, người chăm sóc trẻ

em từ chối thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp” do anh đã vi phạm điều 6 Luật Trẻ em

2016 – Điều cấm trong luật nên việc chăm sóc thay thế của anh L phải bị chấm dứt

“Trong trường hợp khẩn cấp phải cách ly trẻ em khỏi cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em

nhưng chưa lựa chọn được cá nhân, gia đình nhận chăm sóc thay thế thì Chủ tịch Ủy

ban nhân dân cấp xã quyết định tạm thời đưa trẻ em vào cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ

trẻ em, cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định tại Điều 32 của Nghị định này và tiếp tục lựa

chọn hình thức chăm sóc thay thế phù hợp”

Ngày đăng: 23/08/2021, 06:16

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w