Tínhđến tháng 4 năm 2015, tỉnh Bình Dương hiện có 11 DTLS, VH được công nhận cấp quốc gia, 39DTLS, VH được công nhận cấp tỉnh nhung việc khai thác các di tích lịch sử văn hóa vào du lịch
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHỎA SỬ
BÁO CÁO TỐNG KẾT
ĐỀ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
NGHIÊN cứu VÀ ĐÈ XUẤT GIẢI PHÁP KHAI THÁC HIỆU QUẢ CÁC DI TÍCH LỊCH sử, VĂN HÓA
PHÁT TRIỀN DU LỊCH TỈNH BÌNH DƯƠNG
Mã số: 280/HĐ-NCKHPTCN
Chủ nhiệm đề tài: ThS Phan Văn Trung
Bình Dương, Tháng 1 - 2016
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
KHỎA SỬ
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐÈ TÀI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ CẤP TRƯỜNG
NGHIÊN CỨU VÀ ĐÈ XUẤT GIẢI PHÁP KHAI THÁC HIỆU QUẢ CÁC DI TÍCH LỊCH sử, VĂN HÓA
Trang 3DANH SÁCH THÀNH VIÊN THAM GIA ĐÈ TÀI
1 Thạc sĩ Phan Văn Trung - Chủ nhiệm đề tài
2 Thạc sĩ Lê Thị Ngọc Anh - Thành viên
Trang 4MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 3
DANH MỤC BẢNG số LIỆU 3
DANH MỤC BẢN ĐỒ VÀ BIỂU Đồ 5
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN cứu 6
PHẦN MỞ ĐẦU 9
1 Lí do chọn đề tài 2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 10
3 Mục tiêu đề tài 15
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 16
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cúu 16
6 Bố cục đề tài 18
PHẦN NỘI DUNG 19
CHƯƠNG 1: 19
Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỀN CỦA VIỆC KHAI THÁC DI TÍCH LỊCH sử, VÁN HÓA PHỤC VỤ PHÁT TRIỀN DU LỊCH 19
1.1 Du lịch và các khái niệm liên quan 19
1.2 Di tích lịch sử, văn hóa 23
1.3 Kinh nghiệm quốc tế trong bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa và phát triên du lịch 35
1.4 Xu hướng du lịch trên thế giới và vấn đề khai thác di tích lịch sử, văn hóa vào phát triển du lịch ở Việt Nam 38
1.5 Mộ t số loại hình du lịch gắn với hệ thống di tích lịch sử, văn hóa 46
CHƯƠNG 2: 48
THỰC TRẠNG KHAI THÁC DI TÍCH LỊCH sử, VĂN HÓA PHỤC vụ PHÁT TRIỂN DU LỊCH ở BÌNH DƯƠNG 48
2.1 Khái quát chung về tỉnh Bình Dương 48 2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc khai thác hiệu quả các di tích lịch sử, văn
Trang 5hóa phát triển du lịch tỉnh Bình Dương 51
2.3 Tiềm năng các di tích lịch sử, văn hóa ở Bình Dương phục vụ phát triền du lịch 59
2.4 Thực trạng khai thác di tích lịch sử, văn hóa phục vụ phát triển du lịch ở Bình Dương 70
CHƯƠNG 3: 91
CÁC GIẢI PHÁP KHAI THÁC HIỆU QUẢ CÁC DI TÍCH LỊCH sử, VĂN HÓA PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH TỈNH BÌNH DƯƠNG 91
3.1 Định hướng khai thác các di tích lịch sử, văn hóa phục vụ phát triên du lịch 91
3.2 Các giải pháp khai thác hiệu quả các di tích lịch sử, văn hóa phục vụ phát triển du lịch tỉnh Bình Dưong 107
PHẦN KẾT LUẬN 119
TÀI LIỆU THAM KHẢO 121
PHỤ LỤC 125
Trang 6DANH MỤC TÙ VIẾT TẮT
ASEAN: Các nước Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations)
BQLDT & DT: Ban Quản lí Di tích & Danh thắng
CSVC-KT: Cơ sở vật chất - kĩ thuật
DTLS, VH: Di tích lịch sử, vãn hóa
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
MICE: Du lịch kết hợp với hội nghị, hội thảo, triển lãm, tổ chức sự kiện (Meeting
Incentive Conference Event)
PVS: Phỏng vấn sâu
SVHTT & DL: Sở Vãn hóa Thể thao và Du lịch
TNDL: Tài nguyên du lịch
UBND: ủy ban nhân dân
UNESSCO: Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (United
Nations Educational Scientific and Cultural Organization)
UNWTO: Tổ chức Du lịch Thế giới (The United Nations World Tourism
Organization)
WTTC: Hội đồng du lịch và lữ hành thế giới (World Tourism and Travel Council)
Trang 7DANH MỤC BẢNG SÓ LIỆU
Bảng 2.1: Quy mô dân số tỉnh Bình Dương giai đoạn 2000 - 2013 52
Bảng 2.2: Nguồn lao động tỉnh Bình Dương giai đoạn 2000 - 2013 52
Bảng 2.3: GDP theo ngành kinh tế tỉnh Bình Dương giai đoạn 2000 - 2013 53
Bảng 2.4: Cơ cấu dân số phân theo thành thị và nông thôn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2000-2013 .55
Bảng 2.5: Các DTLS, VH cấp tỉnh có khả năng khai thác du lịch 70
Bảng 2.6: Tình hình khai thác các điểm DTLS, VH 72
Bảng 2.7: Danh mục và vốn trùng tu, tôn tạo di tích 80
Bảng 2.8: Tình hình quản lý DTLS, VH cấp quốc gia ở tỉnh Bình Dương 83
Bảng 2.9: Thống kê trình độ, chuyên môn nguồn nhân lực thuộc bộ phận quản lí di tích lịch sử, văn hóa tình Bình Dương năm 2015 85
Trang 8DANH MỤC BẢN ĐỒ VÀ BIÉƯ ĐỒ
Hình 2.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bình Dương 50
Hình 2.2: Bản đồ phân bố di tích cấp quốc gia và cấp tỉnh tỉnh Bình Dương 69
Hình 2.3: Biểu đồ về mức độ thuận tiện khi di chuyển của du khách đến điếm tham quan 75
Hình 2.4: Biểu đồ nguồn thông tin khách tiếp cận điểm di tích 77
Hình 2.5: Biểu đồ mục đích đến điểm di tích của khách du lịch 78
Hình 2.6: Biểu đồ đánh giá của du khách về thái độ phục vụ tại điếm di tích 87
Hình 3.1: Bản đồ tuyến điểm du lịch di tích lịch sử, văn hóa tỉnh Bình Dương 100
Hình 3.2: Bản đồ tuyến điểm du lịch kết hợp tỉnh Bình Dương 106
Trang 9TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦ DẦU MỘT
Đon vị: Khoa Sử
THÔNG TIN KẾT QUẢ NGHIÊN cứu
1 Thông tin chung:
- Tên đề tài: Nghiên cứu và đề xuất giải pháp khai thác hiệu quả các di tích lịch sử, văn hóaphát triển du lịch tỉnh Bình Dương
- Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy và học tập mônĐịa lý du lịch và Địa lý địa phương, tài liệu cho các ngành liên quan ở địa phương như SVHTT &
4 Kết quả nghiên cứu:
Thông qua việc hoàn thành các chuyên đề, báo cáo tổng kết, báo cáo tống thuật tài liệu, đềtài làm rõ các vấn đề:
- Tổng quan về cơ sở lí luận và các nghiên cứu liên quan đến khai thác DTLS, VH phát triển du lịch
- Phân tích rõ tiềm năng lớn của hệ thống DTLS, VH trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong phát triển du lịch
- Làm rõ hiện trạng khai thác các DTLS, VH phục vụ phát triển du lịch ở tỉnh Bình Dương
Trang 10- Đề xuất định hướng và các giải pháp khai thác hiệu quả các DTLS, VH phát triển du lịch tỉnh Bình Dương.
5 Sản phẩm:
Sản phẩm đề tài bao gồm:
- 01 bài báo sẽ đăng trên Tạp chí Khoa học & Công nghệ - Đại học Duy Tân
- 01 đề tài hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học với tên đề tài.- Thực trạng và định
hưổng khai thác các di tích lịch sử, vãn hóa cap quốc gia và câp tỉnh phục vụ cho phát triển du lịch ở huyện Tân Uyên, tỉnh Bỉnh Dương, đã đánh giá xếp loại khá.
- Báo cáo tổng kết đề tài
- Báo cáo tổng thuật tài liệu tham khảo
- Tổ chức 01 hội thảo khoa học
- Chuyên đề: 04
1 Tiềm năng khai thác các di tích lịch sử, văn hóa phục vụ phát triên du lịch
Trang 11du lịch Bình Dương Định hướng và giải pháp
6 Hiệu quả, phưong thức chuyển giao kết quả nghiên cứu và khả năng áp dụng:
- Đề tài là tài liệu tham khảo trong giảng dạy và học tập các học phần Địa lý du
lịch, Địa lý địa phương.
- Tư liệu tham khảo cho các ngành liên quan trong việc khai thác các DTLS, VH phục vụ phát triển du lịch như SVHTT & DL tỉnh Bình Dương, BQLDT & DT tỉnh Bình Dương
- Đề tài gợi mở cho doanh nghiệp, công ty du lịch khảo sát và xây dựng các tuyến điểm du lịch mới
Ngày 12 tháng 1 năm 2016
Chủ nhiệm đề tài
Đon vị chủ trì Lãnh đạo Khoa Sử
ThS Phan Văn Trung
Trang 12PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Du lịch ngày nay đang trở thành một trong những ngành dịch vụ quan trọng, có tốc độ tăngtrưởng nhanh, mang lại nhiều lợi nhuận cho các quốc gia Kinh tế du lịch được quy hoạch hợp lígóp phần làm tăng nguồn thu, tạo việc làm, bảo tồn các di sản thiên nhiên và di sản văn hóa ,đồng thời tạo ra cơ hội tăng cường hiếu biết, giao lưu văn hóa Theo số liệu của thống kê của Tổngcục Du lịch năm 2014, số khách quốc tế đến Việt Nam là 7,874 triệu lượt, khách nội địa đạt 37,5triệu lượt, tổng doanh thu ngành du lịch 230.000 tỷ đồng, đóng góp 5 % vào GDP của Việt Nam[59] Ngành du lịch đã trở thành ngành kinh tế quan trọng, có tác động tích cực tới đời sống kinh
tế, văn hóa, xã hội của đất nước
Bình Dương là một tỉnh thuộc vùng Đông Nam Bộ, vùng đất chiến trường năm xưa vớinhững địa danh đã đi vào lịch sử như Phú Lợi, Bàu Bàng, Bẽn Súc, Lai Khê, Nhà Đỏ, chiến khu Đ,vùng Tam Giác sắt Ngoài ra còn có khu du lịch Đại Nam là khu du lịch lớn nhất Đông Nam Á vànhiều di tích lịch sử văn hóa khác Sự đa dạng, phong phú các di tích lịch sử văn hóa là nguồnTNDL có giá trị, góp phần thu hút khách du lịch đến tỉnh nhà
Theo báo cáo của Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh Bình Dương, doanh thu từ du lịchtrên địa bàn tỉnh năm 2014 đạt hơn 1100 tỷ đồng Tổng số khách du lịch đến Bình Dương đạt hơn4,2 triệu lượt khách, trong đó 190 ngàn lượt khách quốc tế, hơn 4,01 triệu lượt khách trong nước[60] Đây là những kết quả đáng khích lệ trong lĩnh vực du lịch Tuy nhiên, sự phát triển của dulịch Bình Dương chưa tương xứng với tiềm năng, nhất là sự đa dạng, độc đáo về DTLS, VH Tínhđến tháng 4 năm 2015, tỉnh Bình Dương hiện có 11 DTLS, VH được công nhận cấp quốc gia, 39DTLS, VH được công nhận cấp tỉnh nhung việc khai thác các di tích lịch sử văn hóa vào du lịchcòn rất hạn chế [2], Quy hoạch phát triển du lịch tỉnh Bình Dương đến năm 2020, tầm nhìn đếnnăm 2030 đã đề ra mục tiêu đưa du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng, góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của tỉnh trong đó đặt ra vấn đề bảo tồn và khai thác có hiệu quả các DTLS, VH, đây
là một thách thức lớn
Vì vậy, cần nghiên cứu và đề xuất các giải pháp khai thác hiệu quả các thế mạnh du lịchnói chung và các DTLS, VH nói riêng phục vụ phát triển du lịch ở Bình Dương là yêu cầu mang
tính cấp thiết, có ý nghĩa thực tiễn Đó là những lý do của việc thực hiện đề tài: “Nghiên cứu và đề
xuất giải pháp khai thác hiệu quả các di tỉch lịch sử, vãn hóa phát triên du lịch tỉnh Bĩnh Dưong".
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Trang 132.1 Ngoài nưóc
Silberberg, Ted (1995), Cultural tourism and business opportunities for museums and
heritage sites [20], Công trình nghiên cứu này phân tích mối quan hệ giữa du lịch văn hóa và cơ
hội kinh doanh cho bảo tàng và các di sản với trường hợp cụ thể ở tỉnh bang Ontario của Canada
Trên cơ sở đó, đưa ra các định hướng về các sản phẩm du lịch văn hóa cho Ontario Ballesteros,
Esteban Ruiz, and Macarena Hernandez Ramirez (2007), Identity and community—Reflections
on the development of mining heritage tourism in Southern Spain [1], Trong công trình nghiên cứu
này, nhóm tác giả tập trung làm rõ ảnh hưởng của bản sắc xã hội và vai trò của cộng đồng mang
tính biểu tượng trong phát triển du lịch di sản ở miền Nam Tây Ban Nha Landorf, Christine
(2009), Managing for sustainable tourism: a review of six cultural World Heritage Sites [15],
Trong công trình này, các tác giả nghiên cứu mối quan hệ giữa du lịch di sản và phát triển bềnvừng Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng để khai thác hiệu quả các di sản nói chung và di sản thế giớinói riêng cần có sự phối hợp của nghiều ngành liên quan trong quá trình lập kế hoạch và khai tháccác di sản phục vụ phát triển du lịch Ngoài ra đê khảo sát về sự hài lòng của du khách tại các điểm
du lịch, UNWTO (2004) đã đề xuất bộ chỉ số phát triển bền vững cho điểm đến du lịch với 13 tiêu
chí đánh giá [37] Trong đó, tiêu chí thứ 4 phản ánh mức độ hài lòng trong hoạt động du lịch của
du khách Các chỉ số dùng đế đo lường mức độ hài lòng của khách du lịch gồm: (z) mức độ hàilòng của khách ở lối đi; (z’z) nhận thấy đồng tiền bỏ ra đáng giá; (z77) những lời phàn nàn đượcghi nhận; (z‘v) % số khách trở lại; (v) có sự thay đổi về giá trung bình phải trả cho mỗi phòng; (vz)
đã đảm bảo và giải quyết được những sự phàn nàn Các chỉ số trên được thu thập thông qua công
cụ bảng hỏi đối với khách du lịch Giá trị nhận được là tỉ lệ % số ý kiến trả lời của du khách Bộtiêu chí của UNWTO (2004) có ưu điểm là dễ xác định sự hài lòng của du khách về chất lượngdịch vụ thông qua tỉ lệ phần trăm ý kiến trả lời Việc đánh giá cũng trở nên thuận tiện khi điểm đếntham quan có ranh rới hành chính hoặc ranh giới tự nhiên tương đối rõ ràng
2.2 Việt Nam
Trần Văn Thắng (1995), Đánh giá khả năng khai thác các di tích lịch sử - văn hóa tỉnh
Thừa Thiên Huế phục vụ mục đích du lịch [28], tác giả đã dựa trên năm tiêu chí: (í) mật độ di tích;
(zz) số lượng di tích; (zzz) số di tích xếp hạng cấp quốc gia; (zv) số di tích xếp hạng cấp địaphương; (v) số di tích đặc biệt quan trọng Việc xếp hạng theo các cấp chủ yếu áp dụng cho cácDTLS-VH, do vậy, phương pháp này phù hợp để đánh giá về các DTLS, VH đã được xếp hạng.Phương pháp được sử dụng đánh giá hệ thống DTSL-VH ở Thừa Thiên - Huế là phương pháp
Trang 14đánh giá tổng hợp, với việc xác định tiêu chí đánh giá, điếm số đánh giá (từ 1 đến 4 điếm), trọng sốđánh giá (từ 1 đến 4, dựa theo nhận định của các chuyên gia) Kẻt quả đánh giá theo phương phápnày có điểm mạnh là phản rõ nét mức độ tập trung các DTLS, VH theo lãnh thổ Tuy nhiên, sựchênh lệch về diện tích của các lãnh thổ đồng cấp (thuộc địa bàn nghiên cứu) quá lớn sẽ làm giảmmức ý nghĩa của kết quả nghiên cứu Ngoài ra, sẽ là hoàn thiện hơn nếu luận án sử dụng công cụđiều tra bảng hỏi khách du lịch đê có thêm những thông tin bổ ích từ phía du khách làm cơ sở đềxuất hướng khai thác.
Nguyễn Hà Quỳnh Giao, Phạm Xuân Hậu (2013), Thực trạng và định hướng khai thác
di tích lịch sử - văn hỏa tỉnh Thừa Thiên Huê phục vụ phát triên du lịch [8] Nhóm tác giả đã đề
cập đến thực trạng khai thác du lịch ở 132 di tích các DTLS, VH tỉnh Thừa Thiên Huế trong tổng
số 891 di tích đã xếp hạng và chưa xếp hạng phân bố ở 9 huyện, thành phố tỉnh Thừa Thiên Huế.Nội dung đánh giá thực trạng bao gồm các nội dung về mặt quản lí, sử dụng và bảo tồn di tích thểhiện thông qua các yếu tố cụ thể (i) số lượng khách tham quan và doanh thu; (ii) số lượng di tíchđược khai thác; (iii) số lượng di tích được bảo tồn, tu bổ, tôn tạo; (iv) Công tác tổ chức, quản lí; (v)
Sự đóng góp của cộng đồng địa phương Nhóm tác giả cũng đồng thời chỉ ra nguyên nhân củanhững hạn chế trong khai thác Trên cơ sở đánh giá thực trạng đề tài đưa ra định hướng khai tháccác DTLS, VH tỉnh Thừa Thiên Huế phục vụ khai thác về (i) Định hướng kinh doanh; (ii) Địnhhướng đầu tư; (iii) Định hướng đối với cộng đồng Đề tài có sự đầu tư, tập trung vào riêng nhómDTLS, VH, đưa lại được hiện trạng khai thác chung của tỉnh
Nguyễn Thị Mỹ Linh (2013/ Nghiên cứu phát triển du lịch văn hóa tỉnh An Giang [16],
đã tiến hành phân tích, đánh giá những thuận lợi, khó khăn trong hoạt động và quản lí du lịch vănhoá của tỉnh, thông qua việc sử dụng các phương pháp thống kê, thu thập và xử lí tài liệu, số liệu
và khảo sát thực địa từ các cơ quan nhà nước, các cơ sở kinh doanh du lịch, khách du lịch, chínhquyền và cư dân địa phương Từ đó cho ra các kết quả về: số lượng khách du lịch đến An Giang,
xu huớng và đặc điểm của du khách, chất lượng sản phẩm, nhu cầu của thị trường, cơ cấu quản línhà nước, số lượng các cơ sở kinh doanh du lịch và chất lượng nguồn nhân lực Căn cứ vào kếtquả khảo sát thực tiển, điều kiện và định hướng phát triến du lịch của tỉnh kết hợp với các cơ sở líluận, tác giả đề xuất 7 giải pháp phù hợp nhằm góp phần phát triển du lịch văn hoá ở An Gianggồm (i) Giải pháp về phát triển cơ sở vật chất phục vụ du lịch văn hoá; (ii) Giải pháp về phát triểnnhân lực trong du lịch văn hoá; (iii) Giải pháp về phát triển sản phẩm du lịch văn hoá đặc thù; (iv)Giải pháp về thị trường và khách du lịch văn hoá; (v) Giải pháp về tổ chức, quản lí hoạt động du
Trang 15lịch văn hoá; (vi) Giải pháp về xúc tiến, quảng bá sản phẩm du lịch văn hoá; (vii) Giải pháp về bảotồn di sản văn hoá và TNDL văn hoá Đẻ tài đã có sự khảo sát và tham vấn nhiều nguồn, đưa ranhững kết luận gắn với thực tiễn tuy nhiên đối với khách du lịch là nhân tố trung tâm chưa đượcđưa vào xem xét và nghiên cứu như là nhân tố quan trọng, làm giảm đi tính thực tiễn của đề tài[16].
Hoàng Trọng Tuân (2013), Đánh giả thực trạng khai thác tài nguyên du lịch nhãn văn ở
Thành pho Hồ Chỉ Minh qua chương trĩnh tham quan của các doanh nghiệp lữ hành [33], đưa ra
cách tiếp cận khác về đánh giá thực trạng khai thác TNDL nhân văn qua chương trình tham quancủa các doanh nghiệp lữ hành Tác giả sử dụng phương pháp khảo sát chương trình tham quan 25doanh nghiệp hàng đâu Việt Nam được Tổng cục Du lịch triển khai bầu chọn và kết quả đánh giácủa SVHTT & DL Thành phố Hồ Chí Minh Nội dung đánh giá cụ thể về (i) số lượng các điểmTNDL nhân văn đang được khai thác; (ii) Mức độ khai thác các điếm TNDL nhân văn; (iii) Tính
đa dạng giữa các loại TNDL nhân văn trong quá trình khai thác; (iv) Mức độ khai thác các điểmTNDL nhân văn theo lãnh thổ; (v) Tính linh hoạt trong quá trình khai thác Trên cơ sở nghiên cứutác giả đề xuất những giải pháp nhằm đa dạng hóa hoạt động khai thác TNDL nhân văn tại Thànhphố Hồ Chí Minh Đề tài đưa ra hướng mới trong nghiên cứu hiệu quả khai thác khi xem xét từgóc độ nguồn cầu Tuy nhiên, việc khai thác các di tích là một vấn đề có mối quan hệ chặt chẽ vớinhiều nhân tố như cộng đồng, quản lí, cá nhân du khách đồng thời nhiều khách du lịch nhân văntrong thực tế không theo chương trình các doanh nghiệp vì vậy phương pháp đánh giá còn hạn chế,chưa thể hiện hết thực trạng
Nguyễn Trọng Hiếu (2014), Phát triển du lịch về nguồn - Thế mạnh du lịch tỉnh Tây
Ninh [10], đã giới thiệu tiềm năng các DTLS, VH tôn giáo đặc trưng có giá trị cho khai thác phát
triển du lịch với 22 di tích được xếp hạng quốc gia Tác giả đề cập đến thực trạng phát triển du lịch
về nguồn ở một số di tích đang được khai thác phát triển và đưa ra những hạn chế, nguyên nhân.Đồng thời các các giải pháp phát triển loại hình du lịch được đề xuất Tác giả đã giới thiệu mộthướng du lịch khai thác DTLS, VH thích hợp với địa phương, tuy nhiên chủ yếu chỉ dừng lại mức
độ tiềm năng, việc đánh giá thực trạng dựa trên số liệu thống kê, quản lý, chưa đánh giá đúng vaitrò và đặc điểm khách du lịch nên tính thực tiễn còn hạn chế
Hoàng Trọng Tuân (2015/ Khai thác các di tích lịch sử - vãn hóa ở Thành phổ Hồ Chí
Minh phục vụ phát triển du lịch [34], nghiên cứu thực trạng khai thác các di tích lịch sử - văn hóa
ở Thành phố Hồ Chí Minh phục vụ phát triển du lịch với hướng tiếp cận được tác giả sử dụng
Trang 16trong nghiên cứu này là hướng tiếp cận liên ngành, cụ thể là sự kết hợp giữa: Địa lý - Kinh tế dulịch - Nhân học - Văn hóa học - Lịch sử Trong đó, ngành Địa lý giữ vai trò chú đạo, các ngànhkhác mang tính chất bổ trợ Tác giả đã đề xuất các giả thuyết các nhân tố tác động đến hoạt độngkhai thác DTLS, VH và xác định hướng nghiên cứu các yếu tố về: chính sách khai thác các điểmDTLS-VH; nguồn nhân lực tại các điểm DTLS-VH; và hệ thống CSVC-KT tại điểm du lịch Cáctiêu chí cụ thể được vận dụng dựa trên các các tiêu chí đánh giá hoạt động du lịch của Tổ chức Dulịch Thế giói (UNWT0, 2004) ở các nhóm (i) khả năng tiếp cận; (ii) sự sẵn sàng phục vụ; (iii) nộidung tham quan; (iv) cơ sở vật chât kỹ thuật du lịch; (v) nguồn nhân lực tại điểm; (vi) sức chứakhách; (vii) tính an toàn; (viii) lòng mến khách Các tiêu chí được đánh giá dựa trên kết quả bảnghỏi điều tra ở 7 điểm di tích lịch sử văn hóa và 180 phiếu Kết quả nghiên cứu đã đánh giá đượcnhững thế mạnh và hạn chế trên thực tế ở hoạt động khai thác DTLS, VH ở Thành phố Hồ ChíMinh, là cơ sở đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch ở đây.
Có thể thấy, trong các công trình nghiên cứu nêu trên, các tác giả đã có những hướng tiếpcận nghiên cứu, đánh giá về TNDL (trong đó có hệ thống DTLS-VH) ở các khía cạnh khác nhau
và đã làm sáng rõ nhiều vấn đề về lí luận và thực tiễn Tuy vậy, những nghiên cứu, đánh giáchuyên sâu về thực trạng khai thác hệ thống DTLS, VH tại một điểm du lịch cụ thê, nghiên cửuhiện trạng hoạt động ở nhiều khía cạnh như khách du lịch, người quản lý, lao động trực tiếp đangtồn tại một số hạn chê và chưa được tiến hành trên địa bàn tỉnh Bình Duơng
2.3 Tỉnh Bình Dưomg
Huỳnh Thị Bích Tuyền (2012), Định hướng bảo tồn tài nguyên du lịch nhân văn ở tỉnh
Bình Dương phục vụ du lịch [36] Đây là công trình nghiên cứu đi sâu vào tìm hiểu TNDL nhân
văn ở tỉnh Bình Dương, trên cơ sở đó đưa ra định hướng bảo tồn nhằm phục vụ du lịch Nguyễn
Lê Xuân Thảo (2012), Thực trạng và định hướng phát triển du lịch tỉnh Bình Dương [29], Công
trình nghiên cứu này phản ánh rõ thực trạng phát triển ngành du lịch tỉnh Bình Dương, đưa ra các
định hướng phát triển cho ngành du lịch tỉnh Bình Dương UBND tỉnh Bình Dương (2011),
Quyết định về việc phê duyệt Quy hoạch phát triên du lịch tỉnh Bình Dương đên năm 2020, tầm nhìn đèn năm 2030 [40] Bản quy hoạch khái quát thực trạng, thời cơ và thách thức của ngành du
lịch tỉnh Bình Dương, qua đó đề xuất quy hoạch phát triến du lịch tỉnh Bình Dương đen năm 2020,tầm nhìn đến năm 2030 Ba công trình trên mặc dù có đề cập đến nội dung khai thác các DTLS,
VH phục vụ phát triên du lịch nhưng ở mức độ khái quát chung cho tất cả các loại hình du lịch và
không dùng phương pháp điều tra bảng hỏi hay phỏng vấn sâu trong quá trình nghiên cứu sỏ' Văn
Trang 17hóa - Thông tin Bình Dương, BQLDT & DT (2008), Di tích và Danh thẳng tỉnh Bình Dương
[26] Đây là công trình nghiên cứu về các DTLS, VH và danh thắng tỉnh Bình Dương ở các giá trị
lịch sử và kiến trúc Hội Khoa học Lịch sử Bình Dương (2008), Bình Dirong danh lam cổ tự
[13], Công trình này các tác giả nghiên cứu về các giá trị lịch sử và kiến trúc của một số ngôi chùa
cổ tiêu biểu ở Bình Dương UBND tỉnh Bình Duong (2006), Đe án: Bảo tồn, tân tạo và phát huy
giá trị di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng cảnh tỉnh Bĩnh Dương đến năm 2010 và định hướng đến 2020 [38] Đề án này khái quát hiện trạng và đề xuất giải pháp bảo tồn, tôn tạo các
DTLS, VH và danh tháng, trên cơ sở đó phát huy các giá trị của các di tích, chú trọng phần lớn vào
khai thác giá trị lịch sử của di tích SVHTT & DL tỉnh Bình Duong (2013), Đẻ án Phát triển các
sản phẩm du lịch đặc thù Bĩnh Dương đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 [22] Đe án này
khái quát tiềm năng du lịch và đề xuất phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù ở Bình Dương đến
năm 2015, định hướng đến năm 2020, trong đó có sản phẩm tham quan DTLS, VH SVHTT &
DL tỉnh Bình Duong (2013), Đè án Tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch tỉnh Bĩnh Dương giai
đoạn 2013 - 2015, định hướng đến năm 2020 [23] Đe án khái quát thực trạng phát triển chung
ngành du lịch tỉnh Bình Dương, trên cơ sở đó xây dựng các giải pháp tuyên truyền quảng bá, đẩymạnh hoạt động xúc tiến du lịch, mục tiêu đưa Bình Dương trở thành điểm đến an toàn, hấp dẫnđối với du khách
Những đề tài trên đã đề cập đến nhiều khía cạnh khác nhau về các DTLS, VH nói chung vàtỉnh Bình Dương nói riêng, tuy nhiên nghiên cứu tiềm năng, thực trạng và đưa ra định hướng, cácgiải pháp khai thác hiệu quả các DTLS, VH phục vụ phát triển du lịch tỉnh Bình Dương chưa cótác giả nào nghiên cứu Vì vậy, đây là những đóng góp mới của nhóm nghiên cứu
3 Mục tiêu đề tài
- Nghiên cứu tiềm năng, thực trạng khai thác các DTLS, VH tỉnh Bình Dương phục vụ pháttriển du lịch Trên cơ sở đó, đề xuất định hướng và các giải pháp chủ yếu nhằm khai thác có hiệuquả các DTLS, VH phục vụ phát triển du lịch ở tỉnh Bình Dương
- Ngoài ra, kết quả nghiên cứu còn là tài liệu tham khảo phục vụ giảng dạy và học tập môn
Địa lý du lịch và Địa lý địa phương, tài liệu cho các ngành liên quan ở địa phương như SVHTT &
DL, BQLDT & DT tỉnh Bình Dương
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các DTLS, VH ở tỉnh Bình Dương
Trang 18- Phạm vi nghiên cứu
về thời gian: Từ năm 1997 đến tháng 8 năm 2015
về không gian: Tỉnh Bình Dương
5 Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cách tiếp cận
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn, lý luận, kết hợp với các xu hướng mới trong ngành du lịch nhằm đề ra các biện pháp khai thác các DTLS, VH hiệu quả nhất
5.2 Phương pháp nghiên cứu
5.2.1 Phưong pháp thu thập tài liệu, phân tích thống kê
Vận dụng phương pháp này, nhóm tác giả tiến hành thu thập, phân tích các tài liệu liên quanđến đề tài Trên cơ sở đó lựa chọn các nội dung phù hợp phục vụ tốt cho mục tiêu nghiên cứu
5.2.2 Phương pháp bản đồ
Phương pháp này được sử dụng phục vụ cho việc điều tra, khảo sát các điếm DTLS, VH ởtỉnh Bình Dương Trên cơ sở khảo sát tiềm năng, thực trạng khai thác các điểm DTLS, VH, nhómtác giả đã xây dựng các bản đồ về phân bố các điểm di tích cấp quốc gia và cấp tỉnh, bản đồ tuyếnđiếm du lịch
5.2.3 Phương pháp khảo sát thực địa
Nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát thực tế nhằm xác định vị trí phân bố các điểmDTLS,VH, thu thập thông tin làm cơ sở đánh giá hiện trạng khai thác DTLS, VH ở Bình Dương.Kết quả khảo sát còn là cơ sở để so sánh, kiểm chứng những thông tin thu thập được từ thực tế vớithông tin từ các nguồn tài liệu thứ câp Từ đó có những điều chỉnh và bổ sung thông tin kịp thời
5.2.4 Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp này được sử dụng nhằm thu thập thông tin phản hồi của các bên liên quan vềhoạt động du lịch diễn ra tại các điểm DTLS,VH Hai hình thức thu thập thông tin được sử dụng
là phỏng vấn bằng bảng hỏi và phỏng vấn sâu
- Phỏng vấn bằng bảng hỏi
+ Đối tượng khảo sát' Khách du lịch tại các địa điểm DTLS, VH tỉnh Bình Dương.
+ Nội dung phiếu khảo sát' Gồm 16 câu hỏi, tập trung vào 3 phần chính: thông tin cá nhân
người tham gia khảo sát; thông tin về hoạt động du lịch ở Bình Dương; thông tin về hoạt động dulịch tại điểm DTLS, VH cụ thể
+ Cơ sở chọn điểm khảo sát' Căn cứ vào 4 yếu tố sau: tần suất xuất hiện trong chương
Trang 19trình tham quan; cấp phân loại (cấp quốc gia, cấp địa phương); khu vực phân bố; kết quả khảo sát
sơ bộ của nhóm nghiên cứu trong khoảng thời gian từ tháng 12/2014 đến tháng 8/2015 Xác định
11 điểm DTLS, VH khảo sát gồm: nhà tù Phú Lợi; chùa Hội Khánh; chiến khu Đ; Tam giác sắt;nhà cổ Trần Văn Hổ; nhà cổ Trần Công Vàng; khảo cổ học Dốc Chùa; khảo cổ học Cù lao Rùa;đình Phú Long; đình Tân An
+ Phương pháp chọn mẫu và cỡ mẫu: Các đối tượng tham gia khảo sát được lựa chọn theo
phương pháp chọn mẫu thuận tiện Tổng số phiếu phát ra 221 phiếu Số phiếu thu về hợp lệ là
155 phiếu
+ Xử lý kết quả nghiên cứu: Thông tin thu thập từ phiếu điều tra được nhóm tác giả nhập
liệu và phân tích thống kê mô tả (xác định tần suất) trên phần mềm Excel
Chương 2: Thực trạng khai thác di tích lịch sử, văn hóa phục vụ phát triến du lịch ở Bình Dương (44 trang)
Chương 3: Các giải pháp khai thác hiệu quả các di tích lịch sử, văn hóa phục vụ phát triển
du lịch tmh Bình Dương (28 trang)
Trang 20PHẦN NỘI DUNG
CHU ƠNG 1:
Cơ SỞ LÝ LUẬN VÀ THựC TIỄN CỦA VIỆC KHAI THÁC DI TÍCH LỊCH
SỬ, VÃN HÓA PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 1.1 Du lịch và các khái niệm liên quan
1.1.1 Khái niệm về du lịch
Thuật ngữ “du lịch” bắt nguồn từ tiếng Pháp: “Tour” nghĩa là đi vòng quanh, dạo chơi, còn
“tourist” là người dạo chơi Du lịch gân với việc nghỉ ngơi, giải trí nhằm phục hồi, nâng cao sứckhỏe và khả năng lao động của con người [35],
Khái niệm về du lịch luôn được tranh luận trong suốt hơn 8 thập kỉ vừa qua, kê từ khi thànhlập Hiệp hội quốc tế các tổ chức du lịch năm 1925 tại Hà Lan Đầu tiên, du lịch được hiểu là việc
đi lại của từng cá nhân hoặc nhóm người rời khỏi chỗ ở của mình trong một khoảng thời gian ngắnđến các vùng xung quanh đế nghỉ ngơi, giải trí, chữa bệnh
Năm 1963 với mục đích quốc tế hóa, tại Hội nghị Liên Hợp Quốc về du lịch ở Roma, các
chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là tổng họp các mồi quan hệ, hiện tưọng và
hoạt động kinh tế bắt nguồn tù’ các cuộc hành trình và lưu trú cùa cả nhãn hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thicờng xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” Định nghĩa đã cho thấy sự biến đổi trong nhận thức về nội
dung thuật ngữ du lịch, du lịch vừa là một hiện tượng xã hội vừa là một hoạt động kinh tế, tất cảmối quan hệ này được phát sinh từ hoạt động di chuyển Đồng thời, định nghĩa cho thấy hai phạmtrù hoạt động du khách và hoạt động kinh tế thành một hệ thống nhân quả
Như vậy, du lịch là một khái niệm bao hàm nội dung kép Một mặt nó mang ý nghĩa thôngthường của từ: việc đi lại của con người với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, chữa bệnh Mặt khác, dulịch được nhìn nhận dưới một góc độ khác như là hoạt động gắn chặt với những kết quả kinh tế(sản xuất, tiêu thụ) do chính nó tạo ra
Hunziker (1951) đã định nghĩa rằng “Du lịch là tông the các hiện tượng và nhũng moi liên
hệ phát sinh từ chuyến đi khỏi nơi thường trú và không liên quan gì với các hoạt động kiếm song’’’.
Du lịch không chỉ bao gồm các hoạt động của dân cư trong thời gian tới, mà còn bao trùmlên không gian nơi diễn ra các hoạt động khác nhau, đồng thời cũng là nơi tập trung các xí nghiệpdịch vụ chuyên môn hóa
Trang 21Trong một số tài liệu gần đây nhất, có người quan niệm rằng du lịch gôm 3 nội dung, songthực chất không khác gì hai nội dung trên, bởi vì nội dung đầu được tách ra làm đôi Theo I.I.Pirôgiơnic (1985) thuật ngữ du lịch chuyển tải 3 nội dung cơ bản [35]:
Thứ nhất: Cách sử dụng thời gian rỗi bên ngoài nơi cư trú thường xuyên
Thứ hai: Dạng chuyển cư đặc biệt
Thứ ba: Ngành kinh tế, một trong những ngành thuộc lĩnh vực phi sản xuất nhằm phục vụ các nhu cầu văn hóa - xã hội của nhân dân
Du lịch không chỉ bao gồm các hoạt động của dân cư trong thời gian tới, mà còn bao trùm lên không gian nơi diễn ra các hoạt động khác nhau, đồng thời cũng là nơi tập trung các xí nghiệp dịch vụ chuyên môn hóa
Theo LI Pirôgiơnic, 1985 khái niệm du lịch có thể được xác định như sau:
Du lịch là một dạng hoạt động của dân cư trong thòi gian rỗi liên quan với sự di chuyển và lưu lại tạm thời hên ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghi ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất
và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức - văn hóa hoặc thế thao kèm theo việc tiêu thụ những giá trị về tự nhiên, kinh tế và văn hóa.
Luật Du lịch Việt Nam (2005) định nghĩa: lịch là hoạt động của con người
ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm thỏa mãn nhu cầu tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định" [19].
Như vậy, với quan niệm hiện đại, thuật ngữ du lịch theo tác giả Trần Đức Thanh trong
“Nhập môn khoa học du lịch ” được tách thành hai phần khá rõ ràng [27]:
- Sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong một thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao tại chô nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theo việc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch
vụ do các cơ sở chuyên nghiệp cung ứng
- Một lĩnh vực kinh doanh các dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu nảy sinh trong quá trình dichuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗi của cá nhân hay tập thể ngoài nơi cưtrú với mục đích phục hồi sức khỏe, nâng cao nhận thức tại chỗ về thế giới xung quanh
1.1.2 Tài nguyên du lịch
1.1.2.1 Khải niệm
Du lịch là ngành có định hướng tài nguyên rõ rệt, TNDL là yếu tố cơ bản tạo nên các sảnphẩm du lịch, sự đa dạng, phong phú của TNDL tạo nên sự hấp dẫn, đa dạng của các sản phẩm dulịch [35] số lượng, chất lượng, sự phân bố của các dạng TNDL ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô,
Trang 22số lượng, chất lượng sản phấm và hiệu quả hoạt động du lịch TNDL còn ảnh hưởng trực tiếp đến
tổ chức lãnh thổ của ngành du lịch, đến việc hình thành, chuyên môn hóa các vùng du lịch và hiệuquả kinh tê của hoạt động dịch vụ Các hoạt động phát triển du lịch luôn gắn liền với việc khai tháccác tiềm năng tài nguyên môi trường tự nhiên cũng như các giá trị văn hóa, nhân văn
Theo I.I Pirojnik (1985): “7ữ/ nguyên du lịch là tổng thê tự nhiên, văn hóa - lịch sử và
những thành phần của chủng giúp cho việc phục hồi, phát triển thế lực, tinh lực, khả năng lao động và sức khỏe của con người mà chúng điaỵc sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp để tạo ra dịch vụ
du lịch gan liền với nhu cầu ở thời điếm hiện tại hay tưong lai và trong điều kiện kinh tê - kỹ thuật cho phép” [35],
Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005), TNDL được xác định: ‘Tù/ nguyên du lịch là cảnh
quan thiên nhiên, yếu tó tự nhiên, di tích lịch sử - vãn hoá, công trình lao động sảng tạo của con người và các giá trị nhãn văn khác có thê được sử dụng nhăm đáp ứng nhu cầu du lịch, là yếu to
cơ bản đế hĩnh thành các khu du lịch, diêm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch ” [19],
Nhìn chung, cách tiếp cận TNDL giữa các nhà nghiên cứu có sự khác nhau, nhưng về cơbản có điểm chung là đều đề cập đến yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa do con người tạo ra cósức hấp dẫn với du khách
1.1.2.2 Đặc điểnt tài nguyên du lịch
Theo tác giả Nguyễn Minh Tuệ trong Địa lý du lịch, TNDL có một số đặc điểm chủ yếusau [35]:
- TNDL rất đa dạng bao gồm các tài nguyên dưới dạng vật thể lẫn tài nguyên dưới dạngphi vật thể Các DTLS, VH là một tài nguyên dưới dạng vật thể nhưng trong nó chứa đựng nhiềugiá trị phi vật thể đặc trưng
- TNDL không bị suy giảm trong quá trình khai thác và nguồn tài nguyên này có thể được
sử dụng với số lần không hạn chế nếu như chúng được bảo vệ, tôn tạo Những tài nguyên thiênnhiên khác trong quá trình sử dụng có thê bị cạn kiệt như khoáng sản, tuy nhiên TNDL không bịhao mòn, khả năng khai thác phụ thuộc vào nhu cầu du khách
- TNDL không phải bất biến, phạm vi của nó có xu hướng ngày càng mở rộng, phụ thuộcvào trình độ phát triển khoa học công nghệ và nhu cầu khách du lịch Nhiều yếu tố tự nhiên, nhânvăn nếu có sự yêu thích khách du lịch, thu hút khách du lịch đến tham quan đều có thể trở thànhTNDL Đồng thời, với phát triẻn khoa học công nghệ, nhiều TNDL mới xuất hiện như các hìnhthức giải trí, khám phá và mở rộng khả năng du lịch ở những địa điểm trước đây không thế thựchiện như ngoài không gian vũ trụ, thám hiểm đáy đại dương
Trang 231.1.23 Phân loại tài nguyên du lịch
TNDL rất phong phú, đa dạng vì thế có nhiều cách phân loại tùy thuộc vào các tiêu chíkhác nhau Ở Việt Nam trong quá trình nghiên cứu TNDL, phần lớn các tác giả đã phân TNDLthành hai nhóm là gồm tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn
- TNDL tự nhiên: Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005) tại chương II, điều 3 đã quy định:
“Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm các yêu tô địa chát, địa hình, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên có thê được sử dụng phục vụ mục đích du lịch ” [19],
- TNDL nhân văn: Theo Luật Du lịch Việt Nam (2005) tại chưcmg II, điều 13: “Tài nguyên
du lịch nhân văn gôm truyên thông văn hóa, các yêu tô văn hóa, văn nghệ dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cố, kiến trúc, các công trĩnh lao động sáng tạo của con người và các dỉ sản văn hóa vật thê, phi vật thê khác có thê được sử dụng phục vụ mục đích du lịch ”,
Các loại TNDL nhân văn gồm:
Theo tác giả Nguyễn Minh Tuệ, mỗi quốc gia trên thế giới đều có những quy định về
DTLS, VH Hiến chương Italy năm 1964: DTLS, VH bao gồm những công trình xây dựng lẻ loi,
Trang 24nhũng khu đi tích ở đô thị hoặc nông thôn là bằng chủng một nền văn minh riêng biệt hoặc của một sự tiến hóa có ý nghĩa hay một biến cố về lịch sử ở Tây Ban Nha, theo luật số 16 về di sản
lịch sử công bố ngày 25/6/1985 di tích lịch sử bao gồm các bất động sản và các động sản có giátrị nghệ thuật, cô sinh vật học, khảo cổ học, dân tộc học, khoa học hoặc kỹ thuật Ngoài ra phải
kể cả di sản tư liệu và thư mục, có lớp mỏ, các khu vực khảo cổ cũng như các thang cảnh thiênnhiên, các công viên, các vườn có giá trị nghệ thuật, lịch sử hay chủng học Như vây, cách hiểu
có sự khác biệt ở mỗi quốc gia, đối với Italy phạm vi DTLS, VH hẹp hơn, chỉ xét ở công trìnhvật chất còn ở Tây Ban Nha mở rộng thêm ở nhiều di sản văn hóa khác [35],
Ở Việt Nam có nhiều quan niệm về DTLS, VH, Từ điển Tiếng Việt định nghĩa, DTLS, VH
là tổng thể những công trình, địa điểm, đồ vật hoặc tác phãm, tài liệu có giá trị lịch sử hay giá trị văn hóa được lưu lại Theo định nghĩa này, các DTLS, VH mang ý nghĩa về mặt lịch sử và ý
nghĩa về văn hóa
Theo Pháp lệnh bảo vệ và sử dụng di tích ngày 4/4/1984 DTLS, VH là nhũng công trĩnh
xây dựng địa điếm, đồ vật, tài liệu và các tác phàm mỹ thuật cũng như các giá trị văn hóa khác hoặc liên quan đến các sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa xã hội [12], Theo quan niệm
này, các DTLS, VH ngoài mang ý nghĩa về lịch sử, văn hóa còn chứa đựng các giá trị về mặt xãhội
Việt Nam theo luật di sản văn hóa năm 2001 số: 28/2001/ỌH10, Di tích lịch sử - văn hóa
là công trĩnh xây dụng, địa điêm và các di vật, cô vật, bảo vật quôc gia thuộc công trĩnh, địa diêm đó cỏ giả trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
Khi nghiên cứu các DTLS, VH, tác giả Nguyễn Minh Tuệ trong “Đ/ứ lý du lịch Việt Nam
” cho rằng: Di tích lịch sử - văn hóa là những không gian vật chát cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giả trị nhiều mặt điên hình do tập thê hoặc cả nhân con người sáng tạo ra trong lịch sử để lại.
Đồng thời, trên cơ sở nghiên cứu tác giả Nguyễn Minh Tuệ cũng đưa ra các quy địnhchung thống nhất về DTLS, VH như sau:
- Những nơi ẩn chứa một bộ phận giá trị văn hóa khảo cổ
- Những địa điếm, khung cảnh ghi dấu về dân tộc học
- Những nơi diễn ra sụ kiện chính trị quan trọng, có ý nghĩa thúc đấy sự phát triên lịch sửđất nước, lịch sử địa phương
- Những địa điểm ghi dấu chiến công chống xâm lược, áp bức
- Những nơi ghi dấu giá trị lưu niệm về nhân vật lịch sử, anh hung dân tộc, danh nhân văn
Trang 25hóa, khoa học.
- Những công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị toàn quốc hoặc khu vực
- Những danh lam thắng cảnh do thiên nhiên tạo dựng cùng với bàn tay khéo léo của con người
Định nghĩa và các quy định chung về DTLS, VH theo cách hiểu như trên có phạm vi vàđối tượng khá rộng, bao gồm cả danh lam thăng cảnh
Theo Luật di sản văn hóa Việt Nam số 28/2001/QH10 đã phân biệt rõ giữa DTLS, VH vàdanh lam thắng cảnh trong đó quy định DTLS, VH phải có một trong các tiêu chí sau [18]
- Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biêu trong quá trình dựng nước
- Địa điểm có giá trị tiêu biếu về khảo cổ
- Quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu vềkiến trúc, nghệ thuật của một hay nhiều giai đoạn lịch sử
Qua tìm hiểu một số quan niệm, có thể nhân thấy có nhiều cách xác định về DTLS, VHnhưng chung lại, chúng đều có những đặc điểm chung sau:
- Đều là các không gian vật chất do con người sáng tạo ra trong lịch sử
- Chứa đựng nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa, xã hội
- Có ý nghĩa đối với sự phát triển dân tộc
Như vậy, theo tiêu chí trên, các danh lam thắng cảnh không nằm trong nhóm DTLS, VH Trong phạm vi nghiên cứu đề tài, đối tượng nghiên cứu là các DTLS, VH được phân loại theo Luật
di sản văn hóa Việt Nam số 28/2001/QH10 với 3 nhóm chính là di tích khảo cổ, di tích lịch sử và
di tích kiến trúc nghệ thuật
1.2.1.2 Phân loại
Theo tiêu chí quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa vàLuật di sản văn hóa, căn cứ vào giá trị tiêu biếu nhất mà di tích chứa đựng, di tích được chiathành 4 nhóm bao gồm di tích lịch sử; di tích kiến trúc nghệ thuật; di tích khảo cổ học, danh lamthắng cảnh DTLS, VH là một bộ phận thuộc hệ thống di tích Việt Nam, có thể chia nhỏ thànhcác loại sau:
Trang 26- Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích lưu niệm danh nhân): Bao gồm:
+ Di tích ghi dấu về dân tộc học: sự ăn, ở, sinh hoạt của các tộc người
+ Di tích ghi dấu sự kiện chính trị quan trọng, tiêu biêu, có ý nghĩa quyết định chiều hướngphát triển của đất nước, của địa phương
+ Di tích ghi dấu chiến công chống xâm lược
+ Di tích ghi dấu những kỷ niệm
+ Di tích ghi dấu sự vinh quang trong lao động
+ Di tích ghi dấu tội ác của đế quốc và phong kiến
- Di tích kiến trúc nghệ thuật: Bao gồm quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trìnhkiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hay nhiều giai đoạn lịch sử như
di tích đình làng, di tích chùa tháp, miếu phủ Được chia thành:
+ Di tích kiến trúc
+ Di tích nghệ thuật
- Di tích khảo cổ: Những địa điểm, ẩn giấu một bộ phận giá trị văn hóa, thuộc về thời kỳlịch sử xã hội loài người chưa có văn tự và thời gian nào đó trong thời kỳ lịch sử cổ đại Được chiathành:
+ Di chỉ cư trú (di chỉ hang động, di chỉ cư trú có thành lũy, di chỉ cư trú không có thành lũy, di chỉ đống vỏ sò)
+ Di chỉ mộ táng
Theo đầu mối quản lý và giá trị DTLS, VH, được chia thành các loại sau:
- Di tích quốc gia đặc biệt: Di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia Các di tíchđược địa phương lập hồ sơ xếp hạng và trên cơ sở đề nghị của Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thế thao và
Du lịch, Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng di tích quốc gia đặc biệt và quyết định đề nghịcác tô chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc xem xét đưa di tích tiêu biểu củaViệt Nam vào Danh mục di sản thế giới như cố đô Huế
- Di tích quốc gia: Di tích có giá trị tiêu biểu của quốc gia Các di tích này được địa phươnglập hồ sơ trên cơ sở đề nghị của Chủ tịch ƯBND tỉnh, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
ra quyết định xếp hạng di tích quốc gia
- Di tích cấp tỉnh: Di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương Địa phương lập hồ sơ, trên cơ
sở đề nghị của Giám đốc SVHTT & DL, Chủ tịch UBND tỉnh, Thành phố trực thuộc trung ươngxếp hạng di tích cấp tỉnh
Theo hình thức quản lý, DTLS, VH được chia thành:
Trang 27- Di tích do nhà nước trực tiếp quản lý: Các di tích quốc gia đặc biệt và di tích quốc gia docác ban quản lý di tích được Nhà nước thành lập trực tiếp quản lý Nhà nước cấp lương, cấp chiphí cho các hoạt động thường xuyên, các chi phí sửa chữa trực tiếp cho Ban quản lý di tích.
- Di tích do cộng đồng dân cư trực tiếp quản lý: Các di tích quốc gia, di tích địa phương cấptỉnh được giao cho các tổ chức nhân dân trực tiếp quản lý như đình làng, các chùa, đền thờ
- Di tích do cá nhân, gia đình trực tiếp quản lý: Như nhà thờ dòng họ, nhà ở dân cư
Theo điều kiện khai thác của DTLS, VH được chia thành:
- Di tích có khả năng khai thác: Các di tích hấp dẫn khách tham quan, có giá trị khoa học, cókhả năng huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách nhà nước do nguồn thu từ di tích, đáp ứng cáchoạt động bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị của di tích như di tích kiến trúc nghệ thuật, di tíchgắn tín ngưỡng, những di tích đặc biệt thuộc di sản văn hóa thế giới, giao thông thuận tiện, thuộccác tuyến tham quan du lịch
- Di tích chưa có khả năng khai thác: Các di tích chưa có điều kiện thuận lợi khách quan đểhấp dẫn khách tham quan, không có nguồn thu tại di tích, khó huy động nguồn vốn ngoài ngânsách nhà nước cho hoạt động bảo tồn, tôn tạo và khai thác như các di tích cách mạng, di tích khảo
cổ học nằm ở những khu vực không có điều kiện giao thông đi lại thuận tiện, không thuộc tuyếntham quan du lịch
1.2.2 Vai trò di tích lịch sử, văn hóa đối vói việc phát triển du lịch
1.2.2.1 Di tích lịch sử, văn hóa là nguồn lực phát triển du lịch
Cùng với sự phát triển không ngừng của nền sản xuất xã hội, đời sống vật chất của conngười ngày càng cải thiện và đầy đủ hơn, nhu cầu con người cũng trở nên đa dạng và việc nângcao đời sống tinh thần trở thành tất yếu Con người luôn luôn có nhu cầu tìm hiểu, khám phá thếgiới đặc biệt là những giá trị về tự nhiên, văn hóa, xã hội của các nền văn minh khác nhau, đây làđộng lực thúc đẩy du lịch phát triển mạnh mẽ Những lãnh thổ có nền văn hóa lâu đời, bề dày lịch
sử, đa dạng các công trình văn hóa, di tích có sức thu hút mạnh đối với du khách Theo số liệu từ
Tổ chức Du lịch thế giới (UNWTO), du lịch hướng tới các giá trị di sản văn hóa lịch sử đã gia tăngmạnh mẽ và đang được nhân rộng trên thế giới Hiện nay, di sản là yếu tố quan trọng, là đích đếncủa khoảng 40% các chuyến du lịch quốc tế
TNDL nhân văn là một thành phần quan trọng của TNDL nói chung, đã được xác định
trong Luật Du lịch Việt Nam (2005) gồm “truyền thống văn hóa, các yếu tổ văn hóa,, văn nghệ
dãn gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cô, kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo của con người và các di sản văn hỏa vật thê, phi vật thể khác có thê được sử dụng phục vụ mục đích
Trang 28du lịch ", Định nghĩa đã cho thấy, DTLS, VH là một thành phần cơ bản tạo nên TNDL nhân văn
và có mối quan hệ chặt chẽ với các TNDL khác Các giá trị, thành tựu, công trình văn hóa củadân tộc luôn gắn liền chặt chẽ với những tài nguyên khác như cảnh quan thiên nhiên, làm tăngcảm xúc thẩm mỹ của du khách trước vẻ đẹp của thiên nhiên Những tài nguyên phi vật thể như
lễ hội cũng chỉ phát huy được giá trị của nó khi gắn liền với bề dày văn hóa lịch sử của các ditích Những lễ hội lớn tại các diêm DTLS, VH thường thu hút lượng lớn khách tham quanthưởng ngoạn, lễ bái hay cầu phúc Những di tích đó luôn chứa đựng trong nó những giá trị vôhình, nơi con người gửi gắm đức tin và tôn thờ một đấng thiêng liêng nào đó, là không gian vănhóa cho nhân dân trong những ngày lễ hội truyền thống, lễ hội tôn giáo Những di tích lịch sửcách mạng là nơi hướng mọi người tìm về cội nguồn, quá khứ hào hùng dân tộc, giáo dục truyềnthống cho giới trẻ Những giá trị các DTLS, VH đã tạo nên bản lĩnh, tính bền vững mỗi dân tộc,tạo nên sức mạnh cộng đồng to lớn số lượng và chủng loại DTLS, VH vô cùng phong phú củanước ta đã tạo nên nguồn TNDL đa dạng, đặc đắc, thu hút mạnh mẽ du khách trong và ngoàinước Thực tế cho thấy, TNDL càng phong phú đặc sắc thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động dulịch càng cao
Có thể thấy, DTLS, VH vừa tạo ra giá trị kinh tế gián tiếp với tư cách tài nguyên để ngành
du lịch và các ngành kinh tế, dịch vụ khác khai thác, trở thành hình ảnh quáng bá nền văn hóadân tộc có hiệu quả vừa tạo ra nguồn thu trực tiếp thông qua hình thức bán vé vào tham quan
1.2.2.2 Di tích lịch sử, văn hóa ảnh hưởng đến việc hình thành sản phẩm du lịch
TNDL có ý nghĩa quyết định trong việc hình thành sản phàm du lịch Đồng thời, sản phẩm
du lịch là nhân tố chi phối đối với du khách khi lựa chọn địa điếm tham quan Những địa phươngtập trung nhiều DTLS, VH có thế mạnh trong phát triển các sản phẩm như du lịch văn hóa, du lịchtham quan, nghiên cứu số lượng di tích, xếp hạng di tích, mật độ di tích trên lãnh thổ là nhữngyếu tố quan trọng khi đánh giá sức hút địa phương Xã hội càng phát triển, con người có trình độhiêu biết càng cao và khoảng cách giữa các quốc gia ở nên gần gũi đã tạo điều kiện cho con người
có cơ hội tìm hiểu nền vãn hóa lẫn nhau Khi con người đã khám phá hầu hết mọi miền tự nhiêntrên trái đất thì nền văn hóa của các dân tộc vẫn còn chứa đựng rất nhiều bí ẩn Con người luônluôn có nhu cầu tìm hiểu những nền văn hóa độc đáo
khác biệt với nền văn hóa của dân tộc họ Những điểm đến được ưa thích là các công trình vănhóa, nghệ thuật, kiến trúc, lịch sử mang giá trị cao, đại điện cho sự phát triển một thời kỳ, giaiđoạn lịch sử loài người Vì vậy, các DTLS, VH đều chứa đựng những nội dung riêng, không trùnglặp, luôn gắn liền với các hoạt động văn hóa nghệ thuật, thể hiện ước mơ, khát vọng của con người
Trang 29trên mọi vùng miền Tô quốc Cái đẹp, những giá trị hấp dẫn của DTLS, VH không thể truyền tảihết qua hình thức, cái vỏ kiến trúc bên ngoài Người thưởng thức tùy trình độ, văn hóa dân tộc, tôngiáo sẽ có cảm nhận khác biệt về các giá trị của DTLS, VH Phần lớn, những sản phẩm du lịchnày thường có sức thu hút đặc biệt đối với du khách có trình độ cao, ham hiểu biết Vì vậy, cáchthức khai khác tương đối khác so với tài nguyên thiên nhiên, tác dụng nhận thức nhiều hơn, tácdụng giải trí không điển hình hoặc có ý nghĩa thứ yếu Tuy nhiên, những tài nguyên có giá trị vănhóa còn thu hút nhiều khách đi du lịch với các mục đích khác, ở các lĩnh vực khác và từ nơi khácđến Hầu hết tất cả khách du lịch ở trình độ văn hóa trung bình đều có thể thưởng thức các giá trịvăn hóa của đất nước đến thăm Những địa điểm có các DTLS, VH nổi tiếng hoặc tổ chức các hoạtđộng văn hóa đều thu hút đông khách tham quan Vì vậy, tố chức các hoạt động văn hóa gắn liềnvới các DTLS, VH sẽ là hướng phát triển sản phấm du lịch hấp dẫn du khách.
Phần lớn loại tài nguyên này không có tính mùa, không phụ thuộc nhiều vào điều kiện tựnhiên, vì vậy, hoạt động du lịch có thể diễn ra gần như liên tục quanh năm, tạo điều kiện lợinhuận cho ngành cũng như nguồn thu cho kinh tế địa phương, quốc gia
Đồng thời, nguồn TNDL cụ thể là hệ thống DTLS, VH được xem như một căn cứ khi xâydựng chiến lược phát triển du lịch cho địa phương, quốc gia Xác định đúng giá trị tài nguyên, sảnphàm du lịch đặc trưng của vùng sẽ giúp cho việc định hướng phát triển du lịch của vùng có hiệuquả hơn
1.2.2.3 Di tích lịch sử, văn hóa ảnh hưởng đến tổ chức lãnh thổ du lịch
DTLS, VH là nhân tố ảnh hưởng cơ cấu và chuyên môn hóa của vùng du lịch Thôngthường, mỗi DTLS, VH được xem là một điểm du lịch Trên lãnh thổ tập trung nhiều những di tích
có khả năng thu hút khách du lịch có điều kiện đẻ xây dụng thành trung tâm du lịch, trở thànhnhững nhân tố quan trọng trong tạo vùng du lịch Đê xây dựng lãnh thổ du lịch, TNDL trong đó có
hệ thống DTLS, VH trở thành nhân tố quan trọng không thể thiếu TNDL nổi trội ảnh hưởng đếnhướng chuyên môn hóa vùng du lịch, những nơi có nguồn tài nguyên nhân văn đa dạng, giá trịthích hợp phát triển du lịch văn hóa; ngược lại với thế mạnh tài nguyên tự nhiên sẽ có lợi thế trongphát triển du lịch nghỉ dưỡng, tham quan Hệ thống DTLS, VH đa dạng góp phần tạo nên cơ cấusản phẩm du lịch của vùng đa dạng hơn
Sự phân bố các DTLS, VH còn ảnh hưởng đến việc xây dựng tuyến điếm du lịch, cáchkhai thác và hoạt động du lịch Dựa trên khả năng thu hút khách du lịch, quy mô tiếp đón khách,
vị trí điểm di tích so với trung tâm du lịch, đầu mối giao thông tuyến du lịch phải được xâydựng phù hợp sao cho đạt hiệu quả khai thác cao nhất Thông thường, các DTLS, VH thường tập
Trang 30trung ở nơi dân cư đông đúc, giao thông thuận tiện vì vậy khi khai thác có thể tận dụng cơ sở hạtầng trong dân cư, không cần xây dựng mới đồng thời việc tiếp cận các điểm du lịch này trở nênthuận lợi hơn rất nhiều Ngoại trừ loại hình du lịch nghiên cứu, phần lớn du lịch tham quan các
di tích lịch sử diễn ra trong thời gian ngắn đòi hỏi việc xây dựng lộ trình du lịch phải tính toánkhoa học và phải kết hợp với các tài nguyên khác trên lãnh thổ
1.2.3 Đánh giá các DTLS, VH phục vụ phát triển du lịch
Việc điều tra và đánh giá TNDL nói chung và DTLS, VH nói riêng là cơ sở quan trọng đểlập kế hoạch khai thác phục vụ phát triển du lịch Việc đánh giá khả năng khai thác phục vụ du lịchcác tài nguyên thường được tiến hành từng loại riêng trước khi tổng hợp các tài nguyên trong quyhoạch du lịch lãnh thô Theo tác giả Bùi Thị Hải Yẻn, khi nghiên cứu khả năng khai thác du lịchcủa một DTLS, VH, trước hết cần thực hiện công việc kiểm kê di tích với các nội dung sau [41]:
- về vị trí, tên gọi, cảnh quan:
+ Xác định vị trí, diện tích lãnh thô, tên gọi di tích
+ Giá trị về phong cảnh
+ Khoảng cách giữa vị trí di tích với thị trường cung cấp khách cũng như chủng loại và chấtlượng giao thông, các loại phương tiện giao thông có thể hoạt động
+ Khoảng cách tới các di tích văn hóa và tự nhiên du lịch khác
- Lịch sử hình thành và phát triển gồm: Thời gian đặc điểm của thời kỳ khởi dựng và nhữnglần trùng tu lớn
- Quy mô, kiêu cách, các giá trị kiến trúc, mỹ thuật, niên đại kiến trúc, mỹ thuật
- Giá trị cố vật (số lượng và chất lượng), vật kỷ niệm, bảo vật quốc gia
- Nhân vật đưọc tôn thò’ và những người có công xây dựng trùng tu
- Những tài nguyên nhân văn phi vật thể gắn với di tích: các giá trị văn học, phong tục, tập quán, lễ hội
- Thực trạng tố chức quản lý, bảo vệ, tôn tạo và khai thác di tích
- Thực trạng chất lượng môi trường ở khu vực di tích
- Giá trị được xếp hạng: quốc tế, quốc gia, địa phương và thời gian được xếp hạng
- Đánh giá chung về những đặc điểm nổi bật cũng như khai thác cho mục đích phát triển dulịch
Sau khi đánh giá chi tiết từng di tích cần đánh giá tổng hợp về số lượng các DTLS, VH trong vùng có khả năng thuận lợi cho hoạt động du lịch không Bên cạnh việc đánh giá tiềm năng
và hiện trạng khai thác các di tích, còn cần chú ý đến việc xem xét yếu tố bổ trợ kinh tế kỹ thuật và
Trang 31bổ trợ cụ thể:
- Các đường lối chính sách, các dự án quy hoạch, xúc tiến quảng bá và họp tác đầu tư phát triển du lịch
- Các hoạt động xúc tiến và quảng bá du lịch
- Các hợp và đầu tư phát triển du lịch
- Thực trạng tổ chức quản lý nhà nước về du lịch
- Hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật
- Nguồn lao động du lịch
- Hiệu quả kinh tế du lịch
- Kết cấu hạ tầng: Giao thông, điện, cấp thoát nước, xử lý chất thải
- Các dự án, vốn đầu tư cho du lịch
Khi nghiên cứu đánh giá khả năng khai thác du lịch các DTLS, VH, cần lưu ý vấn đề bảotồn, tôn tạo di tích và xem xét kỹ những ảnh hưởng, tác động từ hoạt động du lịch đến di tích
Trong thực tế, việc đánh giá khả năng khai thác du lịch các tài nguyên đặc biệt là tàinguyên nhân văn trong đó có hệ thống DTLS, VH là một việc làm tương đối phức tạp Đối tượnghưởng thụ là khách du lịch, có yêu cầu, sở thích, tâm sinh lý hoàn toàn khác biệt nhau vì vậy cảmnhận với các TNDL không giống, đồng thời những đánh giá này còn có thê thay đổi theo thờigian Đối với các tài nguyên nhân văn, vẻ đẹp và sự hấp dẫn chúng không chỉ thể hiện bằng hìnhthức bên ngoài như những cảnh quan tự nhiên mà còn ẩn chứa những giá trị tinh thần đượctruyền tải, việc cảm nhận lại phụ thuộc hoàn toàn vào cảm xúc, trình độ, nền văn hóa của dukhách vì vậy rất khó để đưa ra cách đánh giá cụ thể như tài nguyên tự nhiên
Theo “Tài nguyên du lịch” của tác giả Bùi Thị Hải Yến đã dẫn, các nhà nghiên cứu chỉ rabốn kiểu đánh giá TNDL:
1 Kiểu tâm lý - thẩm mỹ: Kiểu đánh giá này thường dựa vào cảm nhận, sở thích của dukhách, dân cư đối với các loại tài nguyên môi trường du lịch thông qua việc điều tra thống kê vàđiều tra xã hội
2 Kiểu sinh khí hậu: Nhằm đánh giá các dạng tài nguyên khí hậu, thời gian thích hợpnhất với sức khỏe con người hoặc một kiêu hoạt động nào đó khi đi du lịch Kiểu đánh giá nàydựa trên các chỉ số khí hậu, định giá trị của các loại TNDL đối với một loại hình du lịch hoặclàm cơ sở xác định các điếm du lịch, khu du lịch, trung tâm du lịch
3 Kiểu đánh giá kỹ thuật: Kiểu sử dụng các tiêu chí và phương tiện kỹ thuật vào việcđánh giá số lượng và chất lượng TNDL nhằm xác định giá trị của TNDL với loại hình phát triển
Trang 32du lịch hoặc trong quá trình lập và thực hiện các dự án quy hoạch phát triển du lịch tại các hệthống lãnh thổ du lịch nhất định.
4 Kiểu đánh giá kinh tế: Kiểu vận dụng các phương pháp và tiêu chí nhằm xác định hiệuquả về kinh tế - xã hội hiện tại và trong tương lai các khu vực có nguồn tài nguyên có thể khaithác bảo vệ cho phát triển du lịch
Mỗi phương pháp đánh giá đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, có sự phù hợpkhác nhau với đặc trưng, mục đích nghiên cứu từng loài TNDL như kiếu đánh giá sinh khí hậu cónhiều điểm phù hợp với đặc điểm TNDL tự nhiên Đôi chiếu với mục đích nghiên cứu của đề tài,tìm hiểu thực trạng khai thác DTLS, VH trong du lịch để đưa ra các hướng khai thác hiệu quả.Đồng thời đối chiếu với thực tế quản lý, thống kê các hoạt động du lịch di tích lịch sử còn kháhạn chế của địa bàn Vì vậy, trong quá trình đánh giá tiềm năng và thực trạng khai thác TNDLDTLS, VH, nhóm nghiên cứu chủ yếu vận dụng kiêu đánh giá tâm lý - thấm mỹ dựa trên điều tra
xã hội học
Địa điểm điều tra: Dựa trên báo cáo Ban quản lý di tích và danh thẳng, nhóm lựa chọn9/11 DTLS, VH cấp quốc gia để khảo sát bằng bảng hỏi và PVS gồm (i) Nhà tù Phú Lợi; (ii)Chùa Hội Khánh; (iii) Nhà cổ Trần Công Vàng; (iv) Nhà cổ Trần Văn Hổ; (v) Chiến khu Đ; (vi)
Sở Chỉ huy Tiền phương chiến dịch Hồ Chí Minh; (vii) Địa đạo Tây Nam Ben Cát; (viii) ĐìnhPhú Long; (ix) Đình Tân An Có 2 di tích đang trùng tu, không mở cửa
Đối tượng khảo sát: Liên quan đến việc khai thác di tích lịch sử có đa dạng nhiều đốitượng, khách du lịch, nhà quản lý, nhân viên tại diêm di tích, cộng đồng địa phương, doanhnghiệp du lịch Tuy nhiên, xét trong thực tế và điều kiện nghiên cứu, nhóm tác giả tiếp cận khảosát hai nhóm cơ bản nhất: Khách du lịch - cơ quan quản lý, lao động trong đó, khách du lịch giữ
vị trí trung tâm Khách đến tham quan (155 khách) và cán bộ quản lý, lao động trực tiếp tại ditích (9 người)
1.3 Kinh nghiệm quốc tế trong bảo tồn di tích lịch sử, văn hóa và phát triển du lịch
Các DTLS, VH của mỗi dân tộc đều chứa đựng trong đó những nội dung riêng biệt, độcđáo Những di tích đó phản ánh, lưu giữ đặc trưng lịch sử dân tộc, thế giới tinh thần, phẩm chất,đời sống văn hóa xã hội qua các thời kỳ lịch sử Việc chuyển tải một cách sinh động, trung thực
và hấp dẫn nhưng giá trị đó là công việc vô cùng khó khăn của ngành du lịch Nếu việc khai tháccác DTLS, VH không truyền tải được những giá trị phi vật thể của di tích, khách du lịch chỉ nhìnthấy được cái vỏ bên ngoài như kiến trúc, hình dạng, ngôn ngữ nó vừa làm nghèo nàn các giátrị văn hóa dân tộc trước du khách vừa hạn chế tính đa dạng của du lịch Như vậy, sự hấp dẫn
Trang 33các di tích không còn nữa, đồng thòi du lịch chỉ còn là phương thức giải trí, phục hồi sức khỏe,nghỉ ngơi mà giảm đi ý nghĩa của sự tự bồi dưỡng tâm hồn, tự giáo dục nhân cách, nâng cao vàlàm phong phú thêm thế giới tinh thần, tình cảm, thẩm mỹ của con người Một số quốc gia trênthế giới đã đi trước Việt Nam rất lâu trong vấn đề bảo tồn và khai thác các giá trị văn hóa và đạtđược nhiều kết quả tốt đẹp, có rất ít những vấn đề bất cập nảy sinh trong chính sách và cơ chếbảo tồn, khai thác các DTLS, VH nói riêng và các di sản nói chung, tuy nhiên cách thức triểnkhai các quốc gia có một số khác biệt.
Ở Nhật Bản, hệ thống quản lý về bảo tồn di sản vãn hóa được hình thành từ những năm
1910 với việc ban hành luật Bảo tồn di tích lịch sử - danh lam thắng cảnh tự nhiên; luật Bảo tồnnguồn tài nguyên quý hiếm quốc gia năm 1929 Ngoài ra có luật Bảo vệ tài sản Văn hóa năm
1950 (sửa đổi năm 1975) hệ thống các khu bảo tồn nằm trong nhà truyền thống cũng được giớithiệu, hệ thống này bao gồm các địa danh lịch sử như: làng chài, làng nghề truyền thống, cảngbiển, đền chùa Hiện tại hơn 100 địa danh đã được công nhận là khu di tích cổ quan trọng củaNhật Bản, đang trở thành những điểm du lịch nổi tiếng Đen năm 1966, đã xây dựng luật đặc biệtbảo tồn khu vực lịch sử trong các các thành phố cổ Vào những năm gần đây, trong bộ luật quyhoạch thành phố lịch sử năm 2008, vấn đề giữa phát triển vùng và bảo tồn di sản văn hóa có thểđược giải quyết song song trong cùng một chính sách Đất nước Nhật Bản cũng xây dựng bộ luậtđất nước du lịch ban hành năm 2006, cơ quan du lịch thành lập năm 2008 Từ đó cho thấy, cácbiện pháp quản lý di sản văn hóa được thực hiện trước, các biện pháp du lịch được thực hiệnngay sau đó [61],
Nhìn chung, quá trình bảo tồn di sản văn hóa và du lịch Nhật Bản đã thực hiện và đạtđược một số thành tựu quan trọng Trước thập niên 70, nước Nhật đã hoàn thành khung chínhsách về bảo tồn di sản văn hóa, thiết lập được hệ thống bảo vệ các tài sản văn hóa đồng thời hệthống trợ cấp cho việc bảo tồn các tài sản văn hóa được triển khai Nối tiếp, nhà nước đã có cácchương trình nhằm sử dung các di sản văn hóa cho hoạt động du lịch Các tòa nhà lịch sử đượccải tạo và sử dụng như phương tiện du lịch
Ý tưởng về việc phát triển kinh tế thông qua các hoạt động du lịch đã được quảng bá rộngrãi đến cộng đồng Tiêu biểu có chiến dịch “Khám phá Nhật Bản” đã làm gia tăng nhanh chóng
về số lượng về các chuyến viếng thăm và khám phá truyền thống Nhật Bản, hình ảnh các làng cổđược sử dụng làm băng rôn cho chiến dịch Phân cấp các khu vực văn hóa quốc gia, định mứccác khu vực du lịch như “Mức độ đặc biệt loại A”, “loại B”, xuất bản sách quảng bá du lịch đấtnước để kích thích động lực du lịch của cộng đồng Các trường đại học khảo sát tại các tòa nhà
Trang 34lịch sử trước khi nhận diện ra các địa danh lịch sử nhằm phục vụ cho chương trình bảo tồn cácđịa danh lịch sử nơi có các tòa nhà lịch sử Đồng thời, nhiều hội thảo quốc gia về việc bảo tồnlịch sử được tổ chức, các nhà khoa học thu thập và cung cấp cho các tố chức cộng đồng và cơquan chính quyền địa phương, các cơ quan học hỏi lẫn nhau trong việc bảo tồn.
Đi đôi với việc bảo tồn, nước Nhật còn thực hiện việc chia sẽ lợi ích từ hoạt động du lịchvới cộng đồng Các cơ chế được đưa ra để tạo ra lợi nhuận du lịch với mục đích bảo vệ môitrường, phát triển cơ sở hạ tầng vùng miền nhằm hướng tới môi trường xã hội và môi trườngsống tốt đẹp hơn Những trung tâm du lịch đã được phát triển thông qua việc chuyển đổi các tòanhà lịch sử thành các bảo tàng, nhà hàng, khách sạn để chào đón khách du lịch từ trong và ngoàikhu vực Như ờ thành phố Nagahama - Shiga Prefecture, một nhà kho cũ được cải tạo và sử dụngnhư một nhà trưng bày lớn, gần đây đã có hơn 2 triệu khách du lịch đã đến tham quan nhà trưngbày này
Nhà nước đã khởi động nhiều hoạt động bảo tồn và du lịch cộng đồng, các khu vực bảotồn và tòa nhà lịch sử được thương hiệu hóa, những địa danh lịch sửu được quảng bá như là cácđiểm đến du lịch Nhờ sự tăng trưởng khách du lịch, các cộng đồng địa phương đã nhận ra giá trị
và nét đẹp của môi trường sống, lịch sử của họ Khách du lịch có thể trải nghiệm cuộc sống địaphương và du lịch tại diêm đến như là sống trong một cộng đồng cởi mở
Dựa trên những thành tựu Nhật Bản, có thể rút ra các bài học kinh nghiệm cho Việt Namtrong phát triển du lịch bền vững và phát huy các giá trị di sản:
- Hoạt động bảo tồn nên được quản lý tốt hơn để tiếp đón khách du lịch Mô hình cácđiểm du lịch di sản văn hóa thành công bao gồm: Quản lý và bảo tồn hệ thống di sản văn hóa;Duy trì chất lượng của di sản văn hóa đẻ thu hút du lịch; Nhận thức của cộng đồng địa phương
và chính quyền về tầm quan trọng của bảo tồn với phát triển bền vững
- Cân bằng mối quan hệ tốt đẹp giữa khách (du khách) và chủ (cộng đồng địa phương).Việc sử dụng một cách bền vững di sản sẽ làm phát triển hài hòa 3 mặt: Tái sinh các điều kiệncác điều kiện kinh tế xã hội; Nâng cao mức sống người dân; Bảo tồn được tài sản văn hóa Dulịch mang lại nguồn doanh thu cho cộng đồng địa phương và cộng đồng địa phương có thể sửdụng doanh thu đó cho việc bảo tồn và cải thiện đời sống từ đó mang lại phong cách sống độcđáo hơn thu hút du khách
- Biến địa danh có chứa các di sản (làng, thị trấn) trở thành nơi hấp dẫn đe sinh sống hoặctham quan Du lịch bền vững cần hội đủ hai điều kiện: Thứ nhất người dân phải có các hoạt độngđời sống năng động và phong phú Chính vì vậy du khách có thể thưởng thức đời sống truyền
Trang 35thống nhưng không kém phần năng động cùa họ Thứ hai, để phục vụ cho khách du lịch thì khu
du lịch phải có những nơi đê du khách tham quan, ăn uống, vui chơi, đi bộ, để trải nghiệm bằngcách sử dụng di sản văn hóa và các TNDL địa phương Vì vậy du khách có thể đồng thời vừa đi
du lịch và trải nghiệm cuộc sống tại địa phương
ở một số quốc gia châu Âu, vấn đề bảo tồn di sản cũng được quan tâm rất sớm và thựchiện rất nghiêm túc Tiêu biểu là nước Pháp, một đất nước nôi tiếng với hệ thống phong phú các
di sản văn hóa Hiểu được điều này, nước Pháp luôn xây dựng hình ảnh đất nước không tách rờikhỏi nền văn hóa Pháp Đồng thời, sự có mặt và ủng hộ mạnh mẽ các tổ chức tư nhân và doanhnghiệp đã hỗ trợ rất lớn trong bảo tồn di sản văn hóa đất nước Một số tổ chức tư nhân gẳn liềnvới các công trình hoặc bảo tàng và tham gia vào các hoạt động phục chế các công trình văn hóa.Tài trợ tư nhân xuất hiện từ lâu trong lĩnh vực văn hóa và nhà nước ban hành đạo luật đê thiết lậpkhung pháp lý cho các hoạt động này
Việc đầu tư bảo tồn song song với phát triển du lịch ở những thành phố cô là một điểmnhấn trong du lịch nước Pháp Thành phô Quebec là một ví dụ điên hình Nơi đây đượcƯNESSCO công nhận là di sản văn hóa thế giới, đặc trưng bởi nét văn hóa giao lưu Pháp - Mỹ
Mô hình giao thông truyền thống được giữ lại như xe ngựa Khu phố thương mại cổ được táihiện với nhiều quán ăn, cửa hàng Các viện bảo tàng, khách sạn mini được xây dựng và cải tạotheo phong cách cố xưa O thành phô còn có di sản tôn giáo - nhà thờ thánh Anne Nhà thờ nàyđược xây dựng từ năm 1658 nhằm tán dương công đức nữ thành Anne đã cứu vớt thủy thủ điquan vùng này tránh khỏi những cơn bão Thành phố đã sửa đổi biến nơi đây thành một bản saocủa thành Jerusalem với con đường, thành quách và đồi Thánh giá, điều này thu hút du kháchmọi nơi trên thế giới về hành hương Các hoạt động văn hóa được tố chức định kỳ như liên hoanquốc tế, hội hè thu hút hàng triệu lượt khách du lịch đến Quebec để vui chơi, giao lưu
1.4 Xu hướng du lịch trên thế giói và vấn đề khai thác di tích lịch sử, văn hóa vào phát
triển du lịch ở Việt Nam
1.4.1 Xu hưóng phát triển du lịch trên thế giói
- Du lịch gia tăng và mở rộng về quy mô, nguồn khách
Trong nền xã hội hiện đại, số lượng khách du lịch ngày càng tăng nhanh Sự tăng trưởngkhách du lịch đến từ nhiều nguyên nhân khác nhau Mức sống người dân là nhân tố quan trọng
để phát triển du lịch, thu nhập thực tế người dân tăng, các điều kiện sinh hoạt được cải thiện,những nhu cầu khác như văn hóa, y tế, giáo dục được đáp ứng đầy đủ, tạo điều kiện kích thíchnhu cầu du lịch Đồng thời, sự cải thiện về đời sống vật chất càng làm tăng khả năng hiện thực
Trang 36hóa nhu cầu du lịch cho ngày càng đông đảo các nhóm người trong xã hội Bên cạnh đó, một sốnhân tố khác như nâng cao trình độ giáo dục, thời gian rỗi nhiều hơn, tập trung dân cư quy môlớn ở các đô thị càng thúc đẩy con người du lịch Với môi trường sống, làm việc căng thẳng,nhiều áp lực, con người ngày càng gia tăng nhu cầu du lịch để tạo sự cân bằng trong cuộc sống.Nhu cầu này cùng với sự cải thiện đời sống vật chất, thu nhập cho phép thực hiện dễ dàng cácchuyến du lịch Phạm vi du lịch sẽ mở rộng không chỉ trong nước mà còn là ở các quốc gia khácnhau Khái niệm đi du lịch sẽ trở nên gần gũi và phổ biến với đa số các cá nhân trong xã hội.Việc đi du lịch sẽ trở nên thường xuyên đối với nhiều nhóm người trong xã hội, không chỉnhóm người giàu có từ các nước phát triển mà tất cả các tầng lớp khác, từ nhiều quốc gia khácnhau.
Theo báo cáo mới nhất của Tổ chức Du lịch thế giới với tựa đề “UNWTO TourismHighlights 2014” đã cho thấy sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch Sự gia tăng nhanh chóng
về số lượng các điểm đến trên toàn thế giới đã mở ra cơ hội lớn cho đầu tư du lịch, đưa du lịchtrở thành một động lực chính cho phát triển, thông qua tăng trưởng xuất khẩu, tạo thêm việc làm
và các doanh nghiệp mới, phát triển cơ sở hạ tầng Sau sáu thập kỷ, ngành du lịch không ngừng
mở rộng và đa dạng hóa, trở thành một trong những ngành kinh tế lớn nhất, phát triển nhanhnhất Rất nhiều điểm đến mới đã xuất hiện ngoài các điểm đến truyền thống ở châu Âu và Bắc
Mỹ Mặc dù thường xuyên phải chịu ảnh hưởng từ khủng hoảng kinh tế, lượng khách du lịchquốc tế vẫn tăng trưởng và hầu như không bị gián đoạn từ 25 triệu lượt năm 1950 đến 278 triệulượt năm 1980, 528 triệu lượt năm 1995 đến 1,087 tỷ lượt năm 2013 [55],
Theo UNWTO, lượng khách du lịch quốc tế trên toàn thế giới dự kiến sẽ tăng 3,3% /nămgiai đoạn 2010-2030, đạt 1,8 tỷ lượt vào năm 2030 Từ năm 2010 đến năm 2030, tăng trưởngkhách tại những điểm đến mới nổi là 4,4%/năm, gấp đôi tỷ lệ này tại những nền kinh tế pháttriển là 2,2% /năm Thị phần khách tại các nền kinh tế mới nổi đã tăng từ 30% vào năm 1980 lên47% vào năm 2013, và dự kiến sẽ đạt 57% vào năm 2030, tương đương với hơn 1 tỷ lượt khách
du lịch quốc tế Đây sẽ là cơ hội lớn cho tất cả các quốc gia giàu tiềm năng du lịch như ViệtNam đế thu hút khách tham quan
- Thành phần du lịch ngày càng đa dạng: Cùng với sự phát triển nhanh chóng về số ngườitham gia du lịch, thành phần khách du lịch trở nên đa dạng hơn về khả năng chi tiêu khách du lịchtrở nên phong phú, do người du lịch không chỉ những người giàu có từ các nước phát triển mà tất
cả các tầng lớp khác, từ nhiều quốc gia khác nhau cũng tham gia ngày càng đông đảo Điều nàyđòi hỏi hệ thống cơ sở vất chật phục vụ du lịch phải có sự đa dạng để phục vụ phù hợp với nhu cầu
Trang 37của từng nhóm khách khác nhau.
Trong bối cảnh dân số thê giới đang già hóa, nhóm người già đang ngày càng tăng nhanh
Ó các nước, đây là nhóm tuổi có thời gian rỗi, có tích lũy vật chất vì vậy nhu cầu du lịch khánhiều Nguồn khách này có đặc điểm sức khỏe, nhận thức, tâm lý và yêu cầu riêng biệt nên cần cónhững chương trình đặc biệt phục vụ nhu cầu về nghỉ dưỡng cho đối tượng khách này
Đối tượng tham gia du lịch còn xuất hiện ở nhóm người độc thân, số khách du lịch là nữgiới làm cho thành phần khách du lịch phong phú Ngoài ra ngày càng nhiều những nhóm giađình đăng ký đi du lịch với sự tham gia của đầy đủ các thành viên của cả ba thế hệ trong gia đình,đặc biệt các dịp lễ, cuối tuần và kỳ nghỉ hè của trẻ em
-Các hình thức du lịch ngày càng phong phú và đa dạng Bên cạnh những hình thức dulịch truyền thống cũng xuất hiện và mở rộng nhiều hình thức du lịch kết hợp Du lịch MICE(Meeting, Incentive, Conference, Event - Du lịch kết hợp hội thảo, hội nghị) Xuất hiện và pháttriển đa dạng nhiều loại hình du lịch như du lịch cộng đồng Homestay, là loại hình du lịch dànhcho những du khách thích khám phá, trải nghiệm và tìm hiếu về phong tục tập quán của người dânđịa phương Du khách sẽ cùng ăn, ngủ và sinh hoạt tại nhà dân để tự mình khám phá những nétvăn hóa bản địa độc đáo Một hình thức du lịch khác mới xuất hiện là du lịch Team building (xâydựng đội ngũ) cũng đang trở thành một xu hướng được nhiều công ty lựa chọn, đây thực chất làmột hoạt động dựa trên các trò chơi khác nhau để những người tham gia có thể trải nghiệm cáctình huống cụ thể, từ đó rút ra các bài học thực tiễn trong công việc Nhìn chung, xu hướng ngàycàng tăng nhu cầu khách lựa chọn chương trình du lịch có sự kết hợp giữa các loại hình du lịchnhư nghỉ biển kết hợp vói hội nghị, du lịch khen thưởng kết hợp thăm dò thị trường, du lịch nghỉdưỡng ngắn ngày kết hợp với casino v.v Sự thay đổi xu hướng này đòi hỏi các cơ sở dịch vụ phải
đa dạng hoá các sản phẩm như tạo chương trình nghỉ ngơi tham quan di tích lịch sử kết hợp thămtrang trại trồng rau, chè và cây ăn quả, tố chức các hoạt động giải trí trên biên
- Nhu cầu khách du lịch trở nên đa dạng và phức tạp Với sự tham gia đông đảo củanhiều nhóm người trong xã hội đã kéo theo những yêu cầu về sản phàm du lịch rất khác biệt Cóthể khái quát qua một số xu hướng cụ thè sau:
Nhu cầu về sản phẩm du lịch có sự thay đổi, khách du lịch đang trong xu hướng thay đổihành vi từ kiểu “viếng thăm, ngắm cảnh” thông thường tới các điếm đến mà muốn tìm hiểu sâuhơn về các giá trị và cuộc sống của bản địa nhằm phát triển bản thân cá nhân của chính mình Cáchình thức này đang được gọi chung là du lịch vì sức khỏe (tinh thần và tâm trí - WellnessTourism)
Trang 38Khách du lịch đang có xu hướng chọn các dịch vụ, hàng hoá bền vững, có nhãn sinh thái,thân thiện với môi trường Đây là xu hướng thay đổi chung của nhân thức xã hội và thể hiện rõtrong nhóm khách du lịch quốc tế, đặc biệt khách đến từ các nước châu Âu, Bắc Mỹ, Nhật, TháiLan Họ có ý thức và nhu cầu cao về an toàn và sức khoẻ, ngày càng nhiều người muốn quay vềvới thiên nhiên Đồng thời, trong quá trình du lịch, khách hàng có xu hướng ưu tiên những dịch vụ
có lợi cho sức khoẻ và sắc đẹp Những khu vực không hút thuốc lá, không bán và phục vụ rượumạnh, bô sung các thực đơn tăng cường rau, củ, quả chứng minh được nguồn gốc, các món ăn ítbéo, đường, calo hoặc ít carbohydrate, các đồ uống ít calo và ít cafein, các câu lạc bộ sức khoẻ vớinhững dụng cụ, thiết bị thể thao, phòng tập yoga, sân tennis, sân tập gofl mini, bể bơi, bể sục,phòng tắm nước khoáng, ngâm thuốc bắc, nơi phơi nãng hoặc các phòng matxa ; các dịch vụ dulịch kết họp chữa bệnh thời đại như các bệnh gout, tiểu đường, tim mạch ngày càng được đôngđảo nhóm khách có khả năng chi trả cao lựa chọn
- Địa bàn khách du lịch tham quan có sự thay đổi Trong bối cảnh toàn cầu hóa,khoảng cách giữa các quốc gia trên thế giới trở nên gần gũi, cùng với sự phát triển mạnh mẽ củangành giao thông vận tải, đặc biệt là hàng không và những thay đổi linh động trong chính sáchxuất nhập cảnh của nhiều quốc gia đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại giữa các quốc gia.Nguồn khách quốc tế tiếp tục có xu hướng thay đôi địa bàn tham quan từ những khu vực truyềnthống như châu Âu, Bắc Mỹ sang những địa bàn mới như châu Á trẻ trung, năng động Báo cáocủa UNTWO năm 2013 cho thấy khu vực Đông Nam Á dẫn đầu về mức độ tăng trưởng khách dulịch với 10%, theo sau là khu vực Trung và Đông Âu với 6,9%, Bắc Phi với 6,2% và Nam Âu với6,1% Cũng theo số liệu của UNWT0, du lịch tăng trưởng ở tất cả các khu vực trên trái đất, chỉ vớimức độ năng động cao thấp khác nhau, như ở Đông Nam Á cao thì ở Trung Đông chỉ tăng được có0,3% và vùng Caribe tăng 1%
Trong phạm vi lãnh thổ nhỏ cũng cho thấy khách du lịch có xu hướng đi nghỉ rời xanhững nơi đô thị ồn ào, đến những nơi yên tĩnh, biệt lập Đây là một xu hướng khiến các điếm dulịch ở các vùng xa trung tâm đô thị ngày càng đông khách
1.4.2 Tình hình khai thác di tích lịch sử, văn hóa vào phát triển du lịch ở Việt Nam
Trong tiến trình phát triển đất nước, các DTLS, VH có vai trò quan trọng đối với việc bảotồn bản sắc văn hóa dân tộc, kết nối các thế hệ và là nền tảng để giao lưu, hội nhập thế giới Luật
Di sản văn hoá được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, khoá X kỳ họp thứ 9
thông qua đã khẳng định “Z)z sản văn hoá Việt Nam là tài sản quỷ giả của cộng đồng các dân tộc
Việt Nam và là một bộ phận của Di sản văn hoả nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng
Trang 39nước và giữ nước của nhãn dãn tá" Đối với ngành du lịch, các DTLS, VH với những giá trị bên
trong là nhân tố chủ yếu tạo nên sự hấp dẫn và độc đáo các sản phẩm du lịch Đất nước Việt Nam
có hệ thống DTLS, VH đa dạng, giá trị cao trở thành nguồn TNDL nhân văn hấp dẫn du kháchtrong và ngoài nước
Đẻn năm 2014, cả nước có trên 4 vạn DTLS, VH và danh lam thắng cảnh trong đó hơn 3nghìn di tích được xếp hạng cấp quốc gia (trong đó có 8 di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới, 48
di tích quốc gia đặc biệt, hơn 7 nghìn di tích được xếp hạng cấp tỉnh, thành phố (đã dẫn từ NguyễnThế Hùng) [2007], Đây là số lượng lớn so với quốc gia có diện tích trung bình như Việt Nam, làmcho nước ta có thế mạnh về TNDL nhân văn
Với số lượng lớn các di tích lịch sử, nhiều di tích được xếp hạng cao trở thành nguồn tàinguyên vô cùng phong phú và đa dạng để phát triển du lịch đất nước Đặc biệt ở nước ta, hệthống di sản thế giới của Việt Nam được UNESCO công nhận liên tiếp gia tăng về số lượng làcác trọng tâm trong thực tiễn xây dựng sản phẩm, thu hút khách du lịch Các di tích lớn, nhất làđối với các di tích sau khi được ghi vào danh mục di sản văn hóa thế giới, những di tích được xếphạng cấp quốc gia đều trở thành những địa điểm du lịch hấp dẫn, thu hút một lượng lớn khách dulịch trong và ngoài nước Nhiều DTLS, VH cũng đã được phát huy giá trị một cách tích cực dướicác mức độ khác nhau Các sản phẩm như tham quan di sản cố đô Huế, phố cổ Hội An, di tích
Mỹ Son thu hút sự quan tâm lớn của du khách Bên cạnh đó, việc kết hợp các hoạt động được tốchức gắn liền với di tích càng gia tăng khách tham quan và trở thành những ngày hội văn hóa lớncủa đất nước như các chưong trình Festival ở di tích Cố đô Huế, Đêm rằm Phố cổ Hội An, Hànhtrình du lịch về nguồn (các di tích cách mạng ở miền Bắc, miền Trung) [3]
Điều đó đưa đến kết quả nguồn thu từ bán vé tham quan tại di tích và những sản phẩmdịch vụ khác không ngừng tăng lên, tạo việc làm cho nhiều người lao động, góp phần biến đổi cơcấu kinh tế của địa phương Nhiều di tích có nguồn thu lớn như: di tích cố đô Huế thu từ bán vénăm 2006 đã đạt mức 55 tỷ đồng, đền Ngọc Sơn, Văn Miếu - Quốc Tử Giám - Hà Nội, Di tích cố
đô Hoa Lư, Côn Sơn - Kiếp Bạc đã thu được 3 đến 4 tỷ đồng/năm
Cùng với các tài nguyên khác, hệ thống DTLS, VH đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng dulịch về số lượng và cả doanh thu Theo thống kê của Tổng cục Du lịch Việt Nam, trong suốt hơn
2 thập kỷ qua, số lượng khách quốc tế đến du lịch Việt Nam tăng trưởng mạnh với tốc độ trungbình trên 12% mỗi năm từ năm 1990 với 250.000 lượt khách quốc tế thì đến năm 2013 với 7,57triệu lượt Khách du lịch nội địa cũng tăng mạnh liên tục trong suốt giai đoạn vừa qua, từ 1 triệulượt năm 1990 đến 2013 đạt con số 35 triệu lượt Sự tăng trưởng không ngừng về khách đã thúc
Trang 40đẩy mở rộng quy mô hoạt động của ngành du lịch trên mọi lĩnh vực [59].
Thị phần khách quốc tế đến Việt Nam trong khu vực và trên thế giới không ngừng tănglên Năm 2013 Du lịch Việt Nam đã chiếm 8,2% thị phần khu vực ASEAN; 2,4% khu vực ChâuÁ-Thái Bình Duơng và 0,68% thị phần toàn cầu VỊ trí của Du lịch Việt Nam đã được cải thiệnđáng kể trên bản đồ du lịch thế giới Việt Nam đang trở thành điểm đến hấp dẫn, thu hút mạnhdòng khách du lịch
Theo tính toán của Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), Hội đồng du lịch và lữ hành thếgiới (WTTC) tiếp cận theo tài khoản vệ tinh du lịch thì năm 2012 tổng thể ngành du lịch Việt Namđóng góp vào nền kinh tế 13 tỷ USD chiếm khoảng 9,4% GDP gồm: đóng góp trực tiếp, đóng gópgián tiếp và đóng góp phát sinh (bao gồm cả đầu tư và chi tiêu của Chính phủ cho du lịch; khấu trừnhập khẩu và du lịch ra nước ngoài) Hoạt động kinh tế du lịch trực tiếp được tính đến qua việccung cấp dịch vụ ăn, ở, đi lại, tham quan, giải trí, nghỉ dưỡng trực tiếp phục vụ khách du lịch.Các hoạt động kinh tế gián tiếp tham gia vào chuỗi cung ứng dịch vụ phục vụ khách du lịch cũngđược tính toán trong đóng góp của du lịch trong nền kinh tế Ớ khía cạnh này, ngành du lịch liênquan và có hiệu ứng lan tỏa đến tất cả các ngành, lĩnh vực của đời sống kinh tế-xã hội và đóng góp
to lớn vào nền kinh tế quốc dân
1.4.3 Tình hình khai thác di tích lịch sử, văn hóa vào phát triển du lịch ỏ' Đông Nam Bộ
Vùng Đông Nam Bộ (Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa Vũng Tàu, Đồng Nai, Bình Dương,Bình Phước, Tây Ninh) nằm trong vùng kinh tể trọng điểm phía Nam, là vùng hội tụ mọi điều kiệnthuận lợi về tự nhiên lẫn nhân văn để phát triẻn kinh tế xã hội Đông Nam Bộ đặc biệt là Thànhphố Hồ Chí Minh cũng đồng thời là vùng có lịch sử văn hóa phát triển từ lâu đời và khá đa dạng
Đây là vùng đất còn lira giữ nhiều DTLS, VH các thời kỳ lịch sử, đặc biệt là di tích lịch sửcách mạng đặc biệt cấp quốc gia; khu vực có tiềm năng di tích khảo cô, công trình kiến trúc nghệthuật và nhiều hoạt động văn hóa đi kèm diễn ra thường xuyên Hệ thống các DTLS, VH nhiều về
số lượng, đa dạng về tính chất, phong phú về hình thức
Ở Thành phố Hồ Chí Minh, theo thống kê của SVHTT & DL, đến hết tháng 12/2012, trênđịa bàn thành phố có 144 di tích đã quyết định xếp hạng với nhiều loại khá phong phú, đặc biệt có
01 di tích lịch sử quốc gia đặc biệt (Dinh Độc Lập), 57 di tích xếp hạng quốc gia (bao gồm 02 ditích khảo cô học; 30 di tích kiến trúc nghệ thuật và 25 di tích lịch sử), 86 di tích cấp thành phố(bao gồm 36 di tích lịch sử và 50 di tích kiến trúc nghệ thuật) Với số lượng các di tích khá lớn, đa