Ông Nguyễn Văn A có 3 người con L, M, N (anh L là con trai duy nhất). Năm 2016 ông A quyết định trao toàn bộ diện tích nhà cho anh L. Ông A đã tới phòng công chứng làm hợp đồng tặng cho nhà, đất của mình cho anh L (mảnh đất có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) với điều kiện anh L phải có nghĩa vụ chăm sóc cho cháu B (10 tuổi) một đứa trẻ bị mồ côi cha mẹ sống trong làng thay ông đến khi cháu B tròn 18 tuổi. Trong thời gian ông A còn sống, anh L làm đúng nghĩa vụ chăm sóc cháu B như yêu cầu của ông A. Tuy nhiên, đến năm 2017, khi ông A chết, anh L không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc cháu B nữa. Hỏi: 1. Quan hệ giữa ông A và anh L là quan hệ dân sự gì? 2. Anh L có được coi là vi phạm về điều kiện trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với ông A không? 3. Những người con còn lại của ông A (bao gồm M và N) có quyền đòi lại tài sản ông A đã cho anh L không? 4. Bảo vệ lợi ích của cháu B như thế nào?
Trang 1MỤC LỤC
1 Quan hệ giữa ông A và anh L là quan hệ dân sự gì? 2
2 Anh L có được coi là vi phạm về điều kiện trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với
ông A không? 3
3 Những người con còn lại của ông A (bao gồm M và N) có quyền đòi lại tài sản ông
A đã cho anh L không? 5
4 Bảo vệ lợi ích của cháu B như thế nào? 6
Trang 2ĐỀ BÀI
Ông Nguyễn Văn A có 3 người con L, M, N (anh L là con trai duy nhất) Năm 2016 ông
A quyết định trao toàn bộ diện tích nhà cho anh L Ông A đã tới phòng công chứng làm
hợp đồng tặng cho nhà, đất của mình cho anh L (mảnh đất có giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất) với điều kiện anh L phải có nghĩa vụ chăm sóc cho cháu B (10 tuổi) - một đứa
trẻ bị mồ côi cha mẹ sống trong làng thay ông đến khi cháu B tròn 18 tuổi Trong thời
gian ông A còn sống, anh L làm đúng nghĩa vụ chăm sóc cháu B như yêu cầu của ông A
Tuy nhiên, đến năm 2017, khi ông A chết, anh L không thực hiện nghĩa vụ chăm sóc
cháu B nữa Hỏi:
1 Quan hệ giữa ông A và anh L là quan hệ dân sự gì?
2 Anh L có được coi là vi phạm về điều kiện trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với ông
A không?
3 Những người con còn lại của ông A (bao gồm M và N) có quyền đòi lại tài sản ông A
đã cho anh L không?
4 Bảo vệ lợi ích của cháu B như thế nào?
BÀI LÀM
1 Quan hệ giữa ông A và anh L là quan hệ dân sự gì?
Quan hệ giữa ông A và anh L là quan hệ tặng cho tài sản có điều kiện
Trước hết theo đề bài, ông Nguyễn Văn A quyết định trao toàn bộ diện tích nhà cho anh
L Căn cứ vào Điều 457, BLDS năm 2015: “Hợp đồng tặng cho tài sản là sự thỏa thuận
giữa các bên, theo đó bên tặng cho giao tài sản của mình và chuyển quyền sở hữu cho
bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù, bên được tặng cho đồng ý nhận”, việc trao
diện tích nhà của ông A cho anh L được xác định là hợp đồng tặng cho Vì hợp đồng
giữa ông A và anh L được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa bên tặng cho là ông A
với bên được tặng cho là anh L, theo đó ông A giao tài sản của mình và chuyển quyền sở
Trang 3hữu cho anh L mà không yêu cầu đền bù và được xác lập dựa trên sự đồng ý nhận của
anh L Hơn nữa, vì đối tượng trong hợp đồng tặng cho ở đây là bất động sản nên ông A
đã đến phòng công chứng làm hợp đồng tặng cho nhà phù hợp với quy định tại Điều
459, BLDS năm 2015
Đồng thời, khi tặng cho, ông A cũng có điều kiện là anh L phải có nghĩa vụ chăm sóc
cháu B đến khi cháu B tròn 18 tuổi Vì vậy theo quy định tại Điều 462, BLDS năm 2015
thì hợp đồng tặng cho giữa ông A và anh L là hợp đồng tặng cho có điều kiện
Điều 462, BLDS năm 2015 quy định về tặng cho tài sản có điều kiện như sau:
“1 Bên tặng cho có thể yêu cầu bên được tặng cho thực hiện một hoặc nhiều nghĩa vụ
trước hoặc sau khi tặng cho Điều kiện tặng cho không được vi phạm điều cấm của luật,
không trái đạo đức xã hội.
2 Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ trước khi tặng cho, nếu bên được tặng cho đã
hoàn thành nghĩa vụ mà bên tặng cho không giao tài sản thì bên tặng cho phải thanh
toán nghĩa vụ mà bên được tặng cho đã thực hiện.
3 Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không
thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại.”
Kết luận: Quan hệ giữa ông A và anh L là quan hệ tặng cho tài sản có điều kiện.
2 Anh L có được coi là vi phạm về điều kiện trong việc thực hiện nghĩa vụ đối
với ông A không?
Căn cứ vào Điều 462, BLDS năm 2015, điều kiện tặng cho được hiểu là một hoặc nhiều
nghĩa vụ mà bên được tặng cho phải thực hiện trước hoặc sau khi nhận tài sản tặng cho
Thông thường, điều kiện tặng cho do bên tặng cho đưa ra và được sự chấp thuận của bên
được tặng cho Việc xác định điều kiện tặng cho phụ thuộc vào ý chí của các bên trong
hợp đồng Tuy nhiên, các bên không được phép thỏa thuận điều kiện mà vi phạm điều
cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội Việc thực hiện điều kiện có thể tiến hành
Trang 4trước hoặc sau khi tặng cho tài sản, phụ thuộc vào sự thống nhất ý chí của bên tặng cho
và bên được tặng cho
Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho không thực
hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt hại Vì để nhận
được tài sản thì bên được tặng cho phải hoàn thành điều kiện, do đó, nếu bên tặng cho
không thực hiện điều kiện đồng nghĩa với việc họ không được nhận tài sản và phải trả
lại cho bên tặng cho
Theo khoản 3 Điều luật này, bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản nếu bên được tặng cho
không thực hiện điều kiện Quy định mới chỉ giải quyết được trường hợp “bên được tặng
cho không thực hiện điều kiện.” Tuy nhiên, thực tế tồn tại rất nhiều trường hợp bên được
tặng cho thực hiện điều kiện nhưng chỉ thực hiện một phần, trong từng khoảng đoạn thời
gian, đặc biệt là đối với những điều kiện có thời gian thực hiện lâu, không xác định được
thời điểm chấm dứt như điều kiện nuôi dưỡng, không được bán tài sản tặng cho,… thì
khoản 3 chưa giải quyết được
Trong trường hợp này, anh L - bên được được tặng cho tài sản là đất, nhà với điều kiện
sẽ phải chăm sóc cháu B đến năm 18 tuổi Điều kiện này do ông A đưa ra và được sự
chấp thuận của hai bên đó là ông A và anh L.Thời gian ông A còn sống, anh L đã thực
hiện đúng nghĩa vụ của mình đó là chăm sóc cháu B Tuy nhiên, khi ông A mất, anh L
không chăm sóc cháu B nữa Như vậy, anh L có thực hiện điều kiện của hợp đồng giữa
anh và ông A, nhưng chỉ thực hiện một phần trong khoảng thời gian ông A còn sống,
ngay sau khi ông A chết, anh đã không thực hiện nữa Theo đó, Anh L đã vi phạm nghĩa
vụ của người nhận chăm sóc thay thế trẻ em theo quy định tại khoản 1, Điều 64, Luật
Trẻ em năm 2016:
“1 Người nhận chăm sóc thay thế có trách nhiệm sau đây:
a) Bảo đảm Điều kiện để trẻ em được sống an toàn, thực hiện quyền và bổn phận
của trẻ em phù hợp với Điều kiện của người nhận chăm sóc thay thế;
Trang 5b) Thông báo cho Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú về tình hình sức khỏe thể
chất, tinh thần, sự hòa nhập của trẻ em sau 06 tháng kể từ ngày nhận chăm sóc thay
thế và hằng năm; trường hợp có vấn đề đột xuất, phát sinh thì phải thông báo kịp thời.”
Như vậy, anh L đã vi phạm điều kiện trong việc thực hiện nghĩa vụ đối với ông A
3 Những người con còn lại của ông A (bao gồm M và N) có quyền đòi lại tài sản
ông A đã cho anh L không?
Theo như dữ liệu đề bài, giữa ông A và L có giao kết một hợp đồng tặng cho tài sản theo
đó, ông A tặng cho anh L toàn bộ diện tích nhà Hợp đồng đã được công chứng và đã có
hiệu lực pháp luật Việc tặng cho là có điều kiện theo đó anh L có nghĩa vụ chăm sóc
cho cháu B (10 tuổi) – một đứa trẻ mồ côi cha mẹ sống trong làng thay ông đến khi cháu
B tròn 18 tuổi
Nghĩa vụ chăm sóc cho cháu B thay ông A cho đến khi cháu B tròn 18 tuổi trong hợp
đồng là nghĩa vụ không trái pháp luật và đạo đức xã hội Việc thực hiện nghĩa vụ là điều
kiện tặng cho trong vụ việc này thuộc trường hợp quy định tại Khoản 3 Điều 462 BLDS
2015: "Trường hợp phải thực hiện nghĩa vụ sau khi tặng cho mà bên được tặng cho
không thực hiện thì bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản và yêu cầu bồi thường thiệt
hại" Theo điều luật trên, bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản nếu bên tặng cho không
thực hiện điều kiện Quy định chỉ mới giải quyết được trường hợp bên tặng cho không
thực hiện điều kiện, chưa giải quyết được trường hợp bên được tặng cho có thực hiện
điều kiện nhưng chỉ thực hiện một phần, trong từng khoảng thời gian, đặc biệt là đối với
những điều kiện có thời gian thực hiện lâu dài như trong vụ việc trên Tuy nhiên, trên
thực tế, Pháp luật Việt Nam vẫn cho phép bên tặng cho tài sản có quyền đòi lại tài sản
nếu bên có nghĩa vụ không thực hiện hay thực hiện không đủ điều kiện đã giao kết
Như vậy, trong trường hợp trên L đã vi phạm về điều kiện trong hợp đồng do chỉ thực
hiện một phần điều kiện trong hợp đồng tặng cho, mà không hoàn thành nghĩa vụ chăm
sóc cháu B đến năm 18 tuổi, do đó, bên tặng cho có quyền đòi lại tài sản Tuy nhiên, bên
Trang 6tặng cho, cụ thể là ông A, đã chết nên không ai có đủ thẩm quyền để đòi lại tài sản đã
tặng M và N tuy là con của ông A nhưng không phải là chủ thể của bên có quyền nên
không có quyền đòi lại tài sản, trừ trường hợp trong hợp đồng cho tặng giữa ông A và L
có quy định M và N có quyền thay ông A đòi lại tài sản nếu L vi phạm hợp đồng
Vì vậy, những người con còn lại của ông A (bao gồm cả M và N) không có quyền đòi lại
tài sản ông A đã để lại cho anh L
4 Bảo vệ lợi ích của cháu B như thế nào?
Theo khoản 1 Điều 66 Luật trẻ em năm 2016 quy định: “1 Chủ tịch Ủy ban nhân dân
cấp xã quyết định giao trẻ em cho cá nhân, gia đình nhận chăm sóc thay thế trên cơ sở
xem xét các Điều kiện quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 63 của Luật này.
Trường hợp trẻ em được nhận chăm sóc thay thế không có người giám hộ đương nhiên
theo quy định của pháp luật và người nhận chăm sóc thay thế đồng ý, Chủ tịch Ủy ban
nhân dân cấp xã quyết định cử người nhận chăm sóc thay thế đồng thời là người giám
hộ cho trẻ em.”
Xét trong trường hợp này, anh L là người giám hộ cho B theo luật định Tuy nhiên đề
bài không đề cập đến việc anh L đã đi đăng kí ở cơ quan cấp xã hay chưa Vì vậy, có thể
chia thành hai trường hợp:
Trường hợp 1: Việc giám hộ của anh L đã được đăng ký tại cơ quan cấp xã L là
người giám hộ cho cháu B.
Theo quy tại Khoản 3 Điều 46 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về Giám hộ: “3 Việc
giám hộ phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp
luật về hộ tịch.” Nếu trong trường hợp này việc giám hộ của anh L đối với cháu B đã
được đăng ký với cơ quan nhà nhà nước có thẩm quyền về hộ tịch thì anh L đương nhiên
sẽ là người giám hộ của cháu B
Trang 7Theo Điều 55, BLDS năm 2015 quy định về Nghĩa vụ của người giám hộ đối với người
được giám hộ chưa đủ mười lăm tuổi:
“1 Chăm sóc, giáo dục người được giám hộ.
2 Đại diện cho người được giám hộ trong các giao dịch dân sự, trừ trường hợp pháp
luật quy định người chưa đủ mười lăm tuổi có thể tự mình xác lập, thực hiện giao dịch
dân sự.
3 Quản lý tài sản của người được giám hộ.
4 Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người được giám hộ.”
Xét trong trường hợp sau khi ông A chết, anh L không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ chăm
sóc cháu B thì theo quy định trên, anh L đã vi phạm nghĩa vụ chăm sóc, giáo dục người
được giám hộ là cháu B và đồng thời vi phạm nghĩa vụ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp
của cháu B (khoản 1, 4, Điều 55 BLDS năm 2015)
Theo Khoản 1, Điều 60, BLDS năm 2015 quy định về thay đổi người giám hộ:
“1 Người giám hộ được thay đổi trong trường hợp sau đây:
a) Người giám hộ không còn đủ các điều kiện quy định tại Điều 49, Điều 50 của Bộ luật
này;
b) Người giám hộ là cá nhân chết hoặc bị Tòa án tuyên bố hạn chế năng lực hành vi
dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, mất năng lực hành vi dân sự,
mất tích; pháp nhân làm giám hộ chấm dứt tồn tại;
c) Người giám hộ vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ giám hộ;
d) Người giám hộ đề nghị được thay đổi và có người khác nhận làm giám hộ.”
Như vậy cháu B là người chưa thành niên, không có người giám hộ đương nhiên, mà
anh L thuộc trường hợp người giám hộ theo luật định, nhưng anh L đã vi phạm nghiêm
Trang 8trọng nghĩa vụ của người giám hộ quy định tại Điểm c Khoản 1 Điều 60 BLDS 2015, do
đó cần phải thay đổi người giám hộ đối với cháu B
Theo Điều 360 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về trách nhiệm bồi thường do vi phạm
nghĩa vụ: “Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải
bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định
khác” Và theo Điều 54 quy định về Cử, chỉ định người giám hộ: “Trường hợp người
chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự không có người giám hộ đương
nhiên theo quy định tại Điều 52 và Điều 53 của Bộ luật này thì Ủy ban nhân dân cấp xã
nơi cư trú của người được giám hộ có trách nhiệm cử người giám hộ.”.
Như vậy, anh L đã vi phạm nghĩa vụ của người giám hộ nên anh L phải bồi thường toàn
bộ thiệt hại cả về thể chất lẫn tinh thần cho cháu B, và đồng thời theo quy định của điều
54, BLDS năm 2015 thì Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi cháu B đang sinh sống sẽ có trách
nhiệm cử người giám hộ cho cháu B để cháu B được chăm sóc, giáo dục và phát triển
một cách tốt nhất
Trường hợp 2: Việc giám hộ của anh L chưa được đăng ký tại cơ quan cấp xã, anh
L chỉ giữ vai trò là người nhận chăm sóc thay thế.
“Người chăm sóc trẻ em là người đảm nhận nhiệm vụ chăm sóc trẻ em, bao gồm người
giám hộ của trẻ em; người nhận chăm sóc thay thế hoặc người được giao trách nhiệm
cùng với cha, mẹ của trẻ em cấp dưỡng, chăm sóc, bảo vệ trẻ em” (khoản 4 Điều 4) như
vậy anh L chính là người chăm sóc cháu B (10 tuổi) trên tư cách người nhận chăm sóc
thay thế Trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em không nơi nương tựa theo quy định tại khoản 1, Điều
10, Luật Trẻ em 2016 là trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Theo quy định tại khoản 2 Điều 6
Luật này quy định những hành vi “ Bỏ rơi, bỏ mặc, mua bán, bắt cóc, đánh tráo, chiếm
đoạt trẻ em” là một trong những hành vi bị nghiêm cấm Trong đó “Bỏ rơi, bỏ mặc trẻ
em là hành vi của cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em không thực hiện hoặc thực hiện
Trang 9không đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệm của mình trong việc chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ em”
(theo quy định tại Khoản 9, Điều 4)
Xét trên hành vi thực tế, anh L đã bỏ rơi, bỏ mặc cháu B từ năm 2017 ngay sau khi ông
A – người giao nghĩa vụ chăm sóc cháu B cho L, mất đi Như vậy hành vi của L đã vi
phạm điều cấm, xâm phạm đến quyền của trẻ em được ghi nhận trong Luật Trẻ em
2016 Quyền của B là quyền được nhận chăm sóc thay thế “Trẻ em được chăm sóc thay
thế khi không còn cha mẹ; không được hoặc không thể sống cùng cha đẻ, mẹ đẻ; bị ảnh
hưởng bởi thiên tai, thảm họa, xung đột vũ trang vì sự an toàn và lợi ích tốt nhất của trẻ
em”; Nhưng B đã bị xâm phạm quyền được bảo vệ để không bị bỏ rơi, bỏ mặc “Trẻ em
có quyền được bảo vệ dưới mọi hình thức để không bị bạo lực, bỏ rơi, bỏ mặc làm tổn
hại đến sự phát triển toàn diện của trẻ em”
Trong quá trình chăm sóc thay thế anh L đã vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của mình,
không hoàn thành yêu cầu của việc thực hiện chăm sóc thay thế Người nhận chăm sóc
thay thế có trách nhiệm bảo đảm điều kiện để trẻ em được sống an toàn, thực hiện
quyền và bổn phận của trẻ em phù hợp với điều kiện của người nhận chăm sóc thay thế.
Như vậy, anh L đáp ứng đủ các điều kiện để chăm sóc thay thế tuy nhiên anh đã không
đảm bảo cho cháu B được sống an toàn, được thực hiện các quyền và bổn phận của trẻ
em, mà còn có hành vi bỏ rơi, bỏ mặc cháu B vi phạm điều cấm của Luật Trẻ em 2016
Hành vi của anh L phải được xử lý thích đáng để bảo vệ quyền lợi cho cháu B và cháu B
cũng cần được áp dụng biện pháp chăm sóc, nuôi dưỡng thay thế để đảm bảo được bảo
vệ và phát triển tốt nhất
“Cơ quan lao động - thương binh và xã hội cấp tỉnh, cấp huyện có trách nhiệm: Thanh
tra, kiểm tra việc chăm sóc thay thế tại gia đình và cơ sở trợ giúp xã hội; xử lý theo
thẩm quyền trường hợp xâm hại trẻ em hoặc vi phạm tiêu chuẩn chăm sóc trẻ em.”
(Theo quy định tại Điều 68 Luật Trẻ em 2016)
Trang 10Trẻ em cần được bảo vệ khẩn cấp là trẻ em đang bị đe dọa hoặc bị gây tổn hại nghiêm
trọng đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm hoặc cha, mẹ, người chăm sóc chính là
người gây tổn hại cho trẻ em
Nghị định hướng dẫn thi hành luật Trẻ em tại Khoản 3 Điều 31 quy định: “Trách nhiệm
của người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã: Thông báo, kết nối với công an xã hoặc
lực lượng cảnh sát phản ứng nhanh để ngăn chặn các hành vi đe dọa hoặc gây tổn hại
nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm của trẻ em xảy ra trên địa bàn; Việc
can thiệp trong trường hợp trẻ em cần được bảo vệ khẩn cấp phải được thực hiện trong
thời gian nhanh nhất có thể và trong vòng 12 (mười hai) giờ từ khi nhận được thông
tin.”
Tại Điều 69 Luật trẻ em 2016 quy định: “Cá nhân, gia đình nhận chăm sóc thay thế vi
phạm quy định tại Điều 6 của Luật này gây tổn hại cho trẻ em được nhận chăm sóc thay
thế” thì việc chăm sóc thay thế phải bị chấm dứt Như vậy cơ quan lao động – thương
binh và xã hội, người làm công tác bảo vệ trẻ em cấp xã có trách nhiệm thanh tra, kiểm
tra quá trình chăm sóc cháu B của anh L, phát hiện cháu B bị bỏ mặc bỏ rơi thì ngay lập
tức xử lí bảo vệ khẩn cấp cho cháu B, trước hết cần tạo điều kiện cho cháu B được chăm
sóc “Việc tạm thời cách ly trẻ em khỏi cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em và áp dụng biện
pháp thay thế theo quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 50 Luật trẻ em được thực
hiện đối với trường hợp trẻ em bị xâm hại, có nguy cơ bị bạo lực, bóc lột, bỏ rơi bởi
cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em; trẻ em bị xâm hại nhưng cha, mẹ, người chăm sóc trẻ
em từ chối thực hiện kế hoạch hỗ trợ, can thiệp” do anh đã vi phạm điều 6 Luật Trẻ em
2016 – Điều cấm trong luật nên việc chăm sóc thay thế của anh L phải bị chấm dứt
“Trong trường hợp khẩn cấp phải cách ly trẻ em khỏi cha, mẹ, người chăm sóc trẻ em
nhưng chưa lựa chọn được cá nhân, gia đình nhận chăm sóc thay thế thì Chủ tịch Ủy
ban nhân dân cấp xã quyết định tạm thời đưa trẻ em vào cơ sở cung cấp dịch vụ bảo vệ
trẻ em, cơ sở trợ giúp xã hội theo quy định tại Điều 32 của Nghị định này và tiếp tục lựa
chọn hình thức chăm sóc thay thế phù hợp”