Phân tích một số nội dung cơ bản lý luận về hàng hóa của C.Mác trên cơ sở đó giải pháp phát triển một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất mà anh (chị) biết Phân tích một số nội dung cơ bản lý luận về hàng hóa của C.Mác trên cơ sở đó giải pháp phát triển một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất mà anh (chị) biết Phân tích một số nội dung cơ bản lý luận về hàng hóa của C.Mác trên cơ sở đó giải pháp phát triển một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất mà anh (chị) biết Phân tích một số nội dung cơ bản lý luận về hàng hóa của C.Mác trên cơ sở đó giải pháp phát triển một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất mà anh (chị) biết Phân tích một số nội dung cơ bản lý luận về hàng hóa của C.Mác trên cơ sở đó giải pháp phát triển một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất mà anh (chị) biết Phân tích một số nội dung cơ bản lý luận về hàng hóa của C.Mác trên cơ sở đó giải pháp phát triển một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất mà anh (chị) biết Phân tích một số nội dung cơ bản lý luận về hàng hóa của C.Mác trên cơ sở đó giải pháp phát triển một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất mà anh (chị) biết
Trang 1
TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA HTTT KINH TẾ & THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
- -BÀI THẢO LUẬN MÔN: KINH TẾ CHÍNH TRỊ
MÁC-LÊNIN
Đề Tài : Phân tích một số nội dung cơ bản lý luận về hàng hóa của C.Mác trên cơ sở đó giải pháp phát triển một doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực sản xuất mà anh (chị) biết Giảng viên bộ môn : ThS HOÀNG VĂN MẠNH
Lớp học phần : 2084RLCP1211
Lớp hành chính : K55S
Nhóm thực hiện : Nhóm 1
Hà Nội – 2020
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Như chúng ta nhìn nhận thấy được , lịch sử phát triển của nền sản xuất đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế , đó là sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hóa Trong một nền kinh tế thị trường , người mua và người có thể trao đổi lẫn nhau không thể thiếu hàng hóa – hàng hóa có từ sản xuất hàng hóa Sản xuất hàng hóa ra đời là bước ngoặt căn bản trong lịch sử phát triển của lịch sử loài người , đưa loài người thoát khỏi tình trạng “mông muội “ , xóa bỏ nền kinh tế tự nhiên , phát triển nhanh chóng lực lượng sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế của xã hội
Việc nghiên cứu phân tích tích một số nội dung cơ bản lý luận về hàng hóa của C.Mác trên cơ sở đó giải pháp phát triển một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất mà chúng tôi biết đến là một việc quan trong có ý nghĩa lí luận và thực tiễn đối với quá trình cạnh tranh Đặc biệt là năm vững được nội dung cơ bản lý luận về hàng hóa có vai trò quan trong góp phần vận dụng một cách hiệu quả vào quá trình xây dựng biện pháp cho doanh nghiệp dưới đây bọn tôi đề cập nói riêng và các doanh nghiệp Việt Nam nói chung
Trong quá trình nghiên cứu và phân tích do kiến thức và khả năng con hạn hẹp chúng tôi không tránh khỏi những sai sót , chúng em kính mong cô và các bạn góp ý
để chúng tôi có được sự hiểu biết đầy đủ nhất
Trang 3MỤC LỤC
I. CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1 Khái niệm
2 Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
3 Thuộc tính của hàng hóa
3.1 : Giá trị sử dụng 3.2 : Giá trị
3.3 : Mối quan hệ giữa giá trị với giá trị sử dụng
4 Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa
II GIẢI PHÁP
1 Doanh nghiệp sản xuất mì Miliket – Colusa
2 Thách thức
3 Đánh giá
4 Cơ hội
5 Biện pháp , phương hướng phát triển
5.1 : Xâm nhập thị trường ngách 5.2 : Tăng giá trị sử dụng của sản phẩm 5.3 Tăng lợi nhuận – múc tiêu của các doanh nghiệp xã hội kinh 5.4 : Đẩy mạnh marketing
5.5 : Đưa sản phẩm phù hợp thị yếu người tiêu dùng đẩy mạnh thị trường trong nước và ngoài nước
III KẾT LUẬN
Trang 4I CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1 Khái niệm
Theo quan điểm của C.Mác, hàng hoá là sản phẩm của lao động, có thể thoả
mãn một nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi, mua bán.
Sản phẩm của lao động chỉ mang hình thái hàng hóa khi được đưa ra trao đổi, mua bán trên thị trường Nghĩa là, có thể có sản phẩm của lao động song không là hàng hóa khi sản phẩm đó không được đem ra trao đổi hoặc không nhằm mục đích sản xuất để trao đổi
VD: Nhà bác An có nuôi 1 đàn gà, mỗi dịp họp mặt gia đình thì làm 1 con gà
để chế biến thức ăn cho gia đình Như vậy, mặc dù đàn gà nhà bác An là sản phẩm của lao động, đáp ứng nhu cầu ăn uống của gia đình nhưng lại không được coi là hàng hóa
vì không được mang ra trao đổi mua bán
VD: Những loại sản phẩm có công dụng thiết yếu đối với con người như là nước trong tự nhiên, không khí tự nhiên Tuy nhiên nó không phải là sản phẩm của lao động nên nó không được gọi là hàng hóa Chỉ khi nước và không khí dược con người khai thác, tinh lọc, chế biến thành những sản phẩm đóng chai, đóng bình và mang ra thị trường bán Tức là đã có hao phí lao động trong sản phẩm đó, được mua bán thì nó mới được coi là hàng hóa
Hàng hoá có thể sử dụng cho nhu cầu cá nhân hoặc nhu cầu sản xuất
Hàng hoá có thể tồn tại ở dạng vật thể hoặc ở dạng phi vật thể
Ví dụ: Hàng hóa vật thể: bàn, ghế, bút,…
Hàng hóa phi vật thể: phần mềm, website, phát minh, sáng chế,…
2 Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
Nghiên cứu về mối quan hệ giữa hai thuộc tính của hàng hóa với lao động sản xuất hàng hóa, C.Mác phát hiện ra rằng, sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính là do lao động của người sản xuất hàng hóa có tính hai mặt Tính hai mặt đó là: mặt cụ thể và mặt trừu tượng của lao động
Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề
nghiệp chuyên môn nhất định
Đặc trưng của lao động cụ thể:
Tạo ra giá trị nhất định: mỗi lao động cụ thể có mục đích lao động riêng, đối tượng lao động riêng, công cụ lao động riêng, phương pháp lao động riêng và kết quả lao động riêng
VD: Lao động cụ thể của người thợ may cần nguyên vật liệu là vải vóc,
kim chỉ, máy khâu, máy may mục đích là tạo ra những sản phẩm may mặc quần áo Còn lao động của người thợ xây cần nguyên liệu là gạch đá, xi măng, sắt thép để tạo ra những công trình xây dựng Lao động cụ thể của người thợ mộc là sản phẩm gỗ
Trang 5 Phản ánh trình độ phân công lao động xã hội: Trong xã hội không ai có thể làm được hết tất cả mọi việc người ta có chỉ thể đảm nhiệm một lao động
cụ thể nhất định Bởi vậy cần phải có sự phân công lao động xã hội Trong đời sống xã hội, có vô số những hàng hoá với những giá trị sử dụng khác nhau do lao động cụ thể đa dạng, muôn hình muôn vẻ tạo nên Phân công lao động xã hội càng phát triển thì xã hội càng nhiều ngành nghề khác nhau, do
đó có nhiều giá trị sử dụng khác nhau
Khoa học kỹ thuật, phân công lao động càng phát triển thì các hình thức lao động cụ thể càng phong phú, đa dạng (áp dụng khoa học kĩ thuật )
VD : việc xây nhà ở thập kỉ 80, việc xây nhà phải tự thiết kế ngôi nhà của mình tự thi công xây dựng và chỉ có một vài người bạn hỗ trợ trong việc xây dựng Nhưng ngày nay do nhu cầu của xã hội ngày càng cao và điều kiện nơi
ăn chốn ở thay vì việc ăn no mặc ấm thì chuyển sang ăn ngon mặc đẹp nên khi xây một ngôi nhà thì cần có rất nhiều công đoạn và được phân công lao động
rõ rệt đầu tiên là lao động cụ thể của kiến trúc sư thiết kế, công trình được thi công lại do lao động cụ thể của người xây dựng việc thiết kế, hệ thống điện nước là do lao động cụ thể của người thợ điện thợ nước dù chưa kể đến là thợ sơn, thợ điêu khắc
Lao động trừu tượng là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa không kể
đến hình thức cụ thể của nó, đó là sự hao phí sức lao động nói chung của người sản xuất hàng hoá về cơ bắp, thần kinh, trí óc
Đặc trưng của lao động trừu tượng:
Lao động trừu tượng tạo ra giá trị của hàng hoá: ta có thể so sánh giá trị của hàng hóa này với giá trị của hàng hóa khác
VD: như lao động trừu tượng của người sản xuất xe máy sẽ cao hơn lao
động trừu tượng của người nuôi gà Do hao phí lao động của xã hội để làm ra một chiếc xe máy sẽ nhiều hơn cho việc nuôi một con gà và đương nhiên khi bán trên thị trường thì một chiếc xe máy có giá cả cao hơn giá cả của một con gà
Lao động trừu tượng là cơ sở để so sánh, trao đổi các giá trị sử dụng khác nhau
VD : Như nguyên tắc trao đổi ngang giá: một con gà được lấy đổi lấy 5 kg gạo do đó có cùng hao phí lao động như nhau Lao động trừu tượng tạo ra giá trị và là cơ sở cho sự nhanh bằng trong việc trao đổi nếu không có sản xuất
Trang 6hàng hóa không có trao đổi thì không cần phải quy các lao động cụ thể về lao động trừu tượng
Trước C.Mác, D.Ricardo cũng đã thấy được các thuộc tính của hàng hóa.Nhưng D.Ricardo lại không thể lý giải thích được vì sao lại có hai thuộc tính đó Vượt lên so với lý luận của D.Ricardo, C.Mác phát hiện, cùng một hoạt động lao động nhưng hoạt động lao động đó có tính hai mặt CMác là người đầu tiên phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa Phát hiện này là cơ sở để C.Mác phân tích một cách khoa học sự sản xuất giá trị thặng dư sẽ được nghiên cứu tại chương 3
Đồng thời, nhờ việc phát hiện ra tính chất hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa, CMác, ngoài việc đã giải thích được một cách khoa học vững chắc vì sao hàng hóa có hai thuộc tính, còn chỉ ra được quan hệ chặt chẽ giữa người sản xuất và người tiêu dùng hàng hóa
Lao động cụ thể phản ánh tính chất tư nhân của lao động sản xuất hàng hóa bởi việc sản xuất cái gì, ở đâu, bao nhiêu, bằng công cụ nào là việc riêng của mỗi chủ thể sản xuất Ngược lại, lao động trừu tượng phản ánh tính chất xã hội của lao động sản xuất hàng hóa, bởi lao động của mỗi người là một bộ phận của lao động xã hội, nằm trong hệ thống phân công lao động xã hội
Nên, người sản xuất phải đặt lao động của mình trong sự liên hệ với lao động của
xã hội Do yêu cầu của mối quan hệ này, việc sản xuất và trao đổi phải được xem là một thể thống nhất trong nền kinh tế hàng hóa Lợi ích của người sản xuất thống nhất với lợi ích của người tiêu dùng Người sản xuất phải thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người tiêu dùng, người tiêu dùng đến lượt mình lại thúc đẩy sự phát triển sản xuất Mâu thuẫn giữa lao động cụ thể và lao động trừu tượng xuất hiện khi sản phẩm
do những người sản xuất hàng hóa riêng biệt tạo ra không phù hợp với nhu cầu xã hội, hoặc khi mức tiêu hao lao động cá biệt cao hơn mức tiêu hao mà xã hội có thể chấp nhận được Khi đó, sẽ có một số hàng hóa không bán được hoặc bán thấp hơn mức hao phí lao động đã bỏ ra, không đủ bù đắp chi phí Nghĩa là có một số hao phí lao động cá biệt không được xã hội thừa nhận Đây là mầm mống của khủng hoảng thừa
3 Thuộc tính của hàng hóa
3.1 Giá trị sử dụng:
Giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người
VD: Giá trị sử dụng của cơm là để ăn, của áo là để mặc, của máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu là để sản xuất
Ngay mỗi một vật cũng có thể có nhiều thuộc tính tự nhiên khác nhau, do đó
nó có nhiều giá trị sử dụng hay công dụng khác nhau
VD: gạo có thể dùng nấu cơm, nhưng gạo cũng có thể dùng làm nguyên liệu trong ngành rượu, bia hay chế biến cồn y tế
Giá trị sử dụng hay công dụng của hàng hóa là do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết định Với ý nghĩa như vậy, giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn
Trang 7Giá trị sử dụng chỉ thể hiện khi con người sử dụng hay tiêu dùng, nó là nội dung vật chất của của cải, không kể hình thức xã hội của của cái đó như thế nào C.Mác chỉ rõ: Chỉ có trong việc sử dụng hay tiêu dùng, thì giá trị sử dụng mới được thể hiện
3.2 Giá trị
Muốn hiểu được giá trị hàng hóa phải đi từ giá trị trao đổi C.Mác viết: "Giá trị trao đổi trước hết biểu hiện ra như là một quan hệ về số lượng, là một tỷ lệ theo đó những giá trị sử dụng loại này được trao đổi với những giá trị sử dụng loại khác"
Hao phí lao động là cơ sở chung để so sánh 2 loại hàng hóa, để trao đổi giữa chúng với nhau
Sở dĩ phải trao đổi theo một tỷ lệ nhất định, (1m vải = 10kg thóc), vì người ta cho rằng lao động hao phí sản xuất ra lm vải bằng lao động hao phí để sản xuất ra 10kg thóc Lao động hao phí để sản xuất ra hàng hóa ẩn giấu trong hàng hóa chính là giá trị của hàng hóa Từ sự phân tích trên, rút ra kết luận: giá trị là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa
Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên, thì giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa
Hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị, nhưng đây là sự thống nhất của hai mặt đối lập
3.3 Mối quan hệ giữa giá trị và giá trị sử dụng :
Giữa hai thuộc tính của hàng hóa có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau Trong đó,giá trị là nội dung , là cơ sở của giá trị trao đổi , còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị ra bên ngoài Khi trao đổi sản phẩm cho nhau , những người sản xuất ngầm so sánh ra bên ngoài Khi trao đổi sản phẩm cho nhau , những người sản xuất ngầm so sánh lao động ẩn giấu trong hàng hóa với nhau Thực chất của quan hệ trao đổi là người ta trao đổi lượng hàng hóa hao phí của mình chứa đựng trong các hàng hóa Vì vậy , giá trị là biểu hiện quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hóa Giá trị là một phạm trù lịch sử , gắn liền với nền sản xuất hàng hóa Nếu giá trị
sử dụng là thuộc tính tự nhiên thì giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa
Như vậy , hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá
trị , nhưng là sự thống nhất của hai mặt đối lập Đối với người sản xuất hàng hóa ( doanh nghiệp ) , họ tạo ra giá trị sử dụng ( cho người tiêu dùng ) , nhưng mục đích của họ không phải là giá trị sử dụng , mà là giá trị , họ quan tâm đến giá trị sử dụng là
để đạt được mục đích giá trị Ngược lại , đối với người mua , cái mà họ quan tâm là giá trị sử dụng để thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng của mình Nhưng , muốn có giá trị sử dụng thì phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó Trước khi thực hiện giá trị sử dụng
Trang 8phải thực hiện giá trị của nó Nếu không thực hiện được giá trị , sẽ không thực hiện được giá trị sử dụng
4 Lượng giá trị và các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa: Lượng giá trị của hàng hóa: chỉ về một đại lượng được đo bằng lượng lao
động tiêu hao để sản xuất ra hàng hóa đó, lượng lao động tiêu hao đó được tính bằng thời gian lao động xã hội cần thiết Lượng lao động xã hội cần thiết hay thời gian gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa, mới quyết định đại lượng giá trị của hàng hóa
Các yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của hàng hóa:
Năng suất lao động:
Là năng lực sản xuất của lao động, được đo bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc lượng thời gian lao động hao phí để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm
Năng suất lao động tăng lên có nghĩa là cũng trong một thời gian lao động nhưng khối lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên làm cho thời gian lao động cần thiết
để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa giảm xuống Do đó, khi năng suất lao động tăng lên thì giá trị của một đơn vị hàng hóa sẽ giảm xuống và ngược lại
Giá trị của hàng hóa tỷ lệ nghịch với năng suất lao động Theo C.Mac, các nhân
tố tác động đến năng suất lao động gồm những yếu tốc chủ yếu như: trình độ khéo léo của người công nhân, mức độ phát triển của khoa học, kĩ thuật vào sản xuất, trình độ
tổ chức quản lí, quy mô, hiệu suất,
VD: tại các nước như: Việt Nam, Lào, Campuchia, vẫn còn một bộ phận lớn lực
lượng lao động làm việc trong ngành nông nghiệp, vậy nên năng suất lao động chung thấp hơn Ngược lại, Singapore có mức năng suất lao động cao hơn, bởi nền kinh tế nước này chủ yếu dựa vào ngành chế tạo và các dịch vụ cao cấp như: tài chính, bảo hiểm
Cường độ lao động:
Là đại lượng chỉ mức độ hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian
Khi tất cả các yếu tố khác không đổi: cường độ lao động tăng dẫn đến mức độ hao phí lao động tăng, tổng số hàng hóa được sản xuất ra cùng 1 đơn vị thời gian tăng Đồng thời với sự tăng của tổng hao phí nên lượng hao phí lao động để sản xuất ra 1 đơn vị hành hóa không đổi Vì vậy lượng giá trị của 1 đơn vị hàng hóa không đổi
Tăng cường độ lao động làm cho lượng sản phẩm sản xuất ra tăng lên trong một đơn vị thời gian, nhưng giá trị của một đơn vị hàng hóa không đổi Tăng cường độ lao động phụ thuộc nhiều vào thể chất và tinh thần của người lao động, do đó, nó là yếu tố
Trang 9của "sức sản xuất" có giới hạn nhất định Chính vì vậy, tăng năng suất lao động có ý nghĩa tích cực hơn đối với sự phát triển kinh tế
VD: Một người lao động trong 1 ngày sản xuất được 15 sản phẩm có tổng trị giá
là 300000 đồng Khi tăng cường độ lao động lên 1,5 lần thì giá trị sản phẩm vẫn giữ nguyên là 20000 đồng Số lượng sản xuất tăng lên 1,5 lần là 22,5 sản phẩm Nên giá trị tổng sản phẩm làm ra trong 1 ngày là 4500000 đồng
Tính chất của lao động
Tính chất của lao động cũng ảnh hưởng nhất định đến lượng giá trị của hàng hóa Theo tính chất của lao động, có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp
Lao động giản đơn là lao động mà một người lao động bình thường không cần
phải trải qua đào tạo cũng có thể làm được
Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện mới có
thể làm được
Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn Lao động phức tạp thực chất là lao động giản đơn được nhân lên Trong quá trình trao đổi hàng hóa, mọi lao động phức tạp đều được quy về lao động đơn giản trung bình, và điều đó được quy đổi một cách tự phát sau lưng những hoạt động sản xuất hàng hóa, hình thành những hệ số nhất định thể hiện trên thị trường
VD: Người nông dân làm ra 50 kg thóc phải lao động trong 12 giờ và tiêu hao 100kcal Người nhạc sĩ viết dược 1 bản nhạc phải lao động trong 12 giờ 12 giờ lao động là kết tinh của người người nông dân và người nhạc sĩ đều tiêu hao 100kcal , vậy giá trị của bản nhạc và giá trị của 50kg thóc là ngang nhau Tuy nhiên giá thành của 2 sản phẩm lại khác nhau Bản nhạc bán đi được 50 triệu đồng, 50kg thóc bán đi được
700000 đồng
II GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MỘT DOANH NGHIỆP HOẠT ĐỘNG TRONG LĨNH VỰC SẢN XUẤT
1 Doanh nghiệp sản xuất mì Miliket – Colusa
Trang 10Được thành lập từ trước năm 1975 , sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng , nhãn hiệu mì ăn liều Colusa-MILIKET tiếp tục được người tiêu dùng ưu thích , với gói
mì giấy kraft và hình ảnh hai con tôm Từ sự ưa thích đó mì ăn liền đã được người
tiêu dùng thường gọi là Mì Tôm Do đó, nói đến mì tôm là nhớ đến mì có hình ảnh
hai con tôm của hãng mì Colusa – MILIKET
Với chỉ một vài sản phẩm mì ăn liền truyền thống từ thưở ban đầu, đến nay sản phẩm Colusa – MILIKET đã được phát triển đa dạng hóa bao gồm trên 60 mặt hàng thực phẩm chế biến các loại, nhằm đáp ứng tốt nhất cho nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng
Colusa – MILIKET đã cung ứng cho thị trường người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu các mặt hàng chủ lực mì ăn liền, bao gồm nhiều mẫu mã, hương vị khác nhau mang đặc trưng của người Á Đông như : Gà, Tôm Cua, Heo, Bò, Vịt, Thập cẩm, Chay nấm, Tôm chua cay…
Bên cạnh sản phẩm mì ăn liền truyền thống, sản phẩm Colusa – MILIKET ngày càng trở nên phong phú hơn với các mặt hàng thực phẩm chế biến khác như : Miến , Bún, Phở, Hủ tiếu, cháo ăn liền…, và các mặt hàng gia vị như : Nước tương, tương ớt, bột canh, nước chấm thực vật,… Đặc biệt các loại sản phẩm này được sản xuất với nhiều hương vị khác nhau, đã hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu về khẩu vị thị hiếu, tạo điều kiện phục vụ tốt hơn cho người tiêu dùng hiện tại và tiềm năng trong tương lai
Hai năm liền 2006 – 2007, thương hiệu Colusa – MILIKET nằm trong danh sách 100 Thương Hiệu Mạnh – 100 Thương hiệu dẫn đầu, đạt danh hiệu thương hiệu nổi tiếng tại Việt Nam
2 Đánh giá :
Sản phẩm cụ thể : Mì ăn liền Miliket –
Hàng hóa hữu hình
Mì ăn liền Miliket thể hiện về mặt lao
động cụ thể là người lao động cần sử nguyên
liệu chính là bột mì, tinh bột khoai mì, muối,
đường, tôm, hương tôm, Bên cạnh đó tùy
theo dinh dưỡng cụ thể mà cho thêm các phụ gia: trứng, tôm, bột ngọt, hành, tiêu,
ớt, đường, muối…