Nghề nuôi cá tra đã và dang phát triển mạnh do chủ động được nguồn giốngsản xuất nhân tạo và chuyển mô hình nuôi lồng bè sang nuôi ao đã làm cho chí phíđầu tư ban đầu giảm, công tác vệ s
Trang 1CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG 1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cá tra (Pangasianodon hypophthalmus) là một trong những đối tượng thuỷ sản
chủ lực đã và đang được đặc biệt quan tâm trong nuôi trồng thuỷ sản ở Đồng bằngsông Cửu Long (ĐBSCL), nơi chiếm trên 95% tổng sản lượng loài cá này trong nuôitrồng ở Việt Nam
Ngày 19 tháng 09 năm 2006, tại thành phố Cần Thơ, Bộ Thuỷ sản đã tổ chứchội thảo “Quy hoạch sản xuất và tiêu thụ cá tra, basa vùng Đồng bằng sông CửuLong đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020” Theo trình bày của Phân việnKinh tế và Quy hoạch Thuỷ sản phía Nam: Mục tiêu đến 2010, ĐBSCL có 10.200 hanuôi cá tra, basa và sẽ tăng lên 16.000 ha vào năm 2020 Về sản lượng, phương áncho phù hợp nhất dựa trên tốc độ phát triển của nghề nuôi cá tra, basa và dự báo cácđiều kiện tương đối ổn định trong thời gian tới là 863.000 tấn vào năm 2010 vàkhoảng 1.915.900 tấn vào năm 2020 Giá trị sản lượng đạt ở năm 2010 là 12.112 tỷđồng, giá trị xuất khẩu năm 2010 là 600 triệu USD Đến năm 2020, giá trị sản lượnglên đến 34.572 tỷ đồng, xuất khẩu đạt 1,2 tỷ USD…, Tổng số vốn đầu tư cho dự án
là 6.000 tỷ đồng, trong đó vốn ngân sách chiếm 2,3%, còn lại là vốn tự có và vốnvay,…(Báo Sài Gòn giải phóng, 20/09/2009)
Theo quyết định số 02/2008/QĐ-BNN do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nôngthôn phê duyệt đối với quy hoạch nuôi và giải pháp tiêu thụ cá tra ở ĐBSCL tới
2010, 2015 và định hướng tới 2020 Tổng diện tích nuôi cá tra thương phẩm tươngứng theo các mốc thời gian là 8.600 ha; 11.000 ha và 13.000 ha Những con số diệntích là cơ sở cho việc sản xuất ra 1,25; 1,65 và 1,85 triệu tấn cá tra thương phẩmtheo các mốc thời gian kể trên Quy hoạch này đòi hỏi phải có 209; 400 và 510 trạisản xuất cá tra giống nơi sẽ cung cấp khoảng 17,0; 32,0 và 51,0 tỷ cá bột theo 3 mốcthời gian kể trên
Trang 2Nghề nuôi cá tra đã và dang phát triển mạnh do chủ động được nguồn giốngsản xuất nhân tạo và chuyển mô hình nuôi lồng bè sang nuôi ao đã làm cho chí phíđầu tư ban đầu giảm, công tác vệ sinh, cải tạo ao nuôi, phòng bệnh thuận tiện hơn,môi trường nuôi được quản lý tốt hơn, nên thâm canh và áp dụng các biện pháp kỹthuật dễ dàng đã làm cho năng suất cá tra nuôi tăng đáng kể,…Cùng với việc nuôithử nghiệm thành công ở vùng giao thoa ngọt lợ của các tỉnh ven biển cũng đã gópphần làm cho diện tích nuôi cá tra tăng lên, với chi phí đầu tư giảm (do giá đất ở cáctỉnh ven biển thấp hơn khu vực nước ngọt nuôi cá tra truyền thống) từ đó làm chosản lượng cá tra nguyên liệu tăng rất nhanh.
Theo số liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2008) thì giá cá tra,basa biến động rất mạnh trong giai đoạn 1997-1998, cá tra xuất khẩu có giá là 4,93USD/kg và giảm xuống còn 2,28 USD/kg vào năm 2003 Sang năm 2004, tăng nhẹlên 3,01 USD/kg và giảm xuống còn 2,56 USD/kg vào năm 2005 Năm 2007, giáxuất khẩu đạt mức bình quân 3,25 USD/kg nhưng 06 tháng đầu năm 2008 chỉ còn2,28 USD/kg
Trong thời gian qua, giá thức ăn, thuốc thú y thuỷ sản, giá thuê mướn nhâncông, giá đất và công đào ao, đều tăng do phong trào nuôi cá tra phát triển quánóng và tràn lan làm cho giá thành nuôi cá tra tăng cao Mặc dù các hộ nuôi, các nhàkhoa học và các nhà quản lý luôn cố gắng áp dụng các biện pháp tăng năng suấtnhằm giảm chi phí, nhưng do sản lượng cung cấp cá nguyên liệu là quá lớn đã làmcho giá cá liên tục bị giảm nên hiệu quả đem lại cho nghề nuôi cá tra là rất thấp
Từ những diễn biến của ngành nuôi cá tra như trên, việc tìm giải pháp cho sựphát triển bền vững, ổn định và hiệu quả của nghề nuôi cá tra trong thời gian tới cần
có định hướng rõ ràng từ hộ nuôi, doanh nghiệp chế biến thuỷ sản xuất khẩu và cácnhà quản lý,… Để góp phần vào nhận thức của hộ nuôi về hiệu quả cá tra nuôi ao
trong tương lai Tôi chọn đề tài: “Phân tích hiệu quả tài chính mô hình nuôi cá
tra (Pangasianodon hypophthalmus) trong ao ở Đồng bằng sông Cửu Long” để
làm luận văn tốt nghiệp cao học
Trang 31.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Đề tài được thực hiện nhằm làm rõ hiện trạng và phân tích hiệu quả tài chínhcủa mô hình nuôi cá tra trong ao ở ĐBSCL thời gian qua Từ đó, cung cấp thông tin
và đề xuất các giải pháp cho việc cải thiện và nâng cao hiệu quả tài chính trong việcphát triển mô hình cá tra nuôi ao trong thời gian tới ở ĐBSCL
Các mục tiêu cụ thể của đề tài gồm có:
(1) Phân tích được tình hình sản xuất sản phẩm cá tra nuôi ao ở ĐBSCL.(2) Phân tích được các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất, chi phí và các chỉtiêu tài chính của cá tra nuôi ao
(3) Nhận thức của người nuôi cá tra ao ở ĐBSCL
(4) Đề xuất được các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện hiệu quả tài chính (haygiảm chi phí) của mô hình cá tra nuôi ao ở khu vực ĐBSCL
1.3 GIẢ THUYẾT NGHIÊN CỨU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Các giả thuyết cơ bản của đề tài
(1) Không có sự tác động nào của các nhân tố như diện tích, số ao nuôi, số vụnuôi, mật độ nuôi, thức ăn, thời vụ nuôi, lao động,… đến năng suất cá tra nuôi ao.(2) Không có sự tác động nào của các nhân tố như diện tích, số ao nuôi, số vụnuôi, mật độ nuôi, thức ăn,…đến lợi nhuận cá tra nuôi ao
(3) Không có sự khác biệt giữa các địa bàn nghiên cứu về các nhân tố ảnhhưởng đến năng suất cá tra nuôi ao
(4) Không có sự khác biệt giữa các địa bàn nghiên cứu về các nhân tố ảnhhưởng đến chi phí cá tra nuôi ao
Kết luận rút ra từ các kết quả kiểm định thống kê giúp cho việc quyết định chấpnhận hay bác bỏ những giả thuyết trên đây
1.3.2 Các câu hỏi nghiên cứu chủ yếu
(1) Những thông tin kinh tế - kỹ thuật cơ bản nào giúp mô tả được các cơ sởnuôi cá tra ao?
(2) Những nhân tố nào ảnh hưởng đến năng suất cá tra nuôi ao?
Trang 4(3) Quy trình kỹ thuật nào quan trọng trong việc nuôi cá tra?
(4) Những nhân tố nào ảnh hưởng đến chi phí cá tra nuôi ao?
(5) Nhận thức của hộ nuôi như thế nào về các vấn đề liên quan đến nuôi cá tranuôi ao hiện tại và thời gian tới?
đề tài được tiến hành tại thành phố Cần Thơ từ tháng 09 năm 2008 đến tháng 05năm 2009
1.4.2 Kết quả mong đợi và giới hạn đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp làm rõ tình hình cá tra nuôi ao ở ĐBSCL,mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến năng suất, chi phí cá tra nuôi cũng như cácchỉ tiêu tài chính của mô hình cá tra nuôi ao ở ĐBSCL Đề tài cũng góp phần đềxuất một số giải pháp cơ bản cho việc tổ chức sản xuất và tiêu thụ cá tra nguyên liệutrong gian tới theo hướng cải thiện các chỉ tiêu tài chính cho nghề nuôi cá tra ao ởđồng bằng này
Trong thời gian ngắn, đề tài chỉ tập trung nghiên cứu phân tích hiệu quả tàichính, không phân tích tác động về môi trường và những vấn đề khác Đồng thời vớinhững hạn chế về nhân lực, kinh phí và việc thu thập số liệu từ nhiều nguồn, khóđảm bảo tính chính xác, phỏng vấn viên thiếu kinh nghiệm trong khảo sát, bản thântác giả có giới hạn về kinh nghiệm trong nghiên cứu nên ít nhiều có những thiếu sótnhất định, nên rất mong sự góp ý của quý thầy cô, các bạn và những người am hiểu
về ngành hàng này
Trang 51.5 KẾT CẤU ĐỀ TÀI
Đề tài được kết cấu như sau:
Chương 1: Giới thiệu chung
Chương 2: Cơ sở lý luận
Chương 3: Tổng quan về địa bàn nghiên cứu và ngành nuôi trồng thủy sản
vùng đồng bằng sông Cửu LongChương 4: Phương pháp thu thập và phân tích số liệu
Chương 5: Kết quả nghiên cứu
Chương 6: Giải pháp nâng cao hiệu quả nuôi cá tra vùng ĐBSCL
Chương 7: Kết luận và kiến nghị
Trang 6CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN2.1 KHÁI NIỆM VÀ ĐẶC ĐIỂM NGÀNH THỦY SẢN
2.1.1 Các khái niệm về nuôi trồng thuỷ sản
2.1.1.1 Khái niệm nuôi trồng thuỷ sản
Khái niệm về nuôi trồng thuỷ sản được Tổ chức Nông lương Thế giới (FAO,tóm lược bởi Lê Xuân Sinh, 2005) xem là tổ hợp của 3 yếu tố:
- Các công việc nuôi trồng các loại sản phẩm thuỷ sản
- Quá trình phát triển của các đối tượng này chịu sự can thiệp của conngười
- Phải được thu hoạch bởi một cá nhân hay tập thể người lao động
Theo Phạm Minh Thành (2002), thì nuôi trồng thuỷ sản là hoạt động sản xuấtlấy đối tượng là những sinh vật sống trong nước để tạo ra những sản phẩm phục vụcho con người Nuôi trồng thuỷ sản bao gồm: (1) Nuôi trồng thuỷ sản nước ngọt, (2)Nuôi trồng hải sản, (3) Bảo vệ và phát triển nguồn lợi thuỷ sản
2.1.1.2 Khái niệm thâm canh trong nuôi trồng thuỷ sản
Thâm canh trong nuôi trồng thuỷ sản là hình thức nuôi được đầu tư lớn về cơ
sở vật chất kỹ thuật, đòi hỏi người nuôi phải có nhiều kinh nghiệm, trình độ chuyênmôn về kỹ thuật và quản lý trong nuôi trồng thuỷ sản Đây là hình thức nuôi vớinguồn giống nhân tạo, thức ăn công nghiệp, đầu cơ sở hạ tầng tốt, đảm bảo điều kiện
để hạn chế tác động của môi trường tự nhiên trong việc quản lý, chăm sóc và phòngchống dịch bệnh và thu hoạch,…đạt được năng suất cao
2.1.2 Các khái niệm cơ bản trong kinh tế
2.1.2.1 Chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất là số tiền mà một cơ sở hay doanh nghiệp phải chi ra để muacác yếu tố đầu vào cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanh hàng hoá nhằm mụcđích thu đuợc lợi nhuận
Trang 72.1.2.2 Tỷ số thu nhập trên chi phí
Thể hiện lượng thu nhập nhận được từ việc đầu tư một đơn vị tiền tệ trong mộtthời gian nào đó
TR/TC = Tổng thu nhập / Tổng chi phí
2.1.2.3 Tỷ số lợi nhuận trên chi phí
Thể hiện lượng lợi nhuận đạt được từ việc đầu tư một đơn vị tiền tệ trong mộtkhoảng thời gian nào đó
LN/TC = Tổng lợi nhuận / Tổng chi phí
2.1.2.4 Tỷ số lợi nhuận trên thu nhập
Thể hiện lượng lợi nhuận đạt được từ một đơn vị thu nhập nhận được
LN/TR = Tổng lợi nhuận / Tổng thu nhập
2.1.3 Đặc điểm ngành thủy sản
Ngành Thuỷ sản Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh
tế đất nước Quy mô của ngành Thuỷ sản ngày càng mở rộng và vai trò của NgànhThuỷ sản cũng tăng lên không ngừng trong nền kinh tế quốc dân
Ngành Thuỷ sản là một ngành kinh tế kỹ thuật đặc thù bao gồm nhiều lĩnh vựchoạt động mang những tính chất công nghiệp, nông nghiệp, thương mại và dịch vụ,
cơ cấu thành một hệ thống thống nhất có liên quan chặt chẽ và hữu cơ với nhau.Trong khi các ngành khai thác, đóng sửa tàu thuyền cá, sản xuất ngư lưới cụ, cácthiết bị chế biến và bảo quản thuỷ sản trực thuộc công nghiệp nhóm A, ngành chếbiến thuỷ sản thuộc nhóm công nghiệp B, ngành thương mại và nhiều hoạt độngdịch vụ hậu cần như cung cấp vật tư và chuyên chở đặc dụng thuộc lĩnh vực dịch vụthì nuôi trồng thuỷ sản lại mang nhiều đặc tính của ngành nông nghiệp
Vì vai trò ngày càng quan trọng của ngành Thuỷ sản trong sản xuất hàng hoáphục vụ nhu cầu tiêu dùng thực phẩm trong nước và thu ngoại tệ, từ những năm cuốicủa thập niên 90 của thế kỷ 20, Chính phủ đã có những chú ý trong qui hoạch hệthống thuỷ lợi để không những phục vụ tốt cho phát triển nông nghiệp mà còn tạo
Trang 8điều kiện thuận lợi cho phát triển mạnh về nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt đối với vùngĐBSCL.
2.2 CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN
2.2.1 Lý thuyết năng suất theo quy mô
Theo lý thuyết năng suất theo quy mô (Pindyck và Rubinfeld, 1999, trích từ VõThị Thanh Hương, 2007), việc đo lường sản lượng gia tăng tương ứng với sự giatăng của tất cả các yếu tố đầu vào là vấn đề cốt lõi để tìm ra bản chất của quá trìnhsản xuất trong dài hạn Năng suất tăng dần theo quy mô khi sản lượng tăng hơn hailần trong khi các yếu tố đầu vào tăng gấp đôi (Lê Bảo Lâm và cộng sự, 1999) Đốivới các xí nghiệp có chi phí trung bình dài hạn là cố định cho dù sản lượng tăng, khi
đó năng suất không đổi theo quy mô (Begg và cộng sự, 1995) Hay khi tăng gấp đôi
số lượng yếu tố sản xuất được sử dụng thì sản lượng cũng tăng gấp đôi tương ứng,năng suất không đổi theo quy mô (Lê Bảo Lâm và cộng sự, 1999) Đối với các xínghiệp có chi phí trung bình dài hạn tăng theo đà sản lượng tăng (Begg và cộng sự,1995), hay tỉ lệ tăng của sản lượng nhỏ hơn tỉ lệ tăng của các yếu tố sản xuất, khi đónăng suất giảm theo quy mô
2.2.2 Hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế phản ánh mối quan hệ tỷ số giữa đầu ra có ích với đầu vàođược sử dụng Đầu vào có thể tính theo số lao động, vốn hay thời gian lao động haophí, chi phí thường xuyên Đầu ra thường dùng giá trị tăng thêm (Lê Dân, 2007) Hoàng Hùng (2007) cho rằng, hiệu quả kinh tế được xem như là tỷ lệ giữa kếtquả thu được với chi phí bỏ ra Nó được tính toán khi kết thúc một quá trình sảnxuất kinh doanh
2.2.3 Kiến thức thủy sản
Kiến thức thủy sản có thể xem như một tổng thể các kiến thức về kỹ thuật, kinh
tế và cộng đồng mà hộ nuôi có được để ứng dụng vào hoạt động sản xuất của mình.Theo Đinh Phi Hổ (2007), kiến thức là động lực mạnh mẽ nhất của sản xuất Kiếnthức phụ thuộc vào mức độ và khả năng tiếp cận của mỗi người Với tất cả nguồn
Trang 9lực đầu vào giống nhau, hai hộ nuôi có trình độ kỹ thuật về thủy sản khác nhau sẽ cókết quả nuôi trồng khác nhau Kiến thức cũng là một yếu tố đầu vào của sản xuất.
Để nuôi cá, hộ nuôi phải có đất, có tiền mua các yếu tố đầu vào như giống thức ăn,thuốc, hóa chất,… và có lao động để tiến hành sản xuất Tuy nhiên, các hộ nuôi phải
có đủ kiến thức mới có thể phối hợp các nguồn lực đó đạt hiệu quả
2.2.4 Năng suất lao động
Năng suất lao động của Việt Nam còn rất thấp so với các nước trong khu vực,đặc biệt là ngành nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Năng suất lao động nôngnghiệp của Việt Nam khoảng 244 USD, tương đương 75% so với Trung Quốc, 33%
so với Indonesia, 25% so với Thái Lan, 18% so với Philippines và 4% so vớiMalaysia (World Bank, 2000) Nếu không có sự đột phá về năng suất lao động thìViệt Nam không thể canh tranh được với các nước trong khu vực
Nâng suất lao động phụ thuộc chủ yếu vào hai yếu tố: năng suất đất (giá trị sảnphẩm tính trên 1 ha) và năng suất đất – lao động (diện tích đất nông nghiệp tính trên
1 lao động)
2.3 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN Ở VIỆT NAM
Cá tra và basa phân bố ở một số nước Đông Nam Á như Campuchia, Thái Lan,Indonesia và Việt Nam, là hai loài cá nuôi có giá trị kinh tế cao Cá tra được nuôiphổ biến ở hầu hết các nước Đông Nam Á, là một trong những loài cá nuôi quantrọng nhất của khu vực này Bốn nước trong hạ lưu sông Mê Kông đã có nghề nuôi
cá tra truyền thống là Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam do có nguồn cá tra tựnhiên phong phú Ở Campuchia, tỷ lệ cá tra thả nuôi chiếm 98% trong 3 loài thuộc
họ cá tra, chỉ có 2% là basa và cá vồ đém, sản lượng cá tra chiếm một nữa tổng sảnlượng các loài cá nuôi Tại Thái Lan, trong số 8 tỉnh nuôi cá nhiều nhất, có 50% sốtrại nuôi cá tra, đứng thứ hai sau cá rô phi Một số nước trong khu vực nhưMalaysia, Indonesia cũng đã nuôi cá tra có hiệu quả từ những thập niên 70-80 củathế kỷ 20
Đồng bằng Nam Bộ của Việt Nam đã có truyền thống nuôi cá tra, cá basa Cátra được phổ biến trong cả ao và bè, cá basa chủ yếu nuôi bè Hiện nay nuôi cá tra và
Trang 10basa đã phát triển ở nhiều địa phương, không chỉ ở Nam Bộ mà một số nơi ở mềnTrung và miền Bắc cũng bắt đầu quan tâm nuôi các đối tượng này Những năm gầnđây nuôi các loài cá này phát triển mạnh nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng nội địa vànguyên liệu cho xuất khẩu Nuôi thương phẩm thâm canh cho năng suất rất cao.
Từ nửa đầu thế kỷ 20, nuôi cá trong ao mới bắt đầu xuất hiện ở đồng bằng Nam
Bộ Hầu như nhà nào cũng có một vài ao lớn nhỏ và đối tượng nuôi chính là cá tra.Việc phát triển nuôi cá tra ở Nam Bộ đã góp phần duy trì nguồn thực phẩm chínhyếu và có mặt trên thị trường quanh năm Vào mùa lũ, nguồn cá tự nhiên do sông
Mê Kông tải về một lượng khổng lồ cung ứng đủ cho nhu cầu tiêu thụ của cư dân.Vào mùa khô, lượng cá trên sông ít đi do nước sông cạn, cá rút đi khỏi các khu đồngtrũng thì cá cung cấp cho thị trường trở nên khan hiếm, lúc này cá nuôi hoặc lưu giữtrong ao, nhất là cá tra trở thành nguồn thực phẩm quan trọng Tài liệu thống kê củatỉnh An Giang cho thấy năm 1985 có hơn 90% diện tích ao nuôi cá ở nông thôn củatỉnh lúc bấy giờ là nuôi cá tra Có lẽ do An Giang là 1 trong 2 tỉnh (cùng Đồng Tháp)
có nguồn cá tra giống phong phú vớt trên sông và nghề cá tra giống phát triển nhấttrong cả nước Tài liệu của Uỷ hội sông Mê Kông cũng đề cập về hiện trạng nuôi cátra ở miền Nam Việt Nam trong những thập niên 50-70 Nuôi cá tra truyền thống vàghép với một loài cá khác, người nuôi thường tiến hành thu hoạch vào cuối năm haynhững tháng mùa khô Từ những năm 1970 về trước, khi nghề nuôi cá còn hạn chế
về mặt kỹ thuật nuôi, về con giống và tập quán nuôi cá, thì nghề nuôi cá còn mangtính đơn điệu với đối tượng nuôi chủ yếu là cá tra, còn các đối tượng khác thì rất ít
Do đặc tính chịu đựng được môi trường khắc nghiệt nên nghề nuôi cá tra không cầnphải đào ao lớn mà nuôi vẫn có hiệu quả
Từ khi mở rộng thị trường xuất khẩu cá tra và basa và tìm được thị trường mới,nghề nuôi cá tra, basa như bước sang một trang mới Cùng với thành công sản xuất
đủ nhu cầu giống nhân tạo, nghề nuôi cá tra, basa trong bè cũng như trong ao pháttriển mạnh mẽ, sản lượng cá tăng lên liên tục trong những năm gần đây Cá tra, basa
đã trở thành đối tượng xuất khẩu với nhiều mặt hàng chế biến đa dạng, phong phú
và được xuất sang hàng chục nước và vùng lãnh thổ Nhưng nhu cầu thực phẩmtrong nước vẫn là thị trường vô cùng rộng lớn mà chúng ta còn bỏ ngỏ, chưa được
Trang 11quan tâm đúng mức Cá tra, basa hiện đang có sản lượng xuất khẩu nhiều nhất trongcác loài cá nuôi nước ngọt.
Võ Thanh Thu và ctv (2002) thực hiện nghiên cứu “Những giải pháp về thịtrường cho sản phẩm thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam” Đánh giá thực trạng xuấtkhẩu thuỷ sản Việt Nam qua các thị trường
Trần Anh Tú (2003) thực hiện luận văn thạc sĩ về “Giải pháp phát triển ngành
cá tra, basa ở đồng bằng sông Cửu Long đến 2010” Tìm giải pháp khả thi cho việcphát triển thuỷ sản của Bộ Thuỷ sản nói riêng và Đảng, Nhà nước nói chung
Lê Xuân Sinh (2007) đã phân tích “Các yếu tố liên quan tới sự phát triển bềnvững ngành cá tra ở ĐBSCL”
Nguyễn Phú Son (2007), thực hiện “Nghiên cứu thị trường cá tra và basa ởĐBSCL, Việt Nam” Nhằm mô tả xu hướng phát triển thị trường từ người nuôi đếnngười tiêu thụ ở nội địa và xuất khẩu, hướng tới chất lượng sản phẩm, quy hoạchcho sự phát triển ngành hàng này ở ĐBSCL
Trang 12CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ NGÀNH
NUÔI TRỒNG THỦY SẢN ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG3.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
ĐBSCL nằm ở phần cuối của lưu vực sông Mekong với tổng diện tích tự nhiênkhoảng 4 triệu ha, bằng 5% diện tích toàn khu vực, 28.000 km sông rạch, ba mặtgiáp biển Toàn vùng gồm có 13 tỉnh và thành phố, với số dân khoảng 18 triệungười, là vùng kinh tế sản xuất nông nghiệp, chiếm 50% sản lượng lúa, 70% sảnlượng trái cây, 52% thuỷ sản, đóng góp 90% lượng gạo xuất khẩu và 60% kim ngạchxuất khẩu thuỷ sản của cả nước (Nguyễn Hữu Thái, 2008)
Nhiệt độ trung bình là 28 độ C, có chế độ nắng cao, số giờ nắng trung bình nămkhoảng 2.226 – 2.709 giờ Có 2 mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4, mùamưa từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa bình quân là 2.400 mm Lượng nước từsông Mekong chảy qua ĐBSCL hàng năm thông qua sông Tiền và sông Hậu khoảng
500 tỷ m3, về mùa khô đây là lượng nước mặt duy nhất cung cấp cho khu vựcĐBSCL Đất đai, có khoảng 2,60 triệu ha sử dụng để phát triển sản xuất nôngnghiệp và nuôi trồng thuỷ sản, chiếm 65% diện tích tự nhiên (Viện Nghiên cứuchiến lược, 2007)
Việc vùng ĐBSCL hàng năm bị ngập lũ gần 50% diện tích từ 3-4 tháng tạo nênmột đặc điểm nổi bật của vùng, một mặt làm hạn chế lớn đối với canh tác, trồng trọt
và gây nhiều khó khăn cho đời sống của dân cư, nhưng mặt khác cũng tạo nênnhững điều kiện thuận lợi cho việc đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản và bổ sung độ phìnhiêu cho đất trồng trọt ĐBSCL có bờ biển dài trên 700km, khoảng 360.000km2khu vực đặc quyền kinh tế, phía Đông giáp biển Đông, phía Nam giáp Thái BìnhDương và phía Tây - Nam giáp vịnh Thái Lan, tạo điều kiện rất thuận lợi trong việcphát triển kinh tế biển, khai thác và nuôi trồng thuỷ sản phục vụ cho nhu cầu sảnxuất, tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Trang 13Cây lúa - cây trồng chủ lực, là sản phẩm chuyên môn hoá cao nhất vùng Hàngnăm lúa gạo của vùng ĐBSCL đóng góp phần lớn vào việc cung ứng nhu cầu trongnước và chiếm tới 90% lượng gạo xuất khẩu của cả nước Sau lúa là nuôi trồng vàkhai thác thuỷ sản Với 8/13 tỉnh giáp biển, lại có 2 sông lớn là sông Tiền và sôngHậu song song nối các tỉnh với biển Đông, vùng ĐBSCL có điều kiện rất thuận lợi
để nuôi trồng thuỷ sản nước mặn, nước lợ cũng như nước ngọt Nhịp độ tăng trưởngsản lượng thuỷ sản hàng năm khoảng 8-9%/năm (nhanh hơn cả nước khoảng8%/năm), tương ứng với khoảng 100-120 nghìn tấn/năm Giá trị xuất khẩu thủy sảncủa vùng chiếm khoảng 60% cả nước Trong thuỷ sản nuôi trồng, đáng chú ý nhất làcon tôm Sản lượng tôm ở vùng ĐBSCL chiếm gần 80% của cả nước (Khánh Vi,2008)
Dân số toàn vùng (2006) là 17,5 triệu người, bằng 21% dân số cả nước Theotài liệu điều tra dân số năm 1989 là 14,4 triệu, năm 1999 là 16,13 triệu người Tỉ lệtăng giữa 2 cuộc điều tra 1979 và 1989 là 3,02%, giữa 1989 và 1999 là 2,01%, tỉ lệtăng bình quân (2001-2005) là 1,1% Số người trong độ tuổi lao động (2004) là 9,28triệu, chiếm 51% dân số, trung bình mỗi năm (2001-2005) tăng thêm 300 nghìn.Năm 1996 chỉ có 7,4% số người trong độ tuổi được đào tạo chuyên môn từ sơ cấptrở lên, năm 2000 là 9,8% và 2004 là 14,6% Tăng trưởng kinh tế từ 1992-1995 vàokhoảng 15%, từ 1996-2000 là 7,9% và 2001-2005 là 10,4% Tổng mức bán lẻ hànghóa (2005) 92,6 nghìn tỉ đồng, bằng 19,3% của cả nước Tổng kim ngạch xuất nhậpkhẩu (2006) 4,2 tỉ USD, bằng 5% so cả nước (xuất khẩu 3,1 tỉ USD, nhập khẩu 1,1 tỉUSD) FDI từ 1988-2006 (chỉ tính phần vốn còn hiệu lực) là 1,8 tỉ USD bằng 3%tổng FDI cả nước (Đại học Thuỷ lợi, 2008)
Là vùng nông nghiệp lớn nhất nước, ĐBSCL chiếm đến 35% trong giá trị sảnxuất nông nghiệp, 66% giá trị sản xuất thủy sản cả nước Trong đó lúa: 52% diệntích, 50% sản lượng và hầu hết lượng gạo xuất khẩu; thủy sản: 52% sản lượng vàhơn ½ kim ngạch xuất khẩu; cây trái (cây ăn quả và cây có múi): hơn 50% diện tích
và 70% sản lượng Là vùng đất giàu tiềm năng nhưng sự phát triển về kinh tế và xãhội của ĐBSCL cho đến nay đầy trăn trở Gần đây, đã có nhiều cuộc thảo luận và
Trang 14nhiều câu hỏi được đặt ra nhằm đánh giá sự phát triển trong thời gian qua, vai trò và
vị trí của ĐBSCL trong giai đoạn mới của đất nước
3.2 SỰ PHÁT TRIỂN NGHỀ NUÔI CÁ TRA Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
Với điều kiện về lượng nước, lượng mưa, chế độ nắng, nhiệt độ như trên đãđem lại cho ĐBSCL nhiều thuận lợi trong nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt là cá tra
Cá da trơn ở Việt Nam chủ yếu được nuôi ở ĐBSCL, phổ biến nhất là cá tra,basa Việc phát triển ngành nuôi cá tra trong thời gian qua tăng nhanh về mặt sảnlượng và diện tích Việc tăng trưởng nhanh ngành hàng này có nhiều nguyên nhân,trong đó việc chủ động được nguồn giống do áp dụng thành công phương pháp sinhsản nhân tạo, kỹ thuật nuôi, phương pháp nuôi đã được cải tiến và thị trường tiêu thụđược mở rộng, đặc biệt là thị trường xuất khẩu,…Cụ thể, về diện tích nuôi năm 2005
là 4.912,5 ha, tăng gấp 2,5 lần so với năm 2000 và 3,81 lần so với năm 1997 Tốc độtăng diện tích bình quân giai đoạn từ 1997 - 2005 là 19,3%/năm Năm 2006, do giá
cá tra giảm nên diện tích nuôi cá tra giảm còn 4.243 ha, đến tháng 06/2007 tăng lên4.919,7 ha, và tiếp tục tăng đến tháng 06/2008 đạt khoảng 5.890,5 ha (Bộ NN &PTNT, 2008)
Sản lượng tăng từ 22.550 tấn năm 1997 lên 371.482 tấn năm 2005 tăng gấp16,47 lần Tốc độ tăng sản lượng trung bình giai đoạn 1997 – 2005 là 46,3%/năm,cao hơn rất nhiều so với tăng trưởng bình quân diện tích nuôi (19,3%/năm) Năm
2006, sản lượng cá tra nuôi đạt 567.082 tấn (Báo cáo của các sở Nông nghiệp vàPhát triển nông thôn các tỉnh, 2007), đạt 1 triệu tấn năm 2007 và có thể đạt 1,2 triệutấn năm 2008 (Ngô Sơn, 2008)
Năm 2006, ĐBSCL có 136 nhà máy chế biến thuỷ sản, trong đó có 70 nhà máychế biến cá tra xuất khẩu, công suất 1,5 triệu tấn năm (Công Phiên, 2008)
Cá tra, basa hầu như được xuất khẩu dưới dạng phi-lê, sản lượng xuất khẩukhông ngừng tăng lên và tăng cao qua các năm, từ 4.000 tấn năm 1997, tăng lên116.000 tấn năm 2005 (Bộ Thuỷ sản, 2005) Tới năm 2007 đạt 383.200 tấn, đạt kimngạch xuất khẩu 974,12 triệu USD và có khoảng 80 mặt hàng được chế biến từ cá
Trang 15tra Các mặt hàng cá tra, basa có mặt tại 98 nước, vùng lãnh thổ trên thế giới, đượcphân bố cho các thị trường như EU chiếm 42,20%, Nga chiếm 11,17%, các nướcASEAN chiếm 8,69%, Ucraina chiếm 6,10%, Hoa Kỳ chiếm 3,55%, Hồng Kôngchiếm 3,26%, UAE chiếm 2,39% và Canada chiếm 1,93%,…(Bộ Thương mại,2007)
Biểu đồ 3.1: Thị trường tiêu thụ sản phẩn cá traLợi nhuận thu được từ nuôi cá tra năm 2003 là 1.033 đồng/kg cá nuyên liệu,còn năm 2002 là 2.886 đồng/kg (Nguyễn Phú Son, 2003) Đầu năm 2008, ngườinuôi cá tra có thể thu lãi hơn 5.000 đồng/kg (Hoàng Hậu, 2008), nhưng đến giữanăm 2008, lổ khoảng 2.000 đồng/kg (Thông tấn xã Việt Nam, 2008) do chi phí thức
ăn tăng cao dẫn đến giá thành tăng ở mức 14.000 -15.500 đồng/kg (Nguyễn Thắng,2008)
Biến động giá cá tra thịt trắng và thịt vàng từ tháng 07/2007 đến 06/2008 đượcthể hiện qua biểu đồ 3.2
Trang 16Biểu đồ 3.2: Biến động giá cá tra thịt trắng và thịt vàng từ tháng 07/2007 đến 06/2008
3.3 TÌNH HÌNH XUẤT KHẨU CÁ TRA ĐẾN 2009
Theo số liệu của Hải quan, tính đến ngày 14/11/2008, tổng kim ngạch xuấtkhẩu thuỷ sản của cả nước đã chạm mức 4 tỷ USD 10 tháng đầu năm, xuất khẩuthuỷ sản của cả nước đạt 1.054.600 tấn, trị giá 3,828 tỷ USD, tăng 39,4% về lượng
và 24,4% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái Xuất khẩu trong tháng 10 đạt 124.328tấn, trị giá 478,23 triệu USD, tăng 30% về khối lượng và giá trị so với tháng10/2007
Tôm đông lạnh, cá tra, basa và mực, bạch tuộc đông lạnh- 3 mặt hàng vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao Tôm đông lạnh chiếm tỷ trọng cao nhất 35,4%với 158.527 tấn, trị giá 1,354 tỷ USD trong 10 tháng đầu năm, tăng 22,5% và 10,4%
chính-so với cùng kỳ
Cá tra, basa chiếm 32,4%, với 550.070 tấn, trị giá 1,240 tỷ USD, đạt mức tăngtrưởng cao nhất, tăng 74,5% về lượng và 53,3% về giá trị so với cùng kỳ
Xuất khẩu mực, bạch tuộc đạt 74.233 tấn, trị giá 271,79 triệu USD, tăng 9,5%
về lượng và 17,3% về giá trị so với cùng kỳ
EU vẫn đứng đầu trong các thị trường nhập khẩu thuỷ sản Việt Nam, chiếm25,3% tổng xuất khẩu thuỷ sản của cả nước với gần 970 triệu USD, tăng 29,3% so
Trang 17với 10 tháng năm 2007 EU là thị trường nhập khẩu nhiều nhất cá tra của Việt Namvới kim ngạch 487,51 triệu USD, tăng 23,4%
Xuất khẩu thuỷ sản sang Nhật chiếm 18,1%, đứng vị trí thứ 2, với khoảng 693triệu USD, tăng 14,4% so với cùng kỳ Đây là thị trường tiêu thụ tôm đông lạnh lớnnhất của Việt Nam với 412 triệu USD, tăng 4,2% so với cùng kỳ năm ngoái
Xuất khẩu sang Mỹ, thị trường lớn thứ 3, tăng 5% so với cùng kỳ, đạt 624 triệuUSD Xuất khẩu sang nước này trong tháng 10 đạt 89,4 triệu USD, tăng 32,3% Xuất khẩu sang Nga trong tháng 10 có vẻ chững lại, nhưng vẫn đạt mức tăngtrưởng 3 con số trong 10 tháng, với 109,9% đạt 194,7 triệu USD Nga, Ucraina và
Ai Cập vẫn tiếp tục đẩy mạnh nhập khẩu cá tra, basa của Việt Nam Nga là thịtrường đơn lẻ có mức kim ngạch nhập khẩu cá tra, basa Việt Nam cao nhất với169,78 triệu USD trong 10 tháng, tiếp đến là Ucraine với 129 triệu USD và Tây BanNha 104,78 triệu USD Xuất khẩu cá tra, basa sang Ai cập tăng 250% đạt 43,1 triệuUSD (Theo VASEP,2008)
Năm 2008, diện tích nuôi cá tra ở khu vực ĐBSCL khoảng 6.000 ha, đạt sảnlượng hơn 1,1 triệu tấn Sản lượng cá tra thành phẩm xuất khẩu là 633 ngàn tấn (Bộ
NN & PTNT, 2009) Kim ngạch xuất khẩu của sản phẩm cá tra đã đạt trên 1,453 tỷUSD, chiếm 32,2% tổng giá trị xuất khẩu thuỷ sản (4,509 tỷ USD), tăng 48,4% sovới năm 2007 (Nguyễn Huyền, 2009)
Năm 2009 xuất khẩu thủy sản được dự báo sẽ gặp nhiều khó khăn hơn Suythoái kinh tế thế giới có thể sẽ tác động tiêu cực đến kim ngạch xuất khẩu thủy sảnViệt Nam năm 2009 Theo dự báo của VASEP, kim ngạch tăng trưởng năm 2009 sẽgiảm khoảng 15-20 % so với năm 2008 Nguyên nhân chính dẫn đến sự giảm sútnày được đưa ra là do khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế thế giới nên nhữngkhó khăn về tín dụng, tỷ giá hối đoái, nhu cầu tiêu dùng sẽ tác động mạnh đếnthương mại thủy sản năm 2009 Đặc biệt, các thị trường truyền thống của thủy sảnViệt Nam là EU, Mỹ, Nhật Bản có khả năng giảm nhiều nhất, khoảng 15 - 20%.Nhiều nhà nhập khẩu bị ngân hàng siết tín dụng nên không có khả năng thanh toán
Trang 18để nhập những đơn hàng mới Trong đó, hai mặt hàng chủ lực của ngành thủy sảnViệt Nam là tôm và cá tra sẽ bị ảnh hưởng nặng nhất.
Trang 19CHƯƠNG 4 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP VÀ PHÂN TÍCH SỐ LIỆU
4.1 PHƯƠNG PHÁP THU THẬP SỐ LIỆU
4.1.1 Phương pháp tiếp cận
Tham khảo các số liệu thứ cấp
Phỏng vấn trực tiếp người nuôi cá tra
Mô tả, phân tích, so sánh, đối chiếu và suy rộng
4.1.2 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu khảo sát được tập trung theo các nhân tố có liên quan và ảnh hưởng đếnvấn đề nghiên cứu
Các số liệu thứ cấp được thu thập thông qua các báo cáo hàng năm của ngànhthuỷ sản, trung tâm khuyến ngư các tỉnh, niên giám thống kê của Việt Nam và cáctỉnh thành ĐBSCL, cơ quan quản lý chuyên ngành, các chuyên gia, các bài nghiêncứu của các nhà chuyên môn và các bài viết trên báo, tạp chí ngành, websites,…
Số liệu sơ cấp được phỏng vấn trực tiếp từ người nuôi bằng bảng câu hỏi đượcsoạn trước và có tham khảo ý kiến các chuyên gia về quy trình nuôi, các nhân tố chiphí phát sinh trong quá trình nuôi cá tra Bảng câu hỏi phỏng vấn được phỏng vấnthử và hiệu chỉnh trước khi thực hiện phỏng vấn đại trà
Nội dung phỏng vấn hộ nuôi cá tra ao bao gồm những vấn đề sau:
- Thông tin chung của hộ nuôi
- Thông tin kinh tế - kỹ thuật hộ nuôi tiếp nhận được
- Thông tin chung về thiết kế của cơ sở nuôi và quy trình nuôi cá được ápdụng
- Số lượng và chất lượng cá giống, mua bán trong năm
- Các loại thức ăn được sử dụng, số lượng và cách sử dụng
- Những bệnh chủ yếu trên cá tra và việc phòng bệnh cho cá tra nuôi trongao
- Chi phí phục vụ cho quá trình nuôi cá tra
Trang 20- Thu hoạch, sản lượng, cách tiêu thụ và giá bán cá tra.
- Những nhận thức về các vấn đề liên quan đến ngành hàng cá tra
4.1.3 Cơ cấu mẫu
- Số mẫu được thu theo địa bàn trọng điểm, đảm bảo yêu cầu so sánh thống
kê giữa các tỉnh thành được chọn ở khu vực ĐBSCL Số mẫu được thu thập mỗi tỉnhthành là 30-35 mẫu, cụ thể được tiến hành như sau: (i) Khu vực thượng lưu sôngCửu Long của Việt Nam (An Giang, Đồng Tháp); (ii) Khu vực trung lưu (Cần Thơ,Vĩnh Long) và (iii) khu vực hạ lưu (Bến Tre, Trà Vinh) Các khu vực có thể có khácbiệt về nguồn nước, kinh nghiệm nuôi,…
- Xác định cỡ mẫu theo phương pháp định ngạch theo địa bàn
Bảng 4.1: Số mẫu phỏng vấn theo tỉnh, thành Tỉnh, thành
phố Thượng lưu Trung lưu Hạ lưu Cộng
Các phương pháp phân tích số liệu sau được sử dụng trong nghiên cứu:
(1) Phương pháp thống kê mô tả:
Phương pháp này được sử dụng để mô tả thực trạng mẫu nghiên cứu Quaphương pháp này, các số liệu thô được quản lý và phân tích dựa vào tần suất xuấthiện, phân tổ thống kê để tìm sự tin cậy qua khác biệt trung bình mẫu, số lớn nhất,nhỏ nhất để đưa ra kết luận trong nghiên cứu
Trang 21Bảng thống kê là hình thức trình bày số liệu thống kê và thông tin đã thu thậplàm cơ sở phân tích và kết luận, cũng là bảng trình bày kết quả nghiên cứu được Thí
dụ như: Số diện tích nuôi, số ao nuôi, trình độ học vấn theo cấp học, năm kinhnghiệm,…
(2) Phương pháp so sánh bảng chéo:
Để so sánh tần suất hoặc sự khác biệt về tỷ lệ nếu có giữa các nhóm đối tượngnghiên cứu về một số nhân tố
(3) Phương pháp kiểm định giả thuyết thống kê:
Phương pháp này dùng để kiểm định giá trị trung bình của các biến nghiên cứunhằm so sánh giữa các nhân tố chi phí cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến năngsuất của cá tra nuôi
(4) Phương pháp phân tích hồi quy tương quan:
Phân tích hồi quy là sự nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của một hay nhiều biến
số (biến giải thích hay biến độc lập: independent variables) đến một biến số (biếnkết quả hay biến phụ thuộc: dependent variable) nhằm dự báo biến kết quả dựa vàocác giá trị được biết trước của các biến giải thích
Phương pháp hồi quy tương quan đa biến dùng để phân tích cùng lúc các biếnđộc lập với giả định có ảnh hưởng đến biến phụ thuộc là năng suất hay chi phí nuôi
cá tra
Hàm sản xuất Cobb-Douglas được sử dụng trong nghiên cứu về các yếu tố ảnhhưởng tới năng suất vì nó thể hiện được đặc điểm của sản xuất nông nghiệp nóichung và sản xuất thuỷ sản nói riêng, đó là năng suất biên giảm dần theo từng yếu tốđầu vào Hàm sản xuất Cobb-Douglas có dạng tổng quát như sau:
Y1 = a1X 1
1b X 2 2
n
Trong đó:
Y1 (biến phụ thuộc) là năng suất cá tra nuôi (tấn/ha/vụ)
a1 là hệ số hồi quy của mô hình
Trang 22b1, b2…, bn là hệ số co dãn của biến phụ thuộc đối với các biến độc lập, các
hệ số này được ước lượng bằng phương pháp hồi quy
X1, …Xn là những biến độc lập (biến giải thích) của mô hình
Hàm chi phí được ước lượng theo dạng tuyến tính:
Y2 = a2 + b1X1 + b2X2 +…+ bmXm
Trong đó:
Y2 (biến phụ thuộc) là chi phí nuôi (tấn/ha/vụ)
a2 là hằng số
b1, b2…, bm là hệ số co dãn của biến phụ thuộc đối với các biến độc lập, các hệ
số này được ước lượng bằng phương pháp hồi quy
X1, …Xm là những biến độc lập (biến giải thích) của mô hình
Các bước thành lập mô hình tương quan được thực hiện như sau:
1_Liệt kê các biến Xi trên cơ sở tính logic của hệ thống cũng như quan điểmphát triển bền vững Ưu tiên sử dụng các biến mang tính “lượng hóa” hay các biến
sử dụng đơn vị tính về số lượng, kế đó là các biến sử dụng đơn vị tính là giá trị (nếukhông có số lượng) Hạn chế việc sử dụng các biến phân nhóm hoặc phân hạng vìnếu các biến này phải tuân thủ chặt chẽ theo thang điểm mới sử dụng được (ví dụ:phân nhóm nguồn giống không đủ cơ sở khẳng định trật tự số có liên quan tới chấtlượng), nếu không thì phải sử dụng biến ảo -Dummy (lấy 1 trong hai giá trị: 1 hoặc0)
2_Trình bày bảng kết qủa tương quan đơn giữa từng biến Xi với Y đang xét (r,
t, sig t)
3_Bảng tương quan đa biến giữa Y và tất cả các Xi (lần 1)
4_Bảng ma trận tương quan giữa các biến độc lập Xi theo mô hình tương quan
đa biến lần 1
Trang 235_Loại bỏ X nào để chạy lại mô hình đa biến cần căn cứ vào cả 3 phần trên.Chú ý tính logic, tránh những liên hệ mang tính nhân qủa giữa các biến Xi hoặc Y &
Xi Loại bỏ một biến khi xét theo cặp trong ma trận tương quan giữa các biến độclập khi cặp đó có r >0.5 trong Bảng (4) mà tính logic giữa 2 biến độc lập này là hợp
lý => loại bỏ biến nào có r nhỏ hơn trong Bảng (2) Có những trường hợp khi cặpbiến độc lập có r tương quan trong Bảng (4) mà không loại biến nào vì giữa chúngkhông có liên hệ mang tính logic
6_Chạy lại mô hình và điều chỉnh theo các bước trên (bao nhiêu lần tùy theo nghiên cứu, lần thứ 2 thường là để loại bớt các biến độc lập có tương quan khá chặtvới nhau; từ lần thứ 3 trở đi được dùng để loại dần các biến có giá trị t <= 1,00,nhưng cũng có thể làm đồng thời) Nhưng lần cuối cùng là cho mô hình cuối cùngtrình bày trong luận văn tốt nghiệp Bảng tương quan đa biến giữa Y và tất cả các Xi
(lần cuối cùng) và các hệ số tương quan, ANOVA, F, Sig.F, Phương trình tương quan
đa biến, các hệ số B và các SE tương ứng cho từng hệ số B
7_Mô hình tương quan cuối cùng cũng cần có Bảng ma trận tương quan giữacác biến độc lập Xi theo mô hình tương quan đa biến lần cuối cùng
8_Để kiểm tra, cần có các bảng 2, 3, 4, 6, 7 (Để ở phụ lục: 2, 3, 4, 7)
9_Giải thích mối quan hệ giữa từng Xi thực sự có ý nghĩa trong mô hìnhtương quan đa biến cuối cùng trong mối liên hệ đơn đối với Y đang xét, vẽ đồ thị vàphân tích => nhận xét và đề xuất phù hợp
10_Nên kết hợp xét cả Y1 là Năng suất và Y2 là Lợi nhuận đối với cùng 1 biến
Xi nào đó và vẽ trên cùng 1 đồ thị sẽ tạo ấn tượng tốt, dễ nhận xét, kết luận và đềxuất (Lê Xuân Sinh, 2005 Giáo trình Kinh tế Thủy sản, Đại học Cần Thơ)
Trang 24Bảng 4.2: Các biến giải thích năng suất Biến giải thích Kỳ vọng dấu Đơn vị tính
Nhân tố kỹ thuật Kinh nghiệm +, - Năm nuôi cá
Chuyên môn về thủy sản +, - 1=tập huấn; 0=khác
Nhân tố đầu vào Tỷ lệ thể tích thay nước + %/lần thay
Chi phí sên, vét/ha/vụ + Triệu đồng Chi phí thuốc, hóa chất + Triệu đồngCác nhân tố khác Vùng nuôi +, - 1=thượng lưu; 0=khác
Bảng 4.3: Các biến giải thích chi phí
Biến giải thích Kỳ vọng dấu Đơn vị tính
Nhân tố kỹ thuật Kích cỡ cá giống thả nuôi +, - cm
Quy trình nuôi cá tra sạch +, - 1=có áp dụng;0=không
Nhân tố đầu vào Tỷ lệ thể tích thay nước - %/lần thay
Chi phí sên, vét/ha/vụ - Triệu đồng Chi phí thuốc, hóa chất - Triệu đồngCác nhân tố khác Vùng nuôi +, - 1=thượng lưu; 0=khác
Diện tích bình quân/ao - m2
Trang 25CHƯƠNG 5 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
5.1 XÂY DỰNG MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Để phân tích, đánh giá ảnh hưởng các yếu tố đầu vào đến năng suất của các hộnuôi cá tra ao, sử dụng mô hình của dạng hàm Cobb-Douglas tổng quát như sau:
- Mô hình lý thuyết với biến phụ thuộc là năng suất cá tra nuôi:
Y1 = a1X 1
1b X 2 2
b X 3 3
b
X 4 4
b X 5 5
b
X 6 6
b
X 7 7
b
X8b8X9b9
Trong đó:
a1 là hệ số hồi quy của mô hình
b1, b2…, b7 là hệ số co dãn của biến phụ thuộc đối với các biến độc lập
X1 là tuổi của chủ hộ nuôi (năm) Kỳ vọng mang dấu (+), vì tuổi càng cao thìkinh nghiệm nuôi càng nhiều nên năng suất tăng
X2 là số vụ nuôi/năm (vụ) Kỳ vọng mang dấu (-), vì số vụ nuôi càng nhiều thìnăng suất có thể giảm
X3 là mật độ thả (con/m2) Kỳ vọng mang dấu (+) vì mật độ thả càng cao thìnăng suất càng tăng
X4 là lượng thức ăn/ha/vụ (tấn) Kỳ vọng mang dấu (+) vì chi phí thức ăn sẽđồng biến với năng suất
X5 là chi phí thuốc, hóa chất/ha/vụ (triệu đồng) Kỳ vọng mang dấu (+) vì chiphí thuốc, hóa chất sẽ đồng biến với năng suất
X6 là chi phí sên, vét/ha/vụ (triệu đồng) Kỳ vọng mang dấu (+) vì chi phí sên,vét sẽ đồng biến với năng suất
X7 là biến giả, đại diện cho vùng nuôi, nhận giá trị là 1 nếu Thượng lưu vànhận giá trị 0 nếu là vùng khác
X8 là chuyên môn về thuỷ sản, nhận giá trị là 1 nếu được tập huấn và nhận giátrị 0 nếu trường hợp khác
Trang 26X9 là tỷ lệ thể tích thay nước (%/lần thay) Kỳ vọng mang dấu (+) vì yếu tố nàyđồng biến với năng suất
- Mô hình lý thuyết với biến phụ thuộc là chi phí nuôi cá tra:
Y2 = a2 + b1X1 + b2X2 +…+ b9X9
Trong đó:
a2 là hằng số
b1, b2…, b9 là hệ số co dãn của biến phụ thuộc đối với các biến độc lập
X1 là tỷ lệ thể tích thay nước (%/lần thay) Kỳ vọng mang dấu (+) vì yếu tố nàyđồng biến với chi phí
X2 là kích cỡ cá giống thả nuôi (cm) Kỳ vọng mang dấu (+), vì kích cỡ cá lớnthì chi phí càng cao
X3 là mật độ thả (con/m2) Kỳ vọng mang dấu (+) vì mật độ thả càng cao thì chiphí càng tăng
X4 là lượng thức ăn/ha/vụ (tấn) Kỳ vọng mang dấu (+) vì chi phí thức ăn sẽđồng biến với chi phí nuôi cá
X5 là biến giả, đại diện cho vùng nuôi, nhận giá trị là 1 nếu Thượng lưu vànhận giá trị 0 nếu là vùng khác
X6 là quy trình nuôi cá sạch, nhận giá trị là 1 nếu có áp dụng và nhận giá trị 0nếu trường hợp khác
X7 là chi phí thuốc, hóa chất/ha/vụ (triệu đồng) Kỳ vọng mang dấu (+) vì chiphí thuốc, hóa chất sẽ đồng biến với chi phí nuôi
X8 là chi phí sên, vét/ha/vụ (triệu đồng) Kỳ vọng mang dấu (+) vì chi phí sên,vét sẽ đồng biến với chi phí nuôi
X9 là diện tích nuôi bình quân (m2) Kỳ vọng mang dấu (+) vì diện tích nuôinhiều thì chi phí càng cao
5.2 MÔ TẢ MẪU
5.2.1 Mô tả thực trạng các hộ nuôi
Trang 275.2.1.1 Tuổi chủ hộ
Trong toàn bộ vùng nghiên cứu, độ tuổi trung bình của người nuôi khoảng 43,9tuổi, tuổi nhỏ nhất là 20, lớn nhất là 71 tuổi Trong 67 mẫu khảo sát ở vùng thượnglưu, tuổi trung bình của người nuôi cá khoảng 45,3 tuổi, cao nhất có người đến 68tuổi, thấp nhất khoảng 20 tuổi Ở vùng Trung lưu, trong 64 người được hỏi, độ tuổitrung bình khoảng 44 tuổi, cao nhất đến 71 tuổi, thấp nhất là 21 tuổi Vùng hạ lưucũng tương tự như vậy, trong 62 người được khảo sát, trung bình độ tuổi khoảng42,3 tuổi, cao nhất là 64 tuổi, thấp nhất là 22 tuổi
Đa số những người nuôi cá tra ở độ tuổi trung niên khoảng 42,3 tuổi – 45,3tuổi, đây cũng là những người lao động chính, trụ cột của các hộ được khảo sát
Số liệu này chỉ cho chúng ta biết được độ tuổi trung bình của người nuôi, mangtính tham khảo chứ chưa nói lên được kỹ thuật hay kinh nghiệm nuôi của họ
Bảng 5.1: Độ tuổi trung bình của chủ hộ nuôi cá tra
Diễn giải Đvt Thượng lưu Trung lưu Hạ lưu Tổng
67 mẫu được điều tra Nếu xét về trình độ cấp 3 trở lên thì có sự chênh lệch trình độgiữa các khu vực khá rõ Trình độ cao nhất là vùng hạ lưu, chiếm 65,6%, thấp nhất
là trung lưu với 37,5%, ở thượng lưu chiếm 46,3%
Có thể thấy có sự chênh lệch khá lớn về trình độ văn hóa từ cấp 3 trở lên ở 3khu vực khảo sát Trình độ văn hóa có thể ảnh hưởng lớn đến hiệu quả nuôi cá Nếu
Trang 28người nuôi có trình độ, việc tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật sẽ thuận tiện hơn, ứngdụng các biện pháp kỹ thuật mới cũng nhanh hơn, hiệu quả hơn, do đó chất lượngnuôi cũng tốt hơn
Bảng 5.2: Trình độ văn hóa của chủ hộ nuôi cá tra
Diễn giải Đvt Thượng lưu Trung lưu Hạ lưu Tổng
Nguồn: Số liệu điều tra 2008
5.2.1.3 Kinh nghiệm nuôi cá
Kinh nghiệm nuôi cá là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hiệuquả nuôi Trong 3 vùng khảo sát, trung bình người nuôi có kinh nghiệm khoảng 4,6năm, đây là khoảng thời gian đủ dài để tích lũy kinh nghiệm nuôi Ở vùng thượnglưu, đo điều kiện địa lý tự nhiên đặc thù nên người dân nuôi cá tra/basa từ rất sớm,kinh nghiệm nuôi cũng nhiều nhất, trung bình khoảng 6,8 năm, người có kinhnghiệm lâu năm nhất khảo sát được là 30 năm, nhỏ nhất là 1 năm Ở vùng này, tuyngười dân nuôi cá tra/basa từ rất sớm nhưng trước đây chỉ là nuôi nhỏ lẻ, chủ yếu lànuôi để ăn, thời gian gần đây, khi cá tra/basa xuất khẩu được, việc nuôi với quy môlớn mới xuất hiện nhiều ở vùng thượng lưu, nên đây là nguyên nhân chính vì sao có
sự chênh lệch lớn về kinh nghiệm nuôi của người nuôi vùng thượng lưu Nhìn vào
số liệu và sự phân tán về kinh nghiệm nuôi, có thể thấy rằng, người nuôi tham gianuôi tăng chỉ khoảng 10 năm trở lại đây, nhất là từ khi cá tra/basa xuất khẩu được.Vùng trung lưu có thời gian kinh nghiệm nuôi trung bình khoảng 4,1 năm Đây
là vùng tiếp giáp với vùng thượng lưu nên “làn sóng” nuôi cá cũng ít nhiều tác độngđến ngay từ rất sớm, có những người nuôi có kinh nghiệm đến 13 năm, mới nhất là 1năm, tuy nhiên đây chỉ là những trường hợp cá biệt Nhìn vào sự phân tán của dữliệu kinh nghiệm nuôi, chúng ta có thể thấy, người nuôi có kinh nghiệm vào khoảng
Trang 292 năm đến 6 năm, đây là những hộ nuôi tham gia nuôi vào những lúc thị trường xuấtkhẩu đang trong giai đoạn phát triển.
Vùng hạ lưu là vùng sát biển, điều kiện tự nhiên để nuôi cá không thuận lợibằng vùng thượng lưu, trung lưu nên việc nuôi cá chỉ mới bắt đầu trong thời giangần đây, trường hợp lâu nhất khảo sát được ở vùng này khoảng 7 năm, thấp nhất là 1năm, sự phân tán số liệu kinh nghiệm nuôi nằm trong khoản 1,2 năm đến 4 năm
Bảng 5.3: Kinh nghiệm của chủ hộ nuôi cá tra
Diễn giải Đvt Thượng lưu Trung lưu Hạ lưu Tổng
Nguồn: Số liệu điều tra 2008
5.2.1.4 Lao động gia đình tham gia
Lao động gia đình tham gia trung bình ở 3 khu vực là 2,2 người Ở vùng trunglưu, số lao động gia đình tham gia trung bình khoảng 2,4 người, kế đó là vùngthượng lưu 2,3 người, thấp nhất là vùng hạ lưu 1,8 người Đối với những hộ nuôi cávới quy mô lớn, lao động gia đình tham gia chủ yếu để quản lý, trông coi tổng thểnắm giữ những khâu quan trọng Đối với những hộ nuôi nhỏ lẻ, lao động gia đình là
“nhân vật” chủ yếu, làm tất cả những công việc nuôi Đa số các chủ hộ nuôi là namgiới, là chồng, chịu trách nhiệm nuôi chính, phụ theo đó là con cái, vợ Có những hộnuôi lớn, lao động gia đình là anh em ruột trong gia đình hay anh em trong dòng họ
Bảng 5.4: Lao động gia đình của hộ nuôi cá tra
Diễn giải Đvt Thượng lưu Trung lưu Hạ lưu Tổng
Trang 30- Lớn nhất người 6.0 6.0 4.0 6.0
Nguồn: Số liệu điều tra 2008
5.2.1.5 Lao động thuê mướn thường xuyên
Số lao đông thuê mướn thường xuyên cũng phần nào nói lên quy mô của hộnuôi Lao động thuê mướn trung bình của 3 vùng là 3,8 người Số lao động thuêmướn trung bình cao nhất là vùng thượng lưu 4,6 người, vùng hạ lưu 4 người vàvùng trung lưu là 2,7 người Trong đó có những trường hợp cá biệt, quy mô nuôi lớnnên số lao động thuê mướn lên đến 35 người ở vùng thượng lưu, 30 người ở vùng hạlưu
Vùng thượng lưu có những điều kiện tự nhiên hết sức thuận lợi để nuôi cá tranên có nhiều người nuôi với quy mô lớn, thuê mướn nhiều nhân công lao động.Vùng hạ lưu tuy chỉ mới tham gia nuôi trong thời gian gần đây nhưng lại là vùng có
sự chuẩn bị, quy hoạch tốt, bên cạnh đó đất đai rộng lớn và rẻ, xuất hiện nhiều khuvực nuôi lớn làm vùng nguyên liệu cho các công ty nên có những hộ nuôi lớn, nhâncông lao động thuê mướn nhiều Vùng trung lưu có giá thuê đất cao nên quy môthuê mướn lao động có phần ít hơn các vùng kia, nhưng đây cũng là vùng có tiềmnăng nuôi cá rất lớn đồng thời cũng là vùng nguyên liệu cho các doanh nghiệp xuấtkhẩu và tập trung chủ yếu ở những vùng giáp ranh với các tỉnh vùng thượng lưu
Bảng 5.5: Lao động thuê mướn của hộ nuôi cá tra
Diễn giải Đvt Thượng lưu Trung lưu Hạ lưu Tổng
Nguồn: Số liệu điều tra 2008
5.2.1.6 Nguồn thông tin kỹ thuật mà người nuôi cá tiếp cận
Qua khảo sát vùng nghiên cứu, kỹ thuật nuôi của người nuôi có được chủ yếu
từ kinh nghiệm nuôi, cụ thể thượng lưu là 91%, trung lưu là 98,4% và hạ lưu là69,4% Trung bình cho cả vùng là 86,5% cao nhất trong nguồn thông tin được phỏng
Trang 31vấn, kế đến là học hỏi từ các người nuôi trước và học hỏi lẫn nhau chiếm 69,8%, tậphuấn chiếm 69,8%.Vùng hạ lưu người nuôi cá chịu khó tham gia các khoá tập huấn
về nuôi cá và xem trên các tài liệu khuyến ngư lần lượt là 80,6% và 79% số ngườiđược phỏng vấn
Bảng 5.6: Nguồn thông tin tiếp cận của hộ nuôi cá tra
Diễn giải Đvt Thượng lưu Trung lưu Hạ lưu Tổng
Nguồn: Số liệu điều tra 2008
5.2.2 Mô tả thực trạng khu vực nuôi
5.2.2.1 Diện tích nuôi cá tra
Vùng thượng lưu là vùng khởi đầu cho việc nuôi cá tra từ nghề nuôi cá tra bè
đã có từ rất lâu (đầu những năm 1960), do bắt được con giống ngoài tự nhiên, ngườinuôi có kinh nghiệm nuôi cá lâu năm, diện tích nuôi cũng rất lớn, có những hộ hoặc
cơ sở nuôi lên đến 20 ha, trung bình khoảng 1,7 ha/1 hộ nuôi, đứng đầu trong 3 khuvực khảo sát Có những hộ nuôi có đến 20 ao, trung bình ở khu vực này là 2,9 ao
Bảng 5.7: Quy mô diện tích của hộ nuôi cá tra
Diễn giải Đvt Thượng lưu Trung lưu Hạ lưu Tổng
Trang 32Nguồn: Số liệu điều tra 2008
Vùng trung lưu là vùng thấp nhất, trung bình chỉ khoảng 0,7 ha/hộ, lớn nhất là4,6 ha/hộ, số ao/hộ lớn nhất là 6, trung bình là 1,8 ao/hộ Vùng này có chi phí thuêđất đai khá cao và thường các hộ nuôi cá mua đất ở các cồn để đào ao nuôi cá,nhưng diện tích đất cồn có hạn
Ở vùng hạ lưu, phong trào nuôi cá tra/basa chỉ mới xuất hiện trong thời giangần đây, đất đai khu vực này ở giá hợp lý, diện tích nuôi cá/hộ cũng khá lớn, trungbình 1,0 ha/hộ, có những hộ có đến 10 ha, số ao nuôi trung bình 2,2 ao/hộ, cá biệtlên đến 11 ao
Bảng 5.8: Số ao nuôi của hộ nuôi cá tra
Diễn giải Đvt Thượng lưu Trung lưu Hạ lưu Tổng
Nguồn: Số liệu điều tra 2008
Diện tích ao nuôi là vấn đề cần lưu ý, kinh nghiệm của một số chủ ao lớn chothấy: ao quá lớn, sản lượng cá trong ao quá nhiều nên có khi phải thu đến 3, 4 ngàymới hết cá vì khả năng vận chuyển của ghe thu mua cá có hạn Cá tra khi thu hoạchphải ngưng cho ăn hoàn toàn trước đó 2 ngày Vì vậy thời gian thu hoạch cá trong 1
ao càng lâu sẽ làm cho cá càng bị gầy ốm, đỏ kỳ và có thể phát dịch bệnh trong thờigian thu hoạch Vì vậy diện tích ao nuôi chỉ nên ở mức vừa phải trên dưới 500m2 làphù hợp
Trang 33Diện tích ao nuôi trung bình ở khu vực thượng lưu khoảng 4.931 m2, có những
hộ có ao nuôi lên đến 13.500 m2, đa số các hộ nuôi có diện tích/1 ao nằm tập trungtrong khoảng 2.000 m2 đến 7.800 m2, 2 vùng còn lại có diện tích ao khá đồng đềunhau, cao nhất chỉ khoảng 10.000 m2, thấp nhất khoảng 1.000 m2 Diện tích trungbình ở vùng trung lưu là 3.762 m2, ở vùng hạ lưu, diện tích trung bình khoảng3.785m2, phổ biến diện tích ao nằm trong khoảng 1.400m2 đến 6.000m2 Đối với cátra nuôi thịt, diện tích nuôi theo khuyến cáo của các nhà chuyên môn từ 500m2, nhìnchung, diện tích ao của các hộ nuôi đã đáp ứng được những yêu cầu tối thiểu, đảmbảo tiêu chuẩn kỹ thuậtvề diện tích/1 ao nuôi
Diện tích ao nuôi của từng hộ nuôi nhỏ hơn 0,25 ha của cả vùng trung bình27,5% và trên 0,25 đến 0,5 ha là 22,3%, cho thấy việc nuôi cá của vùng mang tínhnhỏ lẻ, tự phát là phổ biến, từ đó làm cải thiện môi trường nuôi, hay áp dụng cácphương tiện kỹ thuật sẽ bị hạn chế, nếu áp dụng quy trình nuôi cá phải có ao lắng và
xử lý nước trước khi đưa vào ao nuôi hay trước khi thải ra môi trường bên ngoài sẽrất là khó khăn do diện tích nuôi quá nhỏ không thể xây dựng được
Nhìn chung, ao càng rộng, thoáng càng tạo không gian hoạt động thoải máicho cá Ao rộng thì giữ được sự ổn định của các yếu tố môi trường nhất là những khithời tiết thay đổi Ao rộng và thoáng sẽ dễ dàng tạo được sự đối lưu giữ các tầngnước và các khu vực trong ao, điều hòa lượng khí oxy hòa tan trong nước giúp chocác sinh trưởng và phát triển thuận lợi, thành thục dễ dàng và chất lượng sản phẩmsinh dục tốt
5.2.2.2 Độ sâu mực nước trong khi nuôi
Độ sâu mực nước ao nuôi trung bình nằm trong khoảng 3,7 m, riêng vùng hạlưu, độ sâu độ sâu trung bình khoảng 3,6 m Căn cứ vào số liệu thu thập được, độsâu nằm phổ biến trong khoảng 2,9 m đến 4,5 m ở vùng thượng lưu; 3,1 m đến 4,3
m ở vùng trung lưu và 3,2 m đến 4,0 m ở vùng hạ lưu Căn cứ theo tiêu chuẩnTCN213/2004 (Bộ Thuỷ sản, 2004), độ sâu hợp lý nằm trong khoảng 2 m-3 m, cóthể thấy, các hộ nuôi trong 3 vùng khảo sát đều có độ sâu lớn hơn khuyến cáo
Bảng 5.9: Độ sâu mực nước trong khi nuôi cá tra
Trang 34Diễn giải Đvt Thượng lưu Trung lưu Hạ lưu Tổng
Nguồn: Số liệu điều tra 2008
Độ sâu của ao cũng phải hợp lý để tạo thêm không gian hoạt động cho cá Aosâu thường giữ được nhiệt độ ổn định hơn ao cạn, nhưng ao quá sâu cũng không tốt,
vì ao sâu có thể ảnh hưởng đến chất lượng công trình, đồng thời lớp nước dưới đáy
ao ít được trao đổi, chất lắng đọng nhiều, nhiệt độ thấp, lượng ôxy hòa tan thấp nênkhông thuận lợi cho cá
5.2.2.3 Số vụ nuôi, thời gian nuôi, tháng thả giống, mật độ thả và kích cỡ con
giống
* Số vụ nuôi, thời gian nuôi:
Ở khu vực ĐBSCL có thể nuôi được quanh năm, nhưng tốt nhất là nuôi 2 năm
3 vụ và giữa 2 vụ nuôi thì ao cần được cải tạo ao thật kỹ Giống phải có kích cỡ từ:10-15cm (khoảng 10-12g/con) Mật độ nuôi: từ 20-25 con/m2, tuỳ vào chất lượngnguồn nước nơi nuôi và tuỳ vào trình độ kỹ thuật của người nuôi
Trọng lượng cá thu hoạch thích hợp nhất để đạt được hiệu quả kinh tế cao theokhuyến cáo là 1 kg-1,5 kg, để đạt được trọng lượng đó, thời gian nuôi trung bìnhkhoảng 6-7 tháng Theo khảo sát, thời gian nuôi trung bình của vùng thượng lưu là6,3 tháng, vùng trung lưu là 7 tháng và hạ lưu là 6,8 tháng, đây là khoảng thời gianphù hợp với yêu cầu thực tế Thời gian nuôi lâu hay mau còn tùy thuộc vào nhiềuyếu tố khác: tình hình thị trường, nhu cầu của các doanh nghiệp, tình hình tài chínhcủa gia đình, giá,…Người nuôi phải linh hoạt tùy theo giá cả và nhu cầu của thịtrường để thu hoạch cá vào thời điểm thích hợp Qua khảo sát ở 3 vùng, vùng trunglưu có thời gian nuôi trung bình lâu nhất là 7 tháng, cá biệt lên đến 10 tháng; kế đến
là vùng hạ lưu 6,8 tháng, có những trường hợp lên đến 9 tháng, vùng thượng lưu cóthời gian nuôi lâu nhất là 8 tháng Thông thường, người dân sẽ bán cá ngay khi có
Trang 35doanh nghiệp thu mua, do trong thời gian qua, tình hình xuất khẩu của các doanhnghiệp gặp nhiều khó khăn, phải đương đầu với các vụ kiện bán phá giá, kiểm soát
dư lượng kháng sinh của các nước nhập khẩu, do đó, các doanh nghiệp cũng hạn chếmua hàng của nông dân, từ đó dẫn đến thời gian nuôi của một số hộ dân kéo dài dokhông có người thu mua
Bảng 5.10: Thời gian nuôi và số vụ nuôi của hộ nuôi cá tra
Diễn giải Đvt Thượng lưu Trung lưu Hạ lưu Tổng
Nguồn: Số liệu điều tra 2008
Tùy vào thời gian nuôi/vụ mà người dân có thể nuôi bao nhiêu vụ trong năm Ởvùng thượng lưu, do nơi đây tập trung nhiều doanh nghiệp chế biến thuỷ sản(DNCBTS) xuất khẩu quy mô lớn như: CTCP xuất nhập khẩu thuỷ sản An Giang,CTCP xuất nhập thuỷ sản Cửu Long (An Giang), CTCP Nam Việt…nên những sảnphẩm của người dân làm ra có nơi tiêu thụ ổn định và số vụ nuôi trong năm nhiềuhơn những nơi khác Chủ yếu người dân nuôi 2 vụ/năm chiếm khoảng 73,1%; sốnuôi 3 vụ/2 năm chiếm khoảng 14,9%
Ở vùng trung lưu, người dân nuôi 2 vụ/năm chiếm khoảng 51,6%, còn lại lànuôi 1 vụ chiếm 29,7% và 3 vụ/2 năm là 18,8%
Ở vùng hạ lưu, do đặc điểm tự nhiên đặc thù, số vụ nuôi trong năm cũng khác
so với những vùng khác Khu vực này thường xuyên bị xâm nhập mặn, nhất là trongmùa khô Cụ thể số hộ nuôi 1 vụ/năm chiếm 54,8%; nuôi 3 vụ/2 năm chiếm 21,0%
và nuôi 2 vụ/1 năm là 24,2%
* Tháng thả giống theo năm dương lịch:
Trang 36Theo khảo sát, ở thượng nguồn, đa số người dân thả giống từ tháng 1 đến tháng
4, chiếm 61,1% và tháng 7 chiếm 13,4%, còn lại rải rác các tháng khác Đối vớivùng trung lưu tháng thả giống tập trung từ tháng 6 đến tháng 8, chiếm 51,5%, riêngtháng 2 chiếm 15,6% và tháng 3 chiếm 12,5%, còn lại nằm rải rác các tháng kháctrong năm Vùng hạ lưu có thời gian thả cá giống tập trung hơn, kéo dài chủ yếu từtháng 3 đến tháng 6, chiếm 59,7% và tháng 8 chiếm 16,1%
Ở ĐBSCL có thời tiết ấm áp quanh năm, chủ yếu tùy thuộc vào các chủ hộ, thuhoạch, bán hết cá thì sẽ nuôi tiếp vụ tiếp theo Nhưng tác động của lũ hàng năm vàxâm nhập mặn cũng như mùa sản xuất lúa và biến động của giá cả đều có tác độngđến mùa vụ nuôi cá
Bảng 5.11: Tháng thả giống của hộ nuôi cá tra
Diễn giải Đvt Thượng lưu Trung lưu Hạ lưu Tổng
Nguồn: Số liệu điều tra 2008
* Tháng thu hoạch theo năm dương lịch:
Thông thường, thời gian nuôi kéo dài từ 6-7 tháng mới bắt đầu thu hoạch Việcthu hoạch cá tùy thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau: giá cả, trọng lượng cá, thời tiết,
dự đoán thị trường thời gian tới…Đa phần người dân thu hoạch đúng thời gian kỹthuật cho phép vì khi đó, cá đạt trọng lượng và đỡ tốn kém chi phí nuôi Ở vùngthượng lưu, người dân tập trung thu hoạch từ tháng 7 đến tháng 10 chiếm khoảng55,1%, ở vùng trung lưu khoảng tháng 2,3 chiếm 37,5%, tháng 9,12 chiếm 28,1%,vùng hạ lưu tập trung thu hoạch từ tháng 10 đến tháng 12 khoảng 50%, trong tháng
Trang 373 là 16,1%, còn lại rải rác các tháng khác trong năm Nhìn chung toàn vùng thì thángthu hoạch tập từ tháng 1 đến tháng 3 chiếm 31,6%, kế đến tập trung vào tháng 8 đếntháng 12 khoảng 56% Như vậy thời gian thu hoạch tập trung từ tháng 8 năm trướcđến tháng 3 năm sau là 87,6 %.
Bảng 5.11: Tháng thu hoạch của hộ nuôi cá tra
Diễn giải Đvt Thượng lưu Trung lưu Hạ lưu Tổng
Việc thả cá với mật độ dày tưởng sẽ sinh lợi, tiết kiệm diện tích nuôi nhưng cóthể làm cho cá bị thiếu ôxy và phát sinh dịch bệnh Khi đó, người nuôi phải sử dụnghóa chất, thuốc men rất nhiều trên diện tích ao nuôi làm gia tăng chi phí, gây ônhiễm môi trường nuôi, tồn lưu thuốc, hóa chất độc hại trong thịt cá và năng suất aonuôi ngày càng thấp
Bảng 5.12: Mật độ thả giống của hộ nuôi cá tra
Diễn giải Đvt Thượng lưu Trung lưu Hạ lưu Tổng