TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT KHOA sư PHẠM BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG THỰC TRẠNG VÈ NHẬN THỨC CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON VÈ BẠO Lực TRẺ EM TRONG CÁC Cơ SỞ GIÁỎ DỤC
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA sư PHẠM
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
THỰC TRẠNG VÈ NHẬN THỨC CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON
VÈ BẠO Lực TRẺ EM TRONG CÁC Cơ SỞ GIÁỎ DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẶP
Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG
Mã SỐ:
Chủ nhiệm đề tài: ThS Tăng Phương Tuyết
Bình Dương, Tháng 02 Năm 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHOA Sư PHẠM
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
THỰC TRẠNG VÈ NHẶN THỨC CỦA GIÁO VIÊN MẦM NON
VỀ BẠO Lực TRẺ EM TRONG CÁC Cơ SỞ GIÁỎ DỤC MẦM NON NGOÀI CÔNG LẶP
Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
Đon vị: Khoa Sư Phạm
THÔNG TIN KÉT QUẢ NGHIÊN CỨƯ
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Thực trạng về nhận thức của giáo viên mầm non về bạo lực trẻ em trong các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập ở tỉnh Bình Dương
- Mã số:
- Chủ nhiệm: ThS Tăng Phương Tuyết
- Đơn vị chủ trì: khoa Sư Phạm
- Thời gian thực hiện: 12 tháng
2 Mục tiêu:
Tìm hiểu thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về vấn đề Bạo lực trẻ
em trong các cơ sở GDMN ngoài công lập
3 Tính mói và sáng tạo:
Hiện nay, xã hội đang rất quan tâm đến vấn đề bạo lực trẻ em ở các cơ sở giáodục mầm non nói chung và cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập nói riêng Tuynhiên vấn đề này hiện chưa có nhiều nghiên cứu liên quan đến thực trạng về nhậnthức của giáo viên trong các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập Vì thế, vấn đềtôi đang nghiên cứu phần nào có thể làm rõ khía cạnh này, từ đó đề xuất các khuyếnnghị đế hạn chế vấn đề bạo lực trẻ em trong các cơ sở giáo dục mầm non ngoài cônglập
4 Kết quả nghiên cứu:
Thông qua đề tài, tôi đã khái quát được thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về vấn đề bạo lực trẻ em trong các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập,cũng như các khuyến nghị để hạn chế vấn đề này
5 Sản phẩm: Báo cáo tổng kết đề tài
6 Hiệu quả, phương thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp dụng: Kết
quả nghiên cứu sẽ là cơ sở khoa học cho các nhà quản lý những cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập trong việc triển khai các biện pháp nhằm phòng chống bạo lực trẻem
Ngày tháng năm
Chủ nhiệm đề tài (chữ ký, họ và tên)
Đơn vị chủ trì
(chữ ký, họ và tên)
Trang 55 GVMN: giáo viên mầm non
6 CSGDMN: cơ sở giáo dục mầm non
Trang 6Mục lục
1 Lí do chọn đề tài 3
2 Mục đích nghiên cứu 5
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 5
3.1 Khách thể nghiên cửu 5
4 Giả thuyết khoa học 5
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
6 Phạm vi nghiên cứu 6
7 Phưcmg pháp nghiên cửu 6
7.1 Nh óm các phương pháp nghiên cứu lí luận 6
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn 6
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi 6
7.2.3 Phương pháp phỏng vấn 7
7.2.4 Phương pháp chuyên gia 7
7.2.5 Phương pháp nghiên cún trường hợp 8
7.3 Phương pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học (ứng dụng phần mềm thống kê SPSS) ’ 7 7 8
8 Dự kiến cấu trúc của đề tài 8
Két cấu đề tài: ngoài mục lục, danh mục chữ viết tắt, kết luận và kiến nghị, danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được chia làm 3 chương: 8
CHƯƠNG 1 7 9
Cơ SỞ LÍ LUẬN NHẬN THỨC CỦAGIÁOVIÊN VỀ BẠO Lực TRẺ EM 9
1.1 Tổng quan về lịch sử của vấnđề nghiên cứu 9
1.1.1 Trên thế giới 9
1.1.2 Việt Nam 10
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 12
1.2.1 Bạo lực trẻ em 12
1.2.2 Cô ng ước về quyền trẻ em 15
1.2.3 Những quyền cơ bản của trẻ em 17
1.2.4 Bạo lực trẻ em trong CSGDMN 17
1.2.5 Nhận thức của giáo viên về BLTE trong cơ sở GDMN 18
1.3 Cơ sở lí luận của biện pháp nâng cao nhận thức của giáo viên về bạo lực trẻ em trong cơ sở GDMN 22
1.3.1 Cơ sở Triết học 22
1.3.2 Cơ sở Tâm lí học 23
1.3.3 Cơ sở Giáo dục học 24
1.4 Biện pháp nâng cao nhận thức về BLTE 24
1.4.1 Khái niệm biện pháp 24
1.4.2 Biện pháp nâng cao nhận thức về BLTE 25
Kết luận chương 1 26
CHƯỞNG 2 7 28
MÔ TẢ VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VỀ NHẬN THỨC CỦA GIÁO VIÊN VỀ 28
BẠO Lực TRẺ EM TRONG CÁC cơ SỞ GDMN 28
ở TỈNH BÌNH DƯƠNG 28
2.1 Vài nét về khách thể nghiên cứu 28
I
Trang 7-2.2 Thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi của giáo viên về BLTE trong các cơ sở
GDMN ngoài công lập ở tỉnh Bình Dương 29
2.2.1 Khái quát thực trạng về nhận thức của giáo viên về BLTE trong các cơ sở GDMN ngoài công lập 29
2.2.2 Kết quả phỏng vấn nghiệm thẻ nghiên cứu 37
2.2.3 Nguyên nhân của thực trạng về vấn đề BLTE trong cơ sở GDMN 39
2.2.4 Ý kiến của giáo viên về một số biện pháp phòng chống BLTE cơ sở GDMN 40
2.3. Phân tích trường hợp trẻ bị BL trong cơ sở GDMN 42
Kết luận chương 2 49
CHƯỜNG 3 ? 51
ĐỀ XUẤT CÁC BIỆN PHÁP NÂNG CAO NHẬN THỨC 51
CHO GIÁO VIÊN VỀ BẠO Lực TRẺ EM TRONG co SỞ GDMN NGOÀI CÔNG LẬP Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG/. 51
3.1 Các nguyên tắc đề xuất biện pháp nâng cao nhận thức của giáo viên về BLTE trong cơ sở GDMN ở tỉnh Bình Dương 51
3.1.1 Dựa trên các nguyên tắc Giáo dục 51
3.1.2 Đảm bảo tính kế thừa 52
3.1.3 Tính thực tiễn và hiệu quả 53
3.2 Các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức cho giáo viên về BLTE trong các cơ sở GDMN ở tỉnh Bình Dương 53
3.2.1. Thông tin giáo dục truyền thông nhằm cung cấp kiến thức về phòng, chống BLTE Từ đó nâng cao nhận thức cho giáo viên và người dân về phòng, chống BLTE 53
3.2.2. Thành lập các Câu lạc bộ, các nhóm hỗ trợ nạn nhân bị bạo lực và tư vấn cho người gây ra bạo lực 54
3.2.3. Lồng ghép nội dung phòng chống BLTE vào các chương trình hoạt động của các tổ chức đoàn thể 55
3.2.4. Tư vấn thông qua các nhóm cộng đồng 55
3.2.5 Phòng Tư vẩn, Trung tâm Tư vấn và Đường Dây nóng địa phương 56
3.2.6 Biện pháp nâng cao nhận thức về vai trò, trách nhiệm của giáo viên đoi với vẩn đề BLTE 57 3.2.7 Tăng cường sự kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường - gia đình - xã hội 58
3.2.8 Mối quan hệ giữa các biện pháp 59
Kết luận chương 3 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 66
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời luôn nhấn mạnh: “Thiếu niên, nhi đồng lànguời chủ tương lai của nước nhà Vì vậy, chăm sóc và giáo dục tốt các cháu lànhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân Công tác đó phải làm kiên trì bền bỉ Vì tươnglai của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc vàgiáo dục các cháu bé cho tốt” Chính vì vậy mà Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm tớiviệc bồi dưỡng và chăm sóc trẻ em, coi đây là sự nghiệp và trách nhiệm cao quí củatoàn dân ta, trước hết là các gia đình, các bậc cha mẹ và tiếp theo là các thầy cô giáođối với thế hệ tương lai của dân tộc Việt Nam Với ý nghĩa này, ngày 05/3/1994, Chủtịch Hội đồng Bộ trưởng Đỗ Mười đã kí vào bản tuyên bố của Hội nghị cấp cao thếgiới về trẻ em, họp tháng 9 năm 1990 ở Mĩ, là nước thứ hai trên thế giới và nước đầutiên ở châu Á phê chuẩn công ước Quyền trẻ em mà không bảo lưu [15;34]
Trẻ em được quyền sống, thương yêu, được chăm sóc nuôi nấng với những gìtốt nhất, được học tập, vui chơi, chữa bệnh, giải trí, được chăm sóc đặc biệt nếu cónhững nhược điểm về thể chất, tinh thần, được tôn trọng, được quyền tự do bày tỏ ýkiến của mình, tự do kết giao được giáo dục thích hợp, được bảo vệ khỏi các hìnhthức bạo lực về thể xác hoặc tinh thần Các quyền này được thể hiện một cách đầy
đủ trong Luật bảo vệ chăm sóc và giáo dục trẻ em [15;34]
Việt Nam là một trong những thành viên đầu tiên của Châu Á tham gia Côngước quốc tế về Quyền Trẻ em, nhưng tình trạng trẻ em bị bạo lực trong cácCSGDMN ngoài công lập vẫn còn xảy ra ở mức độ khá nghiêm trọng Các hình thứcbạo lực đối với trẻ em là: chửi mắng thô tục, làm nhục, dùng đòn roi để trấn áp để lạihậu quả hết sức nặng nề về thể chất và tinh thần Các -3 -
Trang 9vụ việc bạo lực mà một số giáo viên gây ra cho trẻ em đã được phát hiện và đưa lênbáo chí, khiến dư luận xã hội rất căm phẫn Hiện tượng bạo lực gây ra cho trẻ emtrong các CSGDMN ngoài công lập đang là vấn đề bức xúc và được quan tâm đặcbiệt vì mức độ ngày càng gia tăng của nó.
Bạo lực trẻ em hiện nay trở thành ung nhọt của xã hội, nó diễn ra ngày càngphức tạp hơn Với rất nhiều nguyên nhân trong đó sự thiếu hiểu biết của một bộ phậnngười dân về pháp luật, đã dẫn đến tình trạng gia tăng về BLTE trong CSGDMNngoài công lập hiện nay Nhận thức sai lầm “thương cho roi cho vọt”, nhiều giáo viên
đã làm trẻ bị tổn thương nghiêm trọng Nhiều trường họp bạo lực bị giấu giếm, hoặcphủ nhận Hơn nữa, hầu hết các vụ bạo lực khi bị đưa ra ánh sáng và bị pháp luậttrừng trị chỉ ở mức độ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích Đâycũng chính là nguyên nhân dẫn đến nạn bạo lực không suy giảm mà còn tăng lên
Xã hội nói chung và tỉnh Bình Dương nói riêng không thể phát triển bền vữngnếu một thế hệ trẻ em bị đối xử một cách tồi tệ Người lớn cần phải trang bị kiến thức
để biết chăm sóc và giáo dục trẻ em một cách khoa học dựa trên sự hiểu biết về tâmsinh lý ở từng lứa tuổi của trẻ em để có biện pháp giáo dục phù họp Những năm gầnđây ngày càng nhiều các vụ bạo lực trẻ em, làm ảnh hưởng không chỉ về thể chất mà
cả về mặt tinh thần đã được nhiều báo chí đưa tin Theo thống kê của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, trong hai năm 2008 - 2009, cả nước đã xảy ra gần 6.000 vụ
-bạo lực trẻ em, trung bình mỗi năm có 3.000 vụ Tình trạng này diễn ra ở nhiều địa
phương, từ Nam chí Bắc
Từ thực tế đó chúng tôi đã mạnh dạn chọn đề tài: “Thực trạng nhận thức của giáo viên mầm non về Bạo lực trẻ em trong các cơ sở Giáo dục mầm non ngoài công lập ở tỉnh Bĩnh Dương Nhằm đưa ra những giải pháp nâng cao nhận thức của giáo
viên về vấn đề BLTE trong các CSGDMN ngoài công lập từ đó có thái độ, hành vilên án, phê phán, tố giác đối với những hành vi BLTE Góp phần nâng cao chấtlượng cuộc sống cho trẻ em Việt Nam nói chung, tỉnh Bình Dương nói riêng
Trang 105
-2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng về nhận thức của giáo viên về BLTE, đề tài
đề xuất một số giải pháp nâng cao nhận thức của giáo viên về BLTE trong cácCSGDMN ngoài công lập ở tỉnh Bình Dương, góp phần thay đổi thái độ và hành vi:không bạo lực, phòng chống BLTE nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của trẻ em
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Nâng cao nhận thức cho GV dạy ở các CSGDMN ngoài công lập trên địa bàn
Tp TDM, TX Thuận An và huyện Tân Uyện về BLTE
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Thực trạng nhận thức của giáo viên về BLTE trong các CSGDMN ngoài cônglập ở tỉnh Bình Dương
4 Giả thuyết khoa học
- Đa số GV có nhận thức đúng nhưng chưa đầy đủ về BLTE
- Xây dựng và thực hiện các biện pháp: tuyên truyền, tổ chức báo cáo chuyên
đề, tọa đàm, thảo luận, thành lập các nhóm tư vấn về BLTE thì nhận thức của GV
về BLTE trong các CSGDMN ngoài công lập sẽ được nâng cao và đầy đủ hơn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1. Hệ thống hóa cơ sở lí luận nhận thức của GVMN về BLTE
5.2 Mô tả và đánh giá thực trạng nhận thức của GV về BLTE trong các
CSGDMN ngoài công lập ở tỉnh Bình Dương
5.3. Đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao nhận thức cho GV về BLTEtrong các CSGDMN ngoài công lập
6 Phạm vi nghiên cứu
Nghiên cứu thực trạng nhận thức của GV về BLTE ở hai mặt: tinh thần và thể chất.
Trang 116.2 Phạm vi ngưòi được nghiên cứu
Tiến hành điều tra một 150 GV dạy ở 10 CSGDMN ngoài công lập trên địabàn Tp TDM, TX Thuận An và huyện Tân Uyên
Từ tháng 3 năm 2014 đến tháng 9 năm 2015
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận
Phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống nhũng tài liệu, tìm hiểu, bổ sung và tíchlũy vốn tri thức lí luận có liên quan đến vấn đề nghiên cứu dưới nhiều góc độ: Triếthọc, Giáo dục học, Tâm lý học đại cưong, Tâm lý học sư phạm, Tâm lý học lứa tuổimầm non, Tâm lý học trẻ em, đồng thời nghiên cứu các văn bản, chưong trình, kếhoạch, mục tiêu của hiến pháp nước Việt Nam về vấn đề BLTE để xây dựng cơ sở líluận của đề tài
7.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
- Tìm hiểu thực trạng nhận thức, thái độ và hành vi của giáo viên về vấn đềBLTE
- Thu thập ý kiến của các nghiệm thể về những vấn đề liên quan đến đề tàinghiên cứu
- Tìm hiểu một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng nhận thức và thái độ củagiáo viên về vấn đề BLTE trong các CSGDMN ngoài công lập
7.2.2 Phương pháp quan sátChúng tôi sử dụng phương pháp này với mục đích: quan sát một số hành vibiểu hiện sự nhận thức và thái độ của giáo viên về vấn đề BLTE trong các CSGDMNngoài công lập thông qua hoạt động sinh hoạt hàng ngày
Quan sát những biểu hiện, phản ứng của trẻ khi bị ảnh hưởng của BL về mặtthể chất cũng như tinh thần
Trang 127
-7.2.3 Phương pháp phỏng vấnVới phương pháp này, chúng tôi làm phương tiện hỗ trợ cho các phương phápnêu trên, đồng thời nhằm thu thập một số thông tin cụ thể để góp phần nhằm tăng độtin cậy và sức thuyết phục của kết quả nghiên cứu qua phiếu điều tra Cụ thể, chúngtôi tiến hành trao đổi, trò chuyện thân thiện, cởi mở trực tiếp với các giáo viên xoayquanh vấn đề BLTE trong các CSGDMN ngoài công lập, nhằm thu thập những thôngtin để bổ sung và chính xác các kết quả điều tra thực trạng
7.2.4 Phương pháp chuyên giaPhương pháp chuyên gia là phương pháp mà các chủ thể sử dụng khi phải đốimặt với những vấn đề vượt ra khỏi năng lực chuyên môn của họ Chủ thể tham vấn ýkiến về chuyên môn của các cá nhân chuyên gia hoặc tập thể các chyên gia bằng tọađàm, hội thảo để từ đó lựa chọn những ý kiến tối ưu của họ nhằm phục vụ cho việclập kế hoạch hoặc ra quyết định về những vấn đề mà chủ thể cần
Do đó chúng tôi sử dụng phương pháp này trong quá trình nghiên cửu nhằmlắng nghe ý kiến của các chuyên gia để có hướng nghiên cứu đề tài thích họp
7.2.5 Phương pháp nghiên cứu trường hợp
Phương pháp nghiên cứu trường họp là một phương pháp được sử dụng rất
phổ biến trong các ngành giáo dục học, xã hội học, luật học Mục tiêu cơ bản củaphương pháp này là tìm hiểu rõ về trường họp nghiên cứu bằng cách theo dõi sát sao
và toàn diện trường hợp đã chọn trong một thời gian đủ dài và ngay tại môi trường tựnhiên của nó Kết quả nghiên cứu điển hình cho phép nhà nghiên cứu đưa ra lời giảithích tại sao mọi việc xảy ra như đã xảy ra, và thông qua đó xác định các vấn đề quantrọng cần được tiếp tục nghiên cứu rộng rãi hơn trong tương lai
7.3 Phuong pháp xử lí số liệu bằng thống kê toán học (ứng dụng phần mềm thống kê SPSS)
Chúng tôi sử dụng phương pháp này để xử lý phiếu điều tra, nhằm thu thập
số liệu về mặt định lượng cho những biểu hiện định tính qua phiếu điều tra thực trạngnhận thức và thái độ của phụ huynh về vấn đề BLTE trong gia đình hiện nay
Trang 138 Dự kiến cấu trúc của đề tài
Kết cấu đề tài: ngoài mục lục, danh mục chữ viết tắt, kết luận và kiến nghị,danh mục các tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài được chia làm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lí luận nhận thức của GV về BLTE
- Chương 2: Mô tả và đánh giá thực trạng nhận thức của GV vềBLTE trong các CSGDMN ở tỉnh Bình Dương
- Chương 3: Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao nhận thức của GV
về BLTE trong các CSGDMN ở tỉnh Bình Dương
CHƯƠNG 1
Cơ SỞ LÍ LUẬN NHẬN THỨC CỦA GIÁO VIÊN VÈ BẠO Lực TRẺ EM 1.1 Tổng quan về lịch sử của vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Trên thế giói
Vấn đề trẻ em có ý nghĩa quan trọng trong nghiên cứu xã hội học, nó tạo nên
sụ quan tâm mang tính chất quốc tế Trong chuơng trình nghị sự của Đại hội Xã hộihọc thế giới lần thứ 25, tổ chức tại thành phố Brisbane - Ôxtrâylia tháng 7 năm 2002,vấn đề TE đuợc sự chú ý đặc biệt của các nhà nghiên cứu quốc tế Trong bối cảnh thếgiới hiện nay, các phân tích xã hội học về TE được xem xét bởi điều kiện “phân mảnh
và hội nhập” xã hội dưới tác động của quá trình toàn cầu hóa Tại diễn đàn này, cácvấn đề về TE được phân tích trong mối quan hệ với tình trạng đói nghèo, nạn thấthọc, xung đột vũ trang, chiến tranh sắc tộc, nguy cơ bùng nổ đại dịch HIV/AISD vấn đề đặt ra là: cần có những phân tích xã hội học để nhận thức tình trạng thực tếcủa TE, từ đó dự báo những xu hướng phát triển của thế hệ trẻ trong tương lai, vì tầnglóp xã hội này là nguồn nhân lực, đảm nhiệm vai trò thực hiện các mục tiêu pháttriển Sự quan tâm có tính chất quốc tế, như vậy xuất phát từ luận đề cơ bản “Trẻ emhôm nay, thế giới ngày mai”
Bạo lực đối với TE là hiện tượng khá phổ biến trên phạm vi toàn cầu Ở nước
Mỹ vào năm 2000, các cơ quan công quyền nhận được hơn 3 triệu báo cáo về nạnlạm dụng hoặc bỏ mặc TE Người ta ghi nhận cứ 25 TE thì có một vụ xảy ra (R
Trang 149
-Tschacfer, 2005: 461) Một nghiên cứu đã đưa ra số liệu: Ở Mỹ trong số 10 triệu TE
có 3,3 triệu TE bị BL hàng năm (Lucy s Carter và cộng sự, 1999) - Theo tạp chí tâm
lý học, số 6 (99), 6 - 2007
Trong những năm sau đại chiến thế giới lần thứ hai, bà Eglantyne Jebb- ngườiAnh, đã phát động một chiến dịch đoàn kết ủng hộ TE phải gánh chịu hậu quả chiếntranh Bà lên án chiến tranh qua việc công bố các bức tranh mà TE là nạn nhân ratrước công luận Jebb trở thành người dẫn đầu lực lượng thành lập phong trào cứu trợ
TE Bà cũng thảo ra 5 điểm cho Tuyên bố về quyền TE, sau đó được Hiệp hội cácquốc gia thông qua năm 1924 Từ đó trở đi quyền TE trở thành một khái niệm đượcthừa nhận
Năm 1979, ý tưởng về một Công ước về quyền TE đã giành được sự ủng hộcủa dư luận Phái đoàn Hà Lan đặt vấn đề với ủy ban quyền con người về khả năng
có thể cho sự ra đời của một Công ước về quyền TE ủy ban quyền con người đã lập
ra một nhóm công tác đứng đầu là luật sư người Ba Lan Adam Lopalka để thảo ramột văn bản dự thảo của Công ước Các tố chức cứu trợ của TE và các tổ chức phichính phủ khác cũng đưa ra một số đề nghị có tác dụng hoàn thiện văn bản dự thảoCông ước
Năm 1983, ba tổ chức phi chính phủ có tên là tổ chức Bảo vệ TE quốc tế, Vănphòng TE Thiên chúa giáo quốc tế và Radda Bamen quốc tế có sáng kiến kêu gọi mộtcuộc họp tư vấn gồm các tổ chức phi chính phủ để xem xét dự thảo Công ước và đãgửi kiến nghị để nhóm công tác cân nhắc Nhóm công tác về soạn thảo Công ước họphàng năm và đã liên tục đệ trình nhiều dự thảo lên ủy ban quyền con người Cuốicùng, vào năm 1988 văn bản dự thảo đã được ủy ban quyền con người phê duyệt Sau
đó được Hội đồng Kinh tế - Xã hội Liên họp quốc thông qua năm 1989
1.1.2 Việt Nam
Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời luôn nhấn mạnh: “Thiếu niên, nhi đồng làngười chủ tương lai của nước nhà Vì vậy, chăm sóc và giáo dục tốt các cháu lànhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân Công tác đó phải làm kiên trì bền bỉ Vì tương lai
Trang 15của con em ta, dân tộc ta, mọi người, mọi ngành phải có quyết tâm chăm sóc và giáodục các cháu bé cho tốt”.
Việt Nam là quốc gia thứ hai trên thế giới và là nước đầu tiên ở châu Á kí phêchuẩn Công ước về quyền TE vào ngày 20/02/1990 và Công ước đã được dịch, in ấn,phát hành rộng rãi bằng những cuốn sách nhỏ có thể bỏ túi Nội dung Công ước đượctuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng đã góp phần giác ngộ
và giáo dục, bồi dưỡng một thái độ đúng đắn về việc bảo vệ và chăm sóc TE Điều đó
đã thể hiện rất rõ sự quan tâm của Đảng, nhà nước và toàn thể nhân dân đến nhữngchủ nhân tương lai của đất nước
Điều 110 Bộ luật Hình sự về tội hành hạ người khác có quy định người nàođối xử tàn ác với đối tượng là TE lệ thuộc mình thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo khônggiam giữ từ 1 năm đến 3 năm Đây là mức án quá nhẹ Trong khi các vụ hành hạ TEthường lặp đi lặp lại trong một thời gian dài khiến trẻ không những bị ảnh hưởng vềthể xác mà tinh thần cũng ảnh hưởng rất nặng, có khi những ám ảnh đó theo các emsuốt đời
Điều 17 Nghị định 114/2006/NĐ-CP đã có quy định phạt tiền từ 500.000 đồngđến 1.000.000 đồng đối với trường hợp bắt TE đi xin ăn, cho thuê, cho mượn TEhoặc sử dụng TE để xin ăn Khoản 2 của điều này cũng quy định phạt tiền từ2.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng đối với hành vi đánh đập hoặc BL xâm phạmthân thể TE, làm cho đau đớn về thể xác và tinh thần Tuy luật quy định như thếnhưng trên thực tế hầu như không có mấy trường họp đánh đập TE bị xử phạt
Sáng 10-6 tại Hà Nội, Hội Bảo vệ quyền TE Việt Nam tổ chức Đại hội đạibiểu toàn quốc lần thứ nhất (nhiệm kì 2008-2012) Đây cũng là lễ ra mắt của Hội Bảo
vệ quyền TE Việt Nam Trước đó ngày 8-4-2008, Bộ Nội vụ đã có quyết định chophép thành lập Hội dưới sự quản lí Nhà nước của Bộ Lao động - Thương binh và xãhội Nhiệm vụ của Hội nhằm góp phần ngăn chặn những hành vi vi phạm quyền TEnhư: hành hạ, ngược đãi, bỏ rơi, bóc lột sức lao động Đại hội bầu bà Trần ThịThanh Thanh - nguyên Bộ trưởng chủ nhiệm ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em Việt
Trang 1611
-Nam - làm chủ tịch Hội Hiện nay hội có 250 hội viên
Việc chăm sóc, giáo dục TE thường xuyên được Đảng và Nhà nước ta quantâm Đặc biệt, từ khi đất nước ta bước vào giai đoạn đấy mạnh công nghiệp hóa, hiệnđại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, thì vấn đề này lại càng được coi trọng Cùng với
sự phát triển của đất nước, đời sống người dân được nâng lên, TE cũng nhận được sựquan tâm, chăm sóc tốt hon Gia đình và xã hội ngày càng nhận thức rõ TE là tưonglai, là người chủ của đất nước, vì vậy cần phải chú trọng đầu tư cho thế hệ trẻ Tuynhiên, bên cạnh đó vẫn còn một bộ phận không nhỏ TE đang rất cần sự quan tâm,giúp đỡ nhiều phía Đó là những TE thất học do gia đình nghèo, là những em bé langthang hè phố, phải lao động cực nhọc trong một môi trường đầy bất trắc để kiếmsống, là những đứa con bị tổn thương tâm lí sâu sắc do bi BL và những TE khuyếttật
Như vậy, có thể nói những nghiên cứu liên quan đến bạo lực đối với TE cho
thấy hai hình thức bạo lực phổ biến hon cả là bạo ỉực thể chất và bạo lực tinh thần,
các loại bạo lực này để lại trong tâm hồn thơ ngây của các em “vết sẹo” không dễ gìxóa hết được Nó có tác động và ảnh hưởng đến cả tương lai và hạnh phúc của cácem
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
Trang 17của chính bản thân con người Do đó, không có tuổi thơ chung cho tất cả thời đại lịch
sử, cho các dân tộc, hay tầng lóp xã hội TE là “con đẻ” của một thời đại nhất định
Theo quan niệm mới về TE của PGS.TS Nguyễn Hữu Long thì: “Trẻ em vừa
là trẻ em, vừa là người lớn đang hình thành Sự khác biệt về tâm, sinh lí giữa trẻ em
và người lớn vừa về lượng, vừa về chất ”.
Như vậy, chúng ta có thể hiểu khái niệm về TE như sau: “Trẻ em là những người còn non nớt, ở độ tuổi dưới 16 tuổi, chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tinh thần Trẻ em vừa là trẻ em, vừa là người lớn đang hình thành Do đó, trẻ em cần có được sự chăm sóc, giáo dục vào bảo hộ của gia đĩnh và xã hội ”.
1.2.1.2 Khái niệm về bạo lực
Bạo lực xảy ra dưới nhiều hình thức như: hành hạ, đánh đập người khác, chửibới, quấy rối, lạm dụng tình dục làm tổn thương đến cơ thể, tình cảm, tâm lý, sựtiến bộ của con người
Lâu nay, khái niệm bạo lực vẫn thường được hiểu theo nghĩa hẹp của ngành Chính trị học Với cách hiểu như vậy, bạo lực vẫn được hiểu với tính chất của một
phương thức vận động chính trị, được sử dụng để giành chính quyền, duy trì và sử
dụng quyền lực nhà nước Theo từ điển Tiếng Việt 2003: “Bạo lực là sức mạnh dùng
để trấn áp, lật đổ”, theo đại từ điển Tiếng Việt 1998 thì: “Bạo lực là sức mạnh dùng
để trấn áp, chổng lại lực lượng doi lập, lật đẻ chính quyền ”.
Tuy nhiên, không phải mọi hình thức bạo lực trong xã hội đều mang tínhchính trị, đều chỉ hướng vào việc lật đổ các nhóm và phe phái chính trị Người ta cóthể dùng bạo lực để hành xử với nhau trong cuộc sống hàng ngày vì rất nhiều lý donhư: Giết người cưóp của, hiếp dâm, chống người thi hành công vụ, để giải quyết mốibất hòa trong quan hệ xã hội, hay một sự tranh chấp quyền lợi giữa hai người hàng
xóm Như vậy, có thể nói bạo lực là một hiện tượng xã hội Nó la một phương thức hành xử trong các mối quan hệ giữa con người với con người và tồn tại rất lâu trong lịch sử.
1.2.1.3 Khái niệm về bạo lực trẻ em
Trang 1813
-Tại điều 19 (Công ước quốc tế về quyền Trẻ em năm 1989) đưa ra quan điểm:
“BLTE đó là mọi hĩnh thức bạo lực về thể xác và tinh thần, gây tổn thương hay xúc phạm, bỏ mặc hoặc sao nhãng trong việc chăm sóc, ngược đãi hoặc bóc lột, kể cả về xâm hại tĩnh dục” Đồng thời phân chia các hành vi BL đối với trẻ thành 4 loại: bạo
lực về thể chất; chểnh mảng trầm trọng trong chăm sóc; bạo lực tâm lý; hành hạ tìnhdục
Ở nước ta hiện nay, vẫn chưa có một quan điểm thống nhất về khái niệmBLTE cũng như chưa có cơ quan, tổ chức nào đưa ra ý kiến chính thức về vấn đề này.Việc nhận diện BLTE chủ yếu dựa trên cơ sở quan điểm quốc tế và sự so sánh, đốichiếu với các chuẩn mực xã hội Theo đó, người ta có thể hiểu BLTE là những hành
vi - vi phạm chuẩn mực đạo đức trái với luân thường đạo lý và truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc, ở mức độ cao hơn có thể cấu thành các tội bức tử, giết người, cố ý gâythương tích, làm nhục người khác BLTE cũng có thể được hiểu là những hành vixâm hại một cách thô bạo tới thân thể, đời sống tâm lý TE thông qua các hình thứcbiểu hiện cụ thể như: đánh đập, ngược đãi, hành hạ, lạm dụng, bóc lột, sỉ nhục Xét
về tình cảm, mức độ của hành vi xâm hại TE cho thấy, một hành vi chỉ được coi là
BL khi diễn ra một cách thường xuyên Những hành động có tính chất thi thoảng, kể
cả đấm đá, tát tai, nếu không nghiêm trọng đến sức khỏe, tâm lý đều không thể coi là
BL Tuy nhiên, nếu quan niệm như vậy thì dường như những hành vi BL đã được bỏqua, được tha thứ Do đó, những hành vi có thể ít xảy ra nhưng gây tổn thươngnghiêm trọng hoặc có nguy cơ gây tổn thương nghiêm trọng đến sức khỏe, tinh thầncủa trẻ em cũng được coi là BL
Như vậy, từ những phân tích về đặc điểm TE và những lí luận nêu trên có thể
hiểu một cách khái quát về khái niệm BLTE như sau: “Bạo lực trẻ em là những hành
vi trực tiếp xâm hại hoặc đe dọa đến sự phát triển bình thường về thể chất, tỉnh thần trẻ em, từ đó gây ra những hậu quả xẩu cho trẻ em, gia đĩnh và xã hội
1.2.1.4 Các hành vi bạo lực trẻ em
a BLTE về thể chất
Trang 19- Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm hại đến sức khỏe,tính mạng của TE.
- Cưỡng ép quan hệ tình dục
- Cưỡng ép TE lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả năng của trẻ;kiểm soát thu nhập của trẻ nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc về tài chính
b BLTE về tinh thần
- Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phấm TE
- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên đối với trẻ về tâm lí gây hậuquả nghiêm trọng
- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông,
bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa anh chị, em với nhau
- Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, li hôn hoặc cản trở hôn nhân tự'nguyện, tiến bộ
1.2.2 Công ước về quyền trẻ em
1.2.2.1 Sự ra đời của Công ước về quyền trẻ em
Tháng 12 năm 1989 Liên Họp Quốc thông qua Công ước về Quyền trẻ em Từ
đó, Công ước này đã ảnh hưởng đến cuộc sống của TE trên toàn thế giới “Công ước”
là tên dùng để gọi một Hiệp ước, nó là một loại văn bản pháp lí quốc tế do nhiều quốcgia hay nhà nước cùng tham gia kí kết
Trang 20-
17-sư phạm Tính đến năm 2002 có 180 giáo viên 17-sư phạm và 15.000 giáo sinh 17-sư phạm
tham gia tìm hiểu về Công ước [ 1;3].
1.2.3 Những quyền cơ bản của trẻ em
1.2.3.1 Quyền được sống còn của trẻ em: quyền được sống và quyền được chămsóc sức khỏe và y tế ở mức cao nhất có thể
1.2.3.2 Quyền được bảo vệ của trẻ em: bảo vệ trẻ em thoát khỏi mọi phân biệt đối
xử lạm dụng hay không được quan tâm, bảo vệ trẻ em không có gia đình cũng nhưbảo vệ trẻ em tị nạn
1.2.3.3 Quyền được phát triển của trẻ em: bao gồm mọi hình thức giáo dục (chínhthức hoặc không chính thức) và quyền được có mức sống đầy đủ cho sự phát triển vềthể lực, trí tuệ, tinh thần, đạo đức và xã hội của trẻ em
1.2.3.4 Quyền được tham gia của trẻ em: trẻ em được bày tỏ quan điểm của mìnhtrong mọi vấn đề liên quan tói bản thân
1.2.4.1 Khái niệm bạo lực trẻ em trong CSGDMN
Theo Luật phòng chống BLTE thì: “Bạo lực trong CSGDMN là hành vi cố ý của giáo viên trong cơ sở GDMN gây tổn hại hoặc có khả năng gây tôn hại về thể chất, tinh thần đối với trẻ trong CSGDMN”
Như vậy, có thể khái quát về BLTE trong CSGDMN như sau: “BLTE trong CSGDMN là hành vỉ đe dọa bằng hành động, lời nói của các giáo viên trong CSGDMN đối với các lĩnh vực khác nhau trong sinh hoạt hằng ngày của trẻ Bạo lực đối với trẻ em trong CSGDMN là biểu hiện của sự kiểm soát và hành hạ về thể xác lẫn tinh thần qua đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tỉnh thần cũng như quá trĩnh hĩnh thành và phát triển nhăn cách của trẻ ”.
1.2.4.2 Các hình thức và biểu hiện về bạo lực trẻ em trong CSGDMN
Theo tính chất của BL, có những hình thức khác nhau, nhưng có hai loạithường được nhắc đến nhiều hơn: BL thân thể (BLTC) và BL tinh thần (tình cảm,
Trang 21tâm lí )
- Bạo lực thân thê: là những hành vi BL mà người gây ra BL thường sử dụng
sức mạnh cơ bắp (tay, chân) hoặc công cụ (thậm chí cả vũ khí) gây nên sự đau đớn vềthân thể đối với nạn nhân Nhũng hình thức phổ biến của BLTC thường thấy là: đánhđập, tát, đấm, đá Những hành động BL này thường gây nên sự đau đớn về thể xác(và cả tinh thần, tình cảm), nó thường để lại dấu vết trên thân thể nạn nhân và đó lànhững bằng chứng vi phạm pháp luật và dễ bị phát hiện, người gây ra bạo lực thể chất
có thể bị xử lí bởi luật pháp
- Bạo lựa tỉnh thần/ tình cảm: là những hành vi nhằm hành hạ tâm lí và những
lời nói sỉ nhục, đe dọa, sự lãng quên, bỏ rơi, người thân không quan tâm Nhữnghành vi BL này không dễ phát hiện và pháp luật khó can thiệp
Như vậy, hành vi BL đối với TE trong CSGDMN được thể hiện rất đa dạng.Tuy nhiên, trên thực tế nó lại được che giấu Để có thể giúp mọi người nhận ra đượchành vi BLTE trong CSGDMN và cùng nhau lên tiếng một cách đanh thép, dõng dạc
ở cấp cao nhất rằng BL đối với TE ở bất kỳ hình thức nào, vào bất kỳ tình huống nào
và trong bất kỳ hoàn cảnh nào đều không thể dung tha thì giải pháp chính là: ''Làm thay đối thái độ, quan niệm của xã hội đối với hành vi BLTE đế hành vỉ đó không còn được coi là bình thường hay có thể chấp nhận trong cuộc sống như vẫn thường diễn
ra từ trước đến nay"
1.2.5 Nhận thức của giáo viên về BLTE trong cơ sở GDMN
1.2.5.1 Khái niệm nhận thức
Nhận thức là quá trình phản ánh hiện thực (các sự vật, hiện tượng xung quanh
và bản thân) từ đơn giản (các hình ảnh) đến phức tạp (các biểu tượng, khái niệm ) từcái bên ngoài đến bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng
Nó không chỉ phản ánh cái hiện tại mà cả cái đã xảy ra và sắp xảy ra, cũng như phảnánh các quy luật của hiện thực
Nhận thức là một quá trình tâm lí, ở con người quá trình này thường gắn vớimục đích nhất định, nên nhận thức của con người là hoạt động Đặc trưng nhất của
Trang 22-
19-hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan Hoạt động này bao gồm nhiềuhoạt động khác nhau (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng) và mang lại những sảnphẩm khác nhau về hiện thực khách quan (hình ảnh, biểu tượng, khái niệm) Hoạtđộng nhận thức có các đặc trưng riêng khác với các hoạt động tâm lí khác
1.2.5.2 Nhận thức về bạo lực trẻ em trong cơ sở GDMN
Hiện nay vẫn còn nhiều giáo viên còn có quan niệm dạy con “đòn đau nhớ lâu”, “thương cho roi cho vọt” Điều đó ảnh hưởng đến cách dạy dỗ trẻ trong trường
MN, họ thường dùng đến biện pháp mạnh trừng phạt để lần sau nhớ, lần sau chừa
Người ta thường nói cô giáo như mẹ hiền là người yêu thương trẻ em, nhưngxem ra điều này không hoàn toàn đúng với những cô giáo thường xuyên la mắng,thậm chí còn đánh đập không nương tay những đứa trẻ mà họ từng xem như là concủa mình Chính sự thiếu hiểu biết và lạm dụng quyền làm người lớn các cô đã gâytổn hại đến trẻ Ngoài ra, người lớn cũng thiếu phương pháp giáo dục, chưa tìm đượcphương pháp thay thế cách giáo dục bằng đòn roi và la mắng Do đó, định hướngnâng cao nhận thức về phương pháp giáo dục trẻ, quyền TE, giới hạn quyền ngườilớn, nâng cao kĩ năng giáo dục trẻ, cung cấp thêm kiến thức về các phương pháp giáodục thay thế là điều quan trọng nên làm
1.2.5.3 Các biểu hiện cơ bản về nhận thức của giáo viên về BLTE trong cơ sởGDMN
a Nhận thức về Công ước quyền trẻ em
Công ước về quyền TE là điều ước quốc tế về quyền con người Công ướcthừa nhận sự đặc biệt dễ bị tổn thương của TE và đưa ra một tập họp các qui địnhpháp lí quốc tế một cách toàn diện nhằm mang lại lợi ích và sự bảo vệ cho TE Nhữngqui định này có liên quan đến tất cả các phạm trù của quyền con người
Một số quyền cơ bản của trẻ em được thể hiện trong Công ước là: Quyền được sổng còn của trẻ em; Quyền được bảo vệ của trẻ em; Quyền được phát triên của trẻ em; Quyển được tham gia của trẻ em.
Tuy nhiên một số người vẫn chưa quan tâm đến nội dung của Công ước, cho
Trang 23nên có nhận thức không đúng về quyền của trẻ Biểu hiện ở chỗ các cô thường không quan tâm lắng nghe ý kiến của trẻ (Quyền được lắng nghe; Quyền được nêu ý kiến)
mà chỉ buộc trẻ phải nghe ý kiến của người lớn
b Nhận thức về Luật bảo vệ, chăm sóc trẻ em (Số 25/2004/QH11 ngày 15 tháng 6 năm 2004)
Chương 1 - Điều 5: Trách nhiệm bảo vệ trẻ em, chăm sóc và giáo dục
1 Bảo vệ trẻ em, chăm sóc và giáo dục gia đình, trường học, nhànước, xã hội và công dân Trong tất cả các hoạt động liên quan đến trẻ em của các cơquan, tố chức, gia đình, cá nhân, lợi ích của trẻ em phải được quan tâm hàng đầu
2 Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức,gia đình và cá nhân trong và ngoài nước đóng góp cho sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc vàgiáo dục trẻ em
Chương 1 - Điều 6: Thực hiện các quyền trẻ em
-1 Quyền trẻ em phải được tôn trọng và thực hiện
2 Tất cả hành vi xâm phạm quyền của trẻ em, gây tổn hại đến sự pháttriển bình thường của trẻ em đều bị nghiêm trị theo quy định của pháp luật
Trang 2421
-Chương 1 - Điều 7: Các hành vi bị nghiêm cấm
Bỏ rơi trẻ em; Hành hạ, ngược đãi, làm nhục, lạm dụng trẻ em ;Cản trở việc học của trẻ em; Áp dụng các biện pháp có tính xúc phạm, hạ thấp danh
dự, nhân phẩm hoặc dùng nhục hình
Chương 3 - Điều 24: Trách nhiệm chăm sóc và nuôi dưỡng
Chương 3 - Điều 26: Trách nhiệm bảo vệ đời sống của trẻ em, cơ thể, nhân
phẩm và danh dự
Chương 3 - Điều 27: Trách nhiệm bảo vệ sức khỏe trẻ em
c Nhận thức về bản chất của bạo lực đối với trẻ em trong cơ sở GDMNBản chất của BLTE trong cơ sở GDMN là những hành vi bạo lực về thể chấtlẫn tinh thần đối với trẻ: hành vi quát mắng, đánh đập trẻ; bạo lực có thể gây thươngtích cho trẻ thậm chí tử vong; cô giáo, thờ ơ, không quan tâm đên trẻ
Như vậy vẫn có người hiểu sai về bản chất của BLTE, họ cho rằng bản chấtcủa BL là đánh đập và gây thương tích cho trẻ, còn việc cô giáo thờ ơ không quantâm thì không là BL
d Nhận thức về nơi thường xảy ra BLTE trong cơ sở GDMN
Bất kì ở đâu thành thị hay nông thôn đều có thể xảy ra BLTE, nhưng ở nhữngmức độ và biểu hiện khác nhau
Người ta cho rằng thường thì ở nông thôn BLTE dễ xảy ra hơn, vì ở nôngthôn người dân có trình độ nhận thức kém hơn, quan niệm sống còn lạc hậu, điều kiệntiếp cận với các phương tiện truyền thông đại chúng khó khăn chính vì vậy mà ởthành thị người ta thường hay che đậy khi có BLTE, bởi họ cho rằng họ có trình độhọc vấn cao hơn, quan niệm sống hiện đại hơn ở nông thôn
e Nhận thức về hậu quả của BLTE trong cơ sở GDMN
Hậu quả của BL gây ra với trẻ em trong cơ sở GDMN cả về mặt thể chất ỉẫntinh thần Nó biểu hiện ở chỗ: cô giáo gây ra thuơng tích trên cơ thể trẻ, thậm chí dẫnđến tật nguyền hay tử vong Trẻ có thái độ hung hãn, cọc cằn với mọi người xungquanh hoặc ngược lại trẻ có thái độ lầm lì, ít nói dần dần dẫn đến bị trầm cảm
Trang 25Hậu quả của BLTE trong cơ sở GDMN cũng rất đa dạng và khó nhận biết Do
đó mọi người nghĩ rằng hậu quả của BLTE phải là những cái nhìn thấy được như làgây thương tích cho trẻ Còn hậu quả của BLTT thì thường ít được quan tâm
f Nhận thức về các nguyên nhân dẫn đến BLTE trong cơ sở GDMN
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến BLTE trong cơ sở GDMN: trẻ không vânglời hay khóc nhè, vệ sinh không đúng chỗ, lười ăn, ăn chậm ; tâm trạng của giáoviên không tốt (ly hôn; vợ chồng xích mích; bản thân cô bị bạo lực gia đình ); trình
độ học vấn, chuyên môn của cô giáo còn hạn chế
1.3 Cơ sỏ’ lí luận của biện pháp nâng cao nhận thức của giáo viên về bạo lực trẻ em trong cơ sở GDMN
1.3.1 Cơ sở Triết học
c Mác (1918-1883) và Ph.Ăng-ghen (1820-1899) là những nhà triết học vĩđại trên thế giới, các công trình nghiên cứu của hai ông đã trở thành kim chỉ nam chomọi nghiên cứu khoa học Trong các công trình nghiên cứu của C.Mác và Ph.Ăng-ghen thì học thuyết về các quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội với hàng loạtphạm trù khoa học như mâu thuẫn, vận động, ý thức xã hội và tồn tại xã hội nó là
cơ sở quý báu cho nhiều công trình nghiên cứu xung đột cũng như vấn đề bạo lực từtrước tới nay
Trong cuộc sống của chúng ta, mâu thuẫn có ảnh hưởng lớn đến sự phát triểncủa cá nhân cũng như tập thể Mâu thuẫn xuất hiện trong sự đối lập nhau về quyềnlợi, quy tắc và địa vị xã hội của cá nhân cũng như của các nhóm xã hội Mâu thuẫnđòi hỏi phải được giải quyết Mâu thuẫn không được giải quyết thì không thể tiếnhành mọi công việc tiếp theo hoặc có một cuộc sống bình thường giữa các cá nhân vàcác nhóm trong xã hội Nếu mâu thuẫn đó được giải quyết đúng đắn thì sẽ thúc đẩy cánhân và xã hội phát triển, khi đó mâu thuẫn mang tính tích cực Bởi vậy, việc khắcphục những mâu thuẫn có ý nghĩa rất lớn đối với sự phát triển của tập thể và cá nhân
Bạo lực đối với trẻ em trong cơ sở GDMN là một biểu hiện của mâu thuẫn, đó
là cách con người giải quyết mâu thuẫn Nếu không được giải quyết một cách đúng
Trang 26-23-đắn sẽ để lại hậu quả khôn lường
1.3.2 Co’ sở Tâm lí học
1.3.2.1 Vai trò của hoạt động nhận thức
Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lí con người: Nhậnthức - tình cảm - hành động Nhờ có nhận thức đúng giúp con người nảy sinh tìnhcảm, hứng thú, từ đó có hành động đúng Quá trình nhận thức bao giờ cũng là mộtquá trình có mục đích, có phương tiện, phương pháp để thực hiện Nhận thức giúpcon người biểu hiện sâu sắc sự vật, hiện tượng cụ thể, vận dụng sự hiểu biết đó vàothực tiễn
Nhận thức lí tính là mức độ nhận thức cao hơn nhận thức cảm tính Đặc điểmnổi bật của nhận thức lí tính là phản ánh những thuộc tính bên trong, những mối liên
hệ, quan hệ bản chất bên trong của sự vật, hiện tượng trong hiện thực khách quan màcon người chưa biết
1.3.3 Co’ sỏ’ Giáo dục học
1.3.3.1 Vai trò của hoạt động giáo dục
Giáo dục học là khoa học nghiên cửu về việc giáo dục con người, về sự hìnhthành nhân cách con người một cách có mục đích trong quá trình tác động qua lạigiữa người giáo dục và người được giáo dục Giáo dục học bao gồm việc giáo dục thế
hệ trẻ đang lớn lên và những người đang trường thành Giáo dục là một quá trình hình
Trang 27thành cá nhân một cách có ý thức, có mục đích, có tổ chức nhằm nghiên cứu bảnchất, cấu trúc, qui luật và co chế hoạt động của chúng.
1.3.3.2 Đặc điểm của hoạt động giáo dục
Giáo dục là quá trình tác động có mục đích, có kế hoạch của nhà giáo dục đốivới người được giáo dục nhằm hình thành và phát triển toàn diện nhân cách ngườiđược giáo dục theo những yêu cầu của xã hội trong mỗi giai đoạn lịch sử nhất định
Giáo dục là những phưong tiện để trau dồi, hun đúc, tạo nên bản sắc, hìnhthành nhân cách của con người, đưa con người từ cuộc sống không có ý thức tới cuộcsống có ý thức, từ thiếu lí trí tới có lí trí, tình cảm để hoạt động sáng tạo ra những giátrị của cuộc sống
Giữa giáo dục và sự phát triển cá nhân có mối quan hệ biện chứng với nhau:giáo dục vừa tác động đến sự phát triển, vừa tác động đến các yếu tố có ảnh hưởngđến sự hình thành và phát triển (di truyền, môi trường và hoạt động cá nhân) Nóicách khác, giáo dục có vai trò chủ đạo đối với sự hình thành và phát triển nhân cách
cá nhân
1.4 Biện pháp nâng cao nhận thức về BLTE
1.4.1 Khái niệm biện pháp
Theo từ điển tiếng Việt, biện pháp là “cách thức tiến hành, giải quyết một vấn
đề cụ thể” Theo từ điển Hán Việt của giáo sư Nguyễn Lân thì khái niệm biện pháp là
“cách thức giải quyết một vấn đề hoặc thể hiện một chủ trương” Như vậy, ta có thể
hiểu: Biện pháp là cách làm cụ thể, cách giải quyết một vấn đề cụ thể hay hướng tới giải quyết nhiệm vụ từng phần, cụ thể.
Nhiều người thường hay khó phân biệt khái niệm “giải pháp” và “biện pháp”.Giải pháp là phương pháp giải quyết một vấn đề cụ thể nào đó nhằm đạt được mụcđích nhất định Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể Như vậy,giải pháp là một khái niệm rộng bao quát hơn biện pháp, mang cả tính chất lí luận và
có ý nghĩa định hướng cho nhiều biện pháp nhằm giải quyết vấn đề theo mục đích đãđịnh Khái niệm giải pháp thường gần nghĩa với khái niệm phương pháp Sự phân
Trang 28-25-biệt các khái niệm biện pháp, phương pháp, giải pháp chỉ có ý nghĩa tương đối
Biện pháp có thể xem là cách thức, là con đường, cách làm cụ thể để đạt đượchiệu quả cao nhất cho hoạt động, nhằm tiết kiệm thời gian, tiền của, công sức của cácthành phần tham gia hoạt động
1.4.2 Biện pháp nâng cao nhận thức về BLTE
Tính hiệu quả của hoạt động phụ thuộc vào sự lựa chọn đúng các biện pháptác động vào tổ chức Biện pháp không những là sự vận dụng tổng hợp sáng tạo và cụthế các phương pháp, được sự soi sáng bởi phương pháp vào một nhiệm vụ cụ thể,
mà còn là sự triển khai các giải pháp do cấp trên chỉ đạo vào một đơn vị cụ thể Biệnpháp về bản thân nó mang tính thực tiễn và càng sát với thực tế thì biện pháp càng cóhiệu quả Biện pháp là cách chủ thể vận dụng sáng tạo vào hoạt động nào đó Nhưvậy biện pháp nâng cao nhận thức, thái độ và hành vi có thể xem là cách làm, cáchgiải quyết vấn đề về BLTE Nhằm làm cho giáo viên nhận thức đúng về bản chất củaBLTE, từ đó thay đổi thái độ và hành vi theo hướng tích cực
Kết luận chương 1Trẻ em không những là thành viên của lớp học được người lớn chăm sóc, nuôidưỡng mà còn là nguồn hạnh phúc của mỗi nhà, là chủ nhân tương lai của đât nước.Việc tiếp thu những kinh nghiệm nào, đạo đức nào, mặt giáo dục nào phụ thuộc rấtnhiều vào ý thức, trách nhiệm và sự mâu thuẫn trong mọi hành vi của thế hệ đi trước.Hơn nữa, phần lớn TE là những người chưa có tài sản riêng, đời sống phụ thuộc vàogia đình, do đó TE có quyền được chăm sóc, bảo vệ, nuôi dưỡng và giáo dục Mọithiếu sót trong việc chăm sóc, giáo dục TE đều có thể dẫn đến những hậu quả nguy
hại cho TE, bởi vì “Trẻ em là những người còn non nớt, ở độ tuổi dưới 16 tuổi, chưa phát triển đầy đủ về thể chất, tỉnh thần Trẻ em vừa là trẻ em, vừa là người lớn đang hĩnh thành Do đó, trẻ em cần có được sự chăm sóc, giáo dục vào bảo hộ của gia đình và xã hội
BLTE trong cơ sở GDMN là hành vi đe dọa bằng hành động, lời nói của giáo viên đổi với các lĩnh vực khác nhau trong cuộc sổng hàng ngày của trẻ BL đối với
Trang 29TE là biểu hiện của sự hành hạ về thể xác lẫn tinh thần Qua đó ảnh hưởng nghiêm
trọng đến sức khỏe, tinh thần cũng như quá trình hình thành và phát triển nhân cáchcủa trẻ BL dù với hình thức nào vẫn để lại trong tâm trí trẻ những vết thương lòngkhó quên, từ đó làm tổn thương tình cảm của trẻ
Hành vi BL đối với TE trong cơ sở GDMN được thể hiện rất đa dạng Tuynhiên, trên thực tế nó lại được che giấu Để có thể giúp mọi người nhận ra được hành
vi BLTE và cùng nhau lên tiếng một cách đanh thép, dõng dạc ở cấp cao nhất rằng
BL đối vói TE ở bất kỳ hình thức nào, vào bất kỳ tình huống nào và trong bất kỳ hoàn
cảnh nào đều không thể dung tha thì giải pháp chính là: “Nâng cao nhận thức cho mọi người về vẩn đề BLTE để không còn những hành vi BLTE trong~cuộc sống đã và vẫn đang diễn ra ^
Trang 3027
Trang 31-CHƯƠNG 2
MÔ TẢ VÀ ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG NHẬN THỨC CỦA
GIÁO VIÊN VÈ BẠO Lực TRẺ EM TRONG CÁC cơ SỞ GDMN
Ở TỈNH BÌNH DƯƠNG 2.1 Vài nét về khách thể nghiên cứu
Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng kinh tếtrọng điểm phía Nam (gồm thành phố Hồ Chí Minh - Bình Dương - Đồng Nai - Bà Rịa
- Vũng Tàu), với vị trí địa lý thuận lợi, nằm trên các trục giao thông quan trọng củaquốc gia, Bình Dương có diện tích tự nhiên khá lớn, là vùng có tiềm năng phát triểnnông nghiệp Trong những năm vừa qua, nông nghiệp Bình Dương đã có sự phát triểntoàn diện Cơ cấu kinh tế nông nghiệp có sự chuyển dịch theo hướng tích cực Đời sống,vật chất và tinh thần của nông dân không ngừng được nâng lên Sự chuyển dịch cơ cấukinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Vào những năm 1995-1998, tỉnh Bình Dương đã bắt đầu hình thành các khucông nghiệp với quy mô lớn (Khu công nghiệp Việt Nam-Singapore, Sóng Thần ),năm 2005 hình thành khu công nghiệp Nam Tân Uyên Chính vì vậy mà tỉnh BìnhDương cũng đã thu hút nhiều lao động và cư dân từ các tỉnh thành khác đến BìnhDương lập nghiệp và mật độ dân số Bình Dương cũng ngày càng gia tăng, trong đókhông thể không nói đến tỉ lệ trẻ em cũng tăng theo Trẻ em tỉnh Bình Dương với sốlượng khá đông và hầu hết được đến trường theo đúng độ tuổi Trẻ em là niềm vui lànguồn hạnh phúc của mỗi gia đình, là mầm non tương lai của đất nước Trẻ em lứa tuổimầm non với tâm hồn ngây thơ, trong sáng, nhận thức còn non nớt, do đó các em cầnđược sư “bảo trợ” của người lớn trẻ mầm non có tình cảm mang đậm màu sắc XÚCcảm hơn nữa các em đang trong độ tuổi “học ăn, học nói”, ham muốn tìm tòi, khám pháthế giới xung quanh, do vậy cần có sự mềm dẻo, sự khéo léo, tinh tế ở cô giáo Trẻ cónhu cầu cao được bắt chước và noi theo các hành vi ứng xử của cô giáo Sự phát triểnlòng vị tha và hung tính là hai mặt trong sự hình thành và phát triển tình cảm - xúc cảmcủa trẻ Chính vì vậy cô giáo phải là tấm gương sáng cho trẻ noi theo
Trang 32-29-Với những điều phân tích ở trên, thì các trường mầm non công lập không đủ đếđáp úng được nhu cầu giữ trẻ vì vậy mà các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập rađời để đáp ứng nhu cầu giữ trẻ của rất đông lực lượng lao động từ các tỉnh thành khác
về Bình Dương lập nghiệp Song song với việc phát triển các cơ sở GDMN là sự đòi hỏimột lượng rất đông giáo viên mầm non, tuy nhiên như chúng ta đã biết giáo viên mầmnon được đào tạo chính quy hàng năm trên cả nước chỉ đủ để phục vụ các trường mầmnon công lập Vì vậy, đa số giáo viên giữ trẻ của các cơ sở GDMN chỉ được đào tạongắn ngày để làm bảo mẫu, hoặc chỉ có bằng trung cấp (rất ít), thậm chí có cô không cóbằng cấp gì chính vì điều này cũng làm ảnh hưởng đến chất lượng chăm sóc trẻ ở các
cơ sở GDMN ngoài công lập
2.2 Thực trạng nhận thức của giáo viên về BLTE trong các cơ sở GDMN ngoài công lập ở tỉnh Bình Dương
2.2.1 Khái quát thực trạng về nhận thức của giáo viên về BLTE trong các cơ sở GDMN ngoài công lập
Để nghiên cứu nhận thức của giáo viên về vấn đề BLTE, chúng tôi dựa trên sựhiểu biết của giáo viên thành phố Thủ Dầu Một, thị xã Thuận An và
huyện Tân Uyên trên một sô nội dung sau: quan niệm của giáo viên vê BLTE, bản chất,nguyên nhân, biểu hiện, các dạng BLTE (hình thức BLTE), giải pháp cụ thể của BL đốivới TE
2.2.1.1 Nhận thức về “Cống ước quyển trẻ em”
Bảng 2.1 Nhận chức về "Công ước quyền trẻ em"
Lựa chọn Số phiếu Phẩn trăm
Trang 33b Biết khá rõ e Không biết gì cả
c Biết rõ
Khi hỏi về “Công ước quyền trẻ em" thì đa số giáo viên (32,4%) biết rõ nhưng số người biết rất rõ chiếm tỉ lệ (16,2%), chỉ có rất ít giáo viên không biết gì cả về “Công ước quyền trẻ em ” (0,9%) Điều này chứng tỏ họ cũng có quan tâm đến các vấn đề về
Quyền TE thực chất là nhân quyền dành cho TE Chúng liên quan đến sự bảo vệ
cá nhân TE và việc tạo ra các điều kiện cho tất cả TE có thể phát triển hết khả năng củamình Quyền TE có vai trò đặc biệt trong giai đoạn tuổi thơ - thời kì thay đôi và phátcriẽn nhanh Quyên TE kêu gọi người lớn từ cha mẹ, cô giáo, cộng đồng, Chính phủ đảm bảo rằng TE lớn lên không bị bạo lực và sống trong các điều kiện giúp cho chúng
có thể phát huy hết khả năng của mình trong xã hội
Trang 34-31-a Biết rất rõ d Biết rất ít
b Biết khá rõ e Không biết gì cả
c Bình thườngQua bảng phân tích trên chúng ta thấy có nhiều giáo viên biết rất rõ (26,4%) và
biết khá rõ (35,1%) về Luật Phòng, chổng BLTE, nhưng có 13,5% là biết rất ít về nó.
Chứng tỏ sự quan tâm của giáo viên cũng chưa cao, chưa sâu sát về luật Phòng, chốngBLTE Điều này cũng nói lên công tác tuyên truyền Luật Bảo vệ, chăm sóc & giáo dụctrẻ em, nhằm thay đổi nhận thức, thay đổi hành vi giáo dục trẻ theo hướng tích cực của các tổ chức, ban ngành đoàn thể, trung tâm tư vấn, câu lạc bộ được thực hiện chưatốt, chưa rộng khắp Chính vì vậy sự quan tâm và hiểu biết của cộng đồng về luậtPhòng, chống BLTE còn chưa cao, chưa đầy đủ Họ chỉ nghe nói qua còn luậtccTnhững điều luật nào cụ thể fhì hàu như họ không nắm được
2.2.1.3 Nhận thức về Bản chất của BLTE trong cơ sở GDMN
a Nhận thức về khái niệm BLTE
Bảng 2.3 Nhận thức về khái niệm BLTELựa chọn Số phiếu Phần trăm
Trang 35năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kiểm soát về tài chính và các mối quan hệ đốivới TE trong cơ sở GDMN.
Qua bảng số liệu trên chúng ta nhận thấy rằng giáo viên có quan niệm đúng vàđầy đủ về khái niệm BLTE, tuy nhiên con số này chưa cao (58,6%) Số giáo viên còn lạichưa nhận thức đúng và đầy đủ khái niệm về BLTE (35,7%) Đây là vấn đề đáng quantâm, vì từ nhận thức sai sẽ dẫn đến có thái độ sai và hành vi sai Sở dĩ có tình trạng này
là do một số giáo viên chưa được tiếp cận cũng như chưa quan tâm các vấn đề liên quanđến BLTE
—Hiện nay vẫn còn nhiều giáo viên trong cách giáo dục trê trong các cơ sở GDMN
còn dùng đến biện pháp mạnh Họ vẫn còn quan niệm về cách dạy thương cho roi cho vọt, với quan niệm này đó cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến hành vi
BL với trẻ cả về thể xác lẫn tinh thần Nhiều giáo viên đánh trẻ mà không biết hành vicủa mình là hành vi xâm hại sức khỏe tâm thần trẻ
b Nhận thức về bản chất BLTE
Chú thích:
1 Giáo viên có hành vi BL về thể chất lẫn tinh thần đối với trẻ
2 Giáo viên có hành vi quát, mắng, đánh đập trẻ
Trang 36-33-3 Không có trẻ em nào chết vì bạo lực
4 Hành vi BL thường được che giấu và không muốn người khác biết
Nhìn chung, giáo viên được khảo sát nhận thức đúng và đầy đủ về đặcđiểm và bản chất BLTE trong Cỡ sở GDMN TưỆíĩhiên ở nội dung thứ nhất “Giáo viên
có hành vi BL về thể chất lẫn tinh thần đối với trẻ” (43,2%), nội dung thứ hai “Giáoviên có hành vi quát mắng, đánh đập trẻ” (43,2%) và nội dung thứ ba “Không có trẻ emnào chết vì bạo lực” (67,3%) thì giáo viên nhận thức chưa đúng về vấn đề này Giáoviên có nhận thức như trên bởi vì vẫn còn một số người cho rằng “Thương cho roi chovọt”,
Trang 37Thông qua kết quả nghiên cứu ta thấy giáo viên có nhận thức đúng và đầy đủ về
các loại BLTE và các biểu hiện của BLTE Tuy nhiên với biểu hiện “Thờ ơ không quan tâm đến trẻ” thì vẫn có giáo viên cho rằng đó không phải là BL (29,7%) Vì họ quan
niệm rằng BL là những hành vi đánh đập, chửi mắng Còn “thờ ơ không quan tâm đến
trẻ” là hành vi giận dỗi của người lớn nhằm dọa trẻ khi trẻ không nghe lời Đối với hành
vi “Đánh trẻ khi trẻ không vâng lời” thì vẫn có người cho đó là không BL (14,7%), vì
họ cho mình có quyền đánh trẻ khi trẻ mắc một lỗi nào đó
Khác với những hành vi BLTC thường để lại dấu vết, thương tích trên người nạnnhân, còn những hành vi BLTT không để lại dấu vết nào trên thân thể nạn nhân Nhưngnhững hành động BLTT lại thường gây ra những vết thương về tâm lí, tình cảm khólành
2.2.1.5 Nhận thức về loại hình trường mầm non có nguy cơ thường xảy ra BLTE
Bảng 2.6 Nhận thức về loại hình trường MN có nguy cơ thường xảy ra
a Trường mầm non công lập
b Trường mầm non tư thục
c Trong các cơ sở giáo dục mầm non
d Trong các nhóm trẻ tự phát
e Cả a, b, c và dGiáo viên cho rằng BLTE thường xảy ra ở các nhóm trẻ tự phát (36,6 %), họ chorằng giáo viên ở các nhóm trẻ tự phát hạn chế về trình độ học vấn cũng như về chuyênmôn và không có điều kiện tiếp cận với các thông tin về vấn đề BLTE, do đó họ khôngđược trang bị kiến thức về BLTE trong Do đó mới dẫn đến nhận thức chưa chính xác
Trang 38-36-về nguy cơ BLTE Còn ở trường mầm non công lập thì không xảy ra BLTE Tuy nhiên
có tới (48,9%) giáo viên cho rằng BLTE xảy ra ở cả bốn loại hình trường mầm nonnhưng ở một số trường BLTE thường diễn ra âm thầm kín đáo, khó nhận biết và đượcche dấu
2.2.1.6 Nhận thức về địa phương thường xảy ra BLTE
Bảng 2.7 Nhận thức về địa phương thường xảy ra BLTE
2.2.1.7 Nhận thức về hậu quả của BLTE trong cơ sở GDMN
Bảng 2.8 Nhận thức về hậu quả của BLTE
Trang 39e Ý kiến khác của anh chị?
Qua số liệu trên chúng ta thấy đa số giáo viên đều nhận thức được những hậuquả do BLTE gây ra làm ảnh hưởng về mặt sức khỏe và tinh thần của trẻ (72,1%) Điều
đó chứng tỏ đa số giáo viên nhận thức đúng về hậu quả của BLTE trong các cơ sở
GDMN
BLTE ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe thể chất của trẻ hoặc nguy hại hơn cổthề nguy hiểm đến tínlĩ mạng BL cũng làm cho trẻ không thể phát triển thể chất mộtcách bình thường BL cũng ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe tâm thần của trẻ—
2.2.2 Kết quả phỏng vấn nghiệm thế nghiên cứu
Trang 40-38-Đê tìm hiểu sâu hơn về thục trạng nhận thức và thái độ của giáo viên về vấn đề BLTE trong cơ sở GDMN, chúng tôi đã tiến hành điều tra, phỏng vấn đối với giáo viên các cơ sở giáo dục mầm non
Bảng 2.9 Kết quả phỏng vấn giáo viên
•Tông
1 Chỉ quát mắng và đánh khi trẻ mắc lỗi 14 87,5 16 100
2 Không bao giờ quát mắng và đánh ưẻ 2 12,5 16 100
3 Rất bức xúc, tức giận, không đồng tình 13 81,3 16 100
4 Tùy theo mức độ đánh trẻ nặng hay nhẹ 3 18,7 16 100
5 Không nên dùng bạo lực, mà nên gần gũi trò
6 Nên tuyên truyền luật phòng chống BLTE, tự
nâng cao kiến thức về nuôi dạy trẻ và sự can
thiệp của chính quyền
cách dạy trẻ đôi khi cũng còn sai lệch