1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu sự đa dạng các loài bò sát (rreptilia) và ếch nhái (amphibia) tại khu dự trữ thiên nhiên động châu khe nước trong​

103 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 103
Dung lượng 2,64 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1. TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (11)
    • 1.1. Tổng luận các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu (11)
    • 1.2. Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu (13)
  • Chương 2. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU (15)
    • 2.1. Điều kiện tự nhiên (15)
      • 2.1.1. Vị trí địa lý (15)
      • 2.1.2. Đặc điểm khí hậu, thủy văn (15)
      • 2.1.3. Địa hình và địa chất (16)
      • 2.1.4. Thảm thực vật rừng (17)
      • 2.1.5. Khu hệ động vật (18)
    • 2.2. Thực trạng về dân sinh, kinh tế - xã hội (19)
      • 2.2.1. Đặc điểm dân số và dân tộc (19)
      • 2.2.2. Đặc điểm kinh tế (19)
      • 2.2.3. Đặc điểm xã hội và cơ sở hạ tầng (20)
  • Chương 3. MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (21)
    • 3.1. Mục tiêu nghiên cứu (21)
    • 3.2. Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu (21)
    • 3.3. Nội dung nghiên cứu (22)
    • 3.4. Phương pháp nghiên cứu (22)
      • 3.4.1. Phương pháp điều tra ngoại nghiệp (22)
      • 3.4.2. Phương pháp phân tích hình thái và định danh mẫu vật BSEN (24)
      • 3.4.3. So sánh mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các khu vực (26)
      • 3.4.4. Phương pháp đánh giá đặc điểm phân bố các loài bò sát, ếch nhái (27)
      • 3.4.5. Đánh giá tình trạng bảo tồn (28)
      • 3.4.6. Xác định các mối đe dọa (28)
      • 3.4.7. Đề xuất các giải pháp ưu tiên bảo tồn (28)
    • 3.5. Tư liệu nghiên cứu (28)
  • Chương 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (30)
    • 4.1. Đa dạng về thành phần loài BSEN tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong21 1. Đa dạng thành phần loài bò sát tại Khu DTTN Động Châu - Khe Nước (30)
      • 4.1.2. Đa dạng thành phần loài Ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước (33)
    • 4.2. Mô tả một số đặc điểm hình thái các loài Bò sát, ếch nhái ghi nhận mới cho Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong (36)
      • 4.2.1. Đặc điểm hình thái các loài bò sát ghi nhận mới cho KVNC (36)
      • 4.2.2. Đặc điểm hình thái các loài Ếch nhái ghi nhận mới cho KVNC (47)
    • 4.3. Đặc điểm phân bố các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC (54)
      • 4.3.1. Phân bố các loài bò sát theo đai cao (54)
      • 4.3.2. Phân bố bò sát, ếch nhái theo sinh cảnh (56)
    • 4.4. So sánh sự tương đồng của bò sát, ếch nhái KVNC với các VQG và KBT khác ở Việt Nam (58)
    • 4.5 Tình trạng bảo tồn và các mối đe dọa (60)
      • 4.5.1. Đánh giá tình trạng bảo tồn (60)
      • 4.5.2. Phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC (62)
      • 4.5.3. Các nhân tố đe dọa (66)
      • 4.5.4. Đề xuất một số biện pháp bảo tồn (68)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tổng luận các công trình đã công bố về vấn đề nghiên cứu

Việt Nam, với khí hậu nhiệt đới gió mùa và địa hình đa dạng, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của động vật, đặc biệt là ếch nhái và bò sát Sự phong phú về sinh cảnh ở đồng bằng, trung du và vùng núi góp phần vào sự đa dạng sinh học của quốc gia này.

Nỗ lực nghiên cứu về ếch nhái và bò sát ở Việt Nam được thể hiện qua các giai đoạn cụ thể như sau:

Công trình đầu tiên công bố về bò sát và lưỡng cư tại Việt Nam là cuốn "Nam dược thần hiệu" của Tuệ Tĩnh, trong đó liệt kê các vị thuốc được chiết xuất từ các loài bò sát và lưỡng cư Cuốn sách này đã được dịch sang tiếng Việt và tái bản vào năm 1972.

Trước năm 1945, nhiều nhà khoa học quốc tế đã tiến hành nghiên cứu về bò sát và lưỡng cư tại khu vực Đông Dương, bao gồm cả Việt Nam Trong giai đoạn này, hàng loạt sách chuyên khảo về chủ đề này đã được xuất bản, nổi bật là tác phẩm của Bourret.

Giai đoạn 1954-1975, nghiên cứu về bò sát và lưỡng cư ở miền Bắc Việt Nam được thực hiện bởi các nhà khoa học trong nước như Đào Văn Tiến, Trần Kiên, và Lê Vũ Khôi Các công trình nghiên cứu của họ đã đóng góp vào việc xác định thành phần loài và sinh thái của các loài bò sát và lưỡng cư, với nhiều công bố quan trọng (Dao 1957).

1962) Ở miền Nam đáng chú ý là công trình nghiên cứu về rắn của Camp-den Main

Giai đoạn 1975-1996 chứng kiến sự hợp tác giữa các nhà khoa học trong và ngoài nước, tập trung vào việc khám phá đa dạng thành phần loài ở nhiều vùng khác nhau tại Việt Nam Một trong những nghiên cứu nổi bật trong giai đoạn này là các khóa định loài về bò sát và lưỡng cư do Đào Văn Tiến thực hiện vào các năm 1977, 1978, 1979 và 1981.

1982) Nguyễn Văn Sáng & Hồ Thu Cúc (1996) đã ghi nhận ở Việt Nam có 340 loài bò sát và lưỡng cư đến năm 1996

Từ năm 1997 đến nay, sự kết hợp giữa phương pháp định loài hình thái truyền thống và công nghệ sinh học phân tử đã giúp phát hiện nhiều loài bò sát và lưỡng cư mới tại Việt Nam Số lượng loài đã tăng từ 458 vào năm 2005 lên 545 vào năm 2009, theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Sáng và các cộng sự Thống kê từ hai trang web cơ sở dữ liệu quốc tế về bò sát và ếch nhái cũng xác nhận sự gia tăng này.

Tính đến năm 2020, Việt Nam có khoảng 790 loài bò sát và ếch nhái, bao gồm 288 loài ếch nhái, 214 loài thằn lằn, 248 loài rắn, 37 loài rùa và 3 loài cá sấu (Uetz & Hošek 2020; Forst 2020).

Nghiên cứu gần đây về khu hệ ếch nhài và bò sát tại hệ sinh thái núi đá vôi ở Việt Nam đã ghi nhận nhiều kết quả quan trọng Luu et al (2013) đã phát hiện tổng cộng 151 loài, bao gồm 101 loài bò sát và 50 loài lưỡng cư, trong đó có 13 loài mới được phát hiện tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng và tỉnh Quảng Bình Bên cạnh đó, Ziegler et al (2014) đã cung cấp danh lục gồm 102 loài, với 50 loài lưỡng cư và 52 loài bò sát, trong đó ghi nhận lần đầu tiên 8 loài ếch nhài và 12 loài bò sát cho tỉnh Hà Giang.

2016 đã ghi nhận 31 loài lưỡng cư và bò sát từ kết quả nghiên cứu thực địa ở năm

Trong giai đoạn 2015 và 2016, đã có 8 loài mới được ghi nhận tại huyện Hướng Hóa và 4 loài mới cho tỉnh Quảng Trị Năm 2017, Pham et al đã lần đầu báo cáo 21 loài ếch nhái tại hệ sinh thái núi đá vôi huyện Hà Lang, tỉnh Cao Bằng, trong đó có 3 loài mới được ghi nhận cho tỉnh này, bao gồm Odorrana bacboensis, O graminea và Rhacophorus maximus.

Số lượng loài mới được công bố cho khoa học ngày càng tăng qua các thời kỳ Từ năm 1954-1975, chỉ có 1 loài bò sát mới được phát hiện, nhưng từ 1976-1996, con số này đã tăng lên 16 loài (4 loài ếch nhái và 12 loài bò sát) Giai đoạn 1996-2005 ghi nhận 57 loài mới (28 loài ếch nhái và 29 loài bò sát), và trong 5 năm gần đây (2015-2020), số lượng loài mới phát hiện đã tăng vọt lên 123 loài cho Việt Nam (94 loài ếch nhái và 39 loài bò sát) Một số loài mới đáng chú ý gần đây bao gồm 53 loài BSEN với mẫu chuẩn thu ở Việt Nam, trong đó có 33 loài ếch nhái và 20 loài bò sát, chẳng hạn như Cyrtodactylus bobrovi.

Van Pham, Ngo, Hoang, The Pham & Ziegler, 2015; Cyrtodactylus Soni( Le,

Nguyen, Le & Ziegler, 2016); Dixonius Minhlei (Ziegler, Botov, Nguyen, Bauer,

Brennan, Ngo & Nguyen, 2016); Oligodon Condaoensis (Nguyen, Nguyen, Le &

Murphy, 2016); Cyrtodactylus Gialaiensis (Luu, Dung, Nguyen, Le & Ziegler,

In recent years, several new species have been identified, including Cyrtodactylus sonlaensis (Nguyen et al., 2017), Opisthotropis voquyi (Ziegler et al., 2018), Parafimbrios vietnamensis (Ziegler et al., 2018), and Acanthosaura phongdienensis (Nguyen et al., 2018) These discoveries contribute significantly to the understanding of biodiversity in their respective habitats.

Zhang, 2019); Cyrtodactylus taybacensis (Pham, Le, Ngo, Ziegler, Nguyen, 2019); Scincella badenensis (Nguyen, Nguyen, Nguyen & Murphy, 2019); Lycodon namdongensis (Luu, Ziegler , Ha, Le & Hoang, 2019); Oligodon rostralis (Nguyen,

Tran, Nguyen, Neang, Yushenko & Poyarkov, 2020); Rhacophorus vanbanicus

(Kropachev, Orlov, Ninh, and Nguyen, 2019); Megophrys caobangensis (Nguyen,

Pham, Nguyen, Luong, and Ziegler, 2020); Gacixalus trieng (Rowley, Le, Hoang,

Cao, and Dau, 2020); Kurixalus gracilloides (Nguyen, Duong, Luu, and Poyarkov, 2020);

Tại Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá thì Nguyen Thanh Luan et al

Năm 2016, một nghiên cứu đã được thực hiện trong giai đoạn 2015-2016 nhằm bổ sung danh mục cho Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá Kết quả của báo cáo này đã hoàn thiện danh lục với 31 loài bò sát và ếch nhái, thuộc 16 họ trong 2 bộ khác nhau.

Hiện nay, nhiều số liệu về các loài đã lỗi thời và chưa được cập nhật Nhiều loài vẫn còn thiếu thông tin và tài liệu cần thiết, do đó, việc điều tra bổ sung và cập nhật thông tin mới nhất là rất quan trọng để cung cấp dữ liệu tham khảo cho các nghiên cứu trong tương lai.

Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu

Nghiên cứu về bò sát và ếch nhái tại Quảng Bình, đặc biệt là tại VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, cho thấy nơi đây có tính đa dạng sinh học cao với 151 loài, bao gồm 50 loài lưỡng cư, 12 loài rùa, 31 loài thằn lằn và 58 loài rắn Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây chủ yếu chỉ tập trung vào VQG này, trong khi các khu vực khác như KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong vẫn chưa được khai thác triệt để Khu vực Động Châu - Khe Nước Trong chỉ được điều tra một lần vào năm 2015, phát hiện 67 loài bò sát và ếch nhái, nhưng nghiên cứu chỉ giới hạn ở một số tiểu khu Từ khi thành lập vào ngày 25 tháng 06 năm 2020, khu vực này chưa có thêm nghiên cứu nào, tạo cơ hội cho việc cập nhật và bổ sung thông tin về thành phần loài và sự đa dạng sinh học tại đây.

Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong, tỉnh Quảng Bình, với diện tích rộng và sinh cảnh đa dạng từ rừng thường xanh đến thủy vực và đồng ruộng, là môi trường sống của nhiều loài bò sát và ếch nhái Tuy nhiên, sự tác động của con người đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quần thể này Nghiên cứu thành phần loài bò sát và ếch nhái tại khu vực sẽ là cơ sở để đề xuất các giải pháp bảo tồn hiệu quả, nhằm khôi phục và bảo tồn nguồn gen của chúng.

Nghiên cứu bổ sung thành phần loài và cập nhật hệ thống phân loại, phân bố, cùng đánh giá tình trạng bảo tồn khu hệ bò sát và ếch nhái là rất cần thiết Qua đó, các phương pháp bảo tồn cho khu hệ bò sát và ếch nhái, cũng như khu hệ động vật tại Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình sẽ được đề xuất.

ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU

Điều kiện tự nhiên

Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, được thành lập theo quyết định số 2156/QĐ-UNND ngày 25 tháng 06 năm 2020 của chủ tịch UBND tỉnh Quảng Bình, tọa lạc tại phía Tây - Nam tỉnh Quảng Bình, thuộc xã Kim Thủy, huyện Lệ Thủy Khu vực này giáp ranh với CHDCND Lào ở phía Tây, xã Ngân Thuỷ ở phía Đông, xã Lâm Thuỷ ở phía Bắc và KBTTN Bắc Hướng Hoá (tỉnh Quảng Trị) ở phía Nam Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong có 22 tiểu khu, với tổng diện tích lên tới 22.595,94 ha.

Có toạ độ địa lý: Từ 16° 55' 19'' đến 17° 4' 55'' vĩ độ bắc

Từ 106° 32' 50'' đến 106° 48' 26'' kinh độ đông

2.1.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn

Khu vực này thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông lạnh Mùa khô kéo dài từ tháng 4 đến đầu tháng 9, đặc biệt khô hạn nhất vào tháng 6 và tháng 7, trong khi mùa mưa diễn ra từ cuối tháng 9 đến tháng 12, với lượng mưa cao nhất vào tháng 10 và tháng 11 Mặc dù không có trạm quan trắc khí tượng trong khu vực, trạm Khe Sanh là gần nhất và có thể cung cấp thông tin tham khảo Dữ liệu quan trắc khí tượng trong 20 năm tại Khe Sanh cho thấy các chỉ tiêu khí tượng trung bình đáng chú ý.

- Nhiệt độ bình quân năm 22,3 0 C

- Nhiệt độ bình quân tối cao 25,8 0 C vào tháng 6,

- Nhiệt độ bình quân tối thấp 18,1 0 C vào tháng 1,

- Lượng mưa bình quân năm 2.079 mm,

- Lượng mưa bình quân tháng thấp nhất 18,8 mm vào tháng 2,

- Lượng mưa bình quân tháng cao nhất nhất 456,2 mm vào tháng 10,

Có 3 loại gió mùa chính thịnh hành trong khu vực Gió mùa đông- nam mang theo hơi ẩm và mưa lớn, thịnh hành từ tháng 9 đến tháng 11 Gió mùa đông- bắc mang theo hơi lạnh và mưa phùn, thịnh hành từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau Gió mùa tây- nam bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9, thường khô và nóng nên mùa khô bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 9

Khu vực này là đầu nguồn của sông Long Đại và sông Kiến Giang, hai nhánh lớn của sông Nhật Lệ, một trong những sông quan trọng nhất tỉnh Quảng Bình Nơi đây có nhiều khe suối nhỏ, tạo thành hai hệ thống chính: hệ sông Sa Ram và Khe Bang Hệ Sa Ram bao gồm các suối lớn như Khe Vàng, Khe Bung và suối Sa Ram, trong khi hệ Khe Bang có An Bai, Rào Chân và Khe Bang Các sông suối trong khu vực thường ngắn, có độ dốc lớn và xâm thực sâu, dẫn đến tình trạng lũ lụt và sạt lở đất, ảnh hưởng đến giao thông trong khu vực.

2.1.3 Địa hình và địa chất

Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong nằm trong vùng núi thấp với địa hình tương đối dốc Độ cao trung bình trong khu vực khoảng 500 -

Khu vực này có độ cao trung bình 600 m so với mực nước biển, với điểm thấp nhất là 120 m tại ranh giới Khe Bang Đỉnh cao nhất đạt 1220 m, nằm giữa ranh giới hai tỉnh Quảng Bình - Quảng Trị và Lào Hầu hết các đỉnh núi còn lại đều có độ cao dưới 1000 m so với mực nước biển.

Vùng núi có độ cao trên 700 m chỉ chiếm khoảng 10% diện tích khu vực, trong khi 90% còn lại là đồi núi dưới 700 m Theo Thái Văn Trừng (1978), đây là rừng nhiệt đới thường xanh trên núi đất thấp, hiện đang bị suy thoái và trở nên hiếm do dễ tiếp cận Rừng này được các tổ chức bảo tồn thiên nhiên xếp vào loại có giá trị bảo tồn cao (WWF 2008) vì có nguy cơ đe dọa cao Tại Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong, kiểu rừng trên vùng núi đất thấp vẫn chiếm tỷ lệ cao, là đối tượng cần bảo tồn và là mục tiêu bảo tồn quốc gia.

2.1.3.2 Địa chất Địa chất vùng điều tra thuộc miền vòng trống Paleozoi rộng lớn thuộc đới Trường Sơn Bắc, có cấu tạo đặc thù với nhiều mặt cắt Paleozoi khá đầy đủ và dày Bao gồm các trầm tích Odovic thượng và Silua Thành phần bồi lắng gồm có sắt, cát, Conglonurat, cuội, sỏi, dăm Song song với quá trình bồi lắng là quá trình xâm nhập các khối Magma acid như Granit, Daxit, Rhefonit Trong vùng điều tra xuất hiện diện tích đáng kể của kiểu thung lũng kiến tạo và xâm thực nằm dọc theo các con sông suối Nham thạch chủ yếu bao gồm các khối được tạo thành từ Magma, Granit, Rhyonit, đặc điểm đá rất mỏng, có kết cấu hạt thô, tỷ lệ thạch anh lớn khó phong hóa Các vùng thạch tạo từ trầm tích hạt thô như sa thạch, cuội kết, dăm kết, conglomerat có kết cấu hạt thô, bở, rời, phong hóa nhanh, dễ rửa trôi và xói mòn Đất được hình thành trên các loại phiến thạch sét, sa thạch và magma acid kết tính chua, chúng phân bố đan xen vào nhau khá phức tạp, tạo nên khá nhiều loại đất có độ phì khác nhau, tùy thuộc vào các kiểu địa hình, thảm thực bì, độ cao và độ dốc của địa hình

Khu vực này sở hữu sự đa dạng phong phú về thảm thực vật rừng, đặc biệt là ở vùng núi thấp dưới 700 m so với mực nước biển Trong khi nhiều địa phương khác đã bị tàn phá do sự gần gũi với dân cư, khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong vẫn duy trì được khoảng 18.000 ha thảm thực vật này Kết quả từ việc phân tích ảnh vệ tinh và khảo sát thực địa cho thấy tỷ lệ độ che phủ rừng tại đây lên tới 99% Theo phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn Trừng (1978), các kiểu thảm thực vật chính và phụ của khu vực được trình bày chi tiết trong bảng 2.1.

Bảng 2.1 Hiện trạng thảm thực vật

Stt Kiểu thảm thực vật Diện tích (ha) Tỷ lệ %

1 Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới 2.019,01 8,94

2 Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp 12.555,09 55,56

3 Kiểu rừng thứ sinh sau khai thác kiệt 6.261,39 27,71

4 Kiểu rừng thứ sinh phục hồi sau biến mất rừng 495,30 2,19

5 Kiểu rừng phát triển trên núi đá vôi 687,06 3,04

7 Trảng cỏ, cây bụi, cây gỗ rải rác 173,63 0,77

(Nguồn: Viện điều tra Quy hoạch rừng điều tra trong các năm 2009- 2011, Chi cục

Kiểm lâm và các chuyên gia rà soát bổ sung đầu năm 2018)

Dựa trên các tài liệu và kết quả khảo sát trước đây của các nhà khoa học quốc tế, Viện Sinh thái Tài nguyên Sinh vật, Trường Đại học Lâm nghiệp và Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt (VietNature) đã tiến hành điều tra từ năm 2014 đến 2017, ghi nhận được 357 loài động vật có xương sống trên cạn, bao gồm 76 loài thú, 214 loài chim và 67 loài bò sát, ếch nhái.

Bảng 2.2 Thành phần loài động vật có xương sống tại Khu Dự trữ Thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong

Bộ Số loài IUCN SĐVN CITES NĐ 64 Nguồn

Nguồn: Trung tâm Bảo tồn thiên nhiên Việt (VietNature)

Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong đã ghi nhận tổng cộng 76 loài thú, bao gồm các loài đặc trưng của vùng Bắc Trường Sơn thông qua khảo sát trực tiếp và bẫy ảnh Những loài thú nổi bật như Khỉ mặt đỏ, Khỉ đuôi lợn, Chà vá chân nâu, Vượn siki, Thỏ vằn, Tê tê java, Gấu ngựa, Mang trường sơn, Mang lớn, Saola, và Sơn dương Đặc biệt, trong số này có hai loài đang bị đe dọa tuyệt chủng nghiêm trọng là Tê tê java và Saola, được xếp hạng cấp Rất Nguy cấp (CR).

Khu hệ chim KVNC là đặc trưng cho vùng chim đặc hữu đất thấp Trung Bộ, với 214 loài chim được ghi nhận Trong số đó, có 4 loài phân bố hẹp, bao gồm Trĩ sao, Khướu mỏ dài, Chích chạch má xám và Khướu má xám Đáng chú ý, hai loài đang bị đe dọa toàn cầu là Gà lôi lam mào trắng (CR) và Đuôi cụt bụng đỏ (VU), trong đó Gà lôi lam mào trắng chỉ được ghi nhận qua phỏng vấn thợ săn địa phương Mặc dù Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt đã nỗ lực điều tra bằng phương pháp bẫy ảnh, nhưng đến nay, các chuyên gia vẫn chưa ghi nhận được hình ảnh của loài Gà lôi lam mào trắng trong tự nhiên.

Thực trạng về dân sinh, kinh tế - xã hội

Khu dự trữ thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong tọa lạc hoàn toàn trong địa giới hành chính xã Kim Thủy và không có cư dân sinh sống trong khu vực này.

Xã Lâm Thủy, giáp ranh với xã Kim Thủy, nằm gần khu rừng và có một phần ranh giới tiếp giáp với khu bảo tồn thiên nhiên Do đó, vùng đệm của khu vực bảo tồn thiên nhiên Động Châu - Khe Nước Trong được xác định là diện tích nằm ngoài ranh giới của khu dự trữ thiên nhiên này, thuộc hai xã Kim Thủy và Lâm Thủy.

2.2.1 Đặc điểm dân số và dân tộc

Hai xã vùng đệm Kim Thủy và Lâm Thủy, thuộc khu vực miền núi rẻo cao giáp biên giới, có mật độ dân số rất thưa, với Kim Thủy đạt 75,34 người/km² và Lâm Thủy chỉ 5,97 người/km² Tỉ lệ tăng dân số cơ học tại hai xã này rất thấp; cụ thể, vào năm 2015, dân số xã Kim Thủy là 3.661 người.

Năm 2016, tổng dân số của huyện Lệ Thủy đạt 3.672 người, với tỷ lệ tăng trưởng dân số là 0,3% Tại xã Lâm Thủy, dân số vào năm 2015 là 1.355 người, tăng lên 1.360 người vào năm 2016, ghi nhận tỷ lệ tăng trưởng là 0,37% (Nguồn: Niên giám thống kê huyện Lệ Thủy tháng 5/2017).

Tại hai xã, thành phần dân tộc chủ yếu bao gồm người Kinh và Vân Kiều, với người Vân Kiều chiếm 73,6% tổng số hộ và 78,9% dân số Cụ thể, xã Lâm Thủy có đến 94,1% dân số là người Vân Kiều, trong khi xã Kim Thủy cũng có 72,6% dân số là người Vân Kiều Người Kinh chỉ chiếm 26,4% số hộ và 21,1% dân số của hai xã này.

Kim Thủy và Lâm Thủy là hai xã miền núi giáp biên giới Việt - Lào, nằm trong số các xã có diện tích lớn nhất của tỉnh Quảng Bình, với tổng diện tích tự nhiên đáng kể.

2 xã là 71.527,16 ha, trong đó đất lâm nghiệp chiếm tới 94,47%

Bảng 2.3 Cơ cấu sử dụng đất Đơn vị tính: ha

Stt Hạng mục Xã Kim

1 Đất sản xuất nông nghiệp 1.449,91 404,8 1.854,71 2,59

(Nguồn: Niên giám thống kê huyện Lệ Thủy tháng 5 năm 2017)

Diện tích đất nông nghiệp chỉ chiếm 2,59%, vì vậy sản xuất lâm nghiệp trở thành nguồn thu nhập chính bên cạnh nông nghiệp Số hộ kinh doanh thương mại, dịch vụ và sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp rất ít, chỉ khoảng 0,97%, cho thấy sự phụ thuộc chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp và lâm nghiệp.

2.2.3 Đặc điểm xã hội và cơ sở hạ tầng

2.2.3.1 Giáo dục Điều kiện cơ sở hạ tầng cho giáo dục đã được cải thiện rất nhiều Hầu hết các cụm thôn, bản đều có điểm trường mầm non Hiện tại, địa phương có nhiều chính sách ưu đãi đối với học sinh là con em đồng bào dân tộc thiểu số, nên hầu hết trẻ em ở độ tuổi 5-6 tuổi đến trường đạt tỷ lệ 100% Tỷ lệ mù chữ thấp, chỉ còn tồn tại ở những người lớn tuổi

Mỗi xã đều có trạm y tế kiên cố, thường nằm ở trung tâm, với thiết kế 10 phòng khép kín và trang bị đầy đủ thiết bị khám chữa bệnh Trạm Kim Thủy đã đạt chuẩn quốc gia, với đội ngũ cán bộ y tế gồm 01 bác sỹ, 01 y sỹ, 03 y tá và điều dưỡng, bên cạnh đó, các thôn bản cũng có y tá thôn bản Tuy nhiên, trình độ nghiệp vụ của cán bộ y tế còn hạn chế, ảnh hưởng đến chất lượng khám chữa bệnh trong cộng đồng.

Trong những năm qua, các tuyến đường chính, đặc biệt là đường mòn Hồ Chí Minh và tỉnh lộ 16, đã được nâng cấp tại xã Kim Thủy và xã Lâm Thủy Sự cải thiện này đã mở rộng giao dịch buôn bán và giao lưu với bên ngoài, góp phần thay đổi diện mạo các xã và nâng cao đời sống người dân.

Xã Kim Thủy và xã Lâm Thủy đã hoàn thiện hệ thống điện lưới đến từng bản, giúp cải thiện đời sống người dân Tất cả các thôn bản đều được cung cấp nước sạch cho sinh hoạt, nâng cao chất lượng cuộc sống Điều kiện sống và trang thiết bị trong các hộ gia đình đang dần được cải thiện, với hầu hết các hộ đã sở hữu ti vi, và một số hộ đã trang bị tủ lạnh.

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là cung cấp dữ liệu về các loài bò sát, ếch nhái và thông tin liên quan nhằm hỗ trợ công tác bảo tồn và quản lý rừng bền vững tại khu vực KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.

+ Đánh giá được mức độ đa dạng thành phần loài bò sát, ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong;

+ Đánh giá được phân bố các loài bò sát, ếch nhái theo sinh cảnh, theo độ cao tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong;

+ Đề xuất được các giải pháp bảo tồn bò sát, ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong.

Đối tượng, phạm vi và thời gian nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các loài bò sát, ếch nhái

- Phạm vi nghiên cứu: Tại Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong, huyện

Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

- Thời gian nghiên cứu: Thời gian điều tra thực địa được thực hiện từ tháng

07 năm 2018 đến tháng 8 năm 2020 với tổng cộng 95 ngày thực địa với 38 lượt người tham gia, chi tiết xem bảng 3.1

Bảng 3.1 Nỗ lực nghiên cứu thực địa tại KDTTN Động Châu –

Khe Nước Trong Thời gian Số ngày thực địa Số lượt người tham gia

Nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu này nhằm xác định sự đa dạng về thành phần các loài bò sát và ếch nhái, đồng thời đánh giá sự tương đồng giữa các loài này trong khu vực nghiên cứu với các khu bảo tồn thiên nhiên (KBT) và vườn quốc gia (VQG) lân cận hoặc có sinh cảnh tương tự ở Bắc Trung Bộ và phía Bắc Việt Nam.

- Đặc điểm phân bố của các loài bò sát, ếch nhái theo các dạng sinh cảnh sống, theo độ cao ghi nhận loài

Đánh giá tình trạng bảo tồn của các loài bò sát và ếch nhái trong khu vực nghiên cứu là rất quan trọng, dựa trên các yếu tố như tính đặc hữu, tính quý hiếm và mức độ bị đe dọa Việc xác định các loài đặc hữu giúp hiểu rõ hơn về sự đa dạng sinh học của khu vực, trong khi đánh giá tính quý hiếm và mức độ đe dọa cung cấp thông tin cần thiết để xây dựng các biện pháp bảo tồn hiệu quả Sự bảo vệ các loài này không chỉ góp phần duy trì cân bằng sinh thái mà còn bảo tồn di sản tự nhiên cho các thế hệ tương lai.

- Xác định các nhân tố đe doạ đến quần thể bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu

- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái tại khu vực nghiên cứu.

Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp

Để tiến hành điều tra tại KDTTN Động, cần chuẩn bị các thiết bị và dụng cụ như bản đồ địa hình, GPS, la bàn, đèn pin, dao, túi sơ cứu, gậy bắt rắn, máy ảnh, thước, túi vải đựng mẫu, cồn xử lý mẫu, bộ đồ mổ, xi lanh, nhãn, bút kim, bút chì, lọ nhựa đựng mẫu vật và sổ tay ghi chép Điều tra sẽ được thực hiện theo 10 tuyến chính.

Tuyến điều tra Châu - Khe Nước Trong được thiết lập dựa trên bản đồ địa hình, thảm thực vật và sinh cảnh sống của bò sát, ếch nhái trong khu vực nghiên cứu Các tuyến chính được xây dựng theo các đường mòn tuần tra do Trung tâm Bảo tồn Thiên nhiên Việt thiết kế, với chi tiết thể hiện trong hình 3.1 và bảng 3.2 Tuyến phụ sẽ được thiết kế để đi qua các dạng sinh cảnh và độ cao khác nhau, chú trọng đến các điểm có nước, vách đá và thung lũng Mỗi tuyến điều tra được đánh dấu bằng các cây lớn hoặc địa vật cụ thể tại điểm đầu và điểm cuối.

Chọn điểm thu mẫu: Tập trung vào các khu vực ẩm ướt như ven suối, vũng nước, vách đá, cửa hang, trên cây và quan sát dưới mặt đất

Ghi chép các ghi nhận: Ghi các toạ độ bằng máy định vị vệ tinh GPS Garmin

78s (Hệ toạ độ VN-2000), ghi chép vào sổ thực địa Ghi độ ẩm bằng máy Rocktrail Z29592 Chụp ảnh bằng máy ảnh Canon Rebel XL2

Thời gian thu mẫu: Thời gian điều tra quan sát và thu thập mẫu vật ban ngày từ 09:00 - 16:00, ban đêm từ 19:00 - 24:00

Phương pháp thu mẫu vật chủ yếu sử dụng tay và các dụng cụ chuyên dụng như kẹp và gậy bắt rắn Mẫu vật được bảo quản trong túi vải hoặc túi nilon chắc chắn Sau khi chụp ảnh và thực hiện phân loại sơ bộ, một số mẫu phổ biến sẽ được thả lại tự nhiên, trong khi các mẫu đại diện sẽ được giữ lại để làm tiêu bản nghiên cứu.

Hình 3.1 Bản đồ các tuyến điều tra chính tại KDTTN Động Châu

Bảng 3.2 Các tuyến điều tra chính tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong

Tên tuyến Tọa độ điểm đầu Tọa độ điểm cuối

Tuyến 1: Rum Ho- Ngọn khe Đan 567120 1881520 561230 1880562 Tuyến 2: Cầu Khỉ - Ngọn khe Le 567914 1878860 563779 1877580 Tuyến 3: Cầu Khỉ -Ngọn khe Vàng 567914 1878860 567308 1874016 Tuyến 4: Trung Đoàn - Ngọn khe Lương 571069 1878527 569796 1874130 Tuyến 5: Trung Đoàn - Ngọn khe Máy Bay 574068 1879075 569948 1876631 Tuyến 6: TK527 - Ngọn khe Gõ 582886 1876659 578856 1875438

Tuyến 9: Chốt Rộp - Ngọn Kiến Giang 579400 1883584 574639 1879478 Tuyến 10: An Bai - TK529 578114 1885597 574776 1881649

Mẫu vật được gây mê bằng miếng bông thấm etyl acetate trong vòng 24 giờ Các mẫu cơ hoặc gan dùng cho phân tích sinh học phân tử (ADN) được bảo quản trong cồn 95% và được cách ly bằng formalin.

Sau khi gây mê, mẫu vật cần được gắn nhãn có đánh số ký hiệu, với nhãn và chỉ buộc không thấm nước và chữ viết không bị tan trong cồn Đối với ếch nhái, nhãn được buộc vào đầu gối Việc cố định mẫu cần đảm bảo hình dạng dễ phân tích hoặc quan sát sau này; sắp xếp mẫu vật theo hình dạng mong muốn, sau đó phủ vải màn hoặc giấy thấm và ngâm trong cồn 80-90% trong 8-10 tiếng Đối với mẫu bò sát và ếch nhái cỡ lớn, cần tiêm cồn 80% vào bụng và cơ để tránh thối hỏng mẫu.

Bảo quản mẫu vật: Để bảo quản lâu dài, sau khi cố định mẫu được chuyển sang ngâm trong cồn 70%

3.4.2 Phương pháp phân tích hình thái và định danh mẫu vật BSEN

3.4.2.1 Phương pháp phân tích hình thái mẫu vật BSEN

Các chỉ số hình thái được sử dụng theo nghiên cứu của Nguyen et al (2012) cho các loài ếch nhái, Phung & Ziegler (2011) cho các loài thằn lằn, và David et al (2012) cho các loài rắn Những chỉ số này được đo bằng thước kẹp điện tử Alpha-Tool, với độ chính xác tối thiểu là 0,01 mm Bảng 3.3 trình bày một số chỉ số chính.

Bảng 3.3 Bảng các chỉ số đo chính của BSEN

Stt Kí hiệu Giải thích

1 SVL Chiều dài mút mõm đến hậu môn

2 HH Chiều cao tối đa của đầu

3 HL Dài đầu: Đo từ mút mõm đến góc sau của xương hàm dưới

4 SNL Khoảng cách mút mõm đến mũi

5 SE Khoảng cách từ mõm đến mắt

6 NEL Khoảng cách từ góc trước của mắt đến mũi

7 SL Khoảng cách từ mút mõm đến góc trước của mắt

8 ED Đường kính lớn nhất của mắt theo chiều ngang

9 TED Khoảng cách từ bờ trước của màng nhĩ đến góc sau của mắt

10 TD Đường kính lớn nhất của màng nhĩ

11 HW Rộng đầu: Đo phần rộng nhất của đầu

12 IND Khoảng cách gian mũi (giữa 2 lỗ mũi)

13 AOD Khoảng cách góc trước giữa hai ổ mắt

14 IOD Khoảng cách gian ổ mắt: Đo khoảng cách hẹp nhất giữa 2 ổ mắt

15 UEW Rộng mí mắt: Phần rộng nhất của mí mắt trên

16 FLL Dài chi trước từ mép ngoài của đĩa ngón III đến nách

17 LAL Chiều dài cánh tay đo từ nách đến khuỷu tay

19 F2L Chiều dài ngón tay II

20 F3L Chiều dài ngón tay III (ngón dài nhất)

21 F4L Chiều dài ngón tay IV

22 FD3 Chiều rộng đĩa bám ngón tay III

23 MTTi Chiều dài củ bàn trong

Stt Kí hiệu Giải thích

24 MTTe Chiều dài củ bàn ngoài

25 HLL Dài chi sau từ mép ngoài đĩa ngón IV chân sau tới bẹn

26 FL Chiều dài đùi (từ lỗ huyệt đến đầu gối)

27 TL Chiều dài ống chân (từ đầu gối đến khớp cổ-bàn)

28 FOT Chiều dài bàn chân (từ khớp cổ bàn đến mút ngón IV)

32 T4L Chiều dài ngón IV (ngón dài nhất)

34 TD4 Chiều rộng đĩa bám ngón chân IV

35 TBW Chiều rộng ống chân

36 MTTi Chiều dài củ bàn trong

37 MTTe Chiều dài củ bàn ngoài Đuôi

3.4.2.2 Phương pháp định danh mẫu vật

So sánh hình thái của mẫu vật thu được với các mẫu đã được định tên tại Trường Đại học Lâm nghiệp, chúng tôi tiến hành định loại tên loài dựa trên các tài liệu của Inger et al (1999), Bain & Nguyen (2004), Bain et al (2006, 2009), Hendrix et al (2008), Nguyen Van Sang et al (2009), Nguyen Quang Truong et al (2012), và Ziegler & Vu.

Theo nghiên cứu của Nguyen Van Sang và cộng sự (2009), cùng với một số tài liệu mới công bố, tên khoa học và tên phổ thông của loài đã được xác định rõ ràng.

3.4.3 So sánh mức độ tương đồng về thành phần loài giữa các khu vực

Nghiên cứu này so sánh mức độ tương đồng về thành phần loài giữa KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong và các khu bảo tồn (KBT), vườn quốc gia (VQG) có sinh cảnh tương tự, bao gồm KBTTN Bắc Hướng Hóa, VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, và VQG Cúc Phương Dữ liệu thu thập từ thực địa và tài liệu đã công bố được phân tích bằng phần mềm PAST Statistic (Hammer et al 2001) Số liệu được mã hóa theo dạng đối xứng, với chỉ số tương đồng (Sorensen-Dice index) được tính theo công thức djk=2M/(2M+N), trong đó M là số loài ghi nhận ở cả hai vùng và N là tổng số loài chỉ ghi nhận ở một vùng.

3.4.4 Phương pháp đánh giá đặc điểm phân bố các loài bò sát, ếch nhái

3.4.4.1 Phân bố theo sinh cảnh

Dựa trên phân loại thảm thực vật của UNESCO năm 1973 và tác động của con người đến thảm thực vật theo tài liệu “Sổ tay hướng dẫn điều tra và giám sát đa dạng sinh học” (2003), cùng với hiện trạng rừng ở khu vực nghiên cứu và kết quả nghiên cứu thực địa, chúng tôi tiến hành đánh giá sự phân bố của các loài rắn trong ba dạng sinh cảnh chính: khu dân cư và đất nông nghiệp (bao gồm ao, vườn quanh nhà, và đất canh tác), rừng thứ sinh đang phục hồi (như rừng phục hồi sau nương rẫy, sau cháy, và rừng bị khai thác mạnh, cây bụi), và rừng thường xanh ít bị tác động (gồm rừng giàu, rừng cây lá rộng, và rừng hỗn giao thường xanh) Kết quả sẽ được trình bày theo mẫu biểu 01.

Mẫu biểu 01: Phân bố các loài rắn theo sinh cảnh tại khu vực nghiên cứu

Sinh cảnh ghi nhận Sinh cảnh

3.4.4.2 Phân bố theo độ cao

Tác giả Bain & Hurley (2011) đã phân chia khu vực Đông Dương thành hai đai độ cao dựa trên điều kiện tự nhiên, bao gồm địa hình và thảm thực vật, với độ cao dưới 800 m và trên 800 m Chúng tôi tuân thủ phương pháp phân chia này nhưng điều chỉnh theo đặc điểm sinh cảnh và mức độ tác động của con người tại KDTTN, chia độ cao tại KVNC theo từng mức 400 m Cụ thể, dưới 400 m là khu vực dân cư, từ 400 m đến 800 m là rừng thứ sinh đang phục hồi, và trên 800 m là rừng thường xanh ít bị tác động Kết quả sẽ được trình bày theo mẫu biểu 02.

Mẫu biểu 02: Phân bố thành phần loài rắn theo độ cao tại KBT Nam Động

Tên phổ thông Đai cao (m)

3.4.5 Đánh giá tình trạng bảo tồn

Đánh giá tình trạng bảo tồn dựa trên các căn cứ pháp lý như Nghị định 06/2019/NĐ-CP và Nghị định 64/2019/NĐ-CP của Chính phủ, cùng với các căn cứ khoa học từ Sách Đỏ Việt Nam (2007) và Danh lục Đỏ IUCN (2020) Các loài chỉ ghi nhận phân bố ở Việt Nam được xem là đặc hữu, góp phần quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học.

Xác định khu vực ưu tiên bảo tồn các loài bò sát và ếch nhái dựa trên kết quả đánh giá tình trạng bảo tồn kết hợp với dữ liệu phân bố của chúng Xây dựng bộ tiêu chí phân vùng ưu tiên bảo tồn theo tiểu khu, chia thành 03 mức độ: cao, trung bình và thấp.

3.4.6 Xác định các mối đe dọa Đánh giá và xác định các mối đe dọa thông qua quan sát trực tiếp trên thực địa và phỏng vấn bán cấu trúc đối với người dân địa phương, cán bộ kiểm lâm của Hạt Kiểm lâm huyện Lệ Thủy, Quảng Ninh cán bộ Bảo vệ rừng của KDTTN Động Châu

Tư liệu nghiên cứu

- Đã phân tích đặc điểm hình thái của 207 mẫu bò sát, ếch nhái thu thập tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong năm 2018, 2019 và 2020

- Tham khảo các mẫu vật lưu giữ tại Trường Đại học Lâm Nghiệp (VNUF)

- Tham khảo các mẫu vật lưu giữ tại Bảo tàng khoa học VQG Cúc Phương

Các tài liệu trong nước và quốc tế, bao gồm sách, tạp chí khoa học, báo cáo và luận văn tốt nghiệp thạc sĩ, đều liên quan đến nghiên cứu về bò sát và ếch nhái.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Đa dạng về thành phần loài BSEN tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong21 1 Đa dạng thành phần loài bò sát tại Khu DTTN Động Châu - Khe Nước

Dựa trên việc phân tích 204 mẫu vật và quan sát 3 mẫu rùa, nghiên cứu đã xác định được 56 loài, bao gồm 34 loài bò sát và 22 loài ếch nhái, thuộc 42 giống và 18 họ tại KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong So với nghiên cứu trước đó của Phạm Thế Cường và cộng sự (2019), kết quả này ghi nhận thêm 16 loài mới, trong đó có 11 loài bò sát và 5 loài ếch nhái.

Trong nghiên cứu về động vật tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, đã ghi nhận 16 giống (11 giống bò sát và 04 giống ếch nhái) thuộc 10 họ (07 họ bò sát và 03 họ ếch nhái), trong đó có 01 loài mới cho tỉnh Quảng Bình Ba họ mới được bổ sung vào danh mục, nâng tổng số họ bò sát và ếch nhái lên 21 họ với 83 loài Tuy nhiên, so với nghiên cứu của Phạm Thế Cường và cộng sự (2019), nghiên cứu này không ghi nhận được 03 họ (Lacertidae, Pythonidae, và Pareatidae) và thiếu 27 loài (15 loài bò sát và 12 loài ếch nhái) so với kết quả trước đó.

4.1.1 Đa dạng thành phần loài bò sát tại K hu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong

Chúng tôi đã phân tích 129 mẫu vật bò sát và quan sát 3 mẫu rùa, từ đó xác định được 34 loài bò sát Kết hợp với nghiên cứu trước đây, danh lục bò sát tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong hiện có 49 loài thuộc 32 giống, 15 họ và 2 bộ Tuy nhiên, 15 loài bò sát được ghi nhận trong tài liệu nghiên cứu trước không được tìm thấy trong nghiên cứu này Trong số 34 loài được xác định, chúng tôi đã bổ sung 11 loài mới cho KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, trong đó có Rắn khuyết lào (Lycodon laoensis) được ghi nhận là phân bố mới cho tỉnh Quảng Bình Đặc biệt, chúng tôi đã ghi nhận 3 họ mới cho khu vực này, bao gồm họ Thằn lằn Rắn (Anguidae), họ Rắn bồng (Homalopsidae) và họ Rắn hổ xiên (Pseudoxenodontidae).

Bảng 4.1 Danh lục các loài bò sát tại Khu DTTN Động Châu –

TT Tên khoa học Tên Việt Nam

Nguồn tài liệu Phạm Thế Cường và cs (2019)

1 Acanthosaura lepidogaster (Cuvier, 1829) Ô rô vẩy x x

2 Calotes versicolor (Daudin, 1802) Nhông xám x x

3 C.emma Gray, 1845 Nhông em-ma x x

4 Physignathus cocincinus Cuvier, 1829 Rồng đất x x

Rửsler, Nguyen, Vu, Ngo & Ziegler, 2008

Thạch sùng ngón giả bốn vạch x X

6 Gekko reevesii (Linnaeus, 1758) Tắc kè x X

7 Hemidactylus frenatus (Schlegel, 1836) Thạch sùng đuôi sần x X

3 Lacertidae Họ Thằn lằn chính thức

8 Takydromus hani Chou, Nguyen & Pauwels,

4 Scincidae Họ Thằn lằn bóng

9 Eutropis longicaudatus (Hallowell, 1857) Thằn lằn bóng đuôi dài x x

10 Plestiodon quadrilineatus Blyth, 1853 Thằn lằn tốt mã bốn vạch x x

1983) Thằn lằn cổ đuôi đỏ x x

12 S melanosticta (Boulenger, 1887) Thằn lằn cổ x x

13 Sphenomorphus indicus (Gray, 1853) Thằn lằn phê-nô ấn độ x x

14 S maculatus (Blyth, 1853) Thằn lằn phê-nô đốm x x

Bibron, 1839 Thằn lằn tai nam bộ x x

5 Anguidae Họ Thằn lằn rắn

16 Dopasia harti (Boulenger, 1899) * Thằn lằn rắn hác x

17 Python molurus (Linnaeus, 1758) Trăn đất x

19 Ahaetula prasina (Boie, 1827) Rắn roi thường x x

20 Dendrelaphis pictus (Gmelin, 1789)* Rắn leo cây thường x

21 Boiga guangxiensis Wen, 1998* Rắn rào quảng tây x

22 B.kraepelini (Stejneger, 1902) Rắn rào k-ra-pe-lin x

23 Coelognathus radiatus (Boie, 1827)* Rắn sọc dưa x

TT Tên khoa học Tên Việt Nam

Nguồn tài liệu Phạm Thế Cường và cs (2019)

24 Chrysopelea ornata (Shaw, 1802) Rắn cườm X

25 Ptyas multicinctus (Roux, 1907) Rắn nhiều đai X x

26 Lycodon futsingensis (Pope, 1928) Rắn khuyết fut sing x

L ruhstrati abditus (Vogel, David, Pauwels,

Sumontha, Norval, Hendrix, Vu & Ziegler,

28 Lycodon laoensis Günther, 1864** Rắn khuyết lào x

29 L.cf rosozonatum (Hu & Zhao, 1972) Rắn lệch đầu hồng x x

30 Oligodon chinensis (Günther, 1888)* Rắn khiếm trung quốc x

31 Oreocryptophis porphyraceus (Cantor, 1839) Rắn sọc đốm đỏ x

32 Rhynchophis boulengeri Mocquard, 1897 Rắn vòi x

8 Natricidae Họ Rắn nước chính thức

33 Parahelicops annamensis Bourret, 1934 Rắn bình mũi trung bộ x

34 Rhabdophis subminiatus (Schlegel, 1837) Rắn sãi cổ đỏ x

35 R chrysargos ( Shhlegel,1837)* Rắn hoa cỏ vàng x

36 Trimerodytes percarinatus (Boulenger, 1899) Rắn hoa cân vân đen x

9 Pareatidae Họ Rắn hổ mây

37 Pareas hamptoni (Boulenger, 1905) Rắn hổ mây ham-tơn x

38 Bungarus fasciatus (Schneider, 1801) Rắn cạp nong x

39 B multifasciatus Blyth, 1860 Rắn cạp nia bắc x x

40 Naja cf atra Cantor, 1842 Rắn hổ mang trung quốc x

41 Hypsiscopus plumbea (Boie, 1827)* Rắn bồng chì x

12 Pseudoxenodontidae Họ Rắn hổ xiên

42 Pseudoxenodon bambusicola Vogt, 1922* Rắn hổ xiên tre x

43 Protobothrops muscrosquamatus (Cantor, 1839) Rắn lục cườm x x

44 Trimeresurus stejnegeri Schmidt, 1925 Rắn lục xanh x x

14 Platysternidae Họ Rùa đầu to

45 Platysternon megacephalum Gray, 1930 Rùa đầu to x x

46 Cuora bourreti Obst & Reimann, 1994 Rùa hộp bua-rê x

47 C.mouhotii (Gray, 1862) Rùa sa nhân x

48 Cyclemys oldhamii Gray, 1863* Rùa đất sepon x

49 Sacalia quadriocellata (Siebenrock, 1903) Rùa bốn mắt x x

Ghi chú: * Loài ghi nhận mới cho KDTTN ** Loài ghi nhận mới cho tỉnh Quảng Bình

1Phạm Thế Cường và cs (2019)

Xét theo tính đa dạng về giống thì họ Rắn nước Colubridae đa dạng nhất với

Trong tổng số giống bò sát ghi nhận được, họ Rắn chiếm ưu thế với 10 giống, tương đương 31,2% Tiếp theo là họ Thằn lằn Scincidae với 5 giống, chiếm 15,6% Các họ Nhông Agamidae, Tắc kè Gekkonidae và Rắn nước Natricidae đều có 3 giống mỗi họ Hơn nữa, họ Rắn hổ Elapidae, Rắn lục Viperidae và Rùa đầm Geoemydidae ghi nhận 2 giống, trong khi các họ còn lại chỉ có 1 giống duy nhất.

Họ Rắn nước Colubridae là họ có tính đa dạng thành phần loài cao nhất với 14 loài, chiếm 28,57% tổng số loài ghi nhận Tiếp theo là họ Thằn lằn Scincidae với 7 loài, tương đương 14,28% tổng số loài Ba họ khác ghi nhận 4 loài gồm họ Nhông Agamidae, Rắn nước Natricidae (8,16% tổng số loài) và Rùa đầm Geomydidae Họ Tắc kè Gekkonidae, Rắn hổ Elapidae, Rắn lục Viperidae và Trăn Pythonidae mỗi họ ghi nhận 3 loài và 2 loài tương ứng Các họ còn lại đều ghi nhận 1 loài.

Hình 4.1 Đa dạng các họ bò sát theo giống và loài

4.1.2 Đa dạng thành phần loài Ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong

Kết quả phân tích 75 mẫu vật cho thấy đã định danh được 23 loài ếch nhái Kết hợp với tài liệu nghiên cứu trước, chúng tôi cập nhật danh lục ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, bao gồm 34 loài thuộc 19 giống và 6 họ Đáng chú ý, có 5 loài ếch nhái được ghi nhận bổ sung cho khu vực này, trong khi 12 loài đã được ghi nhận trước đó.

Số giống Số loài nghiên cứu trước nhưng không ghi nhận được trong nghiên cứu này (Chi tiết xem bảng 4.2.)

Bảng 4.2 Danh lục các loài ếch nhái tại Khu DTTN Động Châu

Stt Tên khoa học Tên Việt Nam

2 Ingerophrynus macrotis (Boulenger, 1887) Cóc tai to x

3 Brachytarsophrys intermedia (Smith, 1921) Cóc mắt trung gian x x

Richards, Phimmachak & Sivongxay, 2010) Cóc núi nâu x

6 Megophrys maosonensis Boulenger, 1937 Cóc mắt bên x x

7 M microstoma Boulenger, 1903* Cóc núi miệng nhỏ x

8 M gerti (Ohler, 2003) Cóc núi gớt x

9 Microhyla heymonsi Vogt, 1911 Nhái bầu hây môn x x

10 M marmorata (Bain & Nguyen, 2004) Nhái bầu hoa cương x

11 M pulchra (Hallowell, 1861) Nhái bầu vân x x

4 Dicroglossidae Họ Ếch nhái chính thức

13 Limnonectes kiziriami Ye, Fei & Jiang,

14 L limborgi (Sclater, 1892) Ếch lim-boc x x

15 L poilani (Bourret, 1942) Ếch poa-lan x x

16 Quasipaa verrucospinosa (Bourret, 1937) Ếch gai sần x x

17 Amolops cremnobatus Inger et Kottelat,

18 Hylarana attigua (Inger, Orlov & Darevsky, Ếch đồng dạng x

Stt Tên khoa học Tên Việt Nam

20 Sylvirana guentheri (Boulenger, 1882)* Chẫu chuộc x

21 S maosonensis (Bourret, 1937)* Chàng mẫu sơn x

22 Odorrana chloronota (Günther, 1875) Ếch xanh x

23 O morafkai (Bain, Lathrop, Murphy, Orlov

& Ho, 2003) Ếch mô-ráp-ka x

24 Rana johnsi Smith, 1921 Hiu hiu x x

25 Kurixalus banaensis (Bourret, 1939) Nhái cây bà nà x

26 K bissaculus (Taylor, 1962) Nhái cây sần nhỏ x x

27 Polypedates megacephalus Hallowell, 1861 Ếch cây đầu to x x

28 Rhacophorus annamensis Smith, 1924 Ếch cây trung bộ x x

29 Zhangixalus dennysi (Blanford, 1881)* Ếch cây đốm xanh x

1999 Ếch cây nếp da mông x

31 R orlovi Ziegler & Kohler, 2001 Ếch cây oóc-lốp x x

32 Theloderma asperum (Boulenger, 1886) Ếch cây sần a-x-pơ x

33 T corticale (Boulenger, 1903)* Ếch cây sần bắc bộ x

O RLOV & H O , 2005 Nhái cây trường sơn x x

Ghi chú: * Loài ghi nhận mới cho KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong

Theo nghiên cứu của Phạm Thế Cường và cộng sự (2019), trong 6 họ động vật ghi nhận tại KDTTN, họ Ếch nhái Ranidae có sự đa dạng giống cao nhất với 5 giống, chiếm 26,3% tổng số giống Tiếp theo là họ Ếch cây Rhacophorus và họ Cóc bùn Megophrydae với 4 giống mỗi họ Họ Ếch nhái chính thức Dicroglossidae ghi nhận 3 giống, trong khi họ Cóc Bufonidae có 2 giống, và cuối cùng, họ Nhái bầu Microhylidae chỉ ghi nhận 1 giống.

Hình 4.2 Đa dạng các họ ếch nhái theo giống và loài

Họ Ếch cây Rhacophorus là họ đa dạng loài nhất với 10 loài, chiếm 29,4% tổng số loài, tiếp theo là họ Ếch nhái Ranidae với 8 loài, họ Cóc bùn Megophrydae với 6 loài, họ Ếch nhái với 5 loài, họ Nhái bầu Microhylidae với 3 loài và họ Cóc Bufodidae với 2 loài.

Mô tả một số đặc điểm hình thái các loài Bò sát, ếch nhái ghi nhận mới cho Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong

4.2.1 Đặc điểm hình thái các loài bò sát ghi nhận mới cho KVNC

So với nghiên cứu của Phạm Thế Cường và cộng sự (2019), nghiên cứu này đã bổ sung thêm 3 họ cho Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong và ghi nhận một số loài mới.

12 loài cho KVNC, trong đó có 10 loài bò sát có vảy và 1 loài rùa: Thằn lằn rắn hác

Dopasia harti (Boulenger, 1899), Rắn leo cây thường Dendrelaphis pictus (Gmelin,

1789), Rắn rào quảng tây Boiga guangxiensis (Wen, 1998), Rắn sọc dưa Coelognathus radiatus (Boie, 1827), Rắn lệch đầu fut sing Lycodon futsingensis

The article discusses various snake species, including the Laotian rat snake (Lycodon laoensis), identified by Günther in 1864, the Chinese kukri snake (Oligodon chinensis), described by Günther in 1888, the golden-ribboned rat snake (Rhabdophis chrysargos), named by Schlegel in 1837, the Boie's rat snake (Hypsiscopus plumbea), recognized by Boie in 1827, and the bamboo pit viper.

Pseudoxenodon bambusicola (Vogt, 1922), Rùa đất sepon Cyclemys oldhamii

(Gray, 1863) Một số đặc điểm hình thái của các loài này được trình bày cụ thể ở phần dưới đây:

Hình 4.3 Các loài bò sát ghi nhận mới tại KVNC

Họ Thằn lằn rắn Anguidae

1 Thằn lằn Rắn hác Dopasia harti (Boulenger, 1899)

Mẫu vật nghiên cứu (n = 1): 01 mẫu cái kí hiệu KNT.19.45 Đặc điểm nhận dạng: SVL 120,5 mm 16 hàng vảy giữa hai nếp gấp sườn;

Hàng vảy dọc nếp gấp sườn có 95 chiếc, với mặt lưng màu nâu xám hoặc trắng-kem Dọc lưng có các sọc ngang sẫm màu, trong khi hai bên lưng có sọc sẫm nhỏ kéo dài từ sau mắt tới mút đuôi Bụng có màu trắng đục, theo định loại của Nguyen et al (2011).

Thông tin khác về mẫu: Mẫu vật được thu vào khoảng 9h30, ở ven đường mòn có nhiều lá khô, trong rừng phục hồi

Hình 4.4 Thằn lằn Rắn hác Dopasia harti

The article discusses various families of amphibians and reptiles, including the Gekkonidae, Lacertidae, Scincidae, Anguidae, Pythonidae, Colubridae, Natricidae, Pareatidae, Elapidae, Homalopsidae, Pseudoxenodontidae, Viperidae, Platysternidae, Geomydidae, Bufonidae, Megophryidae, Microhylidae, Dicromanthidae, Ranidae, and Rachophoridae Each family represents a unique group within the broader classifications of these cold-blooded vertebrates, showcasing their diversity in species and habitats.

Phạm Thế Cường và cộng sự Nghiên cứu này

2 Rắn leo cây thường Dendrelaphis pictus (Gmelin, 1789)

Mẫu vật nghiên cứu (n=1): 01 mẫu đực KNT.19.30 (SVL 685,2 mm, TaL

303 mm) Đặc điểm nhận dạng: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của

Theo nghiên cứu của Smith (1943), Nguyễn Văn Sáng (2007), Ngô Đắc Chứng và Dương Đức Lợi (2016), kích thước của một loài cá được mô tả với chiều dài đầu 20,2 mm và chiều rộng đầu 9,6 mm, có đặc điểm đầu phân biệt với cổ Tấm gian mũi dài 1,9 mm và tấm trước trán dài 2,5 mm Tỉ lệ DSR là 15-11-11, với 201 tấm bụng và 145 vảy dưới đuôi, được chia đôi Tấm hậu môn cũng chia, trong khi môi trên có 9 tấm, với tấm thứ 3, 4, 5 tiếp giáp mắt bên trái và tấm 4, 5, 6 tiếp giáp mắt bên phải, trong đó tấm thứ 5/6 là lớn nhất Môi dưới cũng có 9 tấm, với 4 tấm tiếp giáp tấm sau cằm trước, 1 tấm trước ổ mắt, 2 tấm sau ổ mắt, 2 tấm thái dương trước và 2/3 tấm thái dương sau.

Mẫu sống có màu sắc đặc trưng với mặt lưng vàng nâu, nổi bật bởi đường đen kéo dài từ mõm qua mắt đến gáy Dọc sườn, một đường vàng nhạt viền đen tạo thêm điểm nhấn Môi, họng và bụng của mẫu sống mang màu vàng rất nhạt, tạo nên sự hài hòa trong tổng thể màu sắc.

Mẫu vật thu được đã chết do bị xe cán trên đường, trong một khu vực sinh thái xung quanh là rừng trồng keo với nhiệt độ môi trường là 27,0°C và độ ẩm 65,0% Loài này chủ yếu ăn ếch nhái, thằn lằn và chim nhỏ (theo Nguyễn Văn Sáng, 2007).

Loài này ở Việt Nam phân bố từ Điện Biên đến Cà Mau, trong khi trên thế giới, chúng được tìm thấy tại Ấn Độ, Nê-pan, Trung Quốc và các nước Đông Nam Á (Nguyen et al.).

2009) Loài ghi nhận phân bố mới cho KVNC

Hình 4.5 Rắn leo cây thường Dendrelaphis pictus (Ảnh: Hà Văn Nghĩa)

3 Rắn rào quảng tây Boiga guangxiensis (Wen, 1998)

Mẫu vật nghiên cứu (n=1) là một mẫu cái (KNT.19.34) có đặc điểm hình thái phù hợp với mô tả của Ziegler et al (2007) Kích thước của mẫu vật bao gồm SVL 985 mm, TaL 380 mm, với đầu dài hơn rộng (HL 23,32 mm, HW 13,2 mm) Mẫu vật có mắt lớn hình bầu dục, tấm thái dương trước 2/2, tấm sau thái dương 3/3, vảy môi trên 8/8, vảy môi dưới 10/10, hàng vảy thân 23:15:15, vảy bụng 270 và vảy dưới đuôi 145.

Mẫu sống có màu sắc đặc trưng với đầu và thân màu nâu đỏ, phía trước thân có các khoang màu đỏ đen, nhưng những khoang này dần mờ và không rõ ở phần cuối thân Bụng của mẫu sống mang màu vàng nhạt.

Một số đặc điểm sinh thái: Mẫu vật được thu khi đang trườn trên mặt đất rừng ở rừng thứ sinh tự nhiên

Hình 4.6 Rắn rào quảng tây Boiga guangxiensis

4 Rắn sọc dưa Coelognathus radiatus (Boie, 1827)

Mẫu vật nghiên cứu (n=1) bao gồm 01 mẫu đực (KNT.19.36) với các đặc điểm hình thái phù hợp với mô tả của Hoàng Xuân Quang và cộng sự (2012) Kích thước của mẫu vật là 925 mm chiều dài thân (SVL) và 180 mm chiều dài đuôi (TailL) Đầu mẫu vật dài và phân biệt rõ với cổ, mắt có kích thước trung bình với con ngươi hình tròn Lỗ mũi nằm giữa tấm mũi chia, tấm mõm rộng hơn chiều cao và có thể nhìn thấy một phần từ phía trên Hai tấm gian mũi nhỏ hơn hai tấm trước trán, tấm trán dài hơn rộng và chạm tấm trước mắt ở một điểm Mẫu vật có một tấm má dài hơn chiều cao, nằm trên tấm mép trên thứ hai và thứ ba, cùng với một tấm trước mắt cao và hai tấm sau mắt Tấm thái dương có 2 + 2 và có tổng cộng 9 tấm mép trên, trong đó tấm thứ 4 nổi bật.

Loài này có 5 và 6 chạm mắt, với 10 tấm mép dưới mỗi bên, trong đó 4 tấm đầu tiên chạm vào tấm sau cằm thứ nhất Tấm cằm nhỏ, hình tam giác và viền tấm cằm nhỏ hơn viền tấm mõm Có 2 cặp tấm sau cằm, cặp thứ nhất lớn hơn cặp thứ hai, tiếp xúc nhau, trong khi cặp thứ hai được phân cách bởi 1 + 2 vảy họng Vảy thân có 19 hàng, với gờ yếu ngoại trừ hàng vảy ngoài cùng nhẵn; có 227 vảy bụng và 60 vảy dưới đuôi, kép Tấm hậu môn nguyên vẹn Thân và đầu có màu nâu hồng, xung quanh mắt có 3 vệt đen nhỏ, bao gồm 2 vệt chạy xuống môi và 1 vệt nối với vòng đen ở phía bên gáy Lưng có màu nâu xám hoặc xám, với 4 sọc đen chạy dọc tới quá nửa thân, trong đó 2 sọc giữa lưng to và liên tục, còn 2 sọc hai bên mảnh hơn và đứt đoạn Bụng có màu vàng nhạt.

Phân bố: Việt Nam: Khắp các vùng trong cả nước

Hình 4.7 Rắn sọc dưa Coelognathus radiatus

5 Rắn lệch đầu fut sing Lycodon futsingensis (Pope, 1928)

Mẫu vật nghiên cứu (n =1): 01 mẫu đực KNT19.35 (SVL 470,0 mm, TaL 130,0 mm) Đặc điểm nhận dạng: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của

Bourret (1936), Nguyễn Văn Sáng (2007), Vogel et al (2009), Luu et al (2013b),

Nguyễn và cộng sự (2016), Phạm và cộng sự (2017), Nguyễn và cộng sự (2018) mô tả đặc điểm hình thái của loài với thân dài và đầu phân biệt rõ ràng so với cổ Cụ thể, loài này có 02 tấm thái dương trước, 03 tấm thái dương sau, 01 tấm má không chạm vào mắt, 01 tấm trước ổ mắt, 02 tấm sau ổ mắt Môi trên gồm 08 tấm, trong đó tấm thứ 3, 4, 5 tiếp giáp với mắt, tấm số 06 là lớn nhất Môi dưới có 10 tấm, với 05 tấm tiếp giáp với tấm sau cằm trước DSR là 17-17-15, bề mặt trơn; tấm bụng có 201 tấm; tấm hậu môn đơn và có vảy dưới đuôi.

Màu sắc mẫu sống: Màu sắc màu xám đen có 19 vòng trắng quanh thân, có

14 vòng trắng quanh đuôi, bụng màu trắng đục

Mẫu vật được thu thập vào ban đêm trong khoảng thời gian từ 19h30 đến 21h20, khi nhiệt độ môi trường dao động từ 22,9 đến 24,1 độ C và độ ẩm không khí từ 88,0 đến 93,0% Chúng đang di chuyển gần ven suối trong sinh cảnh rừng thường xanh núi đất.

Loài này được phân bố rộng rãi tại Việt Nam, từ Lào Cai đến Đà Nẵng Trên thế giới, chúng có mặt ở các quốc gia như Trung Quốc, Đài Loan, Mi-an-ma, Lào và Nhật Bản (Nguyen et al 2009, Nguyen et al 2016, Vogel et al 2009) Đây là một ghi nhận mới về phân bố của loài.

Hình 4.8 Rắn lệch đầu fut sing Lycodon futsingensis

6 Rắn khuyết lào Lycodon laoensis (Günther, 1864)

Mẫu vật nghiên cứu (n =1): 01 mẫu cái kí hiệu thực địa KNT 19.42

Đặc điểm phân bố các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC

4.3.1 Phân bố các loài bò sát theo đai cao

Có 20 loài bò sát được ghi nhận ở độ cao dưới 400 m như: Thạch sùng đuôi sần, Hemidactylus frenatus, Ô rô vẩy Acanthosaura lepidogaster, Nhông xám

Calotes versicolor, Nhông em-ma Calotes emma, Rồng đất Physignathus cocincinus…

Có 25 loài bò sát được ghi nhận ở độ cao từ 400 - 800m như: Ô rô vẩy

Acanthosaura lepidogaster, Nhông xám Calotes versicolor, Nhông em-ma Calotes emma, Rồng đất Physignathus cocincinus, Rắn khiếm Trung Quốc Oligodon chinensis, Rắn hoa cỏ vàng Rhabdophis chrysargos…

Có 5 loài bò sát được ghi nhận từ độ cao trên 800 m: Thạch sùng ngón giả bốn vạch Cyrtodactylus cf pseudoquadrivirgatus, Gekko reevesii, Rắn roi thường

Ahaetula prasina, Rắn lệch đầu hồng Lycodon rosozonatus, Rắn hổ xiên tre

Pseudoxenodon bambusicola Độ cao từ 400 – 800 m có mức độ đa dạng về loài với 25 loài bò sát ( so với

Trong đợt nghiên cứu này, đã ghi nhận 31 loài bò sát, cho thấy độ cao trên 800 m rất thuận lợi cho sự sinh sống và phát triển của nhiều loài Ngược lại, ở độ cao 800 m chỉ ghi nhận được 5 loài, điều này có thể do điều kiện điều tra hạn chế và sự phân bố ít ỏi của các khu vực trên 800 m trong khu vực nghiên cứu.

Hình 4.20 Phân bố các loài bò sát theo đai cao

4.3.1.2 Phân bố các loài ếch nhái theo đai cao

Kết quả phân tích cho thấy tại KVNC, các loài ếch nhái phân bố chủ yếu ở độ cao dưới 400 m, với 11 loài được ghi nhận, bao gồm Nhái bầu hây môn (Microhyla heymonsi) và Nhái bầu vân (Microhyla pulchra).

Từ 400 - 800m có 15 loài được ghi nhận gồm các loài như Ếch nhẽo

Limnonectes bannaensis, Ếch lim-boc Limnonectes limborgi, Ếch poa-lan

Limnonectes poilani, Cóc mắt bên Megophrys majo…

Từ độ cao 800m có 2 loài được ghi nhận gồm Ếch gai sần Quasipaa verrucospinosa, Ếch cây sần bắc bộ Theloderma corticale

Ta thấy được độ cao từ 400 - 800 m thì số loài ghi nhận được nhiều nhất với

Trong đợt điều tra này, đã ghi nhận 15 loài ếch nhái trong tổng số 19 loài Điều này cho thấy độ cao của khu vực là môi trường lý tưởng cho sự sinh sống của nhiều loài ếch nhái.

Sốloài Độ cao trên 800 m ghi nhận được số loài ít nhất với 2 loài do thời gian ít và sinh cảnh ở đây đi lại điều tra khó khăn

Hình 4.21 Phân bố các loài ếch nhái theo đai cao

4.3.2 Phân bố bò sát, ếch nhái theo sinh cảnh

Các tác giả đã đưa ra nhiều cách phân loại sinh cảnh khác nhau tùy thuộc vào đối tượng và khu vực nghiên cứu Trần Ngũ Phương (1970) phân loại rừng miền Bắc Việt Nam dựa trên các yếu tố đất đai, khí hậu và độ cao UNESCO (1973) chia thảm rừng Việt Nam thành hai lớp quần hệ Thái Văn Trừng (1999) phân loại thành các kiểu thảm thực vật khác nhau Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cũng có những đóng góp trong việc phân loại này.

Năm 2009, các tiêu chí xác định và phân loại rừng Việt Nam đã được đưa ra, và vào năm 2012, Vũ Tấn Phương cùng các đồng nghiệp đã phân chia thành 10 kiểu rừng khác nhau Chúng tôi áp dụng quan điểm phân chia các dạng sinh cảnh của Lê Nguyên Ngật (2003) trong Sổ tay hướng dẫn điều tra và giám sát đa dạng sinh học Dựa vào đối tượng nghiên cứu, điều kiện tự nhiên (địa hình, thảm thực vật) và mức độ tác động của con người tại KVNC, chúng tôi phân chia KVNC thành 3 sinh cảnh chính: khu dân cư và đất nông nghiệp (bao gồm ao, vườn quanh nhà, đất canh tác), rừng thứ sinh đang phục hồi (gồm rừng phục hồi sau nương rẫy, sau cháy, rừng bị khai thác mạnh, cây bụi) và rừng thường xanh ít bị tác động (bao gồm rừng giàu, rừng cây lá rộng, rừng hỗn giao thường xanh).

4.3.2.1 Phân bố các loài bò sát theo sinh cảnh

Biểu đồ hình 4.22 cho thấy rằng số lượng loài bò sát phong phú nhất tập trung ở dạng sinh cảnh rừng thường xanh, với 25 loài, chiếm 50% tổng số loài.

Sốloài bò sát tại KDTTN) Đây là sinh cảnh rừng giàu chủ yếu ở các tiểu khu như 517,

Sinh cảnh này ghi nhận nhiều loài bò sát như Rồng đất, Thạch sùng ngón giả bốn vạch, Tắc kè và Rắn lục cườm Điều này cho thấy rằng đây là môi trường lý tưởng cho sự sinh sống và phát triển của các loài bò sát.

Sinh cảnh rừng thứ sinh đang phục hồi tại KDTTN ghi nhận 16 loài bò sát, chiếm 32% tổng số loài Rừng phục hồi chủ yếu phân bố ở các tiểu khu 523, 524, 527,… Các loài bò sát đáng chú ý bao gồm Thằn lằn bóng đuôi dài, Thằn lằn phê nô ấn độ, và Rắn nhiều đai.

Sinh cảnh khu dân cư và đất nông nghiệp ghi nhận ít loài bò sát nhất, với chỉ 7 loài, chiếm 14% tổng số loài tại khu vực KDTTN Đây là nơi phân bố chủ yếu các loài bò sát phổ biến như Thằn lằn bóng đuôi dài, Rắn sọc dưa, và Ô rô vảy.

Hình 4.22 Phân bố các loài bò sát theo sinh cảnh tại KVNC

4.3.2.2 Phân bố các loài ếch nhái theo sinh cảnh

Biểu đồ hình 4.23 cho thấy sinh cảnh rừng thường xanh ít bị tác động và ghi nhận 19 loài ếch nhái, chiếm 38% tổng số loài ếch nhái của KDTTN Các loài ếch nhái như Cóc mắt bên, Ếch gai sần, và Ếch cây trung bộ được phát hiện trong sinh cảnh này, cho thấy đây là môi trường lý tưởng cho sự sinh sống và phát triển của nhiều loài ếch nhái.

Khu dân cư và đất nông nghiệp Rừng thứ sinh đang phục hồi Rừng thường xanh ít bị tác động

Sinh cảnh rừng thứ sinh đang phục hồi đã ghi nhận 16 loài ếch nhái, chiếm 32% tổng số loài ếch nhái tại KDTTN Các loài ếch nhái đáng chú ý bao gồm Hiu hiu, Ếch cây oóc-lốp và Chàng mẫu sơn.

Khu dân cư và đất nông nghiệp ghi nhận ít loài ếch nhái nhất, chỉ với 6 loài, chiếm 12% tổng số loài ếch nhái của khu vực Các loài ếch nhái như Ếch cây đầu to, Chẫu chuộc, và Ngóe được tìm thấy tại đây Sự gần gũi với dân cư khiến sinh cảnh này dễ bị tác động từ hoạt động của con người, bao gồm việc thu bắt ếch nhái làm thực phẩm và thương mại, dẫn đến sự hiện diện chủ yếu của các loài thông thường trong khu vực này.

Hình 4.23 Phân bố các loài ếch nhái theo sinh cảnh tại KVNC

So sánh sự tương đồng của bò sát, ếch nhái KVNC với các VQG và KBT khác ở Việt Nam

Để đánh giá sự tương đồng về thành phần loài bò sát và ếch nhái giữa các khu bảo tồn lân cận có sinh cảnh tương tự với KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, chúng tôi đã sử dụng số liệu từ ba khu bảo tồn thiên nhiên và vườn quốc gia Cụ thể, dữ liệu được lấy từ KBTTN Bắc Hướng Hoá theo nghiên cứu của Nguyen Thanh Luan et al (2016) và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng theo Luu et al.

(2013), VQG Cúc Phương theo Nguyễn Huy Quang và cs (2018)

Khu dân cư và đất nông nghiệp Rừng thứ sinh đang phục hồi Rừng thường xanh ít bị tác động

Kết quả đánh giá cho thấy KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong có sự đa dạng về thành phần loài lớn hơn so với KBTTN Bắc Hướng Hoá, nhưng kém hơn so với VQG Cúc Phương và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng Sự khác biệt này có thể do diện tích rộng hơn và số lượng nghiên cứu nhiều hơn ở hai VQG này Chỉ số tương đồng Sorensen-Dice cho thấy KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong có mức độ tương đồng cao nhất về thành phần loài bò sát, ếch nhái với VQG Phong Nha - Kẻ Bàng (djk = 0,51) và thấp nhất với KBTTN Bắc Hướng Hoá (djk = 0,39) Điều này có thể giải thích bởi vị trí địa lý tương đồng giữa KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng, cùng thuộc một tỉnh, trong khi KBTTN Bắc Hướng Hoá còn thiếu nghiên cứu, dẫn đến thành phần loài chưa được phản ánh đúng.

Bảng 4.3 Chỉ số tương đồng (Sorensen-Dice index) về đa dạng loài bò sát, ếch nhái giữa một số KBTTN và VQG Địa điểm Động Châu-Khe

Bắc Hướng Hoá Động Châu-Khe

KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong, VQG Cúc Phương và VQG Phong Nha - Kẻ Bàng là những khu vực gần gũi về địa lý và đã được nghiên cứu kỹ lưỡng, tạo thành một nhánh sinh thái quan trọng Trong khi đó, KBTTN Bắc Hướng Hóa vẫn còn thiếu thông tin nghiên cứu về bò sát và ếch nhái.

Hình 4.24 minh họa sự tương đồng về thành phần loài bò sát và ếch nhái giữa một số khu bảo tồn thiên nhiên (KBT) và vườn quốc gia (VQG) ở Việt Nam, với giá trị gốc nhánh được ghi nhận là 1000 lần nhắc lại.

Ghi chú: BHH: Khu bảo tồn thiên nhiên Bắc Hướng Hoá;PNKB: VQG Phong Nha -

Kẻ Bàng; CP: VQG Cúc Phương; DC-KNT: KDTTN Động Châu - Khe Nước

Tình trạng bảo tồn và các mối đe dọa

4.5.1 Đánh giá tình trạng bảo tồn

Trong tổng số 83 loài bò sát và ếch nhái được ghi nhận tại KDTTN Động Châu - KNT, có 14 loài quý hiếm và đặc hữu, chiếm 16,86% tổng số loài Đặc biệt, 8 loài nằm trong Sách Đỏ Việt Nam, tương ứng với 57,14% số loài quý hiếm và đặc hữu, trong đó có 2 loài được xếp hạng CR (Rất nguy cấp) và 3 loài ở mức EN (Nguy cấp).

Trong danh sách IUCN 2020, có 07 loài quý hiếm, đặc hữu, chiếm 50% tổng số loài, trong đó bao gồm 01 loài bậc CR (Rất nguy cấp), 03 loài bậc EN (Nguy cấp) và 03 loài bậc VU (Sẽ nguy cấp) Theo Nghị định 06/2019/NĐ-CP, cũng có 07 loài được ghi nhận, với 01 loài thuộc nhóm IB (nghiêm cấm khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) và 06 loài thuộc nhóm IIB (hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại) Đặc biệt, trong số này có 03 loài đặc hữu của Việt Nam, chiếm 21,42% tổng số loài quý hiếm, đặc hữu được ghi nhận.

Kết quả nghiên cứu cho thấy chỉ có 5 trong số 14 loài bò sát và ếch nhái quý hiếm được ghi nhận, bao gồm Nhái cây trường sơn, Rồng đất, Rùa bốn mắt, Rùa đầu to và Tắc kè 9 loài quý hiếm còn lại đã được Phạm Thế Cường và cộng sự ghi nhận vào năm 2019.

Khu vực KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong đang có sự hiện diện của nhiều loài động vật quý hiếm như Liu điu xanh, Nhái cây bà nà, Rắn cạp nong, Rắn hổ mang Trung Quốc, Rắn sọc đốm đỏ, Rùa hộp bua-rê, Rùa sa nhân, Trăn đất và Trăn gấm, điều này thể hiện sự đa dạng sinh học và mức độ hiếm hoi của các loài này trong khu vực.

Bảng 4.4 Tình trạng bảo tồn của các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC

2 Tắc kè Gekko gecko VU

3 Liu điu xanh Takydromus hani VN

4 Trăn đất Python molurus CR VU IIB

5 Trăn gấm Python reticulatus CR IIB

6 Rắn sọc đốm đỏ Oreocryptophis porphyraceus VU

7 Rắn cạp nong Bungarus fasciatus EN

Rắn hổ mang trung quốc Naja atra

9 Rùa đầu to Platysternon megacephalum EN EN IB

10 Rùa hộp bua-rê Cuora bourreti (C galbinifrons) EN CR IIB

11 Rùa sa nhân Cuora mouhotii

12 Rùa bốn mắt Sacalia quadriocellata EN IIB

13 Nhái cây bà nà Kurixalus banaensis VN

14 Nhái cây trường sơn Philautus truongsonensis DD VN

4.5.2 Phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái tại KVNC

Kết quả phân tích số liệu từ 17 tiểu khu rừng cho thấy tiểu khu 516 và 517 ghi nhận nhiều nhất với 29 loài bò sát và ếch nhái mỗi tiểu khu, chiếm 51,8% tổng số loài Các tiểu khu 533, 534 và 535 lần lượt ghi nhận 26, 24 và 20 loài.

Hình 4.25 So sánh các loài bò sát, ếch nhái ghi nhận được tại các tiểu khu rừng của KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong

Các tiểu khu còn lại đều ghi nhận dưới 10 loài ở mỗi tiểu khu, (chi tiết về số loài ghi nhận ở mỗi tiểu khu xem hình 4.6 và phụ lục 4)

Dựa trên ghi nhận 05 loài quý hiếm như Nhái cây Trường Sơn, Rồng đất, Rùa bốn mắt, Rùa đầu to, Tắc kè, cùng các loài bò sát và ếch nhái khác tại tiểu khu rừng KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong, chúng tôi đã tiến hành phân vùng các khu vực ưu tiên bảo tồn Việc phân loại này được thực hiện theo các tiêu chí đã đề xuất, chia thành 04 cấp độ: CAO, TRUNG BÌNH, THẤP và CHƯA RÕ (chưa đủ cơ sở dữ liệu để đánh giá).

Số loài ghi nhận cao nhất/TK

Số loài ghi nhận/TK

Số loài ghi nhận ít nhất/TK

Bảng 4.5 Tiêu chí đề xuất xếp hạng khu vực ưu tiên bảo tồn bò sát, ếch nhái tại KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong Cấp độ ưu tiên

Một tiểu khu rừng được xác định là vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát và ếch nhái khi đáp ứng ít nhất một trong các tiêu chí bảo tồn cao.

1 Có ít nhất 02 loài bò sát, ếch nhái đặc hữu, hoặc bị đe dọa trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, IUCN 2020 và được bảo vệ bởi Chính Phủ Việt Nam (Nghị định 06/2019, Nghị định 64/2019)

2 Có trên 20 loài bò sát, ếch nhái

Một tiểu khu rừng được xác định là khu vực ưu tiên bảo tồn các loài bò sát và ếch nhái khi đáp ứng ít nhất một trong các tiêu chí sau đây, với mức độ ưu tiên là TRUNG BÌNH.

1 Có 01 loài bò sát, ếch nhái đặc hữu, hoặc bị đe dọa trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, IUCN 2020 và được bảo vệ bởi Chính Phủ Việt Nam (Nghị định 06/2019, Nghị định 64/2019)

2 Có từ 11 đến dưới 20 loài bò sát, ếch nhái

Một tiểu khu rừng được phân vùng ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái ở mức THẤP khi đáp ứng 02 (hai) tiêu chí sau:

1 Không có loài bò sát, ếch nhái đặc hữu, hoặc bị đe dọa trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, IUCN 2020 và được bảo vệ bởi Chính Phủ Việt Nam (Nghị định 06/2019, Nghị định 64/2019)

2 Có dưới 11 loài bò sát, ếch nhái

CHƯA RÕ Các tiểu khu chưa đủ cơ sở dữ liệu để đánh giá

Kết quả tổng hợp, phân tích và đánh giá cho thấy các tiểu khu 516, 517, 533,

Khu vực 534 và 535 được xếp hạng là vùng ưu tiên cao trong việc bảo tồn các loài bò sát và ếch nhái Điều này nhờ vào việc đáp ứng tiêu chí 1 của cấp độ ưu tiên, với số lượng loài quý hiếm và đặc hữu lần lượt là 2, 3, 3, 2, 2 Tổng số loài bò sát và ếch nhái được ghi nhận tại đây là 29, 29 và 26.

Trong khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong, có 24 loài đáp ứng tiêu chí ưu tiên CAO, chủ yếu tập trung ở các tiểu khu rừng giàu phía Tây Các tiểu khu 496, 522, 524, 525, 528, 529, 531, 538 được xếp hạng ưu tiên bảo tồn bò sát và ếch nhái ở cấp độ TRUNG BÌNH nhờ có ít nhất một loài quý hiếm, đặc hữu Những tiểu khu này nằm chủ yếu ở phía Đông với rừng trung bình Các tiểu khu còn lại được phân loại ở cấp độ THẤP Kết quả phân khu ưu tiên bảo tồn giúp các đơn vị chức năng và quản lý hiểu rõ tình trạng phân bố của các loài bò sát, ếch nhái, từ đó có thể hoạch định chính sách và biện pháp bảo tồn hiệu quả cho các loài quý hiếm trong khu vực nghiên cứu.

Bảng 4.6 Số loài bò sát, ếch nhái ghi nhận được phân theo các tiểu khu rừng của KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong

Các loài quý hiếm, đặc hữu

Số loài thông thường khác 1

1Loài thông thường là loài không có tên trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, IUCN

2020, Nghị định 06/2019/NĐ-CP, Nghị định 64/2019/NĐ-CP và không phải loài đặc hữu

Hình 4.26 Bản đồ phân vùng các khu vực ưu tiên bảo tồn các loài bò sát, ếch nhái tại KDTTN Động Châu – Khe Nước Trong

4.5.3 Các nhân tố đe dọ a

Mặc dù cán bộ KDTTN Động Châu - Khe Nước Trong đã thực hiện nghiêm túc công tác quản lý và bảo vệ rừng, nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn của đồng bào dân tộc Vân Kiều xung quanh, cuộc sống của họ vẫn phụ thuộc vào tài nguyên rừng, dẫn đến tình trạng hoạt động bất hợp pháp diễn ra thường xuyên Qua điều tra và phỏng vấn người dân trong khu vực, các mối đe dọa chính đến khu hệ bò sát và ếch nhái tại Khu DTTN Động Châu - Khe Nước Trong đã được xác định.

Săn bắt trái phép động vật hoang dã, bao gồm buôn bán và tiêu thụ, đang đe dọa nghiêm trọng đến quần thể động vật tại khu vực này, đặc biệt là các loài bò sát và ếch nhái Nếu tình trạng này không được kiểm soát và ngăn chặn kịp thời, nguy cơ suy giảm quần thể động vật sẽ ngày càng gia tăng Hình 4.27 minh họa cảnh người dân Lâm Thủy đang chuẩn bị nướng hai cá thể Rồng đất.

Hình 4.27 Săn bắt các loài bò sát ếch nhái làm thực phẩm tại Lâm Thủy

Ngày đăng: 22/08/2021, 21:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Đào Văn Tiến (1977): Về định loại ếch nhái Việt Nam. Tạp chí Sinh vật Địa học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về định loại ếch nhái Việt Nam
Tác giả: Đào Văn Tiến
Năm: 1977
3. Đào Văn Khương, Trương Quang Bích, Đỗ Văn lập (2003): Bò sát và lưỡng cư Vườn Quốc gia Cúc Phương. NXB Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bò sát và lưỡng cư Vườn Quốc gia Cúc Phương
Tác giả: Đào Văn Khương, Trương Quang Bích, Đỗ Văn lập
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2003
4. Đào Văn Khương, Trương Quang Bích, Đỗ Văn Lập (2003). Bò sát và lưỡng cư vườn quốc gia Cúc Phương. NXB Nông Nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bò sát và lưỡng cư vườn quốc gia Cúc Phương
Tác giả: Đào Văn Khương, Trương Quang Bích, Đỗ Văn Lập
Nhà XB: NXB Nông Nghiệp
Năm: 2003
5. Lê Trọng Đạt (2007): “Nghiên cứu tính đa dạng khu hệ động vật có xương sống nhằm đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn đối với một số loài động vật quan trọng tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình”. Luận văn ThS. Trường ĐH Lâm nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu tính đa dạng khu hệ động vật có xương sống nhằm đề xuất giải pháp quản lý, bảo tồn đối" với một số loài động vật quan trọng tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tỉnh Ninh Bình
Tác giả: Lê Trọng Đạt
Năm: 2007
6. Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc (1996): Danh lục ếch nhái và bò sát Việt Nam. Nxb KH & KT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục ếch nhái và bò sát Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc
Nhà XB: Nxb KH & KT
Năm: 1996
7. Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường (2005): Danh lục ếch nhái và bò sát Việt Nam. Nxb Nông Nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh lục ếch nhái và bò sát Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2005
8. Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường, Nguyễn Vũ Khôi (2005): Nhận dạng một số loài Bò sát- Ếch nhái ở Việt Nam. Nxb Nông Nghiệp, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận dạng một số loài Bò sát- Ếch nhái ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, Nguyễn Quảng Trường, Nguyễn Vũ Khôi
Nhà XB: Nxb Nông Nghiệp
Năm: 2005
9. Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung (2013): Những phát hiện mới về bò sát và ếch nhái trong năm 2013 (http://www.vncreatures.net/event030.php) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát hiện mới về bò sát và ếch nhái trong năm 2013
Tác giả: Nguyễn Quảng Trường, Phùng Mỹ Trung
Năm: 2013
10. Nguyễn Quảng Trường - Phùng Mỹ Trung (2013): Những phát hiện mới về bò sát và ếch nhái trong năm 2013 (http://www.vncreatures.net/event030.php) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phát hiện mới về bò sát và ếch nhái trong năm 2013
Tác giả: Nguyễn Quảng Trường - Phùng Mỹ Trung
Năm: 2013
12. Trần Kiên, Nguyễn Văn Sáng, Hồ Thu Cúc, 1981. Kết quả điều tra cơ bản bò sát-ếch nhái Miền Bắc Việt Nam (1956-1976) trong Kết quả điều tra cơ bản động vật Miền Bắc Việt Nam. Nxb KH và KT, Hà Nội. trang 365-427 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả điều tra cơ bản động vật Miền Bắc Việt Nam
Nhà XB: Nxb KH và KT
13. Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật (1985): Tuyển tập báo cáo kết quả điều tra thống kê động vật Việt Nam. Hà Nội.Tài liệu tiếng anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập báo cáo kết quả điều tra thống kê động vật Việt Nam. "Hà Nội
Tác giả: Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật
Năm: 1985
1. Bourret R., (1936) Les Serpents de l'Indochine. H. Dasuyau, Toulouse, Vol. 1 et 2, 141 et 505 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Les Serpents de l'Indochine
2. Bourret R., (1941) Les Tortues de l'Indochine. Mémoires de Institut Océanographique de L'Indochine, Hanoi, 253pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Les Tortues de l'Indochine
3. Bourret R., (1942) Les Batraciens de l'Indochine. Mémoires de Institut Océanographique de L'Indochine, Hanoi, 517pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Les Batraciens de l'Indochine
4. Camp-den Main S., (1970) A field guide to the snakes of South Vietnam. Smithsonian Institution Washington, 114 pp Sách, tạp chí
Tiêu đề: A field guide to the snakes of South Vietnam
5. Dao T. V., (1957) Rapport sur les recherches zoologiques dans la region de Vinh- Linh (Province de Quang-tri, Centre Vietnam). Journal of Zoology, 36(8): 1209-1216 (in Russian) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Zoology
6. Dao T. V. (1962) Data of the vertebrate fauna of Vietnam. Journal of Zoology, 41(5): 724-735 (in Russian) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Journal of Zoology
7. Forst, D. R. (2020): Amphibian Species of the World (http://research.amnh.org/ vz/herpetology/amphibia) Link
10. IUCN (2020): The IUCN Red List of Threatened Species (http://www.iucnredlist.org/) Link
17. Uetz, P. (2020): The Reptile Database (http://www.reptile-database.org) Link

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w