Luật pháp quốc tế hiện đại ghi nhận quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ. Việc xác lập chủ quyền lãnh thổ chỉ được coi là hợp pháp khi dựa trên những cơ sở và phương thức do luật quốc tế quy định. Chính vì vậy, để tìm hiểu thêm về thụ đắc lãnh thổ, nhóm em xin chọn đề số 3: “Phân tích một phương thức thụ đắc lãnh thổ hợp pháp và thực tiễn áp dụng phương thức này để giải quyết các tranh chấp biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế”.
Trang 1MỤC LỤC
MỤC LỤC 0
MỞ ĐẦU 1
NỘI DUNG 1
I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ THỤ ĐẮC LÃNH THỔ 1
1 Khái quát về thụ đắc lãnh thổ 1
2 Thụ đắc lãnh thổ do chiếm cứ hữu hiệu 1
II THỰC TIỄN ÁP DỤNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIÊN GIỚI LÃNH THỔ GIỮA CÁC QUỐC GIA TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ 2
1 Vụ án tranh chấp Đảo Palmas giữa Mỹ và Hà Lan (1928) 3
2 Vụ án tranh chấp chủ quyền nhóm đảo Minquies và Ecrehos giữa Anh và Pháp (1951 – 1953) 5
3 Áp dụng mở rộng với tranh chấp chủ quyền các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa 6
KẾT LUẬN 7
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 8
0
Trang 2MỞ ĐẦU
Luật pháp quốc tế hiện đại ghi nhận quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ Việc xác lập chủ quyền lãnh thổ chỉ được coi là hợp pháp khi dựa trên những cơ sở và phương thức do luật quốc tế quy định Chính vì vậy, để tìm hiểu thêm về thụ đắc lãnh thổ, nhóm
em xin chọn đề số 3: “Phân tích một phương thức thụ đắc lãnh thổ hợp pháp và thực tiễn áp dụng phương thức này để giải quyết các tranh chấp biên giới lãnh thổ giữa các quốc gia trong quan hệ quốc tế”.
NỘI DUNG
1 Khái quát về thụ đắc lãnh thổ
a) Định nghĩa
Thụ đắc lãnh thổ “là việc thiết lập ranh giới địa lý chủ quyền của một quốc gia đối với một vùng lãnh thổ mới theo những phương thức phù hợp với nguyên tắc của pháp luật quốc tế.”1
b) Căn cứ
Các căn cứ sau được coi là điều kiện pháp lý để xác lập hợp pháp danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia:
- Việc xác lập này phải dựa vào các phương thức thụ đắc lãnh thổ hợp pháp Một phương thức thụ đắc lãnh thổ được coi là hợp pháp khi nó được tiến hành trên một đối tượng lãnh thổ phù hợp
- Xác lập chủ quyền lãnh thổ phải dựa trên quyền dân tộc tự quyết của cư dân sống trên phần lãnh thổ được thụ đắc
c) Các phương thức thụ đắc lãnh thổ
Trong thực tiễn có hai phương thức thụ đắc lãnh thổ là: Thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm cứ hữu hiệu và thụ đắc lãnh thổ dựa trên sự chuyển nhượng tự nguyện
2 Thụ đắc lãnh thổ do chiếm cứ hữu hiệu
a) Chủ thể
Chiếm cứ hữu hiệu được hiểu là hành động của một quốc gia nhằm mục đích thiết lập và thực hiện quyền lực của mình trên một lãnh thổ vốn không phải là một bộ phận của lãnh thổ quốc gia với ý nghĩa thụ đắc lãnh thổ đó Chủ thể xác lập danh nghĩa chủ quyền phải
1 Nguyễn Bá Diến, Áp dụng các nguyên tắc về thụ đắc lãnh thổ trong Luật Quốc tế giải quyết hòa bình các tranh
chấp ở Biển Đông, 2010.
Trang 3có tư cách quốc gia, hành động chiếm cứ hữu hiệu luôn được thực hiện bởi cơ quan nhà nước hoặc các tổ chức công được cơ quan nhà nước ủy quyền
d) Đối tượng
Đối tượng của phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm cứ hữu hiệu là: Lãnh thổ vô chủ (Terra Nullius) hoặc lãnh thổ bị bỏ rơi (Terra derelicta)
- Lãnh thổ vô chủ là lãnh thổ phải không có người ở vào thời điểm quốc gia thực hiện việc chiếm cứ; chưa từng thuộc quyền sở hữu của bất cứ một quốc gia nào vào thời điểm quốc gia chiếm cứ thực hiện việc chiếm cứ lãnh thổ đó
- Lãnh thổ bị bỏ rơi là kết quả của cả hai yếu tố về hai phương diện vật chất (vắng mặt của sự quản lý thật sự trên lãnh thổ) và tâm lý (ý định từ bỏ lãnh thổ của quốc gia đã từng là chủ của lãnh thổ đó) Cụ thể: Lãnh thổ này không còn là đối tượng điều chỉnh áp dụng của pháp luật quốc gia; Quốc gia từ bỏ sự duy trì đời sống kinh tế, khai thác tiềm năng kinh tế trên hoặc trong lãnh thổ; xóa bỏ các thiết chế quản lý trên lãnh thổ; không thực hiện các hoạt động bảo vệ chủ quyền lãnh thổ, từ bỏ việc bảo hộ lợi ích của cư dân sống trên lãnh thổ
e) Nội dung
- Đó phải là sự chiếm cứ hợp pháp (đúng đối tượng và bằng biện pháp hòa bình) Mọi hành vi sử dụng vũ lực chiếm cứ một lãnh thổ đã có chủ đều bị coi là vi phạm pháp luật quốc tế
- Phải có sự chiếm cứ thực sự Biểu hiện cụ thể của hành vi chiếm cứ thực sự là đưa công dân của nước mình tới định cư trên lãnh thổ mới, thiết lập bộ máy quản lý hành chính, chính thức đưa vào bản đồ quốc gia vùng lãnh thổ mới đó ;
- Chiếm cứ phải liên tục, hòa bình trong một thời gian dài không tranh chấp
- Việc chiếm cứ lãnh thổ phải được thực hiện với mục đích nhằm tạo ra một danh nghĩa chủ quyền lãnh thổ
II THỰC TIỄN ÁP DỤNG GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP BIÊN GIỚI LÃNH THỔ GIỮA CÁC QUỐC GIA TRONG QUAN HỆ QUỐC TẾ
Thụ đắc lãnh thổ bằng phương thức chiếm cứ hữu hiệu là một phương thức có giá trị pháp lý cao, đã trở thành nguyên tắc đặc biệt quan trọng để giải quyết các tranh chấp về biên giới giữa các quốc gia Áp dụng phương thức này, nhiều vụ tranh chấp đã được giải quyết, có thể kể tới: Tranh chấp giữa Venezuela và Hà Lan về chủ quyền trên đảo Aves; Phân định ranh giới giữa Anh (Guyane) với Brasil; Tranh chấp giữa Na Uy và Thuỵ Điển
2
Trang 4trong vụ Grisbadarna; Tranh chấp giữa Hà Lan và Mỹ về vấn đề chủ quyền đối với đảo Palmas; Tranh chấp giữa Pháp và Mêhicô trong vụ đảo Clipperton; Tranh chấp giữa Na
Uy và Đan Mạch về vấn đề chủ quyền đối với Đông Greenland; Tranh chấp giữa Anh và Pháp về chủ quyền đối với các đảo Minquiers và Écréhous,
1 Vụ án tranh chấp Đảo Palmas giữa Mỹ và Hà Lan (1928).
(i) Tóm tắt nội dung:
Đảo Palmas là một hòn đảo nằm giữa Indonesia (trước đây là thuộc địa của Hà Lan) và Philippines (trước đây là thuộc địa của Tây Ban Nha) Năm 1898, Tây Ban Nha ký hòa ước nhượng lại Philippines cho Hoa Kỳ, bao gồm cả đảo Palmas Năm 1906, Mỹ biết rằng Hà Lan cũng khẳng định đòi chủ quyền trên đảo nên hai quốc gia đồng ý đệ trình tới Toà án trọng tài thường trực để giải quyết tranh chấp
(ii) Lập luận của các bên:
Về phía Mỹ: Thứ nhất là quyền khám phá, Mỹ khẳng định rằng họ đã nhận được sự xác
lập quyền sở hữu đối với Đảo thông qua ký kết hiệp định hợp pháp có chứa đựng nguồn gốc quyền khám phá của Tây Ban Nha - quốc gia đầu tiên khám phá ra Đảo khi Đảo là vùng đất vô chủ (được chứng minh bởi hiệp ước Münster 1648) Thứ hai, Mỹ tranh cãi về quyền sở hữu liền kề, rằng Palmas gần Philippines hơn Indonesia - nơi mà Đông Ấn Hà Lan đã chiếm giữ
Về phía Hà Lan: Luận điểm quan trọng nhất của Hà Lan là họ đã nắm giữ quyền sở hữu
thực tế, được thực hiện một cách liên tục và hoà bình trong suốt hơn hai thế kỷ mà không
có bất cứ phản đối nào từ phíaTây Ban Nha, đặc biệt là trước năm 1898, cụ thể: Công ty Đông Ấn Hà Lan (sau năm 1795 là nhà nước Hà Lan) đã ký kết hàng loạt các Hiệp định với nhà cầm quyền địa phương, lập lên thuộc địa của Hà Lan trên đảo Palmas từ thế kỷ
17, và thực thi chủ quyền cho đến thế kỷ 19; những hoạt động kèm theo các hiệp định của
Hà Lan là việc thực thi nhiều hoạt động phát triển kinh tế, chính sách tiền tệ, nghĩa vụ của các khu vực thuộc địa khi có chiến tranh, các hoạt động ngoại giao Những năm trước 1898 các hoạt động trên còn được tăng cường rõ ràng hơn trước
(iii) Phán quyết của trọng tài
Trọng tài lưu ý rằng luật quốc tế hiện đại thừa nhận việc chuyển nhượng chủ quyền lãnh thổ trên cơ sở thoả thuận Tuy nhiên, Tây Ban Nha không thể chuyển nhượng lại hợp pháp cái mà họ không có Vì vậy, Hiệp định Paris không thể nhượng Palmas cho Mỹ nếu Tây Ban Nha không sở hữu thực sự Đảo Trọng tài xác định rằng Tây Ban Nha đã nắm
Trang 5giữ quyền sở hữu ban đầu khi khám phá ra Đảo Tuy nhiên, việc xác lập quyền sở hữu ban đầu bằng khám phá phải gắn liền với việc thực thi quyền lực thực sự Nhưng Tây Ban Nha đã không thực thi chủ quyền trên Đảo sau khi khám phá Cho nên khẳng định của Mỹ dựa trên cơ sở những căn cứ liên quan là yếu ớt, mờ nhạt và không được chấp nhận Ngược lại, những hoạt động kèm theo các hiệp định của Hà Lan được Trọng tài đánh giá là đặc trưng của quyền lực nhà nước Những hoạt động này đã diễn ra trong hoà bình và kéo dài liên tục trong suốt thời gian dài, mặc dù cũng có những khoảng trống thời gian nhất định trong quá trình đó Trọng tài chỉ ra rằng nếu Tây Ban Nha thực thi quyền lực thực sự trên Đảo thì sẽ xảy ra xung đột giữa hai quốc gia Tuy nhiên, các bằng chứng
do các bên cung cấp cho thấy không tồn tại xung đột nêu trên Vì vậy, Trọng tài quyết định: Palmas là một phần của lãnh thổ Hà Lan
(iv) Nhận xét được rút ra
Từ phán quyết của PCA đối với vụ tranh chấp đảo Palmas giữa Hà Lan và Hoa Kỳ, chúng ta có thể rút ra mấy vấn đề pháp lý quan trọng liên quan đến tranh chấp biển đảo sau đây:
- Thứ nhất, vị trí địa lý của đảo hoàn toàn không phải là cơ sở pháp lý theo pháp luật quốc tế để khẳng định chủ quyền của một quốc gia đối với hòn đảo đó, cho dù đó là quốc gia có vị trị gần nhất với hòn đảo so với các quốc gia khác tham gia tranh chấp Điều này
có nghĩa là có những quốc gia có bờ biển rất xa so với vị trí của đảo nhưng hoàn toàn có chủ quyền đối với đảo nếu như có đầy đủ các cơ sở pháp lý chứng minh chủ quyền của mình
- Thứ hai, việc một quốc gia là chủ thể đầu tiên phát hiện ra hòn đảo chỉ có ý nghĩa là cơ
sở ban đầu để xem xét chủ quyền của quốc gia đó đối với hòn đảo Điều này có nghĩa là khi một quốc gia là chủ thể đầu tiên phát hiện ra đảo thì có cơ sở ban đầu cho rằng quốc gia đó có chủ quyền đối với đảo Tuy nhiên, chủ quyền của quốc gia đối với đảo còn phải được chứng minh bằng các cơ sở pháp lý khác
- Thứ ba, nếu một quốc gia không phải là chủ thể đầu tiên phát hiện ra hòn đảo nhưng đã thực hiện chủ quyền trên thực tế đối với đảo và tuyên bố chủ quyền một cách công khai, liên tục mà không có sự phản đối từ quốc gia phát hiện đầu tiên cũng như các chủ thể khác thì có sẽ có cơ sở để kết luận hòn đảo đó thuộc về chủ quyền của quốc gia thực hiện quyền chiếm hữu thực tế hơn là thuộc chủ quyền của quốc gia phát hiện đầu tiên
4
Trang 62 Vụ án tranh chấp chủ quyền nhóm đảo Minquies và Ecrehos giữa Anh và Pháp (1951 – 1953)
(i) Tóm tắt nội dung:
Minquiers và Ecrehos là hai nhóm đảo nhỏ và đảo đá nằm giữa đảo British Channel thuộc Jersey của Anh và bờ biển Pháp Trong hai nhóm này, một số đảo có thể sinh sống được, còn lại phần lớn là những đảo đá Ngày 29 tháng 12 năm 1951, Anh và Pháp ký thoả thuận yêu cầu Tòa xác định bên nào có bằng chứng thuyết phục hơn cho việc xác lập chủ quyền đối với những nhóm đảo này
(ii) Lập luận của các bên:
Về phía Pháp: Nước Pháp có Hiệp ước nghề cá xác định vùng hợp tác bao gồm hai nhóm
đảo, các tiểu bang ở Jersey của Anh bị cấm đánh bắt và hạn chế nhập cảnh vào Ecrehos
do hai Chính phủ trao đổi ngoại giao, một phần Ecrehos đánh dấu trên hải đồ là ở ngoài vùng nước Jersey và bị coi là đất vô chủ, Pháp đã gửi văn bản tới Anh khẳng định chủ quyền ở Ecrehos Minquies là vùng nước phụ cận thuộc đảo Chausey của Pháp, các nhà cầm quyền Pháp đã trao đổi thư từ liên quan tới đơn xin sử dụng đất của công dân Pháp ở Minquies Đồng thời Pháp đảm nhận về điện năng và phao cứu sinh cho Minquies mà Anh không phản đối Một ngôi nhà được dựng lên trên một đảo nhỏ ở Minquies với sự trợ giúp của thị trưởng Pháp, đồng thời Chính phủ Pháp cũng tới thăm Minquies
Về phía Anh: Nước Anh đưa ra bằng chứng là Tòa án Jersey đã xét xử tội phạm ở
Ecrehos trong vòng một thế kỷ từ năm 1826 đến năm 1921 Xét xử những vụ đắm tàu, hồ
sơ về vụ ám sát người của phái đoàn ngoại giao được tìm thấy ở Minquies và việc dựng nhà, lều trại trên những đảo nhỏ Chính quyền Jersey đã thu thuế và cho đăng ký hợp đồng nhà đất, đăng ký tàu thuyền, lập trạm hải quan ở Ecrehos, các thủ tục hợp đồng và thuê bất động sản ở Minquies cũng được đăng ký và thanh toán ở Jersey Đồng thời Anh
có sắc lệnh của kho bạc tác động đến Ecrehos và sự viếng thăm của các quan chức Anh tới Ecrehos
(iii) Phán quyết của Tòa
Tòa án nhận thấy hoạt động trao đổi thư từ, đặt phao cứu sinh hay một số hành vi tương
tự không được coi là Pháp đã thực thi quyền lực nhà nước đầy đủ với các đảo Trong khi Anh đã thực thi các chức năng nhà nước về tư pháp, hành chính để quản lý các đảo trong thời gian dài, chứng tỏ Anh đã thực thi quyền lực nhà nước đối với các đảo một cách thực
sự và đầy đủ hơn Pháp, vậy nên, chủ quyền hai nhóm đảo thuộc Anh
Trang 7(iv) Nhận xét được rút ra
- Thứ nhất, cần phải có cách nhìn nhận về vấn đề hành vi xác lập quyền lực thực sự tránh nhầm lẫn dẫn đến tranh chấp Hành vi trao đổi thư từ và cung cấp điện năng, phao cứu sinh cho Minquies không được xem là hành vi xác lập quyền lực thực sự
- Thứ hai, phải có những hành vi chiếm cứ thực sự như là đưa công dân của nước mình tới định cư trên lãnh thổ mới, thiết lập bộ máy quản lý hành chính, chính thức đưa vào bản đồ quốc gia vùng lãnh thổ mới đó thì mới được thực hiện các hoạt động chủ quyền khác trên vùng đất đó
- Thứ ba, khi các quốc gia cùng thực thi các hành vi đối với vùng đất mà quốc gia nào thực thi hành vi thực sự mang tính quyền lực nhà nước, đầy đủ, liên tục trong hòa bình thì quốc gia đó sẽ được xác lập chủ quyền với vùng đất đó
3 Áp dụng mở rộng với tranh chấp chủ quyền các quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa
Quần đảo Trường Sa và quần đảo Hoàng Sa là hai quần đảo trên các rạn san hô ở Biển Đông, trong đó quần đảo Hoàng Sa đang là nơi tranh chấp chủ quyền giữa Việt Nam, Trung Quốc và Đài Loan Quần đảo Trường Sa là nơi tranh chấp chủ quyền của 6 quốc gia và lãnh thổ: Trung Quốc, Đài Loan, Việt Nam, Philippines, Malaysia và Brunei, các quốc gia này tuyên bố chủ quyền toàn bộ hay một phần quần đảo Trường Sa
Về phía Việt Nam: Việt Nam cho rằng, Hoàng Sa, Trường Sa là các đảo vô chủ được
chiếm hữu hợp pháp; Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ quyền của mình đối với hai quần đảo này một cách thật sự, liên tục và hòa bình; Luôn bảo vệ tích cực các quyền và danh nghĩa của mình trước mọi hành động xâm phạm tới chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và quyền lợi của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
Về phía Trung Quốc: Trung Quốc cũng cho rằng họ đã phát hiện ra hai quần đảo này và
chiếm hữu, khai thác từ lâu đời Văn kiện của Bộ Ngoại Giao Trung Quốc ngày 30/01/1980 và các sách báo khác đã tuyên bố chủ quyền Trung Quốc với toàn bộ Trường
Sa, bởi họ đã phát hiện và chiếm hữu Trường Sa sớm nhất; có chủ quyền qua các điều ước quốc tế; lập luận Việt Nam trao lãnh thổ cho Trung Quốc; và một số lập luận khác
Ngoài ra một số quốc gia khác như Đài Loan, Philippines, Malaysia, Brunei cũng đưa ra
những lập luận của mình về chủ quyền đối với Trường Sa, Hoàng Sa Mà hiện nay các bất đồng giữa những quốc gia này vẫn diễn ra sâu sắc, vấn đề tranh chấp chưa được giải quyết triệt để
6
Trang 8Mỗi quốc gia đều có quan điểm riêng, đều đưa ra những căn cứ để khẳng định chủ quyền của mình đối với các quần đảo trên biển Đông và chưa thừa nhận cho một quốc gia nào là chủ thể đã chiếm cứ hữu hiệu Vì chưa thống nhất quan điểm, do đó các quốc gia chưa ngồi vào bàn đàm phán đa phương liên quan đến xác định biên giới trên biển để thừa nhận cho một quốc gia trong số họ là chủ thể thật sự đã chiếm cứ hữu hiệu phù hợp với luật pháp quốc tế Rõ ràng, thực tiễn áp dụng phương thức thụ đắc lãnh thổ bằng chiếm
cứ hữu hiệu để giải quyết những tranh chấp về biên giới quốc gia trên biển Đông giữa Việt Nam và các quốc gia láng giềng vẫn chưa đạt được những bước tiến quan trọng nào
Về phía nước ta từ thế kỷ 17, khi nhà nước phong kiến Việt Nam đã phát hiện Bãi Cát Vàng trên Biển Đông tức Hoàng Sa và Trường Sa thì hai quần đảo này vẫn vô chủ Kể từ
đó, nhà nước phong kiến Việt Nam đã chiếm hữu, khai thác và quản lý các đảo đó một cách liên tục Vì là đảo vô chủ, các vua chúa nước ta phát hiện trước tiên và chiếm hữu một cách hòa bình Chủ quyền của nước ta đối với các quần đào Hoàng Sa và Trường Sa được khẳng định, duy trì và củng cố ít nhất trong 3 thế kỷ liên tục từ thời các chúa Nguyễn đến sau khi Pháp thiết lập chế độ đô hộ năm 1884 Qua các thời kỳ lịch sử vua chúa Việt Nam đã có những hình vi biểu hiện cho chiếm cứ thực sự như dùng thủy quân khai thác, quản lý, tổ chức thêm đội quân có nhiệm vụ bảo vệ, tuần tra, trồng cây, đo đạc thủy triều, thu lượm hải sản về nộp cho triều đình,… mà không có bất cứ tranh chấp nào xảy ra Như vậy, qua nghiên cứu chứng cứ lịch sử, Nhà nước Việt Nam qua các thời đại
đã tiến hành những hoạt động thực hiện chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa một cách thực sự và liên tục Với những tài liệu và chứng cứ lịch sử đã nêu ở trên chúng ta hoàn toàn có cơ sở để khẳng định rằng hai quần đảo Hoàng Sa và Trường
Sa là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam Chủ quyền đó cần phải được tôn trọng và thực thi theo luật pháp và tập quán quốc tế
KẾT LUẬN
Thực tiễn đã khẳng định chiếm cứ hữu hiệu là một trong những phương thức đặc biệt quan trọng trong vấn đề xác lập chủ quyền lãnh thổ Đối với Việt Nam nói riêng và cả thế giới nói chung, việc căn cứ vào các quy định trong các văn bản pháp lý quốc tế cũng như những nguyên tắc cơ bản về chủ quyền lãnh thổ, như phương thức chiếm cứ hữu hiệu là hết sức cần thiết nhằm bảo đảm xác định chủ quyền một cách hợp pháp, đảm bảo quyền
và lợi ích chính đáng của các quốc gia liên quan, góp phần giữ gìn hòa bình, an ninh khu vực và trên thế giới
Trang 9DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Bá Diến, Chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường
Sa và nguyên tắc chiếm hữu thực sự trong Luật quốc tế, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN,
Luật học, Tập 30, Số 1, 2014
2 Nguyễn Bá Diến, Áp dụng các nguyên tắc về thụ đắc lãnh thổ trong Luật Quốc tế giải quyết hòa bình các tranh chấp ở Biển Đông, 2010.
3 Nguyễn Thị Thanh, Căn cứ pháp lý đấu tranh bảo vệ chủ quyền của Việt Nam đối với Trường Sa, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, 2011
4 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình luật quốc tế, Nxb CAND, Hà Nội, 2015.
5 TS Nguyễn Thị Kim Ngân, TS Chu Mạnh Hùng (đồng chủ biên), Giáo trình luật quốc tế (dùng trong các trường đại học chuyên ngành luật và ngoại giao), Nxb Giáo dục
Việt Nam, Hà Nội, 2012
7 http://nghiencuubiendong.vn/
8. http://www.vjol.info
8