Tố tụng dân sự là một quá trình phức tạp. Đương sự chỉ có thể bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của họ. Vì vậy, bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được pháp luật tố tụng dân sự quy định là một nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự. Với đề bài: “Nguyên tắc bảo vệ quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự và việc đảm bảo thực hiện nguyên tắc này.” sẽ có thể làm rõ và nhìn nhận sâu sắc hơn về vấn đề này.
Trang 1MỤC LỤC
Trang 2MỞ ĐẦU
Tố tụng dân sự là một quá trình phức tạp Đương sự chỉ có thể bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của mình khi thực hiện được các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của
họ Vì vậy, bảo đảm quyền bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự được pháp luật tố tụng dân sự quy định là một nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự Với đề
bài: “Nguyên tắc bảo vệ quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự và việc
đảm bảo thực hiện nguyên tắc này.” sẽ có thể làm rõ và nhìn nhận sâu sắc hơn về
vấn đề này
NỘI DUNG
I. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ QUYỀN BẢO VỆ CỦA ĐƯƠNG SỰ
1. Khái niệm đương sự
Trong tố tụng dân sự thường có nhiều chủ thể tham gia tố tụng, các chủ thể tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì được gọi là đương sự Đương sự có vai trò đặc biệt quan trọng trong TTDS bởi vì hoạt động tố tụng của họ
có ảnh hưởng lớn đến việc phát sinh, thay đổi hoặc đình chỉ tố tụng
Theo quy định tại Khoản 1 – Điều 68 BLTTDS 2015 đương sự trong tố tụng dân
sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức trong vụ án dân sự và trong việc dân sự Trong vụ án dân sự, đương sự bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Trong việc dân sự, đương sự gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Về bản chất, đương sự trong vụ án dân sự hay đương sự trong việc dân sự đều có đặc điểm chung là người tham gia tổ tụng dân sự
để bảo đảm các quyền, lợi ích hợp pháp của mình, hay nói cách khác, họ là chủ thể có quyền, lợi ích càn được giải quyết trong vụ việc phát sinh tại Tòa án
“Điều 68 Đương sự trong vụ việc dân sự
Trang 31 Đương sự trong vụ án dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Đương sự trong việc dân sự là cơ quan, tổ chức, cá nhân bao gồm người yêu cầu giải quyết việc dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.”
Tóm lại, đương sự trong vụ việc dân sự là người tham gia tố tụng để bảo vệ
quyền, lợi ích hợp pháp của mình, hoặc bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước thuộc lĩnh vực mình phụ trách do có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự.
2. Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự
2.1 Khái niệm
Các đương sự trong mỗi vụ việc dân sự đều là người có quyền, nghĩa vụ liên quan đến vụ việc dân sự, tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình Do
đó, có thể hiểu quyền của chủ thể trong việc chống lại các hành vi trái pháp luật xấm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp theo thủ tục tố tụng dân sự được gọi là quyền bảo
vệ của đương sự trong tố tụng dân sự Tuy nhiên, mỗi đương sự tham gia vào việc dân sự với những động cơ, mục đích và yêu cầu riêng nên pháp luật tố tụng dân sự quy định địa vị pháp lí của các đương sự trong tố tụng dân sự là không giống nhau Theo quy định của pháp luật, các đương sự có thể sử dụng các phương pháp khác nhau để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình trong trường hợp bị xâm phạm
Tóm lại, bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự là làm cho
đương sự có đủ những điều kiện cần thiết để chắc chắn thực hiện được các quyền
tố tụng dân sự, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của họ trước tòa.
2.2 Đặc điểm
Trang 4Thứ nhất, việc bảo đảm đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự
được áp dụng đối với tất cả các bên đương sự Tuy có địa vị pháp lí khác nhau nhưng các đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự Vì vậy, bảo đảm quyền bảo vệ được sự trong TTDS được áp dụng tất cả với các bên đương sự
Thứ hai, đối tượng, phạm vi, và biện pháp bảo đảm quyền bảo vệ của đượng sự
trong TTDS do pháp luật quy định Sở dĩ như vậy là do các quan hệ pháp luật TTDS được xác lập giữa các cơ quan tư pháp và những người tham gia tố tụng dân sự; không phải xuất phát từ sự thỏa thuận giữa các bên Trong đó Tòa án là chủ thể có quyền lực cao nhất, đại diện cho Nhà nước Vì vậy, hoạt động TTDS của các chủ thể khác của quan hệ pháp luật TTDS đều phải chịu sự chi phối của Tòa án mà không có quyền thỏa thuận về đối tượng, phạm vi và các biện phap bảo đảm thực hiện việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ TTDS của họ
Thứ ba, bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong TTDS có mối quan hệ mật
thiết đến việc thực hiện các quyền TTDS khác của đương sự Trong TTDS, việc thực hiện các quyền TTDS của đương sự mang tính độc lập, do đương sự quyết định Hoạt động tố tụng của Tòa án và những người tham gia tố tụng khác chỉ nhằm tạo điều kiện chó các đương sự được thực hiện tốt hơn các quyền TTDS của họ Vì vậy, bảo đảm quyền bảo vệ đương sự trong TTDS có tính chất hỗ trợ cho việc thực hiện các quyền TTDS khác của đương sự
II. NỘI DUNG NGUYÊN TẮC BẢO ĐẢM QUYỀN BẢO VỆ CỦA ĐƯƠNG SỰ
TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
1. Bảo đảm quyền tự bảo vệ của đương sự trong TTDS
1.1. Bảo đảm quyền khởi kiện vụ án dân sự và quyền yêu cầu Tòa án giải quyết
việc dân sự của đương sự
Cơ sở pháp lý: quy định tại Điều 4 và Điều 186 BLTTDS: cá nhân, cơ quan, tổ
chức do Bộ luật này quy định có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp
Trang 5pháp khởi viện vụ án tại Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mìnhhoặc của người khác
Phạm vi khởi kiện: Điều 188 BLTTDS quy định phạm vi khởi kiện vụ án dân sự
rộng hơnra thành nhiều mối quan hệ pháp luật có liên quan với nhau trong cùng một
vụ án để giải quyết Quy định trên có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho đương sự tham gia tố tụng dân sự, tiết kiệm thời gian, công sức, tiền bạc của đương sự và Nhà nước
Phương thức khởi kiện vụ án dân sự, yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự quy
định tại các Điều 189, 362 BLTTDS; người khởi kiện vụ án dân sự, người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự có thể nộp đơn khởi kiện, đơn yêu cầu trực tiếp hoặc qua bưu điện
Ngoài ra, pháp luật còn quy định trong những trường hợp nào thì Tòa án mới được trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và thủ tục trả lại tại Điều 192; kèm theo đó là quy định quyền khiếu nại của đương sự về việc trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu và việc giải quyết khiếu nại đó Đây là quy định quan trọng nhằm bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong trường hợp Tòa án trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu không đúng 1.2. Bảo đảm quyền thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự
Đây là quy định nhằm giúp đương sự khắc phục được trường hợp đưa ra yêu cầu không đẩy đủ, chính xác Để bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự, pháp luật không quy định hạn chế việc thay đổi, bổ sung và rút yêu cầu của đương sự nhưng để tránh trường hợp lạm dụng việc thực hiện quyền này gây khó khăn cho Tòa án cũng như đương sự khác, pháp luật quy định việc thay đổi, bổ sung, rút yêu cầu của đương sự trong một số trường hợp phải đáp ứng được những điều kiện nhất định tại Điều 244 – việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của đương sự tại phiên tòa sơ thẩm không được vượt quá phạm vi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu phản tố hoặc yêu cầu độc lập ban đầu; Điều
Trang 6299 – quy định trước khi mở phiên tòa hoặc tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn rút đơn khởi kiện nếu bị đơn đồng ý thì Tòa án mới được chấp nhận
1.3. Bảo đảm quyền chấp nhận, bác bỏ yêu cầu của người khác của đương sự
Đây là một quyền tố tụng dân sự đề cao quyền tự định đoạt của đương sự, có ý nghĩa rất lớn trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự Để bảo đảm quyền bảo vệ của bị đơn trong tố tụng dân sự, Điều 72 BLTTDS quy định bị đơn có thể chấp nhận một phần hoặc toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, bác bỏ yêu cầu của nguyên đơn Đối với các đương sự khác như nguyên đơn, người có quyền và nghĩa vụ liên quan tuy pháp luật không quy định cụ thể những theo tinh thần quy định tại các Điều 70, 73 BLTTDS thì họ cũng có quyền chấp nhận yêu cầu hay bác bỏ yêu cầu của đương sự khác
1.4. Bảo đảm quyền cung cấp chứng cứ và chứng minh bảo vệ quyền, lợi ích
hợp pháp của đương sự
Theo quy định tại Điều 6 BLTTDS thì các đương sự có thể cung cấp cho Tòa án các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ việc dân sự và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ hợp pháp
1.5. Bảo đảm quyền của đương sự yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp
chứng cứ và yêu cầu
Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ Trường hợp các chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ việc dân sự đang do các cá nhân, cơ quan, tổ chức khác quản lý, lưu giữ thì đương sự có quyền yêu cầu chủ thể đó cung cấp chứng cứ cho mình theo quy định tại Điều 7 BLTTDS Trường hợp chủ thể quản lý, lưu giữ chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ việc dân sự không chịu cung cấp cho đương sự theo yêu cầu thì có thể yêu cầu Tòa án hỗ trợ Theo Điều 70 BLTTDS, các đương sự có quyền đề nghị Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ, tài liệu liên quan đến vụ việc dân sự mà tự mình không thể
Trang 7thực hiện được hoặc đề nghị Tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám định, định giá tài sản
1.6. Bảo đảm quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp, tạm thời của
đương sự
Theo quy định tại Điều 111 BLTTDS, đương sự có thể yêu cầu Tòa án áp dụng một hoặc nhiều biện pháp khẩn cấp tạm thời trước hoặc tại phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự Đồng thời, Điều 137 và Điều 138, trong quá trình Tòa án giải quyết vụ việc dân sự đương sự có quyền yêu cầu Tòa án áp dụng bổ sung, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời Đương sự có quyền khiếu nại đối với Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ việc dân sự về việc áp dụng, thay đổi, bổ sung, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định tại các Điều 140, 141 BLTTDS
1.7. Bảo đảm quyền yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố
tụng của đương sự
Theo quy định BLTTDS thì đương sự có quyền yêu cầu thay đổi những người tiến hành, người tham gia tố tụng trước hoặc trong phiên tòa, phiên họp giải quyết vụ việc dân sự
1.8. Bảo đảm quyền thỏa thuận với nhau về giải quyêt vụ việc dân sự của đương
sự
Trongtố tụng dân sự các đương sự có quyền định đoạt theo quy định tại Điều 5 BLTTDS Để bảo đảm quyền thỏa thuận của đương sự, BLTTDS quy định Tòa án có trách nhiệm hòa giải vụ việc dân sự để giúp các đương sự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ việc dân sự, trừ những vụ pháp luật quy định không được hòa giải hoặc không hòa giải được Trường hợp hòa giải mà các đương sự thỏa thuận được với nhau
về giải quyết vụ việc dân sự thì Tòa án phải ra quyết định công nhận sự thỏa thuận
Trang 8của đương sự theo thủ tục do pháp luật quy định, nếu nội dung thỏa thuận đó không trái với pháp luật và đạo đức xã hội
2. Bảo đảm quyền của đương sự được người khác bảo vệ trong tố tụng dân
sự
Những người khác tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương
sự bao gồm người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Nội dung của bảo đảm quyền của đương sự được người khác bảo vệ trong tố tụng dân
sự bao gồm bảo đảm đượng sự ủy quyền được cho người khác đại diện trong trường hợp không có năng lực hành vi tố tụng dân sự và bảo đảm quyền nhờ người khác bảo
vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự
Việc tham gia tố tụng của người đại diện của đương sự nói chung và người đại diện theo ủy quyền nói riêng trong tố tụng dân sự có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết các vụ án dân sự, đặc biệt trong trường hợp đương sự không tự thực hiện các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình Người đại diện theo ủy quyền được hiểu là người thay mặt đương sự tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho đương sự theo sự ủy quyền của đương sự Trong thực tiễn, rất nhiều trường hợp đương sự thường không có kinh nghiệm tham gia tố tụng và thiếu sự hiểu biết pháp luật đầy đủ, vì vậy, để bảo vệ quyền lợi cho đương sự
Bộ Luật Tố tụng dân sự quy định đương sự có thể ủy quyền cho luật sư hoặc người khác đại diện tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trong mọi việc
3. Trách nhiệm của Tòa án đối với việc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự
Trong tố tụng dân sự, Tòa án là cơ quan tiến hành tố tụng dân sự chủ yếu, có trách nhiệm chính đối với việc bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự
Cơ quan, người tiến hành tố tụng dân sự có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết vụ việc
Trang 9dân sự Kết quả giải quyết vụ việc dân sự phụ thuộc rất lớn vào việc cơ quan, người tiến hành tố tụng dân sự có đề cao được trách nhiệm của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn hay không Pháp luật tố tụng dân sự quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án, của từng chủ thể để thực thi nhiệm vụ giải quyết vụ việc dân sự và thông qua đó bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của mình, Tòa án còn phải bảo đảm cho đương sự thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng dân sự của đương sự Theo quy định của Bộ Luật Tố tụng dân sự thì Tòa án phải có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết như giải thích cho các đương sự quyền và nghĩa vụ tố tụng của họ, tạo điều kiện về thời gian, thủ tục cho họ thực hiện được các quyền tố tụng đưa ra yêu cầu, thay đổi,
bổ sung, rút yêu cầu và quyền chấp nhận, bác bỏ yêu cầu của người khác, quyền cung cấp chứng cứ và chứng minh bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp và quyền yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp chứng cứ và yêu cầu Tòa án xác minh, thu thập chứng cứ của đương sự; quyền tham gia hòa giải và quyền tự thỏa thuận với nhau về giải quyết vụ việc dân sự của đương sự; quyền yêu cầu Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, yêu cầu thay đổi người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng
và quyền nhận thông báo hợp lệ để thực hiện các quyền, nghĩa vụ của đương sự; quyền tham gia phiên tòa, phiên họp của đương sự; quyền tranh luận; quyền kháng cáo bản án, quyết định của Tòa án và khiếu nại các hành vi tố tụng trái pháp luật trong tố tụng dân sự; quyền ủy quyền cho luật sư hay người khác tham gia tố tụng; quyền nhờ luật sư hay người khác tham gia tố tụng để bảo vệ quyền và lợi ích của đương sự
III. THỰC TIỄN BẢO ĐẢM QUYỀN BẢO VỆ CỦA ĐƯƠNG SỰ TRONG TỐ
TỤNG DÂN SỰ
Nhìn chung trong thời gian qua, việc tự thực hiện các quyền tố tụng dân sự của đương sự về cơ bản đã được bảo đảm trên thực tế Tại các Tòa án, đương sự đều có thể tự mình thực hiện quyền khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự Những
Trang 10tăng Đặc biệt từ khi BLTTDS 2015 có hiệu lực, việc thực hiện các quy định liên quan đến vấn đề bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự ngày càng được chú trọng, đồng thời đương sự đã thể hiện rõ tính chủ động trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của họ Tuy vậy, bên cạnh những ưu điểm nêu trên thì việc thực hiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về bảo đảm quyền tự bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong thời gian vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định Những hạn chế này thể hiện ở cả trong hoạt động tố tụng dân sự của các đương sự, những người tham gia tố tụng dân sự khác và Tòa án
Đối với các đương sự, nhiều người do không hiểu biết đầy đủ quy định của pháp luật nên họ không thực hiện đúng được các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của họ.Trên thực tế đã không ít trường hợp đương sự khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết
vụ việc dân sự không đúng thẩm quyền của Tòa án nênđã bị trả lại đơn khởi kiện, đơn yêu cầu; đương sự không thực hiện được đầy đủ các quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự của mình, nhất là quyền, nghĩa vụ trong việc cung cấp chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình nên yêu cầu không được Tòa án chấp nhận
Đối với Tòa án, còn có trường hợp sai sót trong việc trả lại đơn khởi kiện, xác định sai thành phần đương sự trong vụ việc dân sự, không triệu tập đầy đủ các đương
sự đến tham gia tố tụng, xét xử vắng mặt đương sự không đúng quy định của pháp luật, không xem xét giải quyết hết các yêu cầu của đương sự, giải quyết vụ việc dân
sự không đúng thời hạn,… Ngoài ra, ở Việt Nam việc bảo đảm quyền được người khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong những năm qua vẫn còn có những hạn chế nhất định, tỷ lệ luật sư tham gia tố tụng trong các vụ việc dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho đương sự còn thấp, hoạt động của người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong các vụ việc dân sự còn hạn chế; …Trong số những người đại diện, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự vẫn có người không phải là luật sư nên thường thiếu cả kinh nghiệm tham gia tố tụng và sự hiểu biết về pháp luật Ngay trong đội ngũ các luật sư thì không phải luật sư nào cũng có đủ trìnhđộ chuyên môn, nghiệp vụ Do vậy, xuất phát