(Thảo luận Đường lối) Phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở Việt Nam (Thảo luận Đường lối) Phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở Việt Nam (Thảo luận Đường lối) Phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở Việt Nam (Thảo luận Đường lối) Phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở Việt Nam (Thảo luận Đường lối) Phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở Việt Nam (Thảo luận Đường lối) Phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở Việt Nam
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA MARKETING
BÀI THẢO LUẬN
Học phần: Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam
Đề tài: Phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa ở Việt
Nam
Nhóm: 9 Lớp: 2063RLCP0111 GVHD: Nguyễn Ngọc Diệp
Trang 2Mục lục
Bài thảo luận 2
Chương 1: Lời mở đầu 2
Chương 2: Nội dung 3
1 Cơ sở lý thuyết 3
1.1 Khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Quan điểm và mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá 3
1.2 Khái niệm nguồn nhân lực Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 4
2 Phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 5
2.1 Thực trạng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước ta hiện nay 5
2.2 Nguyên nhân nguồn nhân lực nước ta còn yếu kém, chưa khai thác được tối đa điểm mạnh của nguồn nhân lực 8
2.3 Giải pháp nhằm phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước 9
2.4 Phát huy nguồn nhân lực trong thời kì CNH, HĐH của trường đại học thương mại 11
Chương 3: Kết Luận 13
Trang 3Chương 1: Lời mở đầu.
Hiện nay quá trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa, là một quá đỗi quen thuộc, không có gì
xa lạ tuy nhiên trong đó lại mang một ý nghĩa lớn lao và rất quan trọng Đảng ta đã xác định rõ việc công nghiệp hóa-hiện đại hóa là nhiệm vụ quan trọng và xuyên suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Nó như là một bước nền để chuẩn bị cho việc phát triển kinh
tế đất nước lên một tầng mới Nhưng muốn thực hiện được công cuộc công nghiệp hóa-hiện đại hóa thì cần nhiều nguồn lực khác nhau như: cơ sở vật chất, kinh tế, chính trị, văn hóa, Tuy nhiên trong các nguồn lực đó thì nguồn nhân lực là tiền đề quan trọng của công cuộc công nghiệp hóa- hiện đại hóa Vì nguồn nhân lực có tiên tiến thì mới tạo được điều kiện cho các bước phát triển của công cuộc tiến hành công nghiệp hóa- hiện đại hóa nhanh chóng hơn và hiệu quả hơn
Với điều kiện và thực trạng đang là một nước với nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, chịu ảnh hưởng nặng nề do chiến tranh để lại Vậy nên việc đầu tư lâu dài về việc phát triển nguồn nhân lực Việt Nam là đúng đắn và là quốc sách hàng đầu để tiến hành phát triển đất nước lúc bấy giờ và kéo dài đến tận bây giờ Vậy thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam hiện ra sao? Cần phải làm những gì để nâng cao chất lượng của nguồn nhân lực? Những câu hỏi đi thẳng vào những vấn đề vô cùng quan trọng, cấp bách và khó giải quyết được
đặt ra Vậy nên hãy cùng nhóm 9 tìm hiểu đề tài thảo luận: “Phát huy nguồn nhân lực
trong sự nghiệp công nghiệp hóa-hiện đại hóa ở nước ta hiện nay” Hy vọng sẽ được
nhận nhiều hơn lời nhận xét và bổ sung của mọi người
Chương 2: Nội dung
1 Cơ sở lý thuyết
1.1 Khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Quan điểm và mục tiêu công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
1.1.1 Khái niệm công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trang 4doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế, xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ và phương tiện tiên tiến, hiện đại, dựa trên sự phát triển công nghiệp và tiến bộ khoa học- công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao”
1.1.2 Mục tiêu, quan điểm công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Mục tiêu
- Mục tiêu cơ bản: Cải biến thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, QHSX tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mức sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng an ninh vững chắc, dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh
- Mục tiêu cụ thể (Theo đại hội X): Về cơ bản trở thành một nước công nghiệp vào năm
2020 Sớm đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển
Quan điểm
- Công nghiệp hoá gắn với hiện đại hoá; công nghiệp hoá, hiện đại hoá gắn với phát triển tri thức
- Công nghiệp hoá gắn với phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
- Lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững
- Khoa học – công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hoá
- Phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ công bằng xã hội, bảo vệ môi trường tự nhiên, bảo tồn đa dạng sinh học
1.2 Khái niệm nguồn nhân lực Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
1.2.1 Khái niệm nguồn nhân lực:
Nguồn nhân lực có thể hiểu qua 2 nghĩa:
+ Theo nghĩa hẹp: nguồn nhân lực là khả năng lao động của xã hội, là nguồn lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, bao gồm các nhóm dân cư trong độ tuổi lao động, có khả năng tham gia vào lao động, sản xuất xã hội, tức là toàn bộ các cá nhân cụ thể tham gia vào quá trình lao động, là tổng thể các yếu tố về thể lực, trí lực của họ được huy động vào quá trình lao động
Trang 5+ Theo nghĩa rộng: nguồn nhân lực là nguồn cung cấp sức lao động cho sản xuất xã hội, cung cấp nguồn lực con người cho sự phát triển Do đó, nguồn nhân lực bao gồm toàn bộ dân cư có thể phát triển bình thường
1.2.2 Vai trò của nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Nguồn lao động luôn luôn đóng vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế trong các nguồn lực để phát triển kinh tế
Trong giai đoạn phát triển của nước ta hiện nay, việc đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa là bước đi tất yếu trong đó phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế Công nghiệp hóa, hiện đại hóa không chỉ xuất phát từ yếu tố con người mà còn do con người tạo nên và chỉ khi nào có nguồn nhân lực thì mới
có thể thực hiện thành công
Ở nước ta, nguồn nhân lực còn được nhấn mạnh là yếu tố nội lực quan trọng nhất để xây dựng đất nước Sức mạnh của nguồn lực này lại bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố khác nhau nhưng yếu tố quan trọng nhất trong nguồn lực con người không phải là số lượng, mà
là chất lượng nguồn lực con người
Nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Nguồn nhân lực chất lượng cao là điều kiện để rút ngắn khoảng cách tụt hậu, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm đảm bảo phát triển bền vững
Trang 62 Phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
2.1 Thực trạng nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nước
ta hiện nay
2.1.1 Điểm mạnh nguồn nhân lực Việt Nam
- Về số lượng: Việt Nam đang trong thời kỳ dân số vàng với tỷ lệ người trong độ tuổi lao động cao, lực lượng lao động trong độ tuổi lao động năm 2020 là 55,3 triệu người trên tổng 97,53 triệu dân (chiếm 56,7% dân số) Bình quân giai đoạn 2009-2019, tỷ lệ tăng dân
số là 1,14%/năm, mỗi năm Việt Nam có khoảng gần 1 triệu người bước vào độ tuổi lao động, đây là một lợi thế cạnh tranh quan trọng của Việt Nam trong việc thu hút đầu tư nước ngoài góp phần phát triển kinh tế - xã hội Riêng năm 2020 do ảnh hưởng của dịch Covid, số lượng lao động giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước
Năm Tổng số dân (triệu người) Số lao động (triệu người)
Theo số liệu Tổng cục thống kê
- Về chất lượng:
+ Việt Nam đã phát triển được đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ khá đông đảo Nhiều nhà kinh tế, cán bộ khoa học của Việt Nam đã tiếp thu và tiếp cận được với nhiều tiến bộ khoa học và công nghệ hiện đại của thế giới; nhiều công nhân, lao động Việt Nam thông qua xuất khẩu lao động và các chuyên gia nước ngoài đã có điều kiện tiếp cận được nhiều hơn với những máy móc thiết bị hiện đại và tác phong lao động công nghiệp Người
Trang 7lao động Việt Nam được đánh giá có ưu điểm là thông minh, cần cù, khéo léo, có trình độ dân trí, học vấn khá cao so với mức thu nhập quốc dân, tiếp thu nhanh tiến bộ khoa học
kỹ thuật và công nghệ của thế giới
+ Công tác đào tạo và dạy nghề tại Việt Nam bước đầu gắn với nhu cầu của doanh nghiệp
và thị trường lao động; cơ cấu ngành nghề đào tạo từng bước được điều chỉnh theo cơ cấu ngành nghề sản xuất, kinh doanh; đã mở thêm nhiều nghề đào tạo mới mà thị trường lao động có nhu cầu và các nghề phục vụ cho việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và giải quyết việc làm cho người lao động…
+ Chất lượng lao động ngày càng được nâng lên nhờ những thành tựu trong phát triển văn hoá, giáo dục và y tế
- Nguồn nhân công dồi dào, giá rẻ, làm tăng lợi thế về xuất khẩu lao động và thu hút nhà đầu tư nước ngoài
2.1.2 Điểm yếu nguồn nhân lực nước ta
- Trình độ lao động đã qua đào tạo và tay nghề cao còn thấp
Tuy nguồn lao động phát triển nhanh nhưng chất lượng còn nhiều hạn chế Lượng lao động qua đào tạo vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp trong nước Thường phần lớn doanh nghiệp phải đầu tư rất nhiều để đào tạo công nhân
Đặc biệt với phát triển các ngành kinh tế chủ lực của Việt Nam, đội ngũ công nhân có trình độ và tay nghề cao còn quá hạn chế Phần lớn các vị trí chủ chốt đều phải thuê lao động, chuyên gia nước ngoài
- Khoảng cách từ đào tạo đến thực hành tương đối lớn
Số lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật, thậm chí nhóm có trình độ chuyên môn cao
có khuynh hướng hiểu biết lý thuyết khá, nhưng lại kém về năng lực thực hành và khả năng thích nghi trong môi trường cạnh tranh công nghiệp; vẫn cần có thời gian bổ sung hoặc đào tạo bồi dưỡng để sử dụng hiệu quả
Trang 8Đồng thời, sự chuyển dịch mô hình, cơ cấu kinh tế khiến cho cung và cầu trong lao động thay đổi, trong khi các ngành đào tạo trong nhà trường chưa bắt kịp được xu thế sử dụng lao động của doanh nghiệp Từ đó, dẫn đến lực lượng không được tiếp cận với những tiến
bộ công nghệ và sự thay đổi cơ cấu kinh tế Nó khiến cho nguồn nhân lực của nước ta sau khi ra trường phải thích ứng với những thay đổi đó, sự chủ động trong công việc bị giảm sút
- Ý thức trách nhiệm trong lao động:
Tinh thần trách nhiệm làm việc, đạo đức nghề nghiệp, đạo đức công dân, ý thức văn hoá công nghiệp, kỷ luật lao động của một bộ phận đáng kể người lao động chưa cao
- Sự phân bố lao động
Chất lượng đào tạo, cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bố theo vùng, miền, địa phương của nguồn nhân lực chưa thực sự phù hợp với nhu cầu sử dụng của xã hội, gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội
Những điểm yếu này của nguồn nhân lực nước ta đã phần nào làm hạn chế và kìm hãm sự phát huy những điểm mạnh của lực lượng lao động Việt Nam
2.1.3 Đánh giá chung về nguồn nhân lực và sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá nước ta hiện nay
Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định đến việc thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội và nó cũng quyết định đến quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nhằm nhanh chóng hòa nhập nền kinh tế nước ta với khu vực và quốc tế, vì suy cho cùng, chính con người mới là yếu tố cơ bản nhất và quan trọng của toàn bộ lực lượng sản xuất Dưới đây là thực trạng nguồn nhân lực của chúng ta hiện nay:
Thứ nhất, số lượng lao động: Hiện nay, nước ta đang ở trong giai đoạn dân số vàng Với
tỷ lệ người dân ở trong độ tuổi lao động cao, nó đã bổ sung nguồn lực lớn mạnh cho đất nước Đáp ứng được phần lớn nhu cầu nhân công cho các doanh nghiệp, xí nghiệp tại Việt Nam Và nhờ vào lực lượng lao động đông đảo, giá rẻ so với lao động trong khu vực đã giúp nước ta thu hút được nhiều nhà đầu tư nước ngoài Nhưng đây cũng là một vấn đề
Trang 9nhức nhối đặt ra cho xã hội và bộ máy nhà nước Đó là giải quyết việc làm cho một bộ phận lớn lực lượng lao động trình độ thấp đến trung bình còn thất nghiệp
Thứ hai, chất lượng nguồn nhân lực: Tốc độ gia tăng dân số nhanh tạo nên áp lực cho xã
hội trong việc phân bổ và đào tạo đội ngũ lao động có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế Mặc dù có những lợi thế về dân số và nguồn lực lao động, nhưng chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực nước ta còn nhiều bất cập và yếu kém
Thứ ba, về cơ cấu nguồn lao động: Sự bất cân xứng về số lượng và chất lượng lao động
giữa nông thôn và thành thị Sự mất cân đối nghiêm trọng giữa số lượng và tay nghề của lao động giữa nông thôn và thành thị, không những không tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế theo công nghiệp hóa hiện đại hóa mà còn có thể kéo nền kinh tế đi xuống Hiện nay ở nước ta vẫn tồn tại thực trạng nơi thiếu lao động, nơi lại dư thừa
Mặc khác, theo đánh giá của các chuyên gia, xu thế hội nhập sẽ kéo theo tính cạnh tranh trong thị trường nhân lực sẽ rất cao, trong khi mức độ sẵn sàng của giáo dục nghề nghiệp Việt Nam còn chậm Cạnh tranh giữa nước ta với các nước trên thế giới trong việc cung cấp nguồn lao động chất lượng cao ngày càng tăng đòi hỏi chất lượng giáo dục nghề nghiệp phải được cải thiện đáng kể theo hướng tiếp cận được các chuẩn của khu vực và thế giới nhằm tăng cường khả năng công nhận văn bằng chứng chỉ giữa Việt Nam và các nước khác Không những thế, Việt Nam sẽ phải đối mặt với vấn đề già hóa dân số sẽ làm cho lợi thế lực lượng lao động trẻ mất dần đi theo thời gian
Dưới nhiều sức ép từ mọi mặt, nguồn nhân lực Việt Nam cần được định hướng cụ thể để
có thể phát huy tối đa điểm mạnh, đưa điểm mạnh thành những cơ hội phát triển cho lực lượng lao động Cùng với đó là khắc phục những hạn chế còn tồn tại
Con người là cốt lõi của sự thành công trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa tại Việt Nam Vì vậy, để đạt được sự phát triển như mong muốn, nước ta cần đầu tư mạnh mẽ
có mục tiêu nguồn nhân lực hiện tại và tương lai
Trang 102.2 Nguyên nhân nguồn nhân lực nước ta còn yếu kém, chưa khai thác được tối đa điểm mạnh của nguồn nhân lực.
Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định đến vấn tăng trưởng kinh tế Với nguồn nhân lực dồi dào; con người Việt Nam có tinh thần yêu nước, cần cù, sáng tạo; trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực từng bước được nâng lên đã đáp ứng cơ bản nhu cầu của thị trường lao động Lực lượng lao động có sự chuyển dịch nhanh từ khu vực nông nghiệp sang các ngành công nghiệp và dịch vụ Vậy nguyên nhân do đâu mà nguồn nhân lực nước ta còn yếu kém, chưa khai thác được tối đa điểm mạnh của nguồn nhân lực
Thứ nhất, chất lượng nguồn nhân lực nhìn chung còn thấp, tỷ lệ lao động qua học nghề,
nhất là đào tạo nghề chính quy còn thấp, dẫn đến chất lượng lao động không cao; cơ cấu lao động theo trình độ đào tạo còn bất hợp lý, thiếu hụt nhân lực là kỹ sư thực hành, công nhân kỹ thuật bậc cao, trình độ ngoại ngữ hạn chế, thiếu các kỹ năng mềm
Thứ hai, vốn nhân lực còn hạn chế, dập khuôn, máy móc, không có sáng tạo Vốn nhân
lực ở đây chính là kiến thức và các kỹ năng mà người công nhân có được thông qua giáo dục, đào tạo và kinh nghiệm Việc tăng cường giáo dục, đào tạo và kinh nghiệm cho người công nhân cho phép họ sản xuất ra nhiều sản phẩm hơn từ cùng một lượng vốn vật chất Vốn nhân lực nâng cao khả năng của quốc gia trong việc sản xuất ra hàng hóa và dịch vụ
Thứ ba, việc quản lý, khai thác, sử dụng, phát huy các nguồn lực hiện còn hạn chế, bất
cập; việc phân bổ và sử dụng các nguồn lực chưa hợp lý, hiệu quả chưa cao, nhiều trường hợp chưa theo cơ chế thị trường, gây lãng phí và làm cạn kiệt nguồn lực của đất nước Tình trạng thất nghiệp ở nhóm lao động trẻ hoặc không phù hợp giữa công việc và trình
độ đào tạo còn khá phổ biến
Thứ tư, sự bất cân xứng về số lượng và chất lượng lao động giữa nông thôn và thành thị.
Số lao động có trình độ kỹ thuật ít ỏi tập trung chủ yếu ở khu vực hành chính sự nghiệp nhà nước, các cơ quan nghiên cứu, còn trong khu vực sản xuất trực tiếp chiếm một tỷ lệ rất nhỏ (93% cán bộ khoa học kỹ thuật làm việc ở các cơ quan Trung ương, 6% ở cấp