tiểu luận thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2008 2011...................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
Trang 1Đề bài: Thực trạng thất nghiệp của Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2011.
Trang 2MỤC LỤC
1.1
1.2
1.3
1.4
PHẦN MỞ ĐẦU
Bỏ qua bất bình đẳng xã hội, tội phạm hay bạo lực, giờ đây, nỗi sợ hãi kinh hoàng nhất đang hoành hành trên toàn thế giới lại chính là vấn đề không thể kiếm được việc làm và hiện tượng thất nghiệp ngày càng tăng Thất nghiệp trở thành mối quan tâm nóng bỏng toàn cầu, vượt xa mọi vấn đề lo lắng thông thường khác, kể cả cái đói nghèo, nhất là khi khủng hoảng kinh tế, tài chính gõ cửa đến từng hộ gia đình Nền kinh tế muốn phát triển được toàn diện và đạt hiệu quả cao đòi hỏi phải giải quyết tốt các vấn đề ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế trong đó có vấn đề thất nghiệp Đây là vấn đề nóng bỏng cấp bách và cần thiết phải giải quyết không chỉ đối với nền kinh tế nước ta mà hầu như các nước trên thế giới phải đau đầu vì vấn đề này Dân số nước ta hiện nay hơn 86 triệu người trong đó có khoảng
45 triệu lao động mỗi năm lại tăng thêm một triệu lao động trong khi nền kinh tế chưa có những chuyển biến đột phá so với những năm trước đây Vấn đề việc làm làm đòi hỏi phải giải quyết để đảm bảo an sinh xã hội Nếu không được giải quyết tốt thì sẻ kéo theo những vấn đề như: tệ nạn xã hội, lạm phát, … Sau đây em xin trình bày vấn đề thất nghiệp ở Việt Nam hiện nay trong giai đoạn 2008 – 2011
Phần 1 Một số lý luận cơ bản về thất nghiệp
1.1 Khái niệm thất nghiệp
Trang 3Thất nghiệp (unemployment) là một khái niệm quan trọng trong kinh tế học Thất nghiệp là những người trong độ tuổi lao động có khả năng làm việc, mong muốn làm việc nhưng lại không tìm được việc làm
1.2 Đo lường thất nghiệp
Lực lượng lao động (L) = số người có việc làm (E) + số người thất nghiệp(U)
Tỷ lệ thất nghiệp chính là tỷ lệ phần trăm của lực lượng lao động bị thất nghiệp
Tỷ lệ thất nghiệp cho biết hiệu quả sử dụng lao động của nền kinh tế
u = U L 100% = L−E L 100% = (1- E L) 100%
Người ta còn dùng thước đo tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng
Tỷ lệ thời gian lao động được sử dụng = (Tổng số ngày công làm việc thực tế) / Tổng số ngày công có nhu cầu làm việc x 100%
Thời gian thất nghiệp trung bình: đo lường khoảng thời gian trung bình không có việc làm của một người thất nghiệp
´
t = ∑N t
∑N
t– = khoảng thời gian thất nghiệp trung bình
N = số người thất nghiệp trong mỗi loại (phân theo thời gian)
T = thời gian thất nghiệp của mỗi loại
Tần số thất nghiệp: đo lường 1 người lao động trung bình bị thất nghiệp bao nhiêu lần trong một thời kỳ nhất định
Ngoài ra để đánh giá quy mô của lực lượng lao động người ta sử dụng chỉ số
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động = Lực lượng lao động / Dân số trưởng thành x 100%
1.3 Phân loại thất nghiệp
Thất nghiệp tự nhiên
Thất nghiệp tự nhiên (natural unemployment) là mức thất nghiệp bình thường
mà nền kinh tế trải qua, là dạng thất nghiệp không mất đi trong dài hạn, tồn tại ngay khi thị trường lao động cân bằng Thất nghiệp tự nhiên bao gồm:
- Thất nghiệp tạm thời (frictional unemployment): Xuất hiện khi không có sự ăn khớp về nhu cầu trong thị trường lao động; Chính sách công và thất nghiệp tạm thời
- Thất nghiệp cơ cấu (structural unemployment): Xuất hiện do sự dịch chuyển cơ cấu giữa các ngành trong nền kinh tế hoặc sự thay đổi phương thức sản xuất trong một ngành
- Thất nghiệp mùa vụ (seasonal unemloyment): Xuất hiện do tính chất mùa vụ của một số công việc như làm nông nghiệp, dạy học, công việc part time dịp hè, giải trí theo mùa (trượt tuyết, công viên nước) …
Thất nghiệp chu kỳ (cyclical unemployment)
Trang 4Thất nghiệp theo chu kỳ là mức thất nghiệp tương ứng với từng giai đoạn trong chu kỳ kinh tế, do trạng thái tiền lương cứng nhắc tạo ra, là dạng thất nghiệp sẽ mất
đi trong dài hạn Thất nghiệp chu kỳ là mức thất nghiệp thực tế xuất hiện cùng với các chu kỳ kinh tế Thất nghiệp chu kỳ cao (cao hơn mức thất nghiệp tự nhiên) khi nền kinh tế rơi vào suy thoái
Thất nghiệp chu kỳ thấp (thấp hơn mức thất nghiệp tự nhiên) khi nền kinh tế đang ở trong trạng thái mở rộng (phát triển nóng) Vì thất nghiệp thường mang nghĩa tiêu cực nên khi người ta nói đến thất nghiệp chu kỳ thường hàm ý nói về thất nghiệp chu kỳ cao Theo Keynes tình trạng thất nghiệp cao trong cuộc Đại khủng hoảng là do thiếu cầu hay mức tổng cầu thấp trong điều kiện tiền lương cứng nhắc Chính vì vậy thất nghiệp chu kỳ khi nền kinh tế rơi vào suy thoái còn gọi là thất nghiệp thiểu cầu hay thất nghiệp kiểu Keynes
1.4 Tác động của thất nghiệp
Đối với thất nghiệp tự nhiên
Thất nghiệp xảy ra đồng nghĩa rằng lực lượng lao động đang bị lãng phí, họ không được sử dụng đúng cách Sức lao động bị lãng phí thì nền kinh tế làm sao có thể phát triển? Tình trạng thất nghiệp tăng cao cũng là dấu hiệu của sự suy thoái kinh tế Đây là nguyên nhân chính gây ra tình trạng lạm phát Ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người lao động Đối tượng phải chịu ảnh hưởng trực tiếp và nặng nề nhất của tình trạng thất nghiệp chính là người lao động Họ không có việc làm đồng nghĩa sẽ không có thu nhập, từ đó sẽ dẫn đến sự đói kém, sức khỏe giảm sút Một người trong gia đình không có thu nhập sẽ tạo ra gánh nặng cho những người còn lại Cha mẹ không có công ăn việc làm thì con cái không có cái ăn, không được đi học và cũng chẳng ai lo cho sức khỏe của chúng Gây nguy hại đến trật tự
xã hội Thất nghiệp là một trong những nguyên nhân khiến xã hội bất ổn, bởi người lao động không có việc sẽ sinh ra tâm lý bất mãn, họ tiến hành biểu tình khiến sự yên bình thường ngày không còn Nhiều người thất nghiệp bỗng nhiên trở thành trộm cắp hoặc đi vào con đường phạm pháp
Đối với thất nghiệp chu kỳ
Khi sản lượng ở dưới mức tự nhiên, những tổn thất của thất nghiệp là rõ ràng:
- Những cá nhân thất nghiệp bị mất tiền lương và nhận trợ cấp thất nghiệp
- Chính phủ mất thu nhập từ thuế và phải trả thêm trợ cấp và các doanh nghiệp bị giảm lợi nhuận
Xã hội với tư cách là một tổng thể chịu nhiều tổn thất hơn so với các cá nhân thất nghiệp về mặt thu nhập Bởi vì một công nhân có việc sẽ nộp thuế cho Chính phủ, trong khi một công nhân thất nghiệp có thể nhận được trợ cấp Chi phí về sản lượng
Trang 5đối với xã hội của một công nhân thất nghiệp chu kì gồm ba thành phần: thu nhập mất mát của các công nhân thất nghiệp sau khi trừ đi trợ cấp thất nghiệp; giá trị của trợ cấp thất nghiệp do Chính phủ trả; và sự mất mát nguồn thu do thu nhập từ thuế giảm
Phần 2 Thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2011
2.1 Khái quát tình hình kinh tế Việt Nam trong giai đoạn 2008 – 2011
Kinh tế - xã hội nước ta giai đoạn 2008 - 2011 diễn ra trong bối cảnh tình hình thế giới và trong nước có nhiều biến động phức tạp, khó lường Giá dầu thô và giá nhiều loại nguyên liệu, hàng hoá khác trên thị trường thế giới tăng mạnh trong những tháng giữa năm kéo theo sự tăng giá ở mức cao của hầu hết các mặt hàng trong nước; lạm phát xảy ra tại nhiều nước trên thế giới; khủng hoảng tài chính toàn cầu dẫn đến một số nền kinh tế lớn suy thoái, kinh tế thế giới suy giảm; thiên tai, dịch bệnh đối với cây trồng vật nuôi xảy ra liên tiếp trên địa bàn cả nước gây ảnh hưởng lớn đến sản xuất và đời sống dân cư Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm
2008 theo giá so sánh 1994 ước tính tăng 6,23% so với năm 2007, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản tăng 3,79%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 6,33%; khu vực dịch vụ tăng 7,2% Trong 6,23% tăng trưởng chung của nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản đóng góp 0,68 điểm phần trăm; công nghiệp, xây dựng đóng góp 2,65 điểm phần trăm và dịch vụ đóng góp 2,9 điểm phần trăm Tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước năm nay tuy thấp hơn tốc độ tăng 8,48% của năm 2007 và mục tiêu kế hoạch điều chỉnh là tăng 7,0%, nhưng trong bối cảnh tài chính thế giới khủng hoảng, kinh tế của nhiều nước suy giảm mà nền kinh tế nước
ta vẫn đạt tốc độ tăng tương đối cao như trên là một cố gắng rất lớn
2.2 Thực trạng thất nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2008 - 2011
Để thấy rõ thực trạng thất nghiệp ảnh hưởng như thế nào đối vơi nền kinh tế cũng như những vấn đề xã hội ta phải tìm hiểu và phân tích cụ thể qua từng chặng đường phát triển như sau:
Năm 2008
Dưới tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, sản xuất, kinh doanh, dịch vụ giảm sút, tiêu thụ sản phẩm chậm, hàng hóa ứ đọng thì số người mất việc làm năm 2008 khoảng 667.000 người, 3.000 lao động từ nước ngoài phải về nước trước thời hạn Theo Bộ Lao Động, tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam vào khoảng 4,65%, tức là khoảng hơn 2 triệu lao động không có việc làm
Theo Tổng cục Thống kê, chỉ tiêu tỷ lệ thất nghiệp ở nước ta những năm gần đây chỉ được tính cho khu vực thành thị, với những người trong độ tuổi 15 - 60 với nam
và 15 - 55 với nữ Tuy nhiên, để đánh giá về tình hình lao động, còn một chỉ tiêu
Trang 6khác là tỷ lệ lao động thiếu việc làm Đây là chỉ tiêu quan trọng được tính cho cả lao động ở khu vực nông thôn và thành thị, nhưng từ trước đến nay chưa công bố Ở Việt Nam, tỷ lệ lao động thiếu việc làm thường cao hơn tỷ lệ thất nghiệp; trong đó
tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn thường cao hơn thành thị Với cách hiểu như vậy, tỷ
lệ thất nghiệp của Việt Nam năm 2008 là 4,65%, tăng 0,01% so với năm 2007 Trong khi đó, tỷ lệ lao động thiếu việc làm hiện là 5,1%, tăng 0,2% so với năm
2007 Đáng chú ý, tỷ lệ thiếu việc làm nông thôn tới 6,1%, trong khi tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 2,3% Trong 5 năm trở lại đây, tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm có
xu hướng giảm 0,1-0,2%/năm Nhưng do ảnh hưởng của biến động kinh tế thế giới,
từ năm 2007 đến nay, tỷ lệ này đang tăng dần Việt Nam đang tích cực triển khai các giải pháp để giảm tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm về đúng quỹ đạo giảm như các năm trước Theo dự báo của tổng cục thống kê, tỷ lệ thiếu việc làm năm 2009 sẽ tăng lên 5,4% (2008: 5,1%); trong đó, khu vực nông thôn khoảng 6,4%
Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, năm 2008, cả nước giải quyết việc làm cho 1,35 triệu lao động, trong đó thông qua các chương trình kinh tế xã hội là 1,1 triệu, xuất khẩu lao động 85.000 4 thị trường xuất khẩu lao động trọng điểm của Việt Nam là: Đài Loan (33.000), Hàn Quốc (16.000), Malaysia (7.800) và Nhật Bản (5.800) Malaysia là thị trường tiếp nhận nhiều lao động Việt Nam nhất Trong các năm 2005 - 2007, mỗi năm quốc gia này tiếp nhận khoảng 30.000 lao động Việt Nam Năm 2008, do lo ngại nhiều rủi ro cũng như khan hiếm nguồn lao động, số người Việt sang Malaysia giảm hẳn, chưa tới 10.000
Năm 2009
Theo báo cáo của bộ Lao động-Thương binh và Xã hội, do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế, đến cối năm 2009, cả nước đã có 133.262 lao động bị mất việc làm – chiếm 18% lao động làm việc trong các doanh nghiệp (DN) có báo cáo, chưa kể 40.348 lao động ở các làng nghề bị mất việc làm và khoảng 100.000 người phải giảm giờ làm, nghỉ luân phiên Ngày 19/1/2010, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội cho biết tỷ lệ thất nghiêp tại khu vực thành thị của Việt Nam năm 2009 là 4,66% (đây là tỷ lệ thất nghiệp ở độ tuổi 15-60 đối với nam và 15-55 đối với nữ) và tỷ lệ thiếu việc làm của Việt Nam ở mức 5,1% Đáng chú ý tỷ lệ thiếu việc làm ở nông thôn lên tới 6,1%, còn khu vực thành thị là 2,3% Theo báo cáo của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội năm 2009, cả nước đã tạo việc làm cho 1,51 triệu lao động, đạt 88,8% kế hoạch năm, trong đó, tạo việc làm trong nước là 1,437 triệu người và xuất khẩu lao động trên 73.000 người Năm 2010, Bộ đặt mục tiêu tạo việc làm cho 1,6 triệu lao động Trong đó, việc làm trong nước là 1,515 triệu người, xuất khẩu lao động là 85.000 người Bên cạnh đó, Bộ cũng phấn đấu giảm tỷ lệ thất nghiệp trong
độ tuổi ở khu vực thành thị xuống dưới 4,7%
Năm 2010
Trang 7Tại cuộc họp báo ngày 31/12/2010, Tổng cục thống kê cho biết, lực lượng lao động trong độ tuổi của nước ta năm 2010 khoảng 46,21 triệu người, tăng 2,12% so với năm 2009 Tuy nhiên, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,88% Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị là 4,29% và tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực nông thôn là 2,29% So sánh với năm 2009, tỷ lệ thất nghiệp chung đã giảm 0,02%, thất nghiệp thành thị giảm 0,17% trong khi thất nghiệp nông thôn lại tăng thêm 0,02% Bên cạnh tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi, tỷ lệ thiếu việc làm năm 2010 của lao động trong độ tuổi là 4,5%; trong đó khu vực thành thị là 2,04%, khu vực nông thôn là 5,47%.Theo Tổng cục Thống kê, năm 2010, lực lượng lao động trong độ tuổi từ 15 trở lên là hơn 50,5 triệu người, tăng 2,68% so với năm 2009, trong đó lực lượng lao động trong độ tuổi lao động là hơn 46,2 triệu người, tăng 2,12%.Tỷ lệ dân
số cả nước 15 tuổi trở lên tham gia lực lượng lao động tăng từ 76,5% năm 2009 lên 77,3% năm 2010
Năm 2011
Tỷ lệ thất nghiệp khu vực thành thị luôn cao hơn khu vực nông thôn và ngược lại tình trạng thiếu việc làm ởkhu vực nông thôn thường cao hơn khu vực thành thị Năm 2011, tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động của khu vực thành thị là 3,6% và
tỷ lệ thiếu việc làm trong độ tuổi lao động của khu vực nông thôn là 3,56% Đây là một trong những nét đặc thù của thịtrường lao động nước ta trong nhiều năm gần đây Năm 2011, cứ 1000 người đang làm việc ở khu vực nông thôn thì có 36 người thiếu việc làm; tỷ lệ thiếu việc làm của lao động nông thôn cao gấp hơn 2,2 lần khu vực thành thị, trong khi có sự chênh lệch không đáng kể về mức độ thiếu việc giữa nam và nữ ở khu vực nông thôn của các vùng kinh tế- xã hội
Trong 6 tháng đầu năm 2011, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên của cả nước ước tính đạt 50,4 triệu người, tăng 33,2 nghìn người so với lực lượng lao động trung bình năm 2010, trong đó nam 26 triệu người, tăng 72,4 nghìn người; nữ 24,4 triệu người, giảm 39,2 nghìn người Lực lượng lao động trong độ tuổi lao động của cả nước 6 tháng đầu năm là 46,4 triệu người, giảm 7,2 nghìn người so với số bình quân năm trước, trong đó nam là 24,6 triệu người, tăng 42,6 nghìn người; nữ là 21,8 triệu người, giảm 49,8 nghìn người Lao động đang làm việc của cả nước trong 6 tháng đầu năm 2011 ước tính đạt 49,2 triệu người, tăng 171 nghìn người so với bình quân năm 2010, trong đó 48,6% làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản; 21,2% làm việc trong khu vực công nghiệp, xây dựng và 30,2% làm việc trong khu vực dịch vụ
Theo kết quả điều tra lao động tại 4.237 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp, lao động tháng 6/2011 của số doanh nghiệp trên ước tính tăng 1% so với tháng 5, trong
đó khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,3%; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 1,3% và khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 1,3% Trong ba ngành
Trang 8công nghiệp cấp I, lao động ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 1,1%; ngành khai thác tăng 0,3%; lao động ngành điện, nước tương đối ổn định Tỷ lệ thất nghiệp của lao động trong độ tuổi 6 tháng đầu năm ước tính 2,58% (năm 2010 là 4,1%), trong đó khu vực thành thị 3,96%; khu vực nông thôn 2,02% Tỷ lệ thiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính 3,9%, trong đó khu vực thành thì 2,15% và khu vực nông thôn 4,6% Cũng theo Tổng cục Thống kê, lao động đang làm việc của cả nước trong sáu tháng đầu năm 2011 ước tính đạt 49,2 triệu người, tăng 171 nghìn người so với bình quân năm 2010; trong đó 48,6% làm việc trong khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản; 21,2% làm việc trong khu vực công nghiệp, xây dựng và 30,2% làm việc trong khu vực dịch vụ
2.3 Những tác động của thất nghiệp đến nền kinh tế
Thất nghiệp (unemployment) tác động đến tăng trưởng kinh tế và lạm phát Thất
nghiệp tăng có nghĩa lực lượng lao động xã hội không được huy động vào hoạt động sản xuất kinh doanh tăng lên; là sự lãng phí lao động xã hội- nhân tố cơ bản để phát triển kinh tế- xã hội Thất nghiệp tăng lên cũng có nghĩa nền kinh tế đang suy thoái-suy thoái do tổng thu nhập quốc gia thực tế thấp hơn tiềm năng; thoái-suy thoái do thiếu vốn đầu tư (vì vốn ngân sách bị thu hẹp do thất thu thuế, do phải hỗ trợ người lao động mất việc làm…) Thất nghiệp tăng lên cũng là nguyên nhân đẩy nền kinh tế đến (bờ vực) của lạm phát
Thất nghiệp (unemployment) ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống của người lao động Người lao động bị thất nghiệp, tức mất việc làm, sẽ mất nguồn thu nhập Do
đó, đời sống bản thân người lao động và gia đình họ sẽ khó khăn Điều đó ảnh hưởng đến khả năng tự đào tạo lại để chuyển dổi nghề nghiệp, trở lại thị trườgn lao động; con cái họ sẽ khó khăn khi đến trường; sức khoẻ họ sẽ giảm sút do thiếu kinh
tế để bồi dưỡng, để chăm sóc y tế…Có thể nói, thất nghiệp “đẩy” người lao động đến bần cùng, đến chan nản với cuộc sống, với xã hội; dẫn họ đến những sai phạm đáng tiếc…
Thất nghiệp (unemployment) ảnh hưởng đến trật tự xã hội… Thất nghiệp gia
tăng làm trật tự xã hội không ổn định; hiện tượng lãn công, bãi công, biểu tình đòi quyền làm việc, quyền sống… tăng lên: hiện tượng tiêu cực xã hội cũng phát sinh nhiều lêm như trộm cắp, cờ bạc, nghiện hút, mại dâm…; Sự ủng hộ của người lao động đối với nhà cầm quyền cũng bị suy giảm… Từ đó, có thể có những xáo trộn về
xã hội, thậm chí dẫn đên biến động về chính trị
2.4 Các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm giảm tỷ lệ thất nghiệp ở Việt Nam
Muốn giảm bớt thất nghiệp xã hội cần phải có thêm nhiều việc làm, đa dạng hơn
và có mức tiền công tốt hơn, đồng thời phải đổi mới, hoàn thiện thị trường lao động
để đáp ứng kịp thời, nhanh chóng cả yêu cầu của doanh nghiệp và người lao động
Trang 9Do yêu cầu cạnh tranh mạnh mẽ của cơ chế thị trường việc mở rộng sản xuất tạo nhiều việc làm tốt, thu nhập khá và ổn định luôn gắn liền với năng suất ngày càng cao Ở mỗi mức tiền công sẽ thu hút nhiều lao động hơn Trong những điều kiện đó, cầu về lao động sẽ tăng lên và khoảng thời gian thất nghiệp cũng sẽ giảm xuống Để thúc đẩy quá trình này cần có những chính sách khuyến khích đầu tư, thay đổi công nghệ sản xuất Điều này lại liên quan đến chính sách tiền tệ (lãi suất), xuất nhập khẩu, giá cả (tư liệu lao động ), thuế thu nhập, giảm trợ cấp thất nghiệp
- Giảm trợ cấp thất nghiệp: khi mất việc hay thất nghiệp thì người thất nghiệp dược
nhận 60% trợ cấp Khi có việc làm thì họ bị cắt tiền trợ cấp đi Điều này tạo điều kiện cho những người thất nghiệp tự nguyện có được khoản thu nhập mà không cần phải lao động Giảm trợ cấp thất nghiệp tức là giảm phạm vi trợ cấp, chỉ trợ cấp cho những đối tượng thất nghiệp thực sự Như vậy thúc đẩy những người có khả năng lao động thất nghiệp tự nguyện tham gia vào lực lượng lao động thì tỷ lệ thất nghiệp
sẽ giảm dần
- Chính sách tài khoá là việc Chính phủ sử dụng thuế khoá và chi tiêu công cộng để
điều tiết mức chi tiêu chung của nền kinh tế Khi tỷ lệ thất nghiệp tăng, điều đó có
nghĩa là nền kinh tế đang lầm vào tình trạng suy thoái Khi đó các hãng tư nhân không muốn đầu tư thêm, người tiêu dùng không muốn chi tiêu thêm, tổng cầu giảm, doanh nghiệp thu hẹp sản xuất Lúc này chính phủ tăng chi tiêu và giảm thuế
sẽ khiến sản lượng tăng lên và mức việc làm đầy đủ có thể khôi phục và tỷ lệ thất nghiệp giảm
- Các chính sách nhằm vào đường cung người lao động như chính sách nâng cao
mức lương trung bình Tiền công cao, tỷ lệ người thất nghiệp tự nguyện giảm Đào
tạo nghề đa dạng hoá các loại nghề khác nhau giúp cho người lao động có khả năng đổi nghề
- Khi Nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ, ngân hàng trung ương giảm lãi suất.
Lãi suất giảm đã khuyến khích tiêu dùng đầu tư … doanh nghiệp mở rộng sản xuất, cung cấp việc làm ngày càng tang dẫn đến tỷ lên thất nghiệp giảm
2.5 Đánh giá thực trạng thất nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2008 - 2011
Những mặt đạt được
- Thất nghiệp ngắn hạn giúp người lao động tìm công việc ưng ý và phù hợp vớinguyện vọng và năng lực làm tăng hiệu quả xã hội
- Lợi ích xã hội, làm cho việc phân bổ các nguồn lực một cách hiệu quả hơn và góp phần làm tăng tổng sản lượng của nền kinh tế trong dài hạn
- Thất nghiệp mang lại thời gian nghỉ ngơi và sức khỏe
Trang 10- Thất nghiệp mang lại thời gian cho học hành và trau dồi thêm kỹ năng.
- Thất nghiệp tạo sự cạnh tranh và tăng hiệu quả
Hạn chế và nguyên nhân
Thất nghiệp đã gây ra hao phí nguồn lực xã hội, con người và máy móc Quy luật Okun áp dụng cho nền kinh tế Mỹ nói rằng 1% thất nghiệp chu kỳ làm sản lượng giảm 2,5% so với mức sảnlượng tiềm năng (xuống dưới mức tự nhiên) Công nhân tuyệt vọng khi không thể có việc làm sau một thời gian dài Khủng hoảng gia đình
do không có thu nhập Cá nhân thất nghiệp bị mất tiền lương và nhận trợ cấp thất nghiệp Chính phủ mất thu nhập từ thuế và phải trả thêm trợ cấp Tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) thấp – các nguồn lực con người không được sử dụng, bỏ phí cơ hội sản xuất thêm sản phẩm và dịch vụ Thất nghiệp còn có nghĩa là sản xuất ít hơn Giảm tính hiệu quả của sản xuất theo quy mô Thất nghiệp dẫn đến nhu cầu xã hội giảm Hàng hóa và dịch vụ không có người tiêu dùng, cơ hội kinh doanh ít ỏi, chất lượng sản phẩm và giá cả tụt giảm Hơn nữa, tình trạng thất nghiệp cao đưa đếnnhu cầu tiêu dùng ít đi so với khi nhiều việc làm, do
đó mà cơ hội đầu tư cũng ít hơn Các doanh nghiệp bị giảm lợi nhuận
Nguyên nhân là do trong hệ thống cấu trúc kinh tế xã hội cũ, chúng ta có những sai lầm, khuyết điểm trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, như đại hội VI đã chỉ rõ: Đãduy trì quá lâu nền kinh tế chỉ có hai thành phần, không coi trọng cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, kinh tế mở cửa dẫn đến sai lầm trong bố trí kinh tế, chưa quan tâm đúng mức đến chiến lược xây dựng kinh tế xã hội, hướng vào phát triển những ngành công nghiệp với quy mô nhỏ để thu hút được nhiều lao động dẫn đến hạn chế khả năng khai thác cáctiềm năng hiện có để phát triển việc làm và tạo nhiều điều kiện để người lao động tự tạo việc làm cho mình và do người khác Chức năng của Nhà nước trong việc tổ chức lao động giải quyết việc làm cho xã hội chưa được phát huy đầy đủ
Phần 3 Một số giải pháp/ Khuyến nghị giảm tỷ lệ thất nghiệp của Việt Nam 3.1 Định hướng phát triển kinh tế ở Việt Nam hiện nay
Từ Đại hội Đảng lần thứ VI đến Đại hội Đảng lần thứ XII, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được hoàn thiện và được chứng minh tính đúng đắn trên thực tế khi đã giúp đất nước ta thoát khỏi thời kỳ khó khăn
về kinh tế, đạt tốc độ tăng trưởng có lúc thuộc nhóm cao nhất thế giới Từ nước nghèo, thu nhập thấp, Việt Nam đã gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình, hội nhập ngày càng sâu rộng hơn với kinh tế thế giới Tuy nhiên, trước yêu cầu đổi mới của nền kinh tế Việt Nam để đạt tốc độ tăng trưởng nhanh, bền vững, Đảng và Nhà nước đang nghiên cứu, xem xét những vấn đề đặt ra để hoàn thiện hơn thể chế kinh