1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bài tập nhóm Thương mại quốc tế: Với vai trò là Hội đồng trọng tài của Trung tâm trọng tài quốc tế AIAC được thành lập để giải quyết vụ tranh chấp giữa hai công ty.

12 45 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 45,14 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyên đơn: Bên mua Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại AQ của nước A. Bị đơn: Bên bán Công ty nông sản BP của nước B. Cơ quan giải quyết tranh chấp: Hội đồng Trọng tài quốc tế AIAC ở nước A. Ngày 2452017, công ty AQ gửi đề nghị giao kết hợp đồng cho công ty BP với nội dung mua của công ty BP 10 tấn táo galaxy có nguồn gốc xuất xứ từ nước B. Ngày 2952017, công ty AQ đã fax hợp đồng số 8989HĐNKAQBP cho công ty BP, đã ký và đóng dấu. Ngày 3052017, công ty AQ nhận được bản fax sửa đổi hợp đồng của công ty BP (đã ký, đóng dấu) và đã trả lời lại với công ty BP về hợp đồng 8989HĐNKAQBP vào ngày 3152017.

Trang 1

Với vai trò là Hội đồng trọng tài của Trung tâm trọng tài quốc tế AIAC được thành lập để giải quyết vụ tranh chấp giữa hai công ty

I. VỀ THẨM QUYỀN VÀ LUẬT ÁP DỤNG

1 Thẩm quyền giải quyết tranh chấp

Hội đồng Trọng tài của trung tâm trọng tài quốc tế AIAC là cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp vì trong hợp đồng số 08989 – HĐNK – AQBP, công

ty AQ và công ty BP đã thỏa thuận: “Khi có tranh chấp phát sinh, tranh chấp trước hết sẽ được giải quyết bằng phương thức thương lượng, nếu không thương lượng thành công, hai bên thống nhất sẽ đưa vụ việc ra Trọng tài để xét xử”.

2 Luật áp dụng

Công ước Viên năm 1980 của Liên Hợp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG) sẽ được áp dụng để giải quyết tranh chấp giữa công ty AQ và công ty BP bởi vụ việc không thuộc điều 2 (các trường hợp không được áp dụng CISG) Ngoài ra, với các vấn đề mà CISG không có quy phạm điều chỉnh, pháp luật của nước A sẽ được áp dụng để giải quyết vụ việc này

II VỤ VIỆC

1 Chủ thể

Nguyên đơn: Bên mua - Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại AQ của nước A

Bị đơn: Bên bán - Công ty nông sản BP của nước B

Cơ quan giải quyết tranh chấp: Hội đồng Trọng tài quốc tế AIAC ở nước A

3 Các sự kiện pháp lý chính trong vụ tranh chấp

- Ngày 24/5/2017, công ty AQ gửi đề nghị giao kết hợp đồng cho công ty

BP với nội dung mua của công ty BP 10 tấn táo galaxy có nguồn gốc xuất

xứ từ nước B

Trang 2

- Ngày 29/5/2017, công ty AQ đã fax hợp đồng số 8989-HĐNK-AQBP cho công ty BP, đã ký và đóng dấu

- Ngày 30/5/2017, công ty AQ nhận được bản fax sửa đổi hợp đồng của công ty BP (đã ký, đóng dấu) và đã trả lời lại với công ty BP về hợp đồng 8989-HĐNK-AQBP vào ngày 31/5/2017

- Công ty AQ không nhận được hàng đúng thời hạn nên đã đề nghị công ty

BP giao hàng theo đúng hợp đồng 8989-HĐNK-AQBP và đồng ý gia hạn thời gian giao hàng cho công ty BP tới ngày 25/7/2017

- Ngày 26/7/2017, ông S là trưởng phòng kinh doanh công ty BP cho biết không nhận được bất cứ email nào của công ty AQ sau ngày 30/5/2017 và một số lý do khác dẫn đến hệ quả không giao được hàng cho công ty AQ theo như hợp đồng

- Do phải giao hàng cho đối tác trước ngày 15/8/2017, công ty AQ đã phải tìm nhà cung cấp khác là công ty F ở nước B và bị đối tác phạt vi phạm hợp đồng do ngày 30/8/2017 mới giao hàng cho đối tác

- Công ty AQ khẳng định công ty BP đã vi phạm hợp đồng 8989-HĐNK-AQBP và yêu cầu công ty BP bồi thường vi phạm hợp đồng cùng với khoản tiền công ty AQ bị đối tác phạt vi phạm Tuy nhiên, công ty BP từ chối thương lượng

- Ngày 16/10/2017, công ty AQ khởi kiện công ty BP ra Trung tâm trọng tài quốc tế (AIAC) ở nước A AIAC đã thụ lý đơn kiện và tiến hành xét xử III NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG TRỌNG TÀI

1 Về hợp đồng giữa công ty AQ và BP

Xét trong quan hệ mua bán hàng hóa này, công ty TNHH thương mại AQ là bên mua hàng hóa đồng thời là người chào hàng, Công ty Nông sản BP là bên bán hàng hóa đồng thời là người được chào hàng

Trang 3

Theo Khoản 2 Điều 19 CISG, “…một sự phúc đáp có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có chứa đựng các điều khoản bổ sung hay những điều khoản khác mà không làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng thì được coi là chấp nhận chào hàng, trừ phi người chào hàng ngay lập tức không biểu hiện bằng miệng để phản đối những điểm khác biệt đó hoặc gửi thông báo về sự phản đối của mình cho người được chào hàng Nếu người chào hàng không làm như vậy, thì nội dung của hợp đồng sẽ là nội dung của chào hàng với những sự sửa đổi nêu trong chấp nhận chào hàng.” Xét thấy sự thay đổi trong phúc đáp

chào hàng của Công ty BP, bao gồm viết thêm cụm từ “Không bắt buộc” trước cụm từ “Chuyên chở hàng hóa bằng tàu dưới 20 tuổi” và sửa “Cước phí trả trước” (PREIGHT-PREPAID) thành “Cước phí sẽ được trả theo hợp đồng thuê tàu” trong bản hợp đồng gốc, không thuộc các yêu tố bổ sung hay sửa đổi liên quan mà làm biến đổi cơ bản nội dung chào hàng Theo điều kiện giao hàng trong hợp đồng là FOB, Incoterm 2010, những thay đổi của người bán về độ tuổi của tàu và việc thanh toán cước phí không làm thay đổi cơ bản nội dung của thư chào hàng Chính vì vậy, người bán trong trường hợp này đã coi như là đồng ý lời chào hàng

Theo Khoản 1 Điều 18 CISG, “một lời tuyên bố hay một hành vi khác của người được chào hàng biểu lộ sự đồng ý với chào hàng cấu thành chấp nhận chào hàng” Như vậy, hành vi gửi bản fax hợp đồng cùng với các sửa đổi không làm

biến đổi cơ bản nội dung chào hàng của Công ty BP thông qua chị K được xem

là đã cấu thành chấp nhận chào hàng Và theo Khoản 2 Điều 18 CISG, “chấp nhận chào hàng có hiệu lực từ khi người chào hàng nhận được chấp nhận”, tức

ngày 30/5/2017, thời điểm mà Công ty AQ nhận được bản fax hợp đồng từ Công

ty BP

Về việc ngày 31/5/ 2017, công ty AQ gửi thư trả lời và trong đó bổ sung thêm một số điều khoản, trong đó có điều khoản về sự thay đổi về thời gian, cụ thể

Trang 4

“Cho tới ngày 02/06/2017, nếu Công ty BP không có ý kiến gì khác thì đề nghị Công ty BP giao hàng chậm nhất là ngày 02/07/2017” Xét Khoản 3 Điều 19

CISG, điều khoản bổ sung trên đã làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng Tuy nhiên, CISG không quy định về việc sửa đổi chào hàng sau khi hợp đồng mua bán hàng hóa có hiệu lực pháp luật nên ta đối chiếu với pháp luật

quốc gia, cụ thể là Điều 389 BLDS 2015 “Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng trong các trường hợp sau đây: a) Nếu bên được đề nghị nhận được thông báo về việc thay đổi hoặc rút lại đề nghị trước hoặc cùng với thời điểm nhận được đề nghị” Như vậy, sự thay đổi chào

hàng của bên công ty AQ không có hiệu lực pháp luật do việc thay đổi chào hàng đến sau thời điểm Công ty BP nhận được lời chào hàng đầu tiên Việc sửa đổi,

bổ sung chào hàng của Công ty AQ không làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ các bên trong giao kết ban đầu

Do đó, hợp đồng có hiệu lực từ ngày 30/05/2017

4 Hành vi của các bên

- Đứng trên góc độ của bên mua (bên chào hàng):

Căn cứ vào Điều 25 CISG công ty AP có quyền chờ đợi bên BP giao hàng (kể từ khi hợp đồng có hiệu lực từ ngày 30/5/2017) dù cho sau đó công ty AP có chỉnh sửa làm thay đổi cơ bản nội dung chào hàng ban đầu Vì mọi bước AP thực hiện đều đúng theo quy định của pháp luật, công ty BP hoàn toàn có thể được tiên liệu

vì theo trả lời đầu tiên cty BP đã chấp nhận chào hàng

Ngày 31/5/ 2017, công ty AQ gửi thư trả lời và bổ sung thêm một số điều khoản làm thay đổi cơ bản nội dung chào hàng, cấu thành một chào hàng mới Tuy nhiên, sau đó công ty BP lại không có động thái nào gọi là gián tiếp chấp nhận chào hàng Sự im lặng hoặc bất hợp tác thì không mặc nhiên có giá trị như một

sự chấp nhận (Khoản 1 Điều 18 CISG) Do đó công ty AP không thể tự mặc định

là chào hàng mới của mình đã được chấp nhận

Trang 5

Tòa nhận thấy, có thể trong trường hợp này, công ty AP mặc định nghĩ công ty

BP đồng ý đối với lời chào hàng mới của mình vì nếu có phản đối gì thì phải thể hiện ngay lập tức và công ty AP mong đợi công ty BP sẽ gửi hàng cho họ đúng thời gian mà họ bổ sung trong thư phúc đáp Thể theo khoản 1 Điều 47 CISG công ty AP đã cho bên bán là công ty BP một thời hạn để khắc phục thiếu sót Tuy nhiên, công ty BP lại viện dẫn lí do và không khắc phúc những thiếu sót đó Theo điểm b khoản 1 Điều 49 CISG, bên mua được quyền hủy hợp đồng nếu bên mua đã cho bên bán thời hạn bổ sung để thực hiện hợp đồng nhưng bên bán vẫn không giao hàng

- Đứng trên góc độ của bên bán (bên được chào hàng)

Thời điểm chấp nhận chào hàng có hiệu lực chính là thời điểm mà quan hệ hợp đồng giữa hai bên đã được thiết lập, khi đó quyền và nghĩa vụ hợp đồng sẽ phát sinh ràng buộc các bên Mặc dù trong điều khoản hợp đồng công ty AP không nói chính xác thời gian giao hàng, nhưng trong đề nghị giao kết hợp đồng ban đầu công ty AP có nói là giao hàng theo điều kiện FOB, cảng Z, nước B, INCOTERMS 2010 trong vòng 1 tháng kể từ ngày hợp đồng có hiệu lực Công

ty BP cũng đã đồng ý rồi mới bảo công ty BP soạn thảo hợp đồng Điều đó có đổi cơ bản nội dung hợp đồng thì công ty BP vẫn phải có nghĩa vụ chuẩn bị hàng

để giao cho cty BP trong thời gian từ ngày 30/5/2017-30/6/2017 Nhưng mãi cho đến 4/6 công ty BP vẫn không có động thái nào gọi là thực hiện nghĩa vụ đã được giao kết trong hợp đồng

Theo Khoản 1 Điều 79 Công ước Viên: “Một bên không chịu trách nhiệm về việc không thực hiện bất kỳ một nghĩa vụ nào đó của họ nếu chứng minh được rằng việc không thực hiện ấy là do một trở ngại nằm ngoài sự kiểm soát của họ

và người ta không thể chờ đợi một cách hợp lý rằng họ phải tính tới trở ngại đó vào lúc ký kết hợp đồng hoặc là tránh được hay khắc phục các hậu qủa của nó”.

Trong trường hợp của công ty BP, họ đưa ra lý do cho việc không thể giao hàng

Trang 6

đúng hẹn là vì không nhận được bất kỳ email nào của công ty AP từ sau 30/5/2017 do chị K đã nghỉ việc từ ngày 1/6/2107 và công nhân thì đang đình công do không đồng ý với chính sách lương và đãi ngộ từ công ty Tuy nhiên, theo tòa lý do mà công ty BP nêu ra không đủ thuyết phục để miễn trừ trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ của họ được Theo đó, một sự kiện chỉ được coi là trở ngại theo Khoản 1 Điều 79 khi: (i) nằm ngoài khả năng kiểm soát, (ii) không thể

tiên liệu một cách hợp lý, (iii) không thể khắc phục được Thứ nhất, về việc chị

K nghỉ việc và cty BP không nhận được mail sau đó, rõ ràng cty BP phải hoàn toàn lường trước là nếu có vấn đề gì thì cty AP sẽ gửi mail cho họ vào hòm thư của chị K vì trước đó mọi giao dịch đều được thực hiện thông qua mail của chị

K Thứ hai, sự kiện công nhân đình công không thể coi là một sự kiện bất khả

kháng, vì trong trường hợp này, nguyên nhân của sự kiện đình công hòan toàn xuất phát từ chính sách lương thưởng và đãi ngộ của công ty, rõ ràng công ty có thể kiểm soát và khắc phục hậu quả nên không thể viện dẫn như trở ngại để miễn trách nhiệm Ngoài ra, theo Khoản 4 Điều 79 Công ước Viên: “Bên nào không thực hiện nghĩa vụ của mình thì phải báo cáo cho bên kia biết về trở ngại và ảnh hưởng của nó đối với khả năng thực hiện nghĩa vụ Nếu thông báo không tới tay bên kia trong một thời hạn hợp lý từ khi bên không thực hiện nghĩa vụ đã biết hay đáng lẽ phải biết về trở ngại đó thì họ sẽ phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại do việc bên kia không nhận được thông báo” Công ty BP trong trường

hợp này đã không thông báo trước đến công ty AP về những trở ngại mà họ đang gặp phải, chỉ đến khi hết thời hiệu thực hiện hợp đồng họ mới báo cáo lý do về việc không thưc hiện nghĩa vụ trong hợp đồng

Như đã nhận định ở trên, bên bán là công ty BP đã không thiện chí, thậm chí là

có phần tắc trách trong nghĩa vụ thực hiện hợp đồng Về bản chất, Tòa nhận thấy bên yếu thế hơn trong vụ việc này là công ty BP, vì bên mua là công ty AP

Trang 7

chịu nhiều rủi ro hơn nếu không giao hàng đúng hạn cho công ty đối tác nên Tòa nghiêng về bên mua là công ty AP hơn trong trường hợp này

5 Hủy hợp đồng

Để xem xét hợp đồng có thể bị hủy hay không, tòa đã dẫn chiếu điều 25

CISG: “Một sự vi phạm hợp đồng do một bên gây ra là vi phạm cơ bản nếu sự vi phạm đó làm cho bên kia bị thiệt hại mà người bị thiệt hại, trong một chừng mực đáng kể bị mất cái mà họ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng, trừ phi bên vi phạm không tiên liệu được hậu quả đó và một người có lý trí minh mẫn cũng sẽ

không tiên liệu được nếu họ cũng ở vào hoàn cảnh tương tự”.

Trọng tài cho rằng, công ty BQ đã có phúc đáp chào hàng gửi tới công ty AQ, có sửa đổi không làm thay đổi cơ bản nội dung chào hàng, công ty BP cũng không nhận được bất cứ phúc đáp nào có nội dung phản đối sửa đổi của mình Do đó, hợp đồng mua bán hàng hóa này được coi là đã xác lập Theo hợp đồng công ty

BP phải giao hàng cho công ty AQ trong thời hạn một tháng Nhưng công ty BP lại lấy lý do nhân viên phòng kinh doanh nghỉ việc và công nhân công ty đình công do không đồng ý với chính sách lương và đãi ngộ Nếu không vì lý do bất khả kháng, công ty BP không nên tự động việc ngừng thực hiện hợp đồng, nếu không, vi phạm của công ty BP sẽ bị coi là vi phạm cơ bản và công ty BP sẽ phải bồi thường những thiệt hại đối với công ty AQ do việc vi phạm hợp đồng của công ty BP gây ra

Việc công ty BP không giao hàng cho công ty AQ khiến cho công ty AQ bị thiệt hại trong khi công ty AQ có quyền chờ đợi trên cơ sở hợp đồng hàng hóa mà công ty BP đã ký kết giao hàng Công ty BP hoàn toàn có khả năng tiên liêu được thiệt hại đó và một người lý trí minh mẫn cũng tiên liệu được nếu họ cũng

ở vào hoàn cảnh của công ty BP

Dẫn chiếu điều Ðiều 30 CISG: “Người bán có nghĩa vụ giao hàng, giao chứng

từ liên quan đến hàng hoá và chuyển giao quyền sở hữu về hàng hoá theo đúng

Trang 8

quy định của hợp đồng và của Công ước này” Việc công ty BP ngừng giao hàng

dẫn tới vi phạm nghĩa vụ của người bán theo điều 30 CISG Hơn nữa, người bán lại tuyên bố rõ là từ chối thực hiện nghĩa vụ giao hàng, điều này khiến cho vi phạm của người bán cấu thành vi phạm cơ bản theo điều 25 CISG và Trọng tài chỉ thêm rằng, việc Bên bán từ chối đàm phán với Bên mua đi ngược lại với nguyên tắc thiện chí vì vậy, bên mua được quyền tuyên bố huỷ hợp đồng theo điều 51.2 CISG mà không cần phải gia hạn cho người bán (theo điều 49.1.a CISG)

Với lập luận nói trên, trọng tài tuyên bố công ty AQ có quyền tuyên bố hủy hợp đồng và đòi bồi thường

6 Bồi thường thiệt hại của các bên

Trên cơ sơ các chứng cứ hiện có, công ty AQ đang chiếm nhiều ưu thế hơn nên trọng tài quyết định nghiêng về công ty AQ hơn trong việc đòi bồi thường Tuy nhiên đối với hành vi của công ty BP vẫn có thiếu nhiều chứng cứ để đánh giá hành vi này có hợp pháp hay không cần phải được hai bên làm rõ tại phiên tòa

Để đòi bồi thường thiệt hại, bên bị vi phạm phải tuân thủ hai nguyên tắc rất quan trọng sau đây:

- Thứ nhất là nguyên tắc hạn chế tổn thất, theo đó, bên bồi thường thiệt hại phảo

áp dụng những biện pháp hợp lý để hạn chế tổn thất

- Thứ hai là nguyên tắc các khoản thiệt hại phải được tính toán và chứng minh một cách hợp lý Tính hợp lý ở đây được đánh giá một cách khách quan, dựa trên thực tiễn các yếu tố của tranh chấp và của thị trường

Nếu bên mua đưa ra lập luận tuy rằng khoản 2 Điều 46 Công ước Viên quy định:

“Nếu hàng hóa không phù hợp với hợp đồng thì người mua có thể đòi người bán giao hàng thay thế nếu sự không phù hợp đó tạo thành một sự vi phạm cơ bản hợp đồng”, bên mua có thể yêu cầu bên bán giao hàng thay thế, nhưng bên mua

Trang 9

đã không sử dụng đến quyền này vì xét trên hoàn cảnh thực tế thì bên mua đang cần hàng gấp, bên mua không thể chờ bên bán giao hàng thay thế, hơn nữa bên mua đã mất niềm tin vào bên bán, kể cả khi giao hàng mới bên mua cũng sẽ bị mất rất nhiều thời gian để kiểm tra chất lượng lô hàng mà bên mua đang rất cần hàng để giao cho đối tác Nếu bên mua sử dụng quyền này thì bên bán cũng phải chịu thiệt hại nặng hơn và cả 2 bên mất nhiều thời gian hơn nên thay vào đó, bên mua hàng thay thế và yêu cầu bên bán bồi thường bằng tiền

Theo quy định tại khoản 1 Điều 47 CISG thì người mua có thể cho người bán thêm một thời hạn bổ sung hợp lý đề người bán thực hiện nghĩa vụ Bên mua đã gia hạn thêm cho bên bán thời gian để giao hàng nhưng bên bán viện các lý do

mà Hội đồng trọng tài cho rằng không hợp lý cho nên bên mua vẫn hoàn toàn có quyền đòi bồi thường thiệt hại bao gồm tổn thất (khoản tiền đối tác phạt vi phạm 8000$), khoản lợi bị bỏ lỡ và chênh lệch trong trường hợp này

Hội đồng trọng tài cho rằng, nếu bên bán thiện thiện chí hơn trong việc cùng bên mua loại trừ thiếu sót thì có lẽ bên mua đã không cần phải mua hàng thay thế với giá cao hơn, nên căn cứ vào lỗi của bên bán không thiện chí thực hiện hợp đồng

vi phạm hợp đồng cố tình không giao hàng nên việc bên mua đòi bồi thường khoản chênh lệch cho là hợp lý theo đúng tinh thần của Điều 74 và Điều 75 của CISG

Đối với việc bên mua giao hàng chậm với đối tác phải bồi thường thì tòa yêu cầu bên bán chịu một nửa phí bồi thường đối với việc giao hàng chậm của bên mua

vì như đã nói ở trên, bên mua đã kéo dài thời hian khắc phục thiếu sót một cách chậm trễ vô lú, nên theo hội đồng trọng tài, bên bán cũng phải cùng bên mua bồi thường về giao hàng chậm của bên mua

Vì CISG không giải thích rõ về chênh lệch nhưng theo án lệ giữa Pháp và Ý về tranh chấp bồi thường phần chênh lệch hàng hóa miếng lót ngực thì trong án lệ này Tòa án đưa ra con số 1,98 so với 0,93 và 0,98 là sự chệnh lệch giá quá lớn và

Trang 10

bất hợp lý, việc mua hàng thay thế vì thế không đáp ứng được yêu cầu về tính hợp lý được quy định tai điều 75 CISG Còn trong vụ việc táo GALAXY việc mua hàng thay thế giá 8$ so với 5$ vẫn nằm trong giới hạn phù hợp chiếu theo

án lệ Tuy nhiên, những con số này vẫn chưa đầy đủ để dánh giá hành vi một cách chính xác nên cần 2 bên làm rõ tại phiên tòa

Chiếu theo án lệ nêu trên cùng với quy định tại Điều 74,75,77 CISG thì việc đòi bồi thường thiệt hại và phần chênh lệch giữa giá hợp đồng và giá mua thay thế là hợp lý

Theo như hợp đồng giữa công ty AQ và công ty BP thì công ty AQ đề nghị mua

10 tấn táo GALAXY của công ty BP với giá là $5/kg (năm đô la Mỹ) Sau khi hết hạn giao hàng, công ty BP không cung cấp lô hàng táo GALAXY cho công

ty AQ theo đề như đề nghị trong hợp đồng Công ty AQ phải tìm nhà cung cấp khác là công ty F và phải mua với giá $8/kg (tám đô la Mỹ) Công ty AQ cũng

đã bị đối tác phạt vi phạm hợp đồng với số tiền là $8.000 (tám nghìn đô la Mỹ)

do chậm giao hàng

Số tiền mà công ty BP phải bồi thường chênh lệch: $3x10x1000= $30000 (đô la Mỹ)

Theo Điều 14 Luật trọng tài năm 2010 đối với tranh chấp có yếu tố nước ngoài, Hội đồng trọng tài áp dụng pháp luật do các bên lựa chọn; nếu các bên không có thỏa thuận về luật áp dụng thì Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật

mà Hội đồng trọng tài cho là phù hợp nhất Luật phù hợp nhất có thể là Điều ước quốc tế, pháp luật quốc gia và tập quán quốc tế…Do trong hợp đồng này 2 bên không có thỏa thuận luật áp dụng và CISG không quy định mức phạt tối đa mà các bên có thể áp dụng Chính vì vậy, Hội đồng trọng tài quyết định áp dụng pháp luật nước A (tương tự như pháp luật Việt Nam)

Cũng theo như luật thương mại Việt Nam, tại Điều 301 quy định: “Mức phạt đối với vi phạm nghĩa vụ hợp đồng hoặc tổng mức phạt đối với nhiều vi phạm do

Ngày đăng: 23/08/2021, 05:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w