Nghiên cứu lịch sử mỹ thuật, nghiên cứu văn hoá, truyền thống của Việt Nam,, phù hợp cho các bạn sinh viên chuyên ngành thiết kế thời trang, đồ hoạ, nội thất, xã hội nhân văn,…, những người có hứng thú nghiên cứu về lịch sử mỹ thuật
Trang 1TÌM HIỂU LỊCH SỬ MỸ THUẬT VIỆT NAM HIỆN ĐẠI
GIAI ĐOẠN 1925-1985
I Giai đoạn 1925-1945:
Vào thời kỳ Đông Dương, nền hội họa sơn dầu Việt Nam đã ít nhiều
có những sắc thái riêng biệt, với những nội dung hết sức đặc biệt, được phản ánh qua những tác phẩm có phong độ bậc thầy như “Thiếu
Nữ bên Hoa Huệ” của Tô Ngọc Vân, “Chơi Ô Ăn Quan” của Nguyễn Phan Chánh, “Vườn Xuân Bắc Nam” của Nguyễn Gia Trí vv…Các họa sĩ VN đã đi từ trường phái Cổ điển, qua Hiện thực, và phần nào tiếp cận các trường phái Hiện Đại như: Ấn tượng
1 Sự ra đời của trường Mỹ thuật Đông Dương
- Trường Mỹ thuật Đông Dương được thành lập ngày 27 Tháng
Mười năm 1924[2] với sắc lệnh của Toàn quyền Đông Dương Martial Merlin Tên tiếng Pháp của trường khi đó là École Supérieure des Beaux-Arts de l'Indochine (en) nhưng nếu theo hệ thống giáo dục chính quy của Pháp thì không thể coi Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương
là trường cao đẳng vì École Supérieure phải thuộc hệ thống trường lớn (Grandes écoles), tức những trường bậc đại học danh tiếng nhất Đúng
ra theo hệ thống giáo dục Pháp thì trường cao đẳng là trường đại học chuyên ngành, thể thức thi tuyển vào còn khó khăn hơn các trường
Đại học (Université) bình thường.[3]Tuy nhiên trường Cao đẳng Mỹ thuật đã thành công như một bước đột phá mang quy thức nghệ thuật Tây phương đến Đông Dương
- Ngày 25 tháng 4 năm 1938, toàn quyền Đông Dương ký ban hành nghị định tái tổ chức Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương, theo
đó trường chính thức trở thành Trường Cao đẳng Mỹ thuật và Nghệ thuật Ứng dụng Ngày 22 tháng 10 năm 1942, toàn quyền Đông
Dương ký nghị định về việc tách Trường Cao đẳng Mỹ thuật gồm các hội họa, điêu khắc và kiến trúc ra khỏi Trường Mỹ thuật Ứng dụng
- Năm 1937, thời kỳ sơ khai và đầy khó khăn của trường cũng chấm rứt Ông Esvarist Jonchère được bổ nhiệm giữ chức hiệu trưởng Năm
1938, ông chú trọng phát triển nghệ thuật sơn mài và cho mở khoa sơn mài, mặt khác ông cho mở khoa đồ họa và gốm sứ
2 Sự hình thành xu hướng và đặc điểm của mỹ thuật Việt Nam giai đoạn 1925-1945
a Xu hướng
- Xu hướng lãng mạn
Tâm trạng xã hội trong thời điểm lịch sử Việt Nam giai đoạn 1925 -
1945 đã thu hút tâm trí của con người và một đòi hỏi về nhu cầu thẩm
mỹ phù hợp, đó là mảnh đất mầu mỡ để hội họa Lãng mạn phát triển
Trang 2Chúng ta có thể thấy, khi nắm bắt được những cách tạo hình mới lạ của châu Âu và phần nào đó được tiếp cận với những tác phẩm của các danh họa thế giới, các họa sỹ Việt Nam khao khát đổi mới trong sáng tạo theo những xu hướng mới Không khỏi chịu sự ảnh hưởng cái
mỹ cảm tiểu tư sản đang thịnh hành trong đời sống xã hội Việt Nam, nhất là trong đời sống của tầng lớp thị dân với những nhu cầu nghệ thuật tương ứng, chính vì vậy sáng tác ở thời kỳ này mang đậm chất lãng mạn, bao trùm lên hầu hết các thể loại của hội họa Các họa sỹ Việt Nam tìm đến chủ nghĩa Lãng mạn như một cách phản ứng với xã hội Việt Nam đương thời, một xã hội mà họ cảm thấy thất vọng, chán nghét, họ quay về với cái “tôi”, xoa dịu sự “tổn thương” bằng mộng tưởng
Những bức tranh theo xu hướng lãng mạn của hội họa Việt Nam giai đoạn 1925 - 1945 không cầu kỳ, không tôn giáo, không khoa trương
da thịt mà ẩn náu một tâm hồn thanh đạm, lãng mạn, mong manh như món đồ sứ “đẹp nhưng dễ vỡ”
Một số tác phẩm tiêu biểu của xu hướng lãng mạn trong thời kì này
Thiếu nữ: Mai Trung Thứ
1934 Thuyền trên sông Hương: Tô Ngọc Vân1935
Trang 3
Thiếu nữ bên hoa huệ: Tô Ngọc Vân
1943 Sơn dầu Em Thuý: Trần Văn Cẩn1943 Sơn dầu
Gội đầu: Trần Văn Cẩn
1943 Khắc gỗ Thiếu nữ bên hoa sen: Tô Ngọc Vân1944 Sơn dầu
Trang 4
- Xu hướng hiện thực
Sau khi dần nhận thấy xu hướng lãng mạn không thể giãi bầy trọn vẹn những nét đẹp vô cùng phong phú của hiện thực đời sống, các họa sỹ Việt Nam háo hức thể nghiệm, thu phục thị giác của người xem bằng tinh thần của cái nhìn hiện thực
Hội họa hiện thực Việt Nam giai đoạn này có nét khác biệt với hội họa hiện thực Pháp của Gustave Courbet, vì vậy có người đặt cho nó một cái tên rất hoa mỹ là “Thực tế nên thơ” của hội họa Có thể một phần
do những đặc trưng ngôn ngữ của nghệ thuật hội họa bị giới hạn, một phần do cái nhìn của người họa sỹ trong giai đoạn này với những vấn
đề mâu thuẫn, bức xúc trong đời sống xã hội thuộc địa còn bàng quan hoặc chưa có thái độ rõ ràng Với lối nhìn thực tế, các họa sỹ bằng cảm xúc của mình nhanh chóng biến tác phẩm hội họa thành nghệ thuật phản ánh cuộc sống sinh động
Một số tác phẩm tiêu biểu về xu hướng hiện thực:
Hai thiếu nữ và em bé: Tô Ngọc Vân
1944 Sơn dầu Thiếu nữ bên hoa phù dung: Nguyễn Gia Trí1944 Sơn mài
Chơi ô ăn quan: Nguyễn Phan Chánh
1931 Tranh lụa Rửa rau cầu ao: Nguyễn Phan Chánh1931 Tranh lụa
Trang 5b Đặc điểm
- Áp dụng những kiến thức thẩm mỹ phương Tây
Các tác phẩm hội họa giai đoạn 1925-1945 đã được xây dựng trên những kiến thức mỹ thuật mới (Giải phẫu tạo hình, Luật xa gần, Khoa học màu sắc), làm cho những bức tranh thay đổi về hình thức, nội dung Tuy nhiên, không phải vì thế mà họ rời xa truyền thống, thực tế
đã chứng sự trở về nguồn cội thể hiện trong tác phẩm hội họa từ đề tài, phong cách, kỹ thuật, nội dung và thẩm mỹ
- Dấu ấn cá nhân người nghệ sỹ trong tác phẩm
Tính chuyên nghiệp trong sáng tạo, nền tảng học vấn mới, tinh thần dân tộc là những nét cơ bản hình thành nên người họa sỹ Việt Nam giai đoạn 1925-1945 Tất cả đã tạo nên một thế hệ họa sỹ tiên phongvowis nhiều đogs góp cho nền hội họa Việt Nam hiện đại
- Hội họa đã phản ánh hiện thực đời sống
Hội họa giai đoạn 1925-1945 đã thoát ly tôn giáo, điển hình hóa hình ảnh cuộc sống thực tại và gắn với đời sống thị dân Tất cả những điều
đó đã hình thành nền hội họa dành cho cuộc sống như bản chất vốn có của nó
Bến thuyền sông Hồng: Đức Thuận
1931 Khắc gỗ
Ra đồng: Nguyễn Phan Chánh
1937 Tranh lụa
Trang 6- Đa dạng về chất liệu
Hội họa Việt nam giai đoạn 1925-1945 đã xuất hiện những chất liệu mới làm nên sự đa dạng trong chất liệu tác phẩm Nó cũng tạo điều kiện cho các họa sỹ lụa chọn chất liệu phù hợp với mình, cũng nhờ sự
đa dạng về chất liệu đã tạo nên những hiệu quả thị giác đa dạng trên tác phẩm nhờ kỹ thuật thể hiện đặc trưng của chất liệu
II Giai đoạn: 1945-1975
Miền Bắc bước vào thời kỳ kháng chiến, nền hội họa sơn dầu VN đã chuyển hóa các thành tựu của thời kỳ trước sang khuynh hướng xã hội chủ nghĩa Một số còn lại di cư vào Nam, sát nhập với trường Cao Đăng Mỹ Thuật Gia Định, nay là trường Đại Học Mỹ Thuật Tp HCM,
số 5 Phan Đăng Lưu, Q Bình Thạnh, Tp HCM
Thời kỳ này ở miền Nam, tức Sài Gòn cũ, các họa sĩ nổi tiếng các nơi
tổ chức triển lãm liên tục, ở Ty Văn Hóa (đường Tự Do), ở Hội Việt
Mỹ, với các họa sĩ cổ thụ như Nguyễn Gia Trí, Văn Đen, Nguyễn Siên, Tạ Tỵ, Hiếu Đệ, Nguyễn Thanh Thu Đến thập niên 60 thành lập thêm nhóm họa sĩ trẻ Sài Gòn, gồm có các họa sĩ Nguyễn Trung, Hồ Thành Đức, Bé Ký, Hồ Hữu Thủ,Trịnh Cung, vv
Đây là thời gian cực thịnh của các trường phái Hiện Đại: Ấn tượng, Lập thể, Siêu thực, Trừu tượng v.v Ở thời vàng son này, các họa sĩ rất được công chúng trọng thị và mến yêu, nhất là tầng lớp trung lưu trí thức, bác sĩ, kỹ sư, công chức, giáo sư,vv…Sau mỗi tháng lãnh lương, họ thường trích ra một khoản tiền để sưu tập tranh, tượng
1 Những ngày đầu cách mạng và kháng chiến chống Pháp (1945 - 1954)
Cách mạng tháng 8/1945 thành công đưa đất nước vào kỷ nguyên Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Đồng thời cũng mở ra một trang sử mới cho mỹ thuật Việt Nam
Từ những hạt nhân là một số hoạ sỹ hoạt động bí mật trong những " tổ chức văn hoá cứu quốc thời tiền khởi nghĩa " Giờ đây cả giới mỹ thuật bị
cuốn hút vào thể loại vẽ tranh cổ động biểu thị ý chí toàn dân quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do của Tổ quốc với nhiều chất liệu khác nhau những tác phẩm này đã hướng mỹ thuật Việt Nam vào con đường mới, với nhân sinh quan cách mạng Một số hoạ sỹ còn phân vân với những níu kéo của thẩm mỹ cũ, thì Hồ Chí Minh sau khi xem triển lãm đã góp ý
chân tình " các chú vẽ nhiều thiếu nữ khoả thân, vẽ nhiều hoa, cái ấy cũng đẹp, nhưng đẹp trên cao, sao các chú không vẽ cái đẹp dưới đất chung quanh chúng ta ".
Đồng thời tháng 10/1945 trường Cao đẳng mỹ thuật được mở ra nhưng
do chiến tranh không học được Song được cách mạng cổ vũ và lãnh tụ
Trang 7quan tâm, các hoạ sỹ và các nhà điêu khắc đã tự tin, tích cực chuẩn bị cho cuộc triển lãm mỹ thuật toàn quốc đầu tiên trong chế độ mới và các hoạ
sỹ đã giành cả tâm huyết của mình trong việc sử dụng ngòi bút làm vũ khí
tố cáo tội ác của thực dân Pháp, phát xít Nhật, ca ngợi lãnh tụ và các anh hùng thời đại: Tranh tượng về Bác Hồ (Tô Ngọc Vân, Nguyễn Đỗ Cung, Phan Kế An ) tự vệ chiến đấu (Văn Bình) đã báo hiệu sự ra đời của nền nghệ thuạt cách mạng
Và rồi chiến tranh lan dần từ miền Nam ra cả nước, cho đến cuối 1940 cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ đi liền với sự nghiệp kháng chiến toàn dân, toàn diện là sự chuyển mình của các hoạ sỹ Họ nghe theo tiếng gọi của nước của dân tộc cho nên đa số các hoạ sỹ đều cầm súng, vừa cầm bút vẽ tranh để tuyên truyền cho kháng chiến thể loại ký hoạ, tranh khắc gỗ, bột màu, thuốc nước, chì, tranh sơn mài được dùng nhiều với những tác phẩm đạt giá trị cao cả ở nội dung và nghệ thuật, được giới thiệu ở các triển lãm mỹ thuật chào mừng sự kiện lớn trong cả nước Năm 1948 nhân dịp đại hội văn hoá toàn quốc ở miền Bắc, một cuộc triển lãm hội hoạ lớn gồm các tác phẩm kháng chiến đã được tổ chức, điển hình là tác phẩm: Dân quân phù lưu (Nguyễn Tự Nghiêm), Gặt lúa (Mai Văn Hiển), Người du kích già (Phạm Văn Đôn) đã phản ánh cuộc chiến tranh nhân dân thần thánh với niềm lạc quan tất thắng
Năm 1951 sau chiến thắng thế giới ở miền Bắc lại tổ chức một cuộc triển lãm mỹ thuật với quy mô lớn; nhân dịp này Bác đã gửi thư tới các hoạ sỹ
và nghệ sỹ " Văn hoá nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sỹ trên mặt trận ấy " và nêu rõ nhiệm vụ của chiến sỹ nghệ thuật là
phụng sự kháng chiến, phụng sự Tổ quốc, phụng sự quân dân trước hết là công nông binh lời của Bác thật sâu sắc, ấm tình người, Bác là nhà cách mạng vĩ đại và cũng là một người rất am hiểu nghệ thuật Năm 1952 tại Việt Bắc trường Trung cấp mỹ thuật được thành lập do hoạ sỹ Tô Ngọc Vân làm Hiệu trưởng, đã đào tạo ra một thế hệ hoạ sỹ đầu tiên cho kháng chiến, những cuộc triển lãm lớn với nhiều tác phẩm nghệ thuật giá trị của
họ như tác phẩm " Bác Hồ với các cháu thiếu nhi Trung - Nam - Bắc của hoạ sỹ Diệp Minh Châu " là bức tranh nổi tiếng mà ông vẽ bằng máu của
chính mình trên lụa, là một hoạ sỹ - một nhà điêu khắc tài ba, ông sinh năm 1919 tại Nhơn Hạnh - Bến Tre Tốt nghiệp trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương 1945 Tiêu biểu cho thế hệ các hoạ sỹ miền Nam đi
theo kháng chiến Ngoài ra còn có tác phẩm "Du kích tập bắn " (Nguyễn
Đỗ Cung) cũng là tác phẩm nổi tiếng ở thời kỳ này, " Hành quân qua đèo " (Nguyễn Như Hậu) những tác phẩm này đã cổ vũ lớn lao, động
viên kịp thời quân dân xông lên diệt giặc (mang giá trị nghệ thuật và giá trị lịch sử)
Vào giai đoạn cuối của kháng chiến chống Pháp, các hoạ sỹ tích cực thâm nhập vào cả hai trận địa phản phong và phản đế, có người đã đổi cả chính cuộc đời nghệ thuật như hoạ sỹ - liệt sỹ (Tô Ngọc Vân) sinh 1906 - 1954
Trang 8tại Hà Nội Tốt nghiệp trường Cao đẳng mỹ thuật Đông Dương 1931, là Hiệu trưởng đầu tiên của trường mỹ thuật kháng chiến mở ở chiến khu Việt Bắc Là một hoạ sỹ nổi tiếng của mỹ thuật Việt Nam hiện đại, trước cách mạng vẽ tranh các thiếu nữ thị thành đài các (thiếu nữ bên hoa huệ,
2 thiếu nữ ) sau cách mạng tháng 8 và kháng chiến ông chuyển sang vẽ tranh về chiến sỹ vệ quốc đoàn, những ông già nghệ thuật chất phác, những cô thôn nữ người dân tộc thuỳ mị ký hoạ là một thể loại nổi tiếng của ông với tác phẩm: Đốt đuốc đi học, chị cốt cán, con nghé quả thực ngoài ra còn có một số tác phẩm nổi tiếng của một số tác giả cùng thời: cái bát (Sỹ Ngọc), vệ quốc quân canh đêm (Nguyễn Tự Nghiêm)
Một số tác phẩm tiểu biểu trong giai đoạn 1945-1954
Du kích La Hai tập bắn: Nguyễn Đỗ Cung
1947 Trận tâm vu: Nguyễn Hiêm1947
Trang 9
2 Nền mỹ thuật Việt Nam trong xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ (1954 - 1975).
- Giữa năm 1954 cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, hoà bình lập lại trong cả nước giới mỹ thuật có điều kiện tập trung về thủ đô Hà Nội, họ tổ chức một cuộc triển lãm thực sự mang tính toàn quốc, là sự tổng kết của mỹ thuật kháng chiến Từ đây có nhiều công trình mỹ thuật được xây dựng như: 1957 hội mỹ thuật Việt Nam được thành lập, trường Trung câp mỹ thuật được nâng cấp thành trường Cao đẳng
1962 viện mỹ thuật - mỹ nghệ được thành lập, 1966 bảo tàng mỹ thuật nhánh thành tất cả nói lên tiềm năng của mỹ thuật cách mạng thật dồi dào, và được giới thiệu ra thế giới tiêu biểu với những tác phẩm:
" Nhớ một chiều Tây Bắc " (Phan Kế An) là hồi ức về một dĩ vãng đầy
hào hùng, đầy oanh liệt, đầy tình yêu người, yêu thiên nhiên, một dĩ vãng đầy hào húng đã đi vào lòng người bao thế hệ con cháu đất Việt, hình dáng đoàn quân chiến sỹ nhỏ bé so với núi rừng nhấp nhô, hùng
vĩ, càng tăng thêm lòng quyết tâm rất cao của các chiến sỹ này
Tác phẩm " Bình minh trên nông trang " (Nguyễn Đức Nùng) được vẽ
bằng màu bột với mảng màu nóng rực, rắn chăc, đã diễn tả hình dáng của một anh bộ đội với cánh tay rắn chắc, hoành tráng trước một thiên nhiên rộng lớn, lấp lánh ban mai
Tác phẩm này diễn tả cảnh tát nước rất sôi động của nhóm người nông dân, họ vui vẻ, cười đùa, cùng nhau tát những gàu nước vào đồng,
" Tát nước đồng chiêm " là một bài thơ ca ngợi cuộc sống lao động
của người nông dân tạo niềm tin cho tiền phương về một hậu phương
Gặp gỡ: Mai Văn Hiến
1954 Bột màu Thổ, Nùng, Mán, Kinh đoàn kếtđuổi giặc Pháp: Trần Văn Cẩn
1947-1954 Khắc gỗ
Trang 10vững chắc
Với ta tác phẩm trên chứng tỏ trong thời kỳ chống Mỹ này tranh sơn mài rất phát triển, được nhiều hoạ sỹ rất thành công, sự thắng lợi của
họ cũng phần nào đóng góp cho nền mỹ thuật thời kỳ này càng thêm phong phú hơn và nhiều cuộc triển lãm đã được mở ra trên toàn quốc:
1960 - chào mừng đại hội lần thứ III của Đảng và 1963 triển lãm mỹ
thuật toàn quốc, mà người ta nhớ mãi: " Hành quân trong rừng " (Nguyễn Khang), " Nam kỳ khởi nghĩa " (Huỳnh Văn Gấm), " Giờ học tập " (Nguyễn Sáng)
Dân tộc ta thoát khỏi gánh nặng áp bức của thực dân Pháp chẳng được bao thì đế quốc Mỹ lại nhảy vào phá hoại miền Bắc (1964), nhân dân miền Bắc lại bắt đầu một cuộc kháng chiến gian khổ để đấu tranh bảo
vệ nền độc lập - tự do của mình Tuy nhiên, các hoạ sỹ, và nhà điêu khắc lại thích ứng hoàn cảnh mới này rất nhanh, một mặt lên đường đến những nơi nóng bỏng nhất để ghi chép, sáng tác, không ít trong số
đó đã đi mà không bao giờ trở lại
Hiện thực chiến đấu sản xuất của quân dân đã đi vào tranh tượng, vừa động viên mọi người vượt lên mọi thử thách của chiến tranh, vừa tranh thủ sự đồng tình của thế giới Bên cạnh các thể loại: sơn mài, sơn dầu,
lụa thì đồ hoạ đặc biệt phát triển, các tranh khắc gỗ " Cồn cỏ anh hùng " (Quang Thụ), " Thanh niên xung phong ", " Chuyển tải đêm "
(Giáng Hương) và một số tranh cổ động gây xúc động lòng người:
" Có gì quý hơn độc lập tự do " (Phan Thông), " Giữ lấy quê hương ",
" Giữ lấy tuổi trẻ " (Đường Ngọc Cảnh)
Ngoài ra nghệ thuật điêu khắc cũng được khởi sắc, thành tựu được thừa nhận ở triển lãm 10 năm điêu khắc hiện đại Việt Nam (1963 - 1973): tượng tròn, chạm nổi, đắp nổi Điều lý thú là chính trong chiến tranh tượng đài lại phát triển ngay ở nơi rực lửa như: nam ngạn chiến
thắng (Thanh Hoá 1967), tượng các anh hùng liệt sỹ " Lý Tự Trọng, Kim Đồng " dựng ở thủ đô khích lệ tuổi trẻ cùng nhân dân cả nước
kiên cường, quyết chiến, quyết thắng, có nhiều cuộc triển lãm đã diễn
ra đặc biệt là cuộc triển lãm toàn quân 1974 thật sôi động
Nền mỹ thuật Việt Nam đã phát triển rất mạnh, dẫn chứng đó là những thành tựu của mỹ thuật cách mạng Việt Nam được dự triển lãm ở nước ngoài như: 1956 tại 3 nước XHCN Châu á (Trung Quốc, Triều Tiên,
Ma Cao), 1959 tại 8 nước XHCN Châu Âu Triển lãm mỹ thuật Việt Nam luôn giành được cảm tình của nhân dân thế giới
Trong sự phát triển của mỹ thuật trên đây có cả chiều rộng và chiều sâu, chưa bao giờ có một đội ngũ tạo hình đông đảo đi vào mọi mặt của cuộc sống sôi động Từ đó lại dẩy lên phong trào mỹ thuật không chuyên ở khắp các mặt trận sản xuất và chiến đấu, các hình tượng nghệ thuật đã được khẳng định và đi vào lịch sử Các hoạ sỹ đã vẽ rất nhiều chủ đề, đề tài trong cuộc sống, chiến đấu khác nhau