NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ
NGÂN HÀNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Dịch vụ ngân hàng bán lẻ
1.1.1 Khái niệm dịch vụ NHBL
Trong lĩnh vực ngân hàng, khái niệm DVNHBL được định nghĩa khác nhau:
Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á (AIT), dịch vụ ngân hàng bán lẻ cung cấp các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cho cá nhân và doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) thông qua mạng lưới chi nhánh hoặc các hệ thống công nghệ thông tin và điện tử viễn thông của ngân hàng.
Dịch vụ ngân hàng bán lẻ, theo từ điển tài chính - đầu tư - ngân hàng - kế toán Anh Việt (Nhà xuất bản Khoa học và Kinh tế, 1999), là các dịch vụ ngân hàng được cung cấp trực tiếp cho công chúng Những dịch vụ này thường có quy mô nhỏ và được thực hiện thông qua các chi nhánh, nhằm đưa sản phẩm dịch vụ đến tay người tiêu dùng.
Theo David Cox trong cuốn “Nghiệp vụ ngân hàng hiện đại” (1997), Ngân hàng bán lẻ (NHBL) được định nghĩa là loại hình ngân hàng chủ yếu cung cấp dịch vụ trực tiếp cho doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân thông qua các khoản tín dụng nhỏ.
Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á (AIT), dịch vụ ngân hàng bán lẻ cung cấp sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cho từng cá nhân và doanh nghiệp vừa và nhỏ thông qua mạng lưới chi nhánh Khách hàng có thể tiếp cận sản phẩm và dịch vụ ngân hàng một cách trực tiếp qua các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin.
Dịch vụ ngân hàng bán lẻ là dịch vụ ngân hàng được cung cấp trực tiếp cho từng cá nhân, do các ngân hàng thương mại phục vụ Khách hàng có thể tiếp cận các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng qua mạng lưới chi nhánh hoặc thông qua các phương tiện thông tin điện tử và viễn thông.
1.1.2 Đặc điểm của dịch vụ ngân hàng bán lẻ
Một là, Đối tượng khách hàng của dịch vụ bán lẻ đa dạng
Dịch vụ NHBL cung cấp tiện ích và sản phẩm trực tiếp đến tay người tiêu dùng, phục vụ cho cả nhu cầu sản xuất và sinh hoạt Đối tượng khách hàng của dịch vụ này chủ yếu là các cá nhân, với sự đa dạng về trình độ học vấn, thói quen và hoàn cảnh kinh tế.
Hai là, Sản phẩm, dịch vụ bán lẻ vô cùng đa dạng, phong phú
Ngân hàng bán lẻ là loại hình ngân hàng phục vụ đa dạng cho mọi đối tượng trong xã hội, được xem là ngân hàng của toàn dân Với hàng trăm đến hàng ngàn sản phẩm dịch vụ, ngân hàng bán lẻ không chỉ hoạt động trong một ngành nghề cụ thể mà còn lan tỏa ra nhiều lĩnh vực khác nhau.
Ba là, Dịch vụ bán lẻ ngày nay sử dụng trang bị kỹ thuật công nghệ hiện đại
Khách hàng cá nhân thường nhạy cảm với chính sách marketing, dẫn đến việc họ dễ dàng chuyển đổi nhà cung cấp dịch vụ khi sản phẩm không có sự khác biệt và tính cạnh tranh cao Sự phát triển không ngừng của công nghệ thông tin cùng với yêu cầu đa dạng của nhóm khách hàng này đã thúc đẩy việc gia tăng ứng dụng công nghệ, nhằm tạo giá trị gia tăng và nâng cao sức cạnh tranh cho các sản phẩm Do đó, công nghệ thông tin đóng vai trò quan trọng trong dịch vụ ngân hàng bán lẻ.
CNTT là tiền đề quan trọng để lưu giữ và xử lý cơ sở dữ liệu tập trung, cho phép các giao dịch trực tuyến được thực hiện
CNTT đóng vai trò quan trọng trong việc triển khai các sản phẩm dịch vụ bán lẻ hiện đại, bao gồm chuyển tiền tự động, huy động vốn và cho vay dân cư với đa dạng hình thức.
Bốn là, Dịch vụ ngân hàng bán lẻ chi phí bình quân trên mỗi giao dịch khá cao
Dịch vụ bán lẻ của ngân hàng bao gồm nhiều giao dịch có giá trị nhỏ và tần suất thanh toán cao, như thanh toán tiền hàng, chuyển khoản và chuyển vốn Để phục vụ khách hàng bán lẻ, ngân hàng phải chịu chi phí tương tự như khi phục vụ khách hàng doanh nghiệp lớn, dẫn đến chi phí bình quân trên mỗi giao dịch của ngân hàng bán lẻ thường cao Mặc dù lợi nhuận từ mỗi giao dịch là nhỏ, nhưng với số lượng giao dịch lớn, tổng lợi nhuận vẫn đáng kể, đáp ứng nhu cầu của đông đảo khách hàng.
Dịch vụ ngân hàng bán lẻ (NHBL) luôn được cải tiến để đáp ứng nhu cầu đa dạng và ngày càng tăng của khách hàng, nhờ vào sự tiến bộ của công nghệ Đối tượng phục vụ của NHBL chủ yếu là khách hàng cá nhân với sự khác biệt về thu nhập, trình độ dân trí, hiểu biết, tính cách, sở thích, độ tuổi và nghề nghiệp, dẫn đến nhu cầu rất phong phú Vì các sản phẩm của dịch vụ NHBL dựa trên nền tảng công nghệ, nên chúng cần phải liên tục thay đổi để phù hợp với sự phát triển không ngừng của công nghệ.
Sáu là, Nhu cầu mang tính thời điểm
Các dịch vụ ngân hàng mà cá nhân mong muốn chỉ có giá trị trong một khoảng thời gian nhất định Khi điều kiện sống thay đổi, nhu cầu của họ cũng sẽ biến đổi Ngân hàng nào nhanh chóng nắm bắt và đáp ứng những nhu cầu này sẽ có lợi thế cạnh tranh.
Bảy là, Dịch vụ đơn giản, dễ thực hiện
Khách hàng bán lẻ sử dụng dịch vụ ngân hàng bán lẻ (NHBL) đến từ nhiều tầng lớp và trình độ dân trí khác nhau Họ chủ yếu sử dụng các dịch vụ như mở tài khoản thanh toán, gửi tiết kiệm, vay tiền và thanh toán hóa đơn Các dịch vụ này được thiết kế đơn giản và dễ thực hiện, nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của người dùng.
Tám là, Độ rủi ro thấp:
Dịch vụ ngân hàng bán lẻ (NHBL) mang lại doanh thu ổn định và an toàn cho các ngân hàng thương mại (NHTM) nhờ vào số lượng khách hàng cá nhân lớn và rủi ro phân tán thấp, trái ngược với các dịch vụ bán buôn tập trung vào tổ chức kinh tế và trung gian tài chính có giá trị giao dịch lớn và độ rủi ro cao.
1.1.3 Các dịch vụ NHBL tại các NHTM
Để đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động, các ngân hàng thương mại cần huy động vốn từ bên ngoài, trong đó vốn huy động từ dân cư (cá nhân, hộ gia đình) đóng vai trò quan trọng Mặc dù số tiền gửi của từng cá nhân có thể không lớn, nhưng với lượng khách hàng đông đảo, nguồn tiền huy động sẽ trở nên dồi dào và góp phần vào sự phát triển của ngân hàng.
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ BÁN LẺ TẠI AGRIBANK CHI NHÁNH LONG KHÁNH
2.1 Khái quát về Agribank – Chi nhánh Long Khánh
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Agribank – Chi nhánh Long Khánh
2.1.1.1 Quá trình hình thành và phát triển
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) được thành lập theo Nghị định số 53-HĐBT ngày 26/03/1988 Trong suốt 32 năm phát triển, Agribank đã khẳng định vị thế là một trong những ngân hàng thương mại hàng đầu Việt Nam, thực hiện chính sách tiền tệ, ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và hỗ trợ tăng trưởng Ngân hàng luôn đồng hành cùng sự phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn, đóng góp tích cực vào quá trình tái cơ cấu nền kinh tế, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội.
Năm 2019, Agribank được vinh danh là Quán quân các NHTM, xếp thứ 8 trong Bảng xếp hạng VNR500 và đạt mức xếp hạng Ba3 từ Moody’s, cao nhất trong các NHTM tại Việt Nam Agribank cũng đứng thứ 142/500 ngân hàng lớn nhất Châu Á về quy mô tài sản Hiện tại, Agribank đang triển khai Chiến lược kinh doanh giai đoạn 2016-2020, với tầm nhìn đến 2030, đồng thời thực hiện tái cơ cấu giai đoạn 2 và đẩy nhanh tiến trình cổ phần hóa theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, nhằm giữ vững vai trò chủ lực trên thị trường tài chính nông nghiệp và nông thôn, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước.
Agribank Thành phố Long Khánh, thuộc hệ thống Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, có tên đầy đủ là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Thành phố Long Khánh Đồng Nai.
Agribank Chi nhánh Thành phố Long Khánh - Đồng Nai có trụ sở chính tại số 50, đường Cách Mạng Tháng 8, phường Xuân Hòa, Thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.
Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh: 0100686174-596 đăng ký ngày 02/10/2013
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Thành phố Long Khánh Đồng Nai, tiền thân là Ngân hàng Nông nghiệp & PTNT Huyện Xuân Lộc, được thành lập vào ngày 26/3/1988 theo Nghị định 53/HĐBT của Hội Đồng Bộ Trưởng Ngân hàng này được hình thành trên cơ sở nhận bàn giao từ Ngân hàng Nhà nước tỉnh Đồng Nai và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn - Chi nhánh tỉnh Đồng Nai.
Vào ngày 19/6/1998, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Huyện Long Khánh được thành lập theo Quyết định số 340/QĐ-NHNo-02 của Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam Đến năm 2013, ngân hàng này chính thức đổi tên thành Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Thành phố Long Khánh, Đồng Nai, theo giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh số 0100686174-596 vào ngày 02/10/2013.
Ngành nghề kinh doanh chính là hoạt động trung gian tiền tệ khác, bao gồm các dịch vụ liên quan đến tiền tệ, tín dụng và ngân hàng Các hoạt động này được quy định chi tiết trong Điều lệ của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam.
2.1.1.2 Chức năng nhiệm vụ chính của Agribank – Chi nhánh Long Khánh
Agribank Chi nhánh Thành phố Long Khánh đã khẳng định vị thế là ngân hàng thương mại hàng đầu tại địa phương, đóng góp quan trọng cho sự phát triển kinh tế xã hội Trong suốt 30 năm qua, ngân hàng không chỉ hoạt động kinh doanh mà còn thực hiện nhiệm vụ chính trị, cung cấp nguồn vốn tín dụng chủ lực, thúc đẩy kinh tế địa phương mạnh mẽ Agribank Long Khánh đã góp phần giúp Long Khánh trở thành huyện đầu tiên được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới vào năm 2014 Ngân hàng luôn đạt danh hiệu tập thể lao động xuất sắc và nhận nhiều bằng khen từ Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Nai vì những thành tích nổi bật trong phát triển kinh tế xã hội và xây dựng Agribank.
2.1.1.3 Mô hình tổ chức – nhân sự
Agribank Thành phố Long Khánh bao gồm một Hội sở trung tâm cùng ba phòng giao dịch trực thuộc, cụ thể là Phòng giao dịch số 1 Long Khánh, Phòng giao dịch số 2 Long Khánh và Phòng giao dịch Xuân Bình.
Tại trung tâm có 03 phòng ban, gồm: 02 phòng chuyên môn nghiệp vụ là phòng Kế hoạch kinh doanh, phòng Kế toán – Ngân quỹ và phòng Tổng Hợp
2.1.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Agribank – Chi nhánh Long Khánh
Kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2017 - 2019 chịu ảnh hưởng từ sự tăng trưởng chậm lại của kinh tế toàn cầu, căng thẳng thương mại Mỹ - Trung và các vấn đề địa chính trị, dẫn đến bất ổn trong hệ thống thương mại Thị trường tài chính quốc tế biến động, giá dầu phức tạp ảnh hưởng đến tăng trưởng tín dụng và tâm lý thị trường Trong nước, mặc dù có tăng trưởng tích cực và ổn định vĩ mô, nhưng vẫn phải đối mặt với nhiều thách thức như thời tiết bất lợi ảnh hưởng đến nông nghiệp, dịch tả lợn Châu Phi lan rộng và tăng trưởng chậm lại ở một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực Chính phủ và Thủ tướng đã chỉ đạo quyết liệt nhằm thực hiện hiệu quả các mục tiêu, giúp kinh tế vĩ mô ổn định và kiểm soát lạm phát ở mức thấp.
Mặc dù TP Long Khánh phải đối mặt với nhiều khó khăn do dịch bệnh ảnh hưởng đến đàn gia súc, gây thiệt hại cho sản xuất nông nghiệp, nhưng nhờ vào sự lãnh đạo tích cực và hiệu quả của các cấp lãnh đạo cùng với nỗ lực của các ngành, địa phương, doanh nghiệp và toàn dân, kinh tế - xã hội của TP Long Khánh vẫn đạt được những kết quả tích cực.
Giai đoạn 2017-2019 đóng vai trò quan trọng đối với Agribank và Agribank Long Khánh trong việc thực hiện chiến lược kinh doanh giai đoạn 2017-2020 Thời gian này cũng là thời điểm Agribank triển khai phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu theo Quyết định số 01/QĐ-NHNN.m ngày 08/1/2018 của Thống đốc NHNN, đồng thời chuẩn bị cho quá trình cổ phần hóa và đạt các tiêu chuẩn quốc tế theo Basel II.
Hoạt động kinh doanh của Agribank, đặc biệt là Agribank Long Khánh, đang có những chuyển biến tích cực với sự tăng trưởng hợp lý về quy mô và hiệu quả được nâng cao.
Kết quả sau 3 năm 2017- 2019, Chi nhánh Agribank TP Long Khánh đã đạt được kết quả như sau:
Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh tại Agribank TP Long Khánh Đơn vị tính: tỷ đồng
TT Chỉ tiêu Thực hiện
I Nhóm chỉ tiêu quy mô 2018/2017 2019/2018
1 Huy động vốn cuối kỳ 2,587 2,789 3,133 202 344
2 Dư nợ tín dụng cuối kỳ 1,355 1,468 1,636 113 168
II Nhóm chỉ tiêu hiệu quả
III Nhóm chỉ tiêu cơ cấu, chất lượng
8 Nợ có khả năng mất vốn N5 0.14 0.42 0.67 0 0
(Nguồn báo cáo tổng kết năm 2017, 2018, 2019)
Theo bảng trên, hầu hết các chỉ tiêu năm sau đều tăng so với năm trước, cho thấy sự phát triển mạnh mẽ Cụ thể, huy động vốn cuối kỳ năm 2017 đạt 2,587 tỷ đồng, năm 2018 tăng lên 2,789 tỷ đồng, và năm 2019 đạt 3,133 tỷ đồng, với sự tăng trưởng lần lượt 202 tỷ và 344 tỷ đồng Chi nhánh đã xác định huy động vốn là nhiệm vụ chiến lược hàng đầu trong hoạt động kinh doanh Để tri ân khách hàng và thu hút khách hàng mới, Chi nhánh đã triển khai các chương trình khuyến mãi, bao gồm quà tặng cho khách hàng gửi tiết kiệm, với giá trị quà tặng được phân theo số tiền và thời gian gửi.
Cuối năm 2017, dư nợ tín dụng đạt 1,353 tỷ đồng, trong đó nợ xấu là 11.77 tỷ đồng Đến năm 2018, dư nợ tín dụng tăng lên 1,468 tỷ đồng, với nợ xấu chiếm 17.74 tỷ đồng Năm 2019, dư nợ tín dụng tiếp tục tăng lên 1,636 tỷ đồng, trong khi nợ xấu là 15.53 tỷ đồng.