Căn cứ của hệ thuộc luật nơi có tài sản có thể được kể đến như: - Nơi tồn tại của tài sản là nơi bất kỳ ai cũng có thể xác định được một cách dễ dàng, do đó sẽ đáp ứng được yêu cầu bảo đ
Trang 1TƯ PHÁP QUỐC TẾ 2
* Nội dung lưu ý:
- Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và Bộ luật Dân sự 2015 là khác nhau
- Luật Dân sự 2015, không còn không còn sử dụng tiêu chí nơi thực hiện hợp đồng để xác định luật áp dụng cho hợp đồng khi các
bên không có thỏa thuận luật áp dụng như Luật Dân sự 2005, mà
thay vào đó là tiêu chí “mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng”
vì vậy ở câu 7 nhận định ở 3 trường hợp là giống nhau mặc dù nơi ký hợp đồng và nơi thực hiện hợp đồng ở từng trường hợp có khác nhau
1 Phân tích vai trò của hệ thuộc Luật nơi có vật dùng để giải quyết xung đột pháp luật về quyền sở hữu trong tư pháp quốc tế.
* Khái niệm: Luật nơi có tài sản là một kiểu hệ thuộc luật cơ
bản, là nguyên tắc áp dụng pháp luật liên quan đến tài sản trong tư pháp quốc tế Tài sản nằm ở đâu thì áp dụng luật ở nơi đó để giải quyết
Có thể hiểu đơn giản là: vật (tài sản) hiện đang tồn tại ở nước
nào thì luật của nước đó được áp dụng đối với tài sản đó
Hệ thuộc luật này được áp dụng phổ biến trong việc giải quyết các tranh chấp về quyền sở hữu (QSH) và quyền khác đối với tài sản
ở mỗi quốc gia, cụ thể: để giải quyết xung đột pháp luật về QSH và
quyền khác đối với tài sản, tư pháp quốc tế của hầu hết các nước đều áp dụng hệ thuộc luật nơi có tài sản: như Điều 99 Đạo luật về Tư pháp quốc tế năm 1982 của Thụy Sĩ; Điều 13 Luật chung về luật áp dụng năm 2006 của Nhật Bản; Điều 36, Điều 37 Luật về luật áp dụng với quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài năm 2010 của Trung Quốc; Điều 19 Đạo luật về Tư pháp quốc tế năm 2011 của Hàn Quốc; Điều
41 Đạo luật về Tư pháp quốc tế năm 2011 của Séc; Điều 69 Đạo luật
về Tư pháp quốc tế năm 2012 của Séc Pháp luật Việt Nam cũng
không nằm ngoài ngoại lệ đó Các Bộ luật dân sự của VN từ trước đến nay đều thống nhất xác định QSH (và từ Bộ luật Dân sự năm
2015 là cả các quyền khác đối với tài sản) sẽ chịu sự điều chỉnh của pháp luật của nước nơi có tài sản đó Điều này là phù hợp với cả lý luận và thông lệ quốc tế khi giải quyết xung đột pháp luật về QSH và quyền khác đối với tài sản Căn cứ của hệ thuộc luật nơi có tài sản có thể được kể đến như:
- Nơi tồn tại của tài sản là nơi bất kỳ ai cũng có thể xác định được một cách dễ dàng, do đó sẽ đáp ứng được yêu cầu bảo đảm hiệu lực đối kháng với người thứ ba và sự ổn định của giao dịch;
- Quan hệ QSH và quyền khác đối với tài sản là quan hệ pháp lý liên quan trực tiếp đến việc chi phối, sử dụng tài sản nên việc xác định nội dung của các quyền này đương nhiên được cho là cần phù hợp với pháp luật nước nơi có tài sản đó;
- Nếu áp dụng hệ thuộc luật của nước nào đó không phải nơi có tài sản thì sẽ dẫn đến luật của nước này áp dụng cho tài sản nằm ở
Trang 2nước khác, mà nếu tài sản cần phải đăng ký thì sẽ gây ra rất nhiều khó khăn, vướng mắc;
- Tài sản, nhất là bất động sản nằm ở nước nào thì sẽ liên quan đến các lợi ích, kể cả lợi ích công cộng ở nước đó nên việc áp dụng luật nơi có tài sản vừa dễ xác định vừa đảm bảo sự hợp lý trong mối quan hệ lợi ích của các đương sự và lợi ích nhà nước có liên quan
* Vai trò của hệ thuộc luật nơi có tài sản trong việc giải quyết xung đột pháp luật liên quan đến quyền sở hữu có yếu
tố nước ngoài trong tư pháp quốc tế hiện nay:
Như đã phân tích ở trên, pháp luật các nơi đều quy định luật nơi
có tài sản được áp dụng nhằm điều chỉnh điều kiện phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền sở hữu Trường hợp tài sản được xác lập hợp pháp trên cơ sở pháp luật của 01 nước sau đó được dịch chuyển sang lãnh thổ của một nước khác thì quyền sở hữu đối với chủ sở hữu đối với tài sản đó được pháp luật của nước sở tại thừa nhận và nội dung của quyền sở hữu phải do pháp luật của nước sở tại quy định
Ví dụ: Ông B người Campuchia, trong quá trình sinh sống và làm
ăn ở Campuchia ông mua được 01 chiếc xe hơi Camry trị giá 2 tỷ, sau đó ông đăng ký và được cấp phép để thành lập 01 công ty ở Việt Nam nên đã làm các thủ tục để mang chiếc xe này vào Việt Nam Khi
đó pháp luật VN thừa nhận quyền sở hữu của ông với chiếc xe hơi này và nội dung của quyền sở hữu này phải do pháp luật của VN quy định (mà cụ thể hiện nay là Luật Dân sự 2015)
Luật nơi có tài sản được đa số các nước áp dụng nhằm giải quyết xung đột pháp luật về định danh tài sản Trong một số hệ thống pháp luật, luật áp dụng đối với động sản khác với bất động sản Do vậy cần phải xác định được hệ thống pháp luật được sử dụng để định danh Hiện nay, hầu hết pháp luật các nước đều dựa vào tính chất có thể di dời của tài sản để định danh là động sản hay bất động sản Tuy nhiên vẫn có những khác biệt nhất định Cụ thể: Pháp luật của nhiều nước trên thế giới đều thống nhất ở chỗ coi bất động sản (BĐS) gồm đất đai và những tài sản gắn liền với đất đai Tuy nhiên, hệ thống pháp luật của mỗi nước cũng có những nét đặc thù riêng thể hiện ở quan điểm phân loại và tiêu chí phân loại, tạo ra cái gọi là
“khu vực giáp ranh giữa hai khái niệm bất động sản và động sản” Hầu hết các nước đều coi BĐS là đất đai và những tài sản có liên quan đến đất đai, không tách rời với đất đai, được xác định bởi vị trí địa lý của đất (Điều 517, 518 Luật Dân sự Cộng hoà Pháp, Điều 86 Luật Dân sự Nhật Bản, Điều 130 Luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Nga, Điều 94, 96 Luật Dân sự Cộng hoà Liên bang Đức…) Tuy nhiên, Nga quy định cụ thể bất động sản là “mảnh đất” chứ không phải là đất đai nói chung Việc ghi nhận này là hợp lý bởi đất đai nói chung
là bộ phận của lãnh thổ, không thể là đối tượng của giao dịch dân sự…
* Ý nghĩa: (phần này nếu không kịp thời gian thì không cần ghi các ý phân tích)
Trang 3- Nguyên tắc này thể hiện sự tôn trọng với quốc gia nơi có tài sản đang thực tế tồn tại: bảo vệ quyền tài phán của quốc gia đối với mọi cá nhân sinh sống, hoạt động trên lãnh thổ quốc gia, cũng như tài sản trên quốc gia đó Trong trường hợp tài sản là bất động sản thì việc áp dụng hệ thống pháp luật quốc gia nơi có bất động sản đó là việc làm cần thiết Vì theo Công ước Liên Hợp quốc năm 1945 thì : lãnh thổ quốc gia là một bộ phận của trái đất thuộc chủ quyền của một quốc gia xác định gồm có : vùng đất, vùng nước, vùng trời và vùng lòng đất Với cách định nghĩa này thì quốc gia có quyền định đoạt đối với tài nguyên thiên nhiên trên lãnh thổ của mình Chính vì vậy tài nguyên đất đai giữ vai trò hết sức quan trọng để xác định lãnh thổ quốc gia, việc định đoạt, chiếm hữu, sử dụng đất đai có vai trò sống còn với một quốc gia vì vậy không thể đem pháp luật ở một quốc gia khác áp dụng với một phần lãnh thổ của quốc gia mình, điều này sẽ làm ảnh hưởng đến chủ quyền quốc gia Chính vì vậy nguyên tắc này thể hiện sự tôn trọng và góp phần bảo vệ quyền tài phán, quyền chủ quyền của quốc gia nơi có vật
- Nguyên tắc này góp phần giúp đỡ các cơ quan trên quốc gia sở tại có điều kiện giải quyết các tranh chấp có liên quan đến tài sản trên quốc gia mình một cách dễ dàng hơn khi có tranh chấp dân sự
có yếu tố nước ngoài xảy ra : ví dụ : Công dân Campuchia và công dân Lào tranh chấp tài sản thừa kế tại Việt Nam Trong trường hợp này họ có thể thỏa thuận dẫn chiếu tới hệ thống pháp luật của 01 nước khác như Singapo để giải quyết tranh chấp Tuy nhiên sẽ thuận lợi hơn rất nhiều cho các cơ quan chức năng khi hệ thống pháp luật của Việt Nam được áp dụng để giải quyết
- Nguyên tắc này còn thuận lợi cho chủ sở hữu thực hiện các giao dịch, các quyền của mình đối với tài sản, đồng thời bảo vệ quyền, lợi ích của họ đối với tài sản : do pháp luật dân sự ở mỗi quốc gia có sự khác nhau, nên việc áp dụng hệ thống pháp luật nào thuận tiện, dễ dàng nhất cho chủ sở hữu tài sản cũng là vế đề cần được quan tâm
2 Anh A (19 tuổi), có bố là người Mỹ, mẹ là người Nga, sinh ra và lớn lên tại Mỹ Năm 18 tuổi A sang định cư và làm việc tại Nga Cùng năm, anh A sang thăm Việt Nam và gặp chị B (19 tuổi), quốc tịch Việt Nam A và B muốn kết hôn với nhau tại Việt Nam.
- A và B có thể kết hôn với nhau hay không (với độ tuổi trên)?
Trong trường hợp trên anh A và chị B chưa đủ điều kiện để kết hôn ở Việt Nam Mặc dù A đã 19 tuổi đủ tuổi kết hôn theo quy định của luật pháp Mỹ (tuổi kết hôn ở Mỹ tối thiểu là 18 tuổi) và chị B 19 tuổi đã đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam (theo quy định của Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 nữ từ đủ 18 tuổi, nam từ đủ 20 tuổi) Tuy nhiên, trong trường hợp này, A và B muốn kết hôn ở Việt Nam thì bên cạnh việc mỗi bên phải tuân thủ theo pháp luật của nước mình còn phải tuân thủ theo quy định của pháp luật VN về điều kiện kết hôn: Tại điều 126 luật hôn nhân gia đình
Trang 42014 quy định về điều kiện kết hôn có yếu tố nước ngoài: " trong việc kết hôn giữa công dân việt nam với người nước ngoài, mỗi bên phải tuân thủ theo pháp luật của nước mình về điều kiệ kết hôn, nếu việc kết hôn được tiến hành tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam thì người nước ngoài còn phải tuân theo quy định của luật này về điều kiện kết hôn" Ở đây A mới 19 tuổi mà theo luật hôn nhân và
gia đình Việt Nam 2014 thì A chưa đủ tuổi để kết hôn Như vậy trong trường hợp này A và B không thể kết hôn với nhau
- Cơ quan có thẩm quyền giải quyết và Luật áp dụng cho trường hợp trên là luật nào? Tại sao?
Cơ quan có thẩm quyền giải quyết là Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi chị B đăng ký cư trú Luật áp dụng cho trường hợp này là
Luật Hộ tịch năm 2014, có hiệu lực từ 01/01/2016 (thay vì quy định trước đây là UBND cấp tỉnh tại Nghị định 126/2014/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Hôn nhân gia đình) Vì tại Khoản 1, Điều 37, Luật Hộ tịch 2014 quy định: “Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi cư trú của công dân Việt Nam thực hiện đăng ký kết hôn giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài; giữa công dân Việt Nam cư trú ở trong nước với công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài; giữa công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài với nhau; giữa công dân Việt Nam đồng thời có quốc tịch nước ngoài với công dân Việt Nam hoặc với người nước ngoài”.
3 Hãy trình bày cơ sở để xác định thẩm quyền của Toà án Việt Nam đối với các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
* Như thế nào là “Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài”:
- Có thể hiểu đơn giản: Vụ việc dân sự = Vụ án dân sự +
Trong đó: + Vụ án dân sự là: về tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động,…
+ Việc dân sự là: các yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động,… (ví dụ như: tuyên bố một người chết, mất tích,…)
+ “Yếu tố nước ngoài” (YTNN) trong vụ việc dân sự được quy
định tại khoản 2 Điều 464 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015) Theo đó, Vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài là vụ việc dân
sự thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài;
+ Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng việc xác lập, thay đổi, thực hiện hoặc chấm dứt quan hệ
đó xảy ra tại nước ngoài;
+ Các bên tham gia đều là công dân, cơ quan, tổ chức Việt Nam nhưng đối tượng của quan hệ dân sự đó ở nước ngoài
* Cơ sở xác định thẩm quyền của Tòa án Việt Nam trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài.
- Thẩm quyền chung:
Trang 5Một vụ việc dân sự có YTNN được xác định thuộc thẩm quyền chung của Tòa án của một quốc gia khi vụ việc đó có bất kỳ một
“yếu tố liên quan” hay “mối liên hệ mật thiết” đến quốc gia đó
Đặc điểm của loại thẩm quyền chung là: một vụ việc dân sự có YTNN thuộc thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam thì cũng có thể thuộc thẩm quyền của Tòa án nước ngoài liên quan
Thẩm quyền chung của Tòa án Việt Nam trong giải quyết vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định tại Điều 469 BLTTDS
2015 Theo đó, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong những trường hợp sau đây: + Bị đơn là cá nhân cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;
+ Bị đơn là cơ quan, tổ chức có trụ sở tại Việt Nam hoặc bị đơn
là cơ quan, tổ chức có chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam đối với các vụ việc liên quan đến hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của cơ quan, tổ chức đó tại Việt Nam;
+ Bị đơn có tài sản trên lãnh thổ Việt Nam;
+ Vụ việc ly hôn mà nguyên đơn hoặc bị đơn là công dân Việt Nam hoặc các đương sự là người nước ngoài cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài tại Việt Nam;
+ Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam;
+ Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc
có trụ sở, nơi cư trú tại Việt Nam
- Thẩm quyền riêng biệt:
Điểm khác biệt lớn nhất giữa thẩm quyền riêng biệt và thẩm quyền chung thể hiện qua việc:
+ Đối với thẩm quyền chung: Tòa án Việt Nam có thể có
thẩm quyền, tòa án quốc gia nước ngoài cũng thể có thẩm quyền
+ Đối với thẩm quyền riêng biệt: Đây là sự tuyên bố của
pháp luật Việt Nam về các vụ việc dân sự có YTNN mà chỉ có Tòa án Việt nam mới có thẩm quyền giải quyết
Theo quy định tại Điều 470 thì những vụ việc dân sự có YTNN sau đây sẽ thuộc thẩm quyền riêng biệt của Tòa án Việt Nam:
- Những vụ án dân sự có yếu tố nước ngoài:
+ Vụ án dân sự đó có liên quan đến quyền đối với tài sản là bất động sản có trên lãnh thổ Việt Nam;
+ Vụ án ly hôn giữa công dân Việt Nam với công dân nước ngoài hoặc người không quốc tịch, nếu cả hai vợ chồng cư trú, làm
ăn, sinh sống lâu dài ở Việt Nam;
Trang 6+ Vụ án dân sự khác mà các bên được lựa chọn Tòa án Việt Nam để giải quyết theo pháp luật Việt Nam hoặc điều ước quốc tế
mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và các bên đồng ý lựa chọn Tòa án Việt Nam
- Những việc dân sự có yếu tố nước ngoài:
+ Các yêu cầu không có tranh chấp phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự quy định tại khoản 1 Điều này (tức những vụ án dân sự
có YTNN thuộc thẩm quyền riêng biệt mình vừa nêu trên)
+ Yêu cầu xác định một sự kiện pháp lý xảy ra trên lãnh thổ Việt Nam;
+ Tuyên bố công dân Việt Nam hoặc người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị mất tích, đã chết nếu việc tuyên bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
là thành viên có quy định khác;
+ Tuyên bố người nước ngoài cư trú tại Việt Nam bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, mất năng lực hành vi dân sự nếu việc tuyên
bố đó có liên quan đến việc xác lập quyền, nghĩa vụ của họ trên lãnh thổ Việt Nam;
+ Công nhận tài sản có trên lãnh thổ Việt Nam là vô chủ, công nhận quyền sở hữu của người đang quản lý đối với tài sản vô chủ trên lãnh thổ Việt Nam
4 Những thẩm quyền sau đây Toà án Việt Nam có thẩm quyền hay không? Trình bày cơ sở pháp lý:
a Công ty A quốc tịch Pháp kiện công ty B quốc tịch Pháp
có văn phòng đại diện tại Việt Nam.
Trước hết, do đây là một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 464 Bộ luật Tố tụng dân sự
2015 (BLTTDS 2015): ” Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài” Trường hợp này công ty A là
công ty người nước ngoài kiện công ty B là công ty nước ngoài có văn phòng đại diện tại VN
Căn cứ quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 469 BLTTDS
2015 Theo đó, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ
việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp: “Bị đơn là cơ quan, tổ chức có trụ sở tại Việt Nam hoặc bị đơn là cơ quan, tổ chức
có chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam đối với các vụ
việc liên quan đến hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của
cơ quan, tổ chức đó tại Việt Nam”.
Như vậy đây là vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài và bị đơn là công ty B (của Pháp) có văn phòng đại diện tại VN Vì vậy, nếu vụ kiện này có liên quan đến hoạt động của văn phòng đại diện của công ty B tại Việt Nam thì căn cứ các quy định pháp lý trên Tòa án
VN có thẩm quyền giải quyết vụ việc này
b A quốc tịch Pháp cư trú và làm ăn sinh sống tại Việt Nam kiện công ty B quốc tịch Pháp.
Trang 7Trường hợp này Tòa án VN có thẩm quyền Trước hết, do đây là
một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định tại điểm a,
khoản 2 Điều 464 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 (BLTTDS 2015): ” Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài” (Ở đây là công ty B-Pháp)
Căn cứ quy định tại Điểm e, Khoản 1, Điều 469 BLTTDS
2015 Theo đó, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ
việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp: “Vụ việc về quan
hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quan hệ đó xảy ra ở
ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên quan đến quyền và nghĩa
vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc có trụ sở, nơi
cư trú tại Việt Nam”.Trong trường hợp này A mặc dù có quốc tịch
Pháp nhưng hiện đang cư trú và làm ăn, sinh sống tại VN nên thuộc vào quy định trên
Như vậy đây là vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài và vụ việc này liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cá nhân A quốc tịch Pháp đang cư trú, làm ăn sinh sống ở VN vì vậy, căn cứ các quy định pháp
lý trên Tòa án VN có thẩm quyền giải quyết vụ việc này
c A có quốc tịch Pháp có tài sản tại Việt Nam kiện công
ty B quốc tịch Pháp có chi nhánh tại Việt Nam.
Trước hết do đây là một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài được quy định tại điểm a, khoản 2 Điều 464 Bộ luật Tố tụng dân sự
2015 (BLTTDS 2015): ” Có ít nhất một trong các bên tham gia là cá nhân, cơ quan, tổ chức nước ngoài” Trường hợp này A là người nước
ngoài và công ty B là công ty nước ngoài có chi nhánh tại VN
Căn cứ quy định tại Điểm b, Khoản 1, Điều 469 BLTTDS
2015 Theo đó, Tòa án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết các vụ
việc dân sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp: “Bị đơn là cơ quan, tổ chức có trụ sở tại Việt Nam hoặc bị đơn là cơ quan, tổ chức
có chi nhánh, văn phòng đại diện tại Việt Nam đối với các vụ
việc liên quan đến hoạt động của chi nhánh, văn phòng đại diện của
cơ quan, tổ chức đó tại Việt Nam”.
Như vậy đây là vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài và bị đơn là công ty B (của Pháp) có chi nhánh tại VN và nguyên đơn là cá nhân A quốc tịch Pháp có tài sản tại VN Vì vậy, nếu vụ kiện này có liên quan đến hoạt động của chi nhánh của công ty B tại Việt Nam thì căn cứ các quy định pháp lý trên Tòa án VN có thẩm quyền giải quyết vụ việc này
5 A là công dân Hoa Kỳ thường trú tại Việt Nam A có tài sản bao gồm nhà ở tại Việt Nam, tiền mặt tại Pháp, ô tô tại Anh, ngoài ra A còn có một số cổ phiếu đầu tư tại Việt Nam Trong một chuyến đi công tác tại Hoa Kỳ, A mất trong một tai nạn giao thông mà không kịp để lại di chúc.
a Hãy xác định Toà án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết vụ, việc trên hay không?
Trước tiên khẳng định Tòa án VN có thẩm quyền giải quyết vụ việc này bởi vì: Căn cứ khoản 2, điều 464 Bộ Luật Tố tụng Dân sự
Trang 8năm 2015 thì đây là một vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài (do A
là công dân Hoa Kỳ thường trú tại VN) Căn cứ điểm đ, điểm e, khoản
1, điều 469 thì Tòa án VN có thẩm quyền giải quyết các vụ việc dân
sự có yếu tố nước ngoài trong trường hợp:
“đ) Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt
quan hệ đó xảy ra ở Việt Nam, đối tượng của quan hệ đó là tài sản trên lãnh thổ Việt Nam hoặc công việc được thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam; (cụ thể trong trường hợp này là nhà ở của
A tại VN)
e) Vụ việc về quan hệ dân sự mà việc xác lập, thay đổi, chấm dứt
quan hệ đó xảy ra ở ngoài lãnh thổ Việt Nam nhưng có liên quan đến quyền và nghĩa vụ của cơ quan, tổ chức, cá nhân Việt Nam hoặc có trụ sở, nơi cư trú tại Việt Nam.” (cụ thể trong
trường hợp này là quyền lợi và nghĩa vụ của A với tư cách là cá nhân
có nơi cư trú tại Việt nam)
Như vậy căn cứ các quy định trên Tòa án VN có thẩm quyền giải quyết vụ việc này
b Giả sử Toà án Việt Nam có thẩm quyền giải quyết, hãy giải quyết vấn đề thừa kế trên đối với di sản, biết rằng A chỉ
có vợ và con hiện đang là công dân Hoa Kỳ là những người thân duy nhất, nhưng tất cả đều từ chối nhận di sản thừa kế.
Trong trường hợp này, A không lập di chúc trước khi mất và A chỉ có vợ và con hiện đang là công dân Hoa Kỳ là những người thân duy nhất nhưng tất cả đều từ chối nhận di sản thừa kế Tức là không
có người thừa kế theo di chúc và theo pháp luật trong trường hợp này Bên cạnh đó, giữa Việt Nam và Mỹ cũng không có Hiệp định tương trợ tư pháp Căn cứ Điều 680, Luật Dân sự 2015 thì:
“1 Thừa kế được xác định theo pháp luật của nước mà người
để lại di sản thừa kế có quốc tịch ngay trước khi chết.
2 Việc thực hiện quyền thừa kế đối với bất động sản được xác định theo pháp luật của nước nơi có bất động sản đó.”
Như vậy, trong trường hợp này: đối với tài sản là động sản gồm: tiền mặt tại Pháp, ô tô tại Anh, cổ phiếu tại Việt Nam được xác định theo Pháp luật Hoa Kỳ do A có quốc tịch Hoa Kỳ trước khi mất
Tài sản là bất động sản: nhà ở tại Việt Nam thì được xác định theo pháp luật Việt Nam Và trong trường hợp này A không có người thừa kế theo di chúc và theo pháp luật nên căn cứ vào Điều 622, Luật Dân sự 2015 về tài sản không có người nhận thừa kế thì
“Trường hợp không có người thừa kế theo di chúc, theo pháp luật hoặc có nhưng không được quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản thì tài sản còn lại sau khi đã thực hiện nghĩa vụ về tài sản mà không
có người nhận thừa kế thuộc về Nhà nước” Như vậy tài sản bất động
sản (Nhà ở của A tại Việt Nam) sẽ thuộc thừa kế của Nhà nước Việt Nam
6 Hãy trình bày cơ sở để giải quyết xung đột pháp luật
về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng theo tư pháp quốc tế Việt Nam.
Trang 9Về mặt lý luận và thực tiễn, bất kỳ xung đột pháp luật nào cũng phải được giải quyết một cách triệt để nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia, thúc đẩy giao lưu dân sự, kinh tế, thương mại phát triển Hiện nay xung đột pháp luật được giải quyết bằng 02 phương pháp là phương pháp thực chất và phương pháp xung đột
Phương pháp thực chất: sử dụng hệ thống các quy phạm thực chất chủ yếu trong các điều ước quốc tế và pháp luật quốc gia
Phương pháp xung đột: sử dụng hệ thống các quy phạm xung đột chứa đựng chủ yếu trong pháp luật quốc gia và các điều ước quốc tế
Hai phương pháp này luôn phối hợp và tác động bổ sung cho nhau để giải quyết các quan hệ tư pháp quốc tế Bên cạnh 02 phương pháp này, ở Việt Nam còn ghi nhận một phương pháp thứ 3 là: áp dụng tập quán quốc tế hoặc pháp luật điều chỉnh các mối quan
hệ xã hội tương tự
Để giải quyết xung đột pháp luật cần dựa vào một số hệ thuộc
cơ bản Việc giải quyết xung đột pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng theo tư pháp quốc tế Việt Nam dựa trên các
hệ thuộc sau:
- Luật do các bên ký kết hợp đồng lựa chọn: được hiểu pháp luật
áp dụng cho quan hệ hợp đồng là pháp luật do các bên chủ thể hợp đồng thỏa thuận lựa chọn Theo hệ thuộc này, các bên tham gia hợp đồng được tự do thỏa thuận lựa chọn hệ thống pháp luật mà họ cho
là hợp lý để giải quyết quan hệ hợp đồng Hệ thuộc này hoàn toàn dựa trên nguyên tắc tự nguyện và bình đẳng trong giao kết hợp đồng Luật được lựa chọn có thể là pháp luật quốc gia của các bên tham gia hợp đồng, của nước thứ ba hoặc điều ước quốc tế, tập quán quốc tế có liên quan
- Luật nơi thực hiện hành vi: được hiểu là hành vi do các bên thực hiện ở đâu thì áp dụng luật nước đó để điều chỉnh quan hệ pháp luật phát sinh Tuy nhiên cần biết rằng khái niệm nơi thực hiện hành
vi rất rộng và có nhiều cách hiểu khác nhau Về cơ bản có những cách hiểu sau đây:
+ Luật nơi ký kết hợp đồng: được hiểu pháp luật điều chỉnh quan
hệ hợp đồng là luật của nước nơi ký kết hợp đồng Đây cũng là một
hệ thuộc được áp dụng phổ biến để xác định luật áp dụng điều chỉnh quan hệ hợp đồng bên cạnh hệ thuộc Luật do các bên ký kết hợp
đồng lựa chọn (ở VN luật nơi ký kết hợp đồng chủ yếu được sử dụng
để giải quyết vấn đề về hình thức của hợp đồng; một số nước vẫn có
mở rộng phạm vi áp dụng đối với vấn đề quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng).
+ Luật nơi thực hiện nghĩa vụ: được hiểu pháp luật được áp dụng
là pháp luật nơi nghĩa vụ được thực hiện Hệ thuộc luật này có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc giải quyết tranh chấp về việc thực hiện các nghĩa vụ của hợp đồng
Trang 10+ Luật nơi thực hiện hành động: là một biến dạng rất cụ thể của luật nơi thực hiện hành vi
- Luật nước người bán: được hiểu pháp luật áp dụng là pháp luật của nước người bán nếu bên mua và bên bán không có thỏa thuận nào khác Đây là hệ thuộc có tính truyền thống trong thương mại quốc tế và nó được hình thành như là một tập quán
- Luật tiền tệ: hệ thuộc này được hiểu là khi ký kết hợp đồng các bên thỏa thuận thanh toán bằng một đơn vị tiền tệ nhất định Do đó các vấn đề liên quan đến tiền tệ đó được giải quyết theo luật pháp của nước ban hành và lưu thông đồng tiền đó (hệ thuộc này rất ít được sử dụng, chủ yếu ở Đức và Áo)
Như vậy để giải quyết các xung đột pháp luật về quyền và nghĩa
vụ của các bên trong hợp đồng theo tư pháp quốc tế Việt Nam dựa trên cơ sở các hệ thuộc để giải quyết xung đột pháp luật được tư pháp quốc tế và các quốc gia thừa nhận rộng rãi
7 Những trường hợp nào sau đây pháp luật Việt Nam có thể được áp dụng để giải quyết các vấn đề quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng? Vì sao?
a Công ty A quốc tịch Việt Nam ký hợp đồng bán tài sản với công ty B quốc tịch Pháp có văn phòng đại diện tại Việt Nam, hợp đồng được ký tại Pháp và thực hiện tại Việt Nam
Trước tiên cần xác định đây là vụ việc dân sự có yếu tố nước ngoài
* Về Pháp luật áp dụng trong trường hợp này:
Căn cứ khoản 1, điều 683, Bộ luật dân sự 2015 quy định: “các bên trong quan hệ hợp đồng được thỏa thuận lựa chọn pháp luật áp dụng đối với hợp đồng, trừ trường hợp quy định tại các khoản 4, 5 và
6 Điều này Trường hợp các bên không có thỏa thuận về pháp luật
áp dụng thì pháp luật của nước có mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng”.
Trước tiên, để xác định pháp luật VN có được áp dụng để giải quyết vụ việc này hay không cần dựa vào thoả thuận của các bên trong hợp đồng Trong trường hợp hợp đồng lựa chọn pháp luật ở một quốc gia khác để giải quyết tranh chấp thì pháp luật VN không được áp dụng để giải quyết
Trong trường hợp này hợp đồng không có thoả thuận về pháp luật áp dụng: Bộ luật dân sự 2015 không còn sử dụng tiêu chí nơi thực hiện hợp đồng để xác định luật áp dụng cho hợp đồng khi các bên không có thỏa thuận luật áp dụng, mà thay vào đó là tiêu chí
“mối liên hệ gắn bó nhất với hợp đồng” Căn cứ vào khoản 1, điều
683, Bộ luật Dân sự 2015 thì pháp luật của nước có mối quan hệ gắn
bó nhất với hợp đồng đó được áp dụng: Đây là hợp đồng mua bán tài sản vì vậy căn cứ vào điểm a, khoản 2, điều 683, Bộ Luật tố tụng dân
sự 2015 thì pháp luật của nước nơi người bán cư trú đối với cá nhân hoặc nơi thành lập đối với pháp nhân được áp dụng Trong trường hợp tài sản này là bất động sản thì căn cứ khoản 4, điều 683, Bộ Luật
tố tụng dân sự 2015 thì pháp luật của nước nơi có bất động sản được