KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI TRONG VIỆC XHTD NHẰM HẠN CHẾ RRTD VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO 1.5.1 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng theo Ủy Ban Basel 21 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
HOÀNG THỊ PHƯƠNG
ỨNG DỤNG HỆ THỐNG XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP NHẰM HẠN CHẾ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NGOẠI THƯƠNG
VIỆT NAM CHI NHÁNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
MÃ SỐ: 60.31.12
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: TS NGUYỄN THỊ THÚY VÂN
TP.HỒ CHÍ MINH – NĂM 2011
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1:
1.1.4.3 Ảnh hưởng của RRTD đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
1.1.5.1 XHTD là cơ sở để quản trị rủi ro tín dụng 13 1.1.5.2 XHTD nhằm phân loại khách hàng cho vay và là cơ sở xây dựng
1.1.5.3 Cơ sở phân loại nợ và trích dự phòng rủi ro 15
Trang 31.4.4 Những thay đổi trong cơ cấu, thủ tục, chính sách 20 1.5 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI TRONG
VIỆC XHTD NHẰM HẠN CHẾ RRTD VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO
1.5.1 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng theo Ủy Ban Basel 21
CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG
DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI
2.1 GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển VCB – Chi nhánh Phú Thọ 29 2.1.3 Hoạt động huy động vốn tại VCB Chi nhánh Phú Thọ 30 2.2 CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VỀ
2.3 HÊ THỐNG CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG VÀ XHTD DOANH
2.3.3 Chỉ tiêu hệ thống XHTD nội bộ đối với khách hàng DN 37
Trang 42.3.5.1 Xác định giới hạn tín dụng 53
2.4 SO SÁNH PHƯƠNG PHÁP XHTD CỦA VCB VỚI TỔ CHỨC TÍN
2.4.1 Với Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) 56
2.5 ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC XHTD NỘI BỘ TẠI VCB CHI NHÁNH
5.2.3 Một số nguyên nhân khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến công tác
CHƯƠNG 3:
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN HỆ THỐNG
XHTD DOANH NGHIỆP NHẰM HẠN CHẾ RRTD TẠI
NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM CHI
3.1 ĐỐI VỚI VCB TRUNG ƯƠNG VÀ VCB CHI NHÁNH PHÚ THỌ 68 3.1.1 Quan điểm XHTD là bước quan trọng để hạn chế RRTD 68
3.1.5 Các kiến nghị để hoàn thiện phương pháp XHTD nhằm hạn chế
Trang 53.2.3 Các cơ quan nhà nước khác 83
Trang 6PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hóa là một xu hướng phát triển tất yếu khách quan, mang lại nhiều
cơ hội cũng như rủi ro thách thức cho các ngành kinh tế nói chung và ngành ngân hàng nói riêng Với đặc thù của NHTM Việt Nam thì nguồn thu từ hoạt động tín dụng vẫn là nguồn thu chủ yếu trong khi môi trường kinh doanh tín dụng hiện nay còn tồn tại nhiều rủi ro Do đó việc nghiên cứu ứng dụng những phương pháp nhằm nâng cao chất lượng tín dụng và hạn chế RRTD đã trở thành một trong những vấn
đề ưu tiên hàng đầu trong công tác quản trị ngân hàng, và phương pháp đang được nhiều NHTM quan tâm đó là xây dựng hệ thống XHTD nội bộ
Dưới sự chỉ đạo của VCB trung ương và sự nỗ lực của cán bộ nhân viên, Chi nhánh Phú Thọ đã xây dựng thành công hệ thống XHTD nội bộ cho các DN Tuy nhiên trong quá trình triển khai công tác XHTD nội bộ vào thực tiễn hoạt động đã gặp không ít vướng mắc khó khăn do các nguyên nhân chủ quan khách quan, và làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động tín dụng tại Chi nhánh Chính vì lẽ đó tác giả
đã chọn đề tài “Ứng dụng hệ thống xếp hạng tín dụng doanh nghiệp nhằm hạn
chế rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Chi Nhánh Phú Thọ” làm luận văn tốt nghiệp, với hy vọng có thể giúp Chi nhánh Phú Thọ
giảm bớt rủi ro phát triển vững vàng trong thời kỳ hội nhập
2 Mục đích nghiên cứu đề tài:
Đề tài nghiên cứu những lý thuyết cơ bản về nghiệp vụ XHTD Phân tích thực trạng hoạt động XHTD nội bộ nhằm hạn chế RRTD tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Chi nhánh Phú Thọ
Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện hệ thống XHTD nội bộ nhằm hạn chế RRTD của Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Chi nhánh Phú Thọ
3 Phương pháp nghiên cứu đề tài:
Trong quá trình thực hiện đề tài, tác giả dùng phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh để phân tích và làm rõ những vấn đề của luận văn
Trang 7Nguồn dữ liệu được thu thập từ các báo cáo của VCB tại Hội sở chính, VCB Chi nhánh Phú Thọ, các tạp chí, các website có liên quan do chính tác giả tổng hợp
và xử lý
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống XHTD nội bộ tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Chi nhánh Phú Thọ trong khuôn khổ luận văn này tác giả chỉ nghiên cứu đối tượng XHTD là các DN
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các vấn đề liên quan đến hoạt động XHTD nội bộ tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Chi nhánh Phú Thọ
5 Bố cục của đề tài:
Đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về XHTD nhằm hạn chế RRTD
- Chương 2: Thực trạng công tác XHTD doanh nghiệp nhằm hạn chế RRTD tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Chi nhánh Phú Thọ
- Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống XHTD DN nhằm hạn chế RRTD tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam Chi nhánh Phú Thọ
Trang 8CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG NHẰM HẠN
CHẾ RRTD 1.1 KHÁI NIỆM VỀ TÍN DỤNG VÀ XẾP HẠNG TÍN DỤNG
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của các tổ chức XHTD
Những tổ chức xếp hạng tín nhiệm đầu tiên xuất hiện tại Mỹ, nơi thị trường trái phiếu phát triển bậc nhất, dựa vào sự lớn mạnh của các công ty đường sắt mà hầu hết là các công ty tư nhân cùng với sự phát triển của các công ty tiện ích công cộng, những đối tượng này thường có nhu cầu lớn về vốn Bên cạnh đó do mức thu nhập của người dân Mỹ tăng nhanh, góp phần vào sự phát triển của thị trường nợ,
và gián tiếp thúc đẩy sự lớn mạnh của các tổ chức định mức tín nhiệm
Năm 1909, việc xếp hạng các chứng khoán được bắt đầu với công ty John Moody chuyên xếp hạng các trái phiếu đường sắt Một năm sau đó, Moody’s bắt đầu xếp hạng các trái phiếu công nghiệp và tiện ích công cộng
Công ty Standard & Poor bắt đầu xếp hạng các công cụ nợ vào năm 1922 và Fitch Investors Service (Fitch’s) cũng được thành lập vào năm này
Tuy nhiên, xếp hạng tín nhiệm chỉ phát triển nhanh ở Mỹ sau cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933; thời kỳ này thị trường nợ có quá nhiều hàng hóa, từ trái phiếu liên bang, trái phiếu địa phương, đến trái phiếu công ty đều phát triển theo cấp
số nhân và hàng loạt các nhà phát hành trái phiếu bị phá sản, vỡ nợ
Giai đoạn từ 1940 đến 1970, các tổ chức này hoạt động tương đối ổn định, thị trường nợ hoạt động tương đối an toàn và không có bước đột biến
Trong suốt 50 năm ra đời, việc xếp hạng tín nhiệm chủ yếu phát triển trong phạm vi nước Mỹ Trước năm 1970, ngay cả các công ty định mức tín nhiệm hàng đầu cũng chỉ có một nhóm nhân viên phân tích Từ sau năm 1970, cùng với sự phát triển của kinh tế thế giới, bản thân các công ty đã bắt đầu xuất hiện nhóm các nhà
Trang 9phân tích tín dụng, hoạt động xếp loại tín dụng lại khởi sắc phát triển mạnh mẽ và được cộng đồng thế giới chú ý
Ngày nay, với tiến trình toàn cầu hóa thị trường chứng khoán, nền kinh tế thế giới ngày một mạnh hơn, các tổ chức xếp hạng tín nhiệm của Mỹ hoạt động ở các thị trường tài chính lớn trên khắp thế giới cũng như ở rất nhiều thị trường chứng khoán mới nổi Và các tổ chức định mức tín nhiệm này đã được thừa nhận rộng rãi hơn ở thị trường vốn quốc tế Đặc biệt, các nhà đầu tư ở các thị trường phát triển thường đòi hỏi phải có việc xếp hạng tín nhiệm để họ có thể mua các trái phiếu quốc
tế Điều này đã phản ánh rõ trong việc gia tăng con số của các tổ chức định mức tín nhiệm hoạt động tại New York, Tokyo, London và gần đây nhất là Hongkong Các
tổ chức định mức tín nhiệm tầm cỡ quốc tế đã thiết lập chi nhánh của mình ở các thị trường mới nổi là nơi đang rất cần đến việc xếp hạng tín nhiệm đối với các công ty đóng trên địa bàn ở các quốc gia đó
Trong những năm gần đây, các nhà hoạch định chính sách ở các quốc gia công nghiệp hóa mới NICs (Newly Industrialized Countries) và các nước đang phát triển ngày càng nhận thức được tầm quan trọng của các cơ quan định mức tín nhiệm đối với sự phát triển của thị trường trái phiếu và tiền tệ Những nền kinh tế năng động ở Đông Á cho thấy những thị trường trái phiếu mới xuất hiện ở đây tương đối phát triển, phần lớn là do Chính phủ tại các nước này đã có những phản ứng tích cực đối với sự phát triển của cơ cấu thị trường tài chính, bao gồm cả việc thành lập các tổ chức định mức tín nhiệm
Ở một số nước, xếp hạng tín nhiệm được áp dụng cho đối tượng vay vốn ngân hàng, bằng cách xây dựng hệ thống chấm điểm XHTD khách hàng nội bộ
1.1.2 Khái niệm về tín dụng
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ latinh là credo (tin tưởng, tín nhiệm) Trong cuộc sống thì thuật ngữ tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Trong quan hệ tài chính cụ thể, tín dụng là một giao dịch về tài sản trên cơ sở
có hoàn trả giữa hai chủ thể
Trang 10Trên cơ sở tiếp cận theo chức năng của ngân hàng thì tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, DN và các chủ thể khác) Trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
1.1.3 Khái niệm về XHTD
Xếp hạng tín nhiệm (credit ratings) là thuật ngữ bắt nguồn từ tiếng Anh (credit: sự tín nhiệm; ratings: sự xếp hạng) do John Moody đưa ra vào năm 1909 trong cuốn “Cẩm nang chứng khoán đường sắt” khi tiến hành nghiên cứu, phân tích
và công bố bảng xếp hạng tín nhiệm lần đầu tiên cho 1500 loại trái phiếu của 250 công ty theo một hệ thống ký hiệu gồm ba chữ cái ABC được xếp lần lượt từ “Aaa” đến “C” (hiện nay những ký hiệu này đã trở thành chuẩn mực quốc tế), (tham khảo phụ lục số 01)
Chúng ta có thể điểm qua một số định nghĩa về xếp hạng tín nhiệm như sau: Theo Bohn, John A viết trong cuốn “Phân tích rủi ro trên các thị trường đang chuyển đổi” thì “xếp hạng tín nhiệm là sự đánh giá về khả năng một nhà phát hành
có thể thanh toán đúng hạn cả gốc và lãi đối với một loại chứng khoán trong suốt thời gian tồn tại của nó”
Theo định nghĩa của công ty chứng khoán Merrill Lynch thì “xếp hạng tín nhiệm là đánh giá hiện thời của công ty xếp hạng tín nhiệm về chất lượng tín dụng của một nhà phát hành chứng khoán nợ, về một khoản nợ nhất định Nói khác đi, đó
là cách đánh giá hiện thời về chất lượng tín dụng đang được xem xét trong hoàn cảnh hướng về tương lai, phản ánh sự sẵn sàng và khả năng nhà phát hành có thể thanh toán gốc và lãi đúng hạn Trong kết quả xếp hạng tín nhiệm chứa đựng cả ý kiến chủ quan của chuyên gia xếp hạng tín nhiệm”
Theo tự điển thị trường chứng khoán thì “xếp hạng tín nhiệm là cách ước tính chính thức tín nhiệm từ trước đến nay của cá nhân hay công ty về khả năng chi
Trang 11trả, bao gồm tất cả các số liệu kiểm tra, phân tích, hồ sơ lưu trữ về khả năng trách nhiệm tín dụng của cá nhân và công ty kinh doanh”
Theo công ty Moody’s thì “xếp hạng tín nhiệm là ý kiến về khả năng và sự sẵn sàng của một nhà phát hành trong việc thanh toán đúng hạn cho một khoản nợ nhất định trong suốt thời hạn tồn tại của khoản nợ”
Theo định nghĩa của Viện nghiên cứu Nomura (Nomura Research Institute):
“xếp hạng tín nhiệm là sự đánh giá hiện thời về mức độ sẵn sàng và khả năng trả nợ (gốc, lãi) đối với chứng khoán nợ của một nhà phát hành trong suốt thời gian tồn tại của chứng khoán đó.”
Như vậy “xếp hạng tín nhiệm” là sự đánh giá hiện thời về năng lực tài chính, tình hình hoạt động hiện tại và triển vọng phát triển trong tương lai của DN được xếp hạng, từ đó xác định được mức độ rủi ro không trả được nợ trong hiện tại và khả năng trả nợ trong tương lai
Hầu hết các công ty lớn và các tổ chức cho vay tại nhiều nước trên thế giới đều thiết lập bảng xếp hạng tín nhiệm đối với các khách hàng hiện tại cũng như tương lai của họ, theo phương pháp chấm điểm tín dụng hay còn gọi là XHTD Với phương pháp XHTD thì đối tượng sử dụng thông tin thường là ngân hàng, các định chế tài chính, (bảng thông tin xếp hạng về người vay không được sử dụng rộng rãi), việc XHTD được sử dụng để bảo vệ lợi ích cho các tổ chức cho vay
Khái quát thì XHTD là thuật ngữ sử dụng chung cho các nhà đầu tư, các ngân hàng, các Công ty tài chính và được hiểu như sau:
XHTD là việc đưa ra nhận định về mức độ tín nhiệm đối với trách nhiệm tài chính; hoặc đánh giá mức độ RRTD bao gồm năng lực đáp ứng các cam kết tài chính, khả năng dễ bị vỡ nợ khi các điều kiện kinh doanh thay đổi, ý thức và thiện chí trả nợ của người đi vay
Trang 121.1.4 Rủi ro tín dụng 1.1.4.1 Khái niệm rủi ro tín dụng:
Thực tế, bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào cũng gặp phải rủi ro mà trong
đó kinh doanh ngân hàng là loại hình kinh doanh thường hay xảy ra rủi ro nhất Rủi
ro liên quan đến việc cung cấp các sản phẩm, các dịch vụ tài chính đặc trưng, nên đôi khi một sai sót nhỏ cũng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sống còn của một ngân hàng Rủi ro hiện hữu khách quan trong các mặt nghiệp vụ của ngân hàng: thanh toán, tín dụng, tiền gửi
RRTD trong hoạt động ngân hàng: là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt
động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết
1.1.4.2 Các nguyên nhân phát sinh rủi ro tín dụng
Nguyên nhân khách quan
Rủi ro do môi trường kinh tế không ổn định
Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào sản xuất nông nghiệp
và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia công… những ngành này vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, do đó nó dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu
Ngành dệt may trong một số năm gần đây đã gặp không ít khó khăn vì chịu ảnh hưởng bởi “chế độ bảo hộ mậu dịch của các nước” làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của các DN Ngành thủy sản cũng gặp nhiều lao đao vì các vụ kiện bán phá giá cá da trơn của các DN Việt Nam khi vào thị trường Mỹ thời gian vừa qua đã thế các mặt hàng xuất khẩu của nước ta ra các nước khác gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt bởi các mặt hàng có xuất xứ từ Trung Quốc
Không chỉ xuất khẩu mà cả các mặt hàng nhập khẩu cũng bị tổn thương không kém, điển hình như các mặt hàng nhựa, phân bón, các chế phẩm từ dầu mỏ,
Trang 13nguyên liệu chủ yếu nhâp khẩu, cũng chịu ảnh hưởng rất lớn khi giá dầu mỏ trên thị trường thế giới biến động
Trong thời gian qua, nước ta đã diễn ra sự phát triển một cách tự phát giữa các ngành, hoàn toàn không đi kèm với sự quy hoạch hợp lý về phân công lao động, chuyên môn hoá lao động, về vốn, vai trò của các hiệp hội ngành nghề và sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước chưa được phát huy Điều này dẫn đến sự gia tăng vốn đầu
tư vào một số ngành, gây nên khủng hoảng thừa, lãng phí nguồn tài nguyên quốc gia
Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế:
Quá trình tự do hoá tài chính và hội nhập quốc tế tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các DN là khách hàng của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ thua lỗ và phá sản, điều này khiến DN gặp nhiều trở ngại trong kinh doanh
và có thể tăng tỷ lệ nợ xấu tại các ngân hàng
Bên cạnh đó, môi trường hội nhập kinh tế, sự cạnh tranh giữa các NHTM trong nước và nước ngoài cũng gặp nhiều trở ngại, khi một bên là các ngân hàng phát triển bền vững với độ dày kinh nghiệm hằng trăm năm với sản phẩm đa dạng, hiện đại Còn một bên là non yếu, hệ thống quản lý đơn giản, sản phẩm đơn điệu nghèo nàn lạc hậu, thiếu kinh nghiệm dễ đi đến nguy cơ thua thiệt do cách quản lý của ngân hàng đối với khách hàng, cách thẩm định cho vay, cách XHTD nội bộ chưa theo chuẩn Basel II
Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi
Trong những năm gần đây, Quốc hội, Ủy ban thường vụ quốc hội, Chính phủ, NHNN và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật, văn bản dưới luật, nhằm hướng dẫn các NHTM thi hành thực hiện chủ trương liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng Mặc dù luật và các văn bản dưới luật đã có, song việc triển khai
đi vào hoạt động ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp gặp nhiều vướng mắc bất cập như văn bản về việc cưỡng chế thu hồi nợ Những văn bản này đều có quy định: Trong những hợp khách hàng không trả được nợ, NHTM có quyền xử lý TSĐB nợ
Trang 14vay Trên thực tế, các NHTM không làm được điều này vì ngân hàng là một tổ chức kinh tế, không phải là cơ quan quyền lực nhà nước, không có chức năng cưỡng chế buộc khách hàng bàn giao TSĐB cho ngân hàng để xử lý hoặc chuyển TSĐB nợ vay để Tòa án xử lý qua con đường tố tụng Cuối cùng đưa đến hệ quả là việc thanh
lý tài sản mất rất nhiều thời gian, chi phí, công sức
Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát của NHNN chưa đạt hiệu quả, chưa có sự cải thiện căn bản về chất lượng Năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng yêu cầu đối với một cán bộ kiểm tra, thậm chí một số nghiệp vụ kinh doanh và công nghệ mới thanh tra ngân hàng còn chưa theo kịp Nội dung và phương pháp thanh tra, giám sát lạc hậu, chậm đổi mới Vai trò kiểm toán chưa đựơc phát huy và hệ thống thông tin chưa được tổ chức một cách hữu hiệu Thanh tra tại chỗ vẫn là phương pháp cơ bản, khả năng kiểm soát toàn bộ thị trường tiền tệ và giám sát rủi
ro còn yếu Thanh tra ngân hàng còn hoạt động một cách thụ động theo kiểu xử lý những vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn chặn và phòng ngừa rủi ro vi phạm
Do vậy có những sai phạm của các NHTM không được thanh tra NHNN cảnh báo, cũng như chưa có biện pháp ngăn chặn kịp thời, để đến khi hậu quả nặng nề đã xảy
ra rồi mới can thiệp Hàng loạt các sai phạm về cho vay, bảo lãnh tín dụng ở một số NHTM dẫn đến những rủi ro rất lớn, có nguy cơ đe dọa sự an toàn của cả hệ thống,
mà lẽ ra có thể đã được ngăn chặn ngay từ đầu, nếu bộ máy thanh tra kiểm tra phát hiện và xử lý sớm hơn
Trung tâm thông tin tín dụng (CIC) của NHNN hoạt động đã quá một thập niên, bước đầu đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình hoạt động tín dụng của các DN, nhưng chưa phải là
cơ quan định mức tín nhiệm DN một cách độc lập và hiệu quả Thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu cập nhật, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin Đây cũng là thách thức cho hệ thống ngân hàng trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụng trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin tương xứng, thông tin còn bất cập Nếu các ngân hàng vẫn quyết tâm chạy theo doanh số đạt chỉ tiêu cho vay đế lập thành tích, mở rộng tín dụng trong điều kiện môi trường thông tin không đầy đủ
Trang 15thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu cho hệ thống ngân hàng, tạo điều kiện cho các DN gian lận lừa đảo
Nguyên nhân chủ quan
Rủi ro do các nguyên nhân từ phía khách hàng vay
Đa số các DN khi vay vốn ngân hàng đều có các phương án kinh doanh cụ thể khả thi Số lượng các DN sử dụng vốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng để chiếm đoạt tài sản không nhiều Tuy nhiên những vụ việc phát sinh lại hết sức nặng
nề, liên quan đến uy tín của các cán bộ, làm ảnh hưởng xấu đến các DN khác Khả năng quản lý kinh doanh kém: các DN vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trung vốn đầu tư vào tài sản vật chất, chứ ít DN nào mạnh dạn đổi mới phương thức quản lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng các chuẩn mực Quy mô kinh doanh phình ra quá lớn, so với khả năng quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sản của các phương
án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế
Tình hình tài chính DN yếu kém, thiếu minh bạch: Quy mô tài sản, nguồn vốn nhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết các DN Việt Nam Bên cạnh đó việc tuân thủ các chuẩn mực kế toán chưa được các DN thực sự chú trọng; phần lớn còn sơ sài mang tính hình thức, đối phó với các cơ quan chức năng, chưa phản ánh được thực tế hoạt động Khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của DN dựa trên số liệu do các DN cung cấp, thường thiếu tính xác thực Đây chính là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống RRTD
Rủi ro do các nguyên nhân từ phía ngân hàng cho vay
Lỏng lẻo trong công tác kiểm tra nội bộ các ngân hàng, kiểm tra nội bộ có ưu điểm hơn so với thanh tra NHNN vì nó nhanh chóng, kịp thời ngay khi vừa phát sinh vấn đề và tính sâu sát của cán bộ giám sát tuân thủ, do việc kiểm tra được thực hiện thường xuyên cùng với công việc kinh doanh Tuy nhiên hoạt động kiểm tra
Trang 16giám sát ở một số ngân hàng chỉ có tính hình thức, chưa đi sâu vào nội dung công việc và năng lực kiểm tra viên chưa cao
Thiếu giám sát và quản lý sau khi cho vay; Bản thân CBTD chưa thật sự sâu sát tình hình hoạt động tại DN; chỉ chú trọng nhiều vào TSĐB, nên đã chủ quan trong công tác giám sát, quản lý, theo dõi và thu hồi nợ Việc giám sát hoạt động của khách hàng vay nhằm tuân thủ các điều khoản đề ra trong hợp đồng tín dụng giữa khách hàng và ngân hàng thường thực hiện 3 đến 6 tháng một lần Tuy nhiên trong thời gian qua việc kiểm tra sử dụng vốn chỉ thực hiện theo cách đối phó, nặng
về hình thức Điều này xáy ra một phần do yếu tố tâm lý ngại gây phiền hà cho khách hàng phần do hệ thống thông tin quản lý phục vụ kinh doanh tại các DN quá lạc hậu, không cung cấp được kịp thời, đầy đủ các thông tin mà ngân hàng yêu cầu
Bố trí cán bộ thiếu đạo đức và trình độ chuyên môn nghiệp vụ: Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian qua đều có liên quan đến cán bộ NHTM đó là sự tiếp tay của cán bộ ngân hàng cùng với khách hàng làm giả hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để rút tiền ngân hàng Chúng ta đành chấp nhận một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng nếu tha hóa
về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguy hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng
Sự hợp tác giữa các NHTM quá lỏng lẻo, vai trò Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN chưa thực sự phát huy hiệu quả, thông tin của khách hàng quá sơ sài, trong khi đó kinh doanh ngân hàng là một nghề đặc biệt, huy động vốn để cho vay hay nói cách khác đi vay để cho vay Do vậy vấn đề rủi ro trong hoạt động tín dụng là không thể tránh khỏi, các ngân hàng cần phải hợp tác chặt chẽ với nhau nhằm hạn chế rủi ro Sự hợp tác nảy sinh do nhu cầu quản lý rủi ro đối với cùng một khách hàng khi khách hàng này vay tiền tại nhiều ngân hàng Trong quản trị tài chính, khả năng trả nợ của một khách hàng là một con số cụ thể, có giới hạn tối đa của nó Nếu do sự thiếu trao đổi thông tin, dẫn đến việc nhiều ngân hàng cùng cho vay một khách hàng đến mức vượt quá giới hạn tối đa này thì rủi ro chia đều cho tất
cả chứ không loại trừ một ngân hàng nào
Trang 171.1.4.3 Ảnh hưởng của RRTD đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
và nền kinh tế xã hội:
Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Khi RRTD xảy ra, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, điều này sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi, vòng quay vốn tín dụng bị thu hẹp làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Kết quả là thu hẹp quy mô kinh doanh, năng lực tài chính giảm sút, uy tín, sức cạnh tranh không những giảm trong thị trường nội địa mà còn lan rộng ra các nước, kết quả kinh doanh của ngân hàng ngày càng xấu dẫn ngân hàng đến thua lỗ hoặc đến bờ vực phá sản nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời
Ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội
Ngân hàng là một định chế tài chính trung gian chuyên huy động vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế để cho các tổ chức, DN và cá nhân có nhu cầu vay lại Thực chất quyền sở hữu những khoản cho vay là quyền sở hữu của người đã gửi tiền vào ngân hàng Bởi vậy, khi RRTD xảy ra thì không những ngân hàng chịu thiệt hại mà quyền lợi của người gửi tiền cũng bị ảnh hưởng
Ngân hàng phá sản sẽ ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinh doanh của DN, các DN không có vốn để trang trải các chi phí sản xuất kinh doanh, hoạt động bị ngưng trệ Hơn nữa, sự hoảng loạn của các ngân hàng ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động toàn bộ nền kinh tế, làm cho nền kinh tế bị suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm, thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định
Ngoài ra, RRTD cũng ảnh hưởng đến hoạt động nền kinh tế trong nước nói riêng và thế giới nói chung Kinh nghiệm cho thấy thời gian qua với cuộc khủng hoảng tài chính Châu Á (1997) và gần đây là cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu (2008) Do mối liên hệ về tiền tệ, tài chính đầu tư giữa các nước phát triển rất nhanh, nên RRTD tại một nước lớn sẽ ảnh hưởng đến nền kinh tế các nước liên quan
Trang 18Tóm lại, RRTD của các DN xảy ra ở nhiều mức độ khác nhau: nếu tình trạng này kéo dài không khắc phục được, DN sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho nền kinh tế nói chung và hệ thống DN nói riêng Chính vì vậy đòi hỏi các nhà quản trị DN phải hết sức thận trọng và có những biện pháp thích hợp nhằm giảm thiểu rủi ro trong cho vay
1.1.5 Sự cần thiết của XHTD
1.1.5.1 XHTD là cơ sở để quản trị rủi ro tín dụng
Việc quy định phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo điều 6 của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN chủ yếu dựa vào thời gian quá hạn, qua phân loại năm nhóm nợ, thiếu hẳn sự đánh giá kết hợp các yếu tố về tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của DN dẫn đến sự đánh giá sai lệch về nợ xấu của ngân hàng khi khách hàng thực hiện đảo nợ, vay tiền ngân hàng này trả nợ ngân hàng khác Việc phân loại nợ chỉ phụ thuộc vào tình hình trả nợ, mà không dựa vào việc đánh giá uy tín tín dụng và năng lực của người đi vay sẽ dẫn tới tình trạng ngân hàng và người vay thông đồng với nhau để che đậy tổn thất bằng nhiều phương pháp khác nhau như cơ cấu lại khoản vay, dàn xếp việc đáo hạn ngân hàng Bên cạnh đó các khoản nợ xấu không được đánh giá đúng mức, dự phòng tổn thất khoản vay sẽ không đủ, thu nhập ròng và vốn của ngân hàng không phản ánh đúng thực tế tình hình tài chính của ngân hàng
Theo Hiệp ước Basel II để đo lường và tính toán hệ số rủi ro đối với các mục tài sản có RRTD thì các ngân hàng cần phải dựa trên XHTD hoặc xếp hạng tín nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng, chứ không áp dụng chung chung cùng một hệ số rủi ro cho tất cả các khách hàng (tham khảo phụ lục số 02)
Xây dựng hệ thống XHTD nội bộ và phân loại nợ theo kết quả XHTD giúp ngân hàng đánh giá đúng tình trạng khoản vay, thể hiện sự tiến bộ trong công tác quản trị rủi ro từng bước đưa quy trình quản lý theo Hiệp ước Basel II vào hoạt động kinh doanh
Xác định tổn thất ước tính, ngân hàng sẽ thực hiện được thêm các mục tiêu:
Trang 19- Xác định xác suất vỡ nợ giúp ngân hàng nâng cao được chất lượng của việc giám sát và tái xếp hạng khách hàng sau khi cho vay
- Tăng cường khả năng quản trị nhân sự, cụ thể là đội ngũ CBTD Để đánh giá khả năng của CBTD, không những chỉ có chỉ tiêu dư nợ, số lượng khách hàng
mà phải đặc biệt quan tâm đến chất lượng của các khoản tín dụng được cấp
- Giúp ngân hàng xác định chính xác giá trị khoản vay, phục vụ hiệu quả cho việc chứng khoán hóa các khoản vay sau này Đây cũng là xu hướng hiện nay của các NHTM, vì đây là công cụ hiệu quả nhất để san sẻ rủi ro và tạo tính linh hoạt trong quản lý danh mục đầu tư các khoản vay
1.1.5.2 XHTD nhằm phân loại khách hàng cho vay và là cơ sở xây dựng chiến lược marketing hiệu quả
Thực tế đã chứng minh hệ thống XHTD như là một phương pháp lượng hóa mức độ RRTD của khách hàng, thông qua quá trình phân tích các chỉ tiêu tài chính
và phi tài chính tại thời điểm khách hàng đề nghị vay vốn
Một trong những khó khăn của các ngân hàng hiện nay là khả năng tiếp cận
và xử lý thông tin đối với khách hàng vay vốn Trong thời đại công nghệ thông tin bùng nổ, việc tiếp cận thông tin chậm hoặc xử lý thông tin không tốt cũng có thể dẫn đến rủi ro tín dụng mà ngân hàng sẽ gặp phải Do đó việc tổng hợp và xử lý thông tin tốt không những sẽ giúp ngân hàng đánh giá được khả năng của DN trong hiện tại mà còn giúp ngân hàng có thể dự đoán được những rủi ro phát sinh trong tương lai Hệ thống XHTD DN dựa trên thông tin thu thập được qua một chuỗi thời gian sẽ đáp ứng được yêu cầu nói trên, cung cấp cho ngân hàng một cái nhìn tổng quan về tình trạng của DN cả trong ngắn hạn và dài hạn, góp phần giảm bớt rủi ro tín dụng cho ngân hàng
Sau khi phân tích, xếp hạng và kết quả xếp hạng là căn cứ để xác định đối tượng cho vay, lãi suất cho vay, thời hạn cho vay cũng như các điều kiện về đảm bảo khoản vay nhằm ngăn ngừa những rủi ro có thể phát sinh Bên cạnh đó, kết quả
Trang 20XHTD khách hàng cũng giúp cho ngân hàng đưa ra những chính sách cho vay phù hợp với các đối tượng khách hàng tương ứng với các loại hình vay khác nhau
1.1.5.3 Cơ sở phân loại nợ và trích dự phòng rủi ro
Ngày 25/4/2007, NHNN đã ban hành Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN, quyết định này định hướng các tổ chức tín dụng về việc xây dựng một hệ thống XHTD nội bộ,
để hỗ trợ công tác phân loại nợ và trích dự phòng rủi ro Điều này giúp CBTD thực hiện phân loại khách hàng và phân loại nợ một cách trung thực hơn, phản ánh đúng năng lực tín dụng thực tế của khách hàng, tạo cơ sở cho ngân hàng xây dựng Quỹ
dự phòng RRTD chính xác và hiệu quả
Với Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của NHNN, các khoản tín dụng của NHTM có thể được phân loại theo hai phương pháp định tính và định lượng Về cơ bản, việc phân loại nợ theo điều 6 chỉ dựa trên đánh giá khả năng trả nợ của từng khoản vay riêng lẻ, còn việc phân loại nợ theo điều 7 là đánh giá toàn diện năng lực tài chính và khả năng trả nợ của khách hàng
Bảng 1.1: Sự khác biệt giữa phương pháp phân loại nợ theo điều 6 và điều 7
của Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN
Phân loại nợ theo điều 6 Phân loại nợ theo điều 7
Phương pháp phân loại nợ chung cho mọi khách hàng
Phương pháp phân loại nợ riêng biệt cho từng nhóm khách hàng
Phân loại nợ theo tình trạng khoản nợ (chủ yếu)
Phân loại nợ theo thông tin định tính (hỗ trợ)
Phân loại nợ theo kết quả XHTD nội
bộ (chủ yếu) Phân loại nợ theo tình trạng khoản nợ (hỗ trợ)
Có thời gian thử thách đối với các khoản nợ trước đó bị quá hạn, bị cơ cấu
Không có thời gian thử thách đối với các khoản nợ trước đó bị quá hạn, bị
cơ cấu Khách hàng bị giải thể, phá sản, cá
nhân chết, mất tích: không quy định cụ thể vào nhóm nào
Khách hàng bị giải thể, phá sản, cá nhân chết, mất tích: Nhóm 5
Số ngày quá hạn để phân nhóm nợ chung cho mọi khách hàng
Số ngày quá hạn để phân nhóm nợ riêng biệt cho từng nhóm khách hàng
Trang 21Chủ trương xây dựng hệ thống XHTD nội bộ và phân loại nợ theo điều 7 Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN cho thấy, hoạt động ngân hàng trong quá trình hội nhập đã từng bước ứng dụng Hiệp ước Basel II vào nghiệp
vụ kinh doanh của mình nhằm hướng tới lợi ích tối đa cho ngân hàng và khách hàng
1.1.6 Nguyên tắc của XHTD đối với khách hàng
Xếp hạng tín nhiệm ra đời từ đầu thế kỷ 20 với mục tiêu cơ bản là dự đoán khả năng vỡ nợ và dự đoán giá trị hợp đồng tại những thời điểm có khả năng vỡ nợ Việc phân tích dựa trên các nguyên tắc cơ bản sau :
(1) Các dữ liệu định lượng: Là những quan sát được đo lường bằng số thường là các chỉ tiêu tài chính: như nhóm chỉ tiêu thanh khoản, chỉ tiêu hoạt động, chỉ tiêu cân nợ và chỉ tiêu thu nhập
(2) Các dữ liệu định tính: Đó là những quan sát không đo lường được bằng
số, thường các nhóm chỉ tiêu liên quan đến trình độ quản lý, quy trình kiểm soát nội
bộ, đội ngũ lao động…
Việc phân tích được tiến hành bằng phương pháp “trên - xuống”, phân tích từ các yếu tố vĩ mô ảnh hưởng, các yếu tố của bản thân công ty theo trình tự sau: (1) Phân tích rủi ro mang tính vĩ mô về xu hướng của quốc gia, như tốc độ tăng trưởng kinh tế, sự ổn định về chính trị, chính sách tài chính, sự mở cửa thị trường … của quốc gia;
(2) Phân tích rủi ro hoạt động kinh doanh như tình hình cạnh tranh, xu hướng thị trường, vị thế kinh doanh của công ty, sự đa dạng hoá hoạt động và các luật lệ quy định;
(3) Phân tích rủi ro tài chính bao gồm hàng loạt chỉ tiêu phụ thuộc vào từng ngành nghề, kết hợp so sánh giữa rủi ro tài chính và rủi ro kinh doanh, xem xét độ linh hoạt tài chính cũng như chính sách tài chính;
(4) Phân tích hướng phát triển của công ty như chất lượng ban quản lý và chiến lược kinh doanh;
Trang 22(5) Phân tích tình trạng pháp lý của DN như việc tuân thủ các quy định của pháp luật về ngành nghề mà DN đang hoạt động
Xây dựng thang điểm các chỉ tiêu đơn giản, dễ hiểu, dễ so sánh
Khi chấm điểm phải tuân thủ nguyên tắc khách quan, linh hoạt, sử dụng nhiều nguồn thông tin khác nhau, để có cái nhìn tổng quát toàn diện về tình hình
hiện tại của khách hàng vay
1.2 MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC XHTD ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG 1.2.1 Đối với các khách hàng mới XHTD lần đầu:
Thông qua kết quả XHTD nội bộ khách hàng, ngân hàng sẽ đánh giá được mức độ tín nhiệm của từng khách hàng vay vốn, xác định được mức độ rủi ro khi cung cấp khoản vay, khả năng thanh toán trong hiện tại và tương lai của khách hàng, nhằm xác định khả năng thu hồi vốn của ngân hàng cho vay Dựa vào kết quả XHTD khách hàng ngân hàng sẽ quyết định cho vay hay từ chối cho vay đảm bảo tính khách quan, khoa học, giảm bớt rủi ro
1.2.2 Đối với các khách hàng thường xuyên:
Tương tự như đối với khách hàng tiềm năng: Mục đích của chấm điểm tín dụng là dựa trên cơ sở các số liệu kiểm tra, phân tích dữ kiện từ các hồ sơ lưu trữ, báo cáo tài chính và báo cáo kiểm toán của DN, để nhận xét đánh giá tình hình hoạt động, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán hiện tại và tương lai của DN nhằm xác định mức độ thu hồi vốn của ngân hàng để ra quyết định có tiếp tục cho vay hay không đồng thời tăng cường các biện pháp bảo đảm cho khoản cấp tín dụng
Mỗi nhóm khách hàng, ngân hàng sẽ có những cách ứng xử khác nhau vừa nhằm thu hút khách hàng vừa đảm bảo quản lý rủi ro, thông qua kết quả chấm điểm
và XHTD khách hàng, ngân hàng sẽ phân chia khách hàng thành những nhóm khác nhau dựa trên mức độ tín nhiệm Những khách hàng có tín nhiệm cao, mức độ rủi ro thấp sẽ được hưởng nhiều chính sách ưu đãi hơn về các khoản tiền cho vay, lãi suất vay, các loại phí; so với những khách hàng có mức độ rủi ro cao
Trang 23Tóm lại, mục đích của việc chấm điểm XHTD là giúp ngân hàng lường trước các rủi ro xảy ra trong kinh doanh; ước lượng được mức độ rủi ro của từng DN, từng lĩnh vực hoạt động kinh doanh của khách hàng từ đó mà xây dựng danh mục tín dụng phù hợp
1.3 CÁC TIÊU CHÍ XHTD 1.3.1 Quy mô doanh nghiệp :
Lớn; Trung bình; Nhỏ; Siêu nhỏ;
1.3.2 Các chỉ tiêu tài chính:
Nhóm chỉ tiêu thanh khoản:
Khả năng thanh toán hiện hành Khả năng thanh toán nhanh Khả năng thanh toán tức thời
Nhóm chỉ tiêu hoạt động
Vòng quay vốn lưu động Vòng quay hàng tồn kho Vòng quay các khoản phải thu Hiệu suất sử dụng tài sản cố định
Nhóm chỉ tiêu cân nợ
Tổng nợ phải trả/ tổng tài sản
Nợ dài hạn/ Vốn chủ sở hữu
Nhóm chỉ tiêu thu nhâp
Lợi nhuận gộp/doanh thu thuần Lợi nhuận sau thuế/doanh thu thuần Lợi nhuận sau thuế/ vốn chủ sở hữu Lợi nhuận sau thuế / tổng tài sản bình quân Lợi nhuận trước thuế + lãi vay/lãi vay
Trang 241.3.3 Các chỉ tiêu phi tài chính:
Đánh giá khả năng trả nợ của DN Trình độ quản lý và môi trường nội bộ Quan hệ với ngân hàng
Các nhân tố ảnh hưởng đến ngành Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của DN
1.4 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI KẾT QUẢ XHTD 1.4.1 Nguồn thông tin
Việc duy trì thông tin tín dụng trong hệ thống ngân hàng là vô cùng quan trọng, nó tập trung cơ sở dữ liệu về khách hàng để phục vụ cho quá trình cấp tín dụng, phân tích và quản lý tín dụng, quản trị RRTD Hệ thống thông tin tín dụng giúp tìm kiếm và phát hiện sớm các khoản tín dụng có vấn đề và đánh giá đúng mức
độ rủi ro của các khoản nợ, đồng thời tiên liệu trước khả năng một khoản tín dụng
có thể chuyển sang nợ xấu
Một hệ thống thông tin đầy đủ về khách hàng như: Lịch sử hình thành và phát triển, năng lực tài chính, mức độ tín nhiệm, đội ngũ điều hành là cơ sở quan trọng giúp cho công tác chấm điểm tín dụng tương đối rõ ràng và chính xác
Để áp dụng phương pháp chấm điểm và XHTD DN, ngân hàng phải có hệ thống thông tin hiệu quả để tự thu thập thông tin một cách chính xác và đầy đủ về khách hàng Đây là một nhân tố quan trọng, quyết định tính chính xác của kết quả chấm điểm tín dụng, chất lượng nguồn thông tin được thể hiện qua bốn yếu tố:
- Đầy đủ, kịp thời
- Trung thực, khách quan
- Nhất quán
- Bảo mật
Trang 251.4.2 Nguồn nhân lực
Chấm điểm và XHTD là một mô hình mới được áp dụng tại Việt Nam, các tiêu chí và quy trình đánh giá đưa ra phụ thuộc rất lớn vào các chuyên gia có kinh nghiệm, khả năng phân tích và hiểu biết sâu sắc trong lĩnh vực tín dụng Ngân hàng muốn hoàn thiện công tác chấm điểm và XHTD ngoài các cán bộ cao cấp trong nội
bộ còn nên lắng nghe ý kiến tư vấn của các chuyên gia có kinh nghiệm trong việc phát triển mô hình
CBTD là người trực tiếp tiến hành thực hiện các bước trong quy trình chấm điểm và XHTD DN Kết quả đó phụ thuộc rất nhiều vào năng lực và trình độ của đội ngũ CBTD CBTD phải là người hiểu biết sâu rộng quy trình chấm điểm tín dụng, phải thực sự có năng lực, có đạo đức nghề nghiệp để có thể đánh giá được một cách khách quan, đúng đắn nhất về khách hàng
1 4.3 Công nghệ ngân hàng
Công nghệ là một phần hỗ trợ thiết yếu góp phần hoàn thiện hệ thống XHTD Hệ thống công nghệ của ngân hàng phải tương đối hiện đại, có thể kết hợp phần mềm chấm điểm tín dụng và tạo thành một quy trình cho vay, kiểm soát tín dụng thống nhất Việc áp dụng công nghệ tiên tiến làm tăng chất lượng lưu trữ dữ liệu và đảm bảo tính bảo mật thông tin khách hàng
1.4.4 Những thay đổi trong cơ cấu, thủ tục, chính sách
Trước khi áp dụng mô hình chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng, ngân hàng phải xây dựng quy trình chấm điểm tín dụng bao gồm: các bước thực hiện chấm điểm, hệ thống tiêu chuẩn phục vụ cho quá trình chấm điểm, xếp hạng DN… Hệ thống chấm điểm tín dụng càng chi tiết, khoa học thì việc đánh giá các
DN càng chính xác Ngoài ra, khi mô hình chấm điểm tín dụng được triển khai, ngân hàng sẽ ban hành các chính sách, thủ tục, quy chế cho vay mới để hợp thức hóa vai trò của công tác chấm điểm tín dụng trong quy trình cho vay, đồng thời thành lập một ban kiểm tra độc lập nhằm theo dõi, giám sát những sai sót khi mô hình được đưa vào áp dụng
Trang 261.5 KINH NGHIỆM CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI TRONG VIỆC XHTD NHẰM HẠN CHẾ RRTD VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
1.5.1 Quy trình quản trị rủi ro tín dụng theo Ủy Ban Basel:
Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng là một Ủy ban bao gồm các chuyên gia giám sát hoạt động ngân hàng được thành lập năm 1975 bởi các Thống đốc ngân hàng Trung ương của nhóm G10 (Bỉ, Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật, Hà Lan, Thụy Điển, Anh và Mỹ) Ủy ban tổ chức các cuộc họp thường niên tại trụ sở ngân hàng thanh toán quốc tế (BIS) tại Washington (Mỹ) hoặc tại Thành phố Basel (Thụy Sỹ)
Nhận diện và phân loại rủi ro
Nhận dạng rủi ro bao gồm các bước: theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và quy trình cho vay để thống kê các dạng RRTD, nguyên nhân từng thời kỳ và dự báo được những nguyên nhân tiềm ẩn có thể gây ra RRTD
Để nhận dạng rủi ro, nhà quản trị phải lập được bảng liệt kê tất cả các dạng rủi ro đã, đang và sẽ có thể xuất hiện bằng các phương pháp: lập bảng câu hỏi nghiên cứu, tiến hành điều tra, phân tích các hồ sơ tín dụng
Tính toán, cân nhắc các mức độ rủi ro và mức độ chịu đựng tổn thất khi xảy ra rủi ro
Đánh giá rủi ro khách hàng vay
Theo Hiệp ước Basel II để đo lường và tính toán hệ số rủi ro đối với các mục tài sản có rủi ro tín dụng thì các ngân hàng cần phải dựa trên XHTD hoặc xếp hạng tín nhiệm của ngân hàng đối với khách hàng, chứ không áp dụng chung chung cùng một hệ số rủi ro cho tất cả các khách hàng
Bao gồm 2 loại phân tích:
- Phân tích phi tài chính: Sử dụng các mô hình như 6C, 5P Tuy tên gọi
các tiêu chuẩn khác nhau, nhưng về bản chất, cách xem xét các yếu tố để cấp tín dụng thì các mô hình trên đều tương đồng nhau
Trang 27- Phân tích tài chính: Đối với khoản vay của DN, thì ngoài các yếu tố phi tài
chính, ngân hàng còn sử dụng các chỉ tiêu tài chính để đánh giá khả năng trả nợ của
DN Đây là việc phân tích hiện trạng tài chính, khái quát khả năng quản trị vốn và các hoạt động kinh doanh qua số liệu trong các báo cáo tài chính của DN tại thời điểm Một số chỉ tiêu phân tích tài chính thường áp dụng là: nhóm chỉ tiêu thanh khoản; nhóm chỉ tiêu hoạt động; nhóm chỉ tiêu cân nợ; nhóm chỉ tiêu doanh thu, Tính toán tổn thất tín dụng theo Basel II thực hiện với mỗi kỳ hạn xác định, tổn thất có thể được tính dựa trên công thức sau:
EL= PD x EAD x LGD
EL: Expected Loss: Tổn thất tín dụng ước tính PD: Probability of Default: Xác xuất không trả được nợ EAD: Exposure at Default: Tổng dư nợ của khách hàng tại thời điểm không trả được nợ
LGD: Loss Given Default: Tỷ trọng tổn thất ước tính
PD: Xác xuất vỡ nợ, đo lường khả năng xảy ra RRTD trong vòng 1 năm
Ngân hàng căn cứ trên số liệu dư nợ của khách trong vòng ít nhất là 5 năm, bao gồm các khoản nợ đã trả, khoản nợ trong hạn và khoản nợ không thu hồi được, dữ liệu được phân thành 3 nhóm sau:
- Nhóm dữ liệu tài chính liên quan đến các hệ số tài chính của khách hàng cũng như các đánh giá của các tổ chức xếp hạng
- Nhóm dữ liệu định tính phi tài chính liên quan đến trình độ quản lý, khả năng nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, các dữ liệu về khả năng tăng trưởng của ngành
- Nhóm dữ liệu mang tính cảnh báo liên quan đến các hiện tượng báo hiệu khả năng không trả được nợ cho ngân hàng như số dư tiền gửi, hạn mức thấu chi
Từ những dữ liệu trên, ngân hàng nhập vào một mô hình định sẵn, từ đó tính xác xuất không trả được nợ của khách hàng
Trang 28EAD: Đối với các khoản vay có kỳ hạn, việc xác định EAD là dễ dàng Tuy nhiên, đối với khoản vay theo hạn mức tín dụng thì lại khá phức tạp Theo thống kê của Basel thì tại thời điểm không trả được nợ, khách hàng thường có xu hướng rút vốn vay xấp xỉ hạn mức được cấp
EAD = Dư nợ bình quân + LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân
LEQ: Loan Equivalent Exposure: Tỷ trọng phần vốn chưa sử dụng (LEQ x Hạn mức tín dụng chưa sử dụng bình quân): Là phần khách hàng rút thêm tại thời điểm không trả được nợ ngoài mức dư nợ bình quân
Việc xác định LEQ có ý nghĩa quyết định đối với độ chính xác của ước lượng về dư nợ của khách hàng tại thời điểm không trả được nợ Cơ sở xác định LEQ là các số liệu quá khứ Điều này gây khó khăn trong tính toán Chẳng hạn như, khách hàng uy tín, trả nợ đầy đủ thường ít khi rơi vào trường hợp này, nên không thể tính chính xác LEQ Ngoài ra, loại hình kinh doanh của khách hàng, khả năng khách hàng tiếp cận với thị trường tài chính, quy mô hạn mức tín dụng, tỷ lệ dư nợ đang sử dụng so với hạn mức, làm cho việc xác định LEQ trở nên phức tạp hơn
LGD gồm tổn thất về khoản vay và các tổn thất khác phát sinh khi khách
hàng không được trả nợ, đó là lãi suất đến hạn nhưng không được thanh toán và các chi phí hành chính có thể phát sinh như chi phí xử lý tài sản thế chấp, chi phí cho dịch vụ pháp lý và một số chi phí liên quan
LGD = (EAD - Số tiền có thể thu hồi)/EAD
Số tiền có thể thu hồi gồm các khoản tiền mà khách hàng trả và các khoản tiền thu được từ xử lý tài sản thế chấp, cầm cố LGD = 100% - tỷ lệ vốn có thể thu hồi được
Khả năng thu hồi vốn của ngân hàng thường rất cao hoặc rất thấp nên không thể tính bình quân Hai yếu tố giữ vai trò quan trọng trong quyết định khả năng thu hồi vốn khi khách hàng không trả được nợ là TSĐB của khoản vay và cơ cấu tài sản của khách hàng Ba phương pháp tính LGD là:
Trang 29- Tỷ trọng tổn thất căn cứ vào thị trường: Sử dụng khi các khoản tín dụng có thể được mua bán trên thị trường Ngân hàng có thể xác định tỷ trọng tổn thất của một khoản vay căn cứ vào giá của khoản vay đó 1 thời gian ngắn sau khi nó được xếp vào hạng không trả được nợ Giá này được tính trên cơ sở ước tính của thị trường bằng phương pháp hiện tại hoá tất cả các dòng tiền có thể thu hồi được của khoản vay trong tương lai
- Tỷ trọng tổn thất căn cứ vào việc xử lý các khoản tín dụng không trả được
nợ Ngân hàng sẽ ước tính các luồng tiền tương lai, khoản thời gian dự kiến thu hồi được luồng tiền và chiết khấu chúng Việc xác định lãi suất chiết khấu phù hợp là
Để đo lường rủi ro tín dụng có 2 phương pháp được sử dụng:
- Phương pháp chuẩn: tài sản có rủi ro được áp dụng các hệ số rủi ro khác nhau do tổ chức xếp hạng độc lập quy định
- Phương pháp dựa trên hệ thống đánh giá nội bộ cơ bản hoặc nâng cao: tài sản có rủi ro được áp dụng các hệ số rủi ro dựa trên các dữ liệu nội bộ
Theo khảo sát của Ủy Ban Basel thì để đánh giá rủi ro tín dụng, các ngân hàng thuộc nhóm 1 các nước G10 (bao gồm ngân hàng có vốn cấp 1 trên 3 tỷ USD hoạt động đa ngành đa quốc gia) thường sử dụng phương pháp xếp hạng nội bộ Các ngân hàng thuộc nhóm 2 các nước G10 với 77% ngân hàng sử dụng phương pháp xếp hạng nội bộ Các ngân hàng nhóm 1 không thuộc các các nước G10 cũng sử dụng phương pháp xếp hạng nội bộ như một công cụ hiệu quả để quản trị rủi ro
Trang 30Một số ngân hàng tại các nước Châu Á đã sử dụng phương pháp xếp hạng nội bộ như Nhật Bản, Singapore, Thái Lan, Đài Loan, Hàn Quốc, Hồng Kong Các ngân hàng tại Trung Quốc; Philipin đang thay đổi phương pháp đo lường RRTD tư các phương pháp chuẩn sang phương pháp xếp hạng nội bộ Hầu hết các nhà quản
lý ở Châu Á đều ủng hộ các mục tiêu chung của Basel II và tin tưởng rằng khuôn khổ này sẽ đưa ra những khích lệ hơn nữa để cải thiện công tác quản lý rủi ro
Nhìn chung các nước trên thế giới đang dần xem XHTD là một phương pháp
đo lường RRTD khoa học và hiệu quả, một tiêu chí để ứng dụng quy trình quản trị theo Basel II
1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Việc vận dụng Basel II hỗ trợ các NHTM trong việc chỉ ra các cơ hội kinh doanh thích hợp, nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro Việc tiếp cận Basel II đòi hỏi kỹ thuật phức tạp và chi phí khá cao Đối với một nước có hệ thống ngân hàng mới đang ở giai đoạn phát triển ban đầu như Việt Nam, việc áp dụng Basel II gặp nhiều khó khăn, thách thức và mất nhiều thời gian Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập và
mở cửa thị trường dịch vụ tài chính - ngân hàng với nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng mới, việc áp dụng Basel II tại Việt Nam là yêu cầu cấp thiết nhằm tăng cường năng lực hoạt động và giảm thiểu rủi ro đối với các ngân hàng thương mại
Một hệ thống XHTD đầy đủ phải bao gồm việc đánh giá môi trường ngành, đánh giá tình hình tài chính, đánh giá hoạt động sản xuất kinh doanh khả năng quản
Trang 31tế đang là yêu cầu bức thiết, điều này giúp tạo ra cơ sở so sánh tham khảo cho nhà đầu tư, ngân hàng…
Phát triển XHTD là một tiêu chí quan trọng để phát triển thị trường chứng khoán XHTD nhằm đánh giá những rủi ro, triển vọng phát triển của một DN niêm yết, giúp nhà đầu tư có cái nhìn tin cậy hơn từ thị trường, là cơ sở để ra quyết định, đầu tư
Trang 32KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Nhìn chung, hoạt động tín dụng đóng vai trò rất quan trọng và tạo ra phần lớn lợi nhuận trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Tuy nhiên, hoạt động tín dụng luôn phải đối mặt với những rủi ro làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động này Một trong những biện pháp để nâng cao chất lượng tín dụng là phân tích và XHTD khách hàng vay vốn Chương một của khóa luận đã tập trung tiếp cận những vấn đề
lý luận về XHTD, vai trò của XHTD trong việc hạn chế RRTD, những lý luận về phương pháp XHTD và kinh nghiệm của một số tổ chức XHTD trên thế giới Những nền tảng lý luận này sẽ tạo cơ sở để phân tích, đánh giá về việc ứng dụng hệ thống XHTD nội bộ tại VCB – Chi nhánh Phú Thọ trong các chương tiếp theo
Trang 33CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC XẾP HẠNG TÍN DỤNG DOANH NGHIỆP TẠI NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH PHÚ THỌ 2.1 GIỚI THIỆU VỀ NGÂN HÀNG TMCP NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM CHI NHÁNH PHÚ THỌ
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCB)
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCB) thành lập vào ngày 01/04/1963, tiền thân là Cục quản lý ngoại hối trực thuộc ngân hàng Trung ương (nay
là NHNN Việt Nam)
Là NHTM Nhà nước đầu tiên được Chính phủ lựa chọn để thực hiện thí điểm cổ phần hóa, Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam viết tắt là VCB (Joint Stock Commercial Bank for Foreign Trade of Vietnam) đã chính thức hoạt động vào ngày 02/06/2008
Trải qua hơn 48 năm xây dựng và trưởng thành, VCB đã phát triển lớn mạnh theo mô hình tập đoàn tài chính đa năng gồm 01 Sở giao dịch, 400 chi nhánh và phòng giao dịch, 03 công ty con trên toàn quốc; 01 văn phòng đại diện tại Singapore, 04 công
ty liên doanh, 02 công ty liên kết, 02 công ty con tại nước ngoài với đội ngũ cán bộ lên tới 11.415 người Ngoài ra VCB còn phát triển thêm 16.300 máy ATM và điểm chấp nhận thanh toán trên toàn quốc Hoạt động ngân hàng còn được hỗ trợ bởi mạng lưới gồm 1.400 ngân hàng đại lý tại 100 quốc gia và vùng lãnh thổ
Không ngừng nỗ lực và sáng tạo vượt qua khó khăn thử thách, nhiều năm liền VCB đã có những bước phát triển đột phá, đưa ngân hàng đạt mức phát triển kỷ lục, luôn dẫn đầu hệ thống ngân hàng tại Việt Nam Tổng tài sản tăng đều qua các năm, tại thời điểm 31/12/2010 tổng tài sản đạt mức 304.496 tỷ đồng tăng 1,38% so với năm
Trang 342008 Năm 2010 đạt lợi nhuận trước thuế 5.479 tỷ đồng, tăng 9,5% so với năm 2009;
nợ xấu là 2,83% thấp hơn kế hoạch đặt ra cho năm 2010
2.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển VCB – Chi nhánh Phú Thọ
VCB không ngừng phát triển theo phương châm “Tăng tốc - An toàn - Chất lượng - Hiệu quả”; liên tiếp mở rộng địa bàn hoạt động, đẩy mạnh bán buôn và phát triển bán lẻ, đưa các dịch vụ ngân hàng gần hơn với người dân và DN Nhằm thực hiện tốt phương châm này ngày 03/08/2002 VCB Chi nhánh TP.HCM đã thành lập Chi nhánh cấp 2 Phú Thọ tại khu vực Quận 10, TP.HCM
Sau 4 năm hoạt động, đến tháng 12/2006, Chi nhánh cấp 2 Phú Thọ được chính thức chuyển đổi thành Chi nhánh cấp 1 trực thuộc VCB, có trụ sở hiện nay tại 664 Sư Vạn Hạnh, Phường 12, Quận10, TP.HCM
VCB Chi nhánh Phú Thọ ra đời muộn hơn so với các NHTM khác cùng đóng trên địa bàn Quận Nhưng trải qua 9 năm xây dựng, trưởng thành và phát triển, thương hiệu và sức trẻ VCB Chi nhánh Phú Thọ đã sớm tạo lập một chỗ đứng vững chắc với nhiều đóng góp quan trọng vào kết quả hoạt động của hệ thống ngân hàng trên địa bàn TP.HCM
Những ngày đầu hoạt động, cơ sở vật chất còn thiếu thốn, hoạt động kinh doanh
có nhiều hạn chế nhưng nhờ phát huy tốt tinh thần đoàn kết, nhất trí, tính năng động, sáng tạo của tập thể cán bộ nhân viên, cùng với sự ủng hộ của chính quyền địa phương, xây dựng tốt mối quan hệ với các DN, khách hàng trên địa bàn nên VCB Chi nhánh Phú Thọ đã sớm khắc phục được những khó khăn và từng bước phấn đấu để đạt được những kết quả như ngày hôm nay với đội ngũ lao động gồm150 người (90% có trình
độ đại học và trên đại học), trụ sở làm việc thông thoáng hiện đại, hoạt động kinh doanh không ngừng khởi sắc
Trang 35Bảng 2.1: Kết quả hoạt động kinh doanh tại VCB Chi nhánh Phú Thọ
Lợi nhuận trước thuế
(Nguồn VCB Chi nhánh Phú Thọ)
Lợi nhuận tăng đều qua các năm; năm 2007 lợi nhuận đạt 20 tỷ đồng; năm
2008 lợi nhuận đạt 22 tỷ đồng; năm 2009 lợi nhuận đạt 34 tỷ đồng, năm 2010 lợi nhuận đạt 35 tỷ đồng; lợi nhuận 6 tháng đầu năm 2011 ước tính đạt 45 tỷ đồng
Để khẳng định vị thế và thương hiệu của mình, VCB Chi nhánh Phú Thọ đã chú trọng vào việc phát triển mạng lưới giao dịch Hiện nay VCB Chi nhánh Phú Thọ đã phát triển được 4 phòng giao dịch gồm:
- PGD số 1 tại Quận 10;
- PGD Nguyễn Sơn tại Quận Tân Phú,
- PGD Lãnh Binh Thăng tại Quận 11;
- PGD Lê Đại Hành tại quận 10
2.1.3 Hoạt động huy động vốn tại VCB Chi nhánh Phú Thọ
VCB luôn giữ một vị thế quan trọng trong hệ thống ngân hàng cả nước và chiếm nhiều ưu thế đối với nền kinh tế nước nhà Trong quá trình hoạt động kinh doanh, VCB
đã tạo lập được uy tín với khách hàng và trở thành thương hiệu khá phổ biến nỗi tiếng trong lĩnh vực ngân hàng Vì thế, VCB Chi nhánh Phú Thọ tuy mới thành lập nhưng
Trang 36lượng khách hàng đến giao dịch tương đối dồi dào, thu hút được một lượng tiền gửi khá lớn trong nền kinh tế
Bảng 2.2: Tình hình huy động vốn qua các thời kỳ tại VCB Chi nhánh Phú Thọ
Tổng huy động vốn 1.929,50 2.046,70 3.446,70 4.118,82 3.902,10 Theo đối tượng
6 tháng Năm 2011
Có kì hạn Tổng huy
động vốn
Trang 37- Trong năm 2010, công tác huy động vốn tại Chi nhánh luôn gặp khó khăn,
do tình hình cạnh tranh lãi suất huy động khá gay gắt và NHNN luôn khống chế mức trần lãi suất huy động Điều này đã gây sức ép lớn cho việc thu hút và giữ khách hàng tại Chi nhánh vì không thể vượt rào lãi suất theo quy định Tuy nhiên, với sự nổ lực, quyết tâm của Ban Lãnh đạo cùng toàn bộ cán bộ nhân viên tại Chi nhánh, công tác huy động vốn đã hoàn thành xuất sắc Đến 31/12/2010, số dư huy động vốn đạt 4.118 tỷ đồng, tăng 672 tỷ đồng (+ 20%) so với năm 2009, đạt kế hoạch VCB trung ương giao
- Sáu tháng đầu năm 2011, việc cạnh tranh lãi suất trên địa bàn ngày càng gay gắt, sản phẩm tiền gửi tại Chi nhánh chưa thực sự hấp dẫn, vì trực thuộc ngân hàng lớn nên phải chịu sự giám sát chặt chẽ bởi NHNN trong việc thực thi chính sách thắt chặt tiền tệ Trong khi các ngân hàng trên địa bàn luôn thoả thuận lãi suất huy động cao, vượt trần lãi suất quy định của NHNN… dẫn đến lượng tiền gửi giảm 5% so với thời điểm cuối năm 2010
Trước tình hình này, với phương châm hoạt động “Tăng tốc – An toàn - Hiệu quả - Chất lượng” và quan điểm chỉ đạo điều hành “Linh hoạt, quyết liệt”, thực hiện chương trình “ Tri ân khách hàng” với lãi suất cạnh tranh, áp dụng nhiều chương trình
dự thưởng, tận dụng tối đa lợi thế ngân hàng đầu tàu về các dịch vụ thanh toán, mua bán xuất nhập khẩu, gia tăng các sản phẩm bán chéo, hứa hẹn doanh số huy động sẽ được cải thiện vào thời gian tới
2.1.4 Hoạt động cho vay tại VCB Chi nhánh Phú Thọ
Hoạt động cho vay hiện nay vẫn là hoạt động chủ yếu, mang lại nguồn thu nhập chính cho các NHTM, quyết định phần lớn đến kết quả kinh doanh và quá trình tuần hoàn, chu chuyển vốn trong hoạt động kinh doanh tiền tệ của ngân hang
Trang 38Bảng 2.3: Tình hình cho vay qua các thời kỳ tại VCB Chi nhánh Phú Thọ
Đơn vị tính: tỷ đồng Năm
Tổng
dư
nợ
VNĐ Ngoại
tệ
Ngắn hạn
Trung dài hạn
Cty CP, TNHH, DNTN
Cá nhân
Năm 2007
Năm 2008 Năm 2009 Năm 2010
6 tháng Năm 2011
Trang 39- Tốc độ tăng trưởng tín dụng năm 2010 so với năm 2009 khá cao (khoảng 20%), tỷ lệ nợ quá hạn ở mức thấp, tỷ lệ nợ xấu không cao, tỷ lệ cho vay ngoài quốc doanh chiếm tỷ trọng 100% là phù hợp với xu hướng phát triển của nền kinh tế, tỷ
lệ cho vay có TSĐB ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ (cho vay không
có TSĐB chỉ áp dụng cho cán bộ công nhân viên) điều này cho thấy hoạt động tín dụng của Chi nhánh có mức tăng trưởng tốt, chất lượng tín dụng đảm bảo
- Sáu tháng đầu năm 2011 với mức lãi suất cho vay cạnh tranh so với thị trường, nên hoạt động tín dụng 6 tháng đầu năm tăng trưởng khá (tăng 3% so với cuối năm 2010) tuy nhiên vẫn chậm hơn cùng kỳ năm trước (tang 10% so với cuối năm 2009), do lãi suất cho vay vẫn khá cao tình hình kinh tế chưa ổn định các DN vẫn dè dặt trong việc vay vốn
- Nhằm bám sát Nghị quyết 11/NQ-CP của Thủ tướng Chính Phủ, Chỉ thị 01/CT-NHNN và Thông tư 02/TT-NHNN của Thống đốc NHNN về việc thực hiện giải pháp tiền tệ và hoạt động kinh doanh nhằm kiếm soát lạm phát, ổn định kinh tế
vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội; Do đó việc tăng trưởng dư nợ tín dụng như vậy là chấp nhận được Chi nhánh luôn thận trọng trong công tác khách hàng, cấp tín dụng cho các khách hàng truyền thống uy tín, tiếp tục định hướng phát triển các nhóm khách hàng là các DN vừa và nhỏ; DN sản xuất; DN có nguồn thu từ xuất khẩu; Khách hàng cá nhân có TSĐB… hạn chế cho vay các DN có tài chính yếu kém, có XHTD nội bộ từ BBB trở xuống, hoạt động không hiệu quả nhiều rủi ro, không có TSĐB…
2.2 CÁC GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN VÀ KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VỀ XHTD TẠI VIỆT NAM
Từ năm 2002, được sự đồng ý của Thống đốc NHNN, Trung tâm thông tin tín dụng trực thuộc NHNN được phép tiến hành phân tích XHTD DN
Ngày 24/01/2002, Thống đốc NHNN ký Quyết định số 57/2002/QĐ-NHNN
về việc triển khai thí điểm đề án phân tích, XHTD DN
Trang 40Năm 2004, Trung tâm thông tin tín dụng của NHNN thực hiện đề án phân tích, xếp hạng DN theo Quyết định số 473/QĐ-NHNN ngày 28/4/2004 Thống đốc NHNN
Quyết định số 1253/QĐ-NHNN ngày 21/6/2006 của Thống đốc NH NN cho phép thực hiện nghiệp vụ XHTD DN và thay thế Quyết định số 473/QĐ-NHNN ngày 28/4/2004 Theo quyết định mới, đối tượng cung cấp, đối tượng phân tích và phân tích theo các ngành kinh tế được quy định rộng hơn, đa dạng hơn Đối tượng được cung cấp là các đơn vị thuộc NHNN, các tổ chức tín dụng, một số tổ chức khác khi có yêu cầu; các DN có nhu cầu tự xếp hạng, có thể sử dụng thông tin này
để làm tài liệu tham khảo khi có ý định vay vốn từ các tổ chức tín dụng hoặc để tự đánh giá năng lực hoạt động Đối tương phân tích là DN nhà nước, DN có vốn đầu
tư nước ngoài, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và
DN tư nhân Các DN được phân tích theo tám ngành kinh tế: trồng trọt, chăn nuôi; chế biến các sản phẩm nông, lâm, ngư nghiệp; xây dựng; thương mại hàng hóa; dịch vụ; công nghiệp năng lượng (điện, than, dầu khí); công nghiệp chế tạo; công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
Việt Nam hiện nay có các công ty đang thực hiện xếp hạng DN như: CIC – Trung tâm thông tin tín dụng thuộc NHNN, Trung tâm khoa học thẩm định tín nhiệm (CRC); Công ty thông tin và xếp hạng tín nhiệm C&R (VietnamCredit), Công ty Cổ phần xếp hạng tín nhiệm DN Việt Nam (CRV)
Thời gian gần đây, xuất phát từ yêu cầu thực tế một số NHTM đã tập trung nhiều sự chú ý và các nguồn lực vào việc thiết lập phát triển các hệ thống XHTD nội bộ, cụ thể như: Ngân hàng TMCP Công Thương, Ngân hàng TMCP Đầu Tư Và Phát Triển, Ngân hàng TMCP Quân Đội, Ngân hàng TMCP Sài Gòn…
Đó là việc làm rất quan trọng thực hiện đúng chủ trương của NHNN và phù hợp với yêu cầu khách quan, thể hiện sự tiến bộ trong việc ứng dụng công nghệ hiện đại vào hệ thống quản lý trong việc từng bước triển khai công tác quản trị Basel II vào NHTM Việt Nam