Giải quyết tình huống cụ thể về các vấn đề giao kết hợp đồng, tiền lương và tạm giữ tiền lương . 1. Lời mở đầu Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất và các giá trị tinh thần của xã hội. Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước. Lao động là hoạt động có ý thức, có mục đích của con người nhằm tạo ra một giá trị sử dụng nhất định. Vì vậy, những quy định điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực lao động cũng là bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật của bất kì quốc gia nào. Trước hết, luật lao động đảm nhiệm vai trò quan trọng chung của pháp luật, đó là sự thể chế hóa đường lối của Đảng đối với lĩnh vực lao động xã hội. Thị trường lao động phát triển khi Bộ luật Lao động ghi nhận quyền tự do việc làm và tự do tuyển dụng lao động, các bên được thỏa thuận tiền lương căn cứ vào giá trị sức lao động và tương quan cung cầu lao động của thị trường, từ đó Bộ luật Lao động là công cụ để Nhà nước quản lý và điều tiết thị trường lao động. Bộ luật Lao động điều chỉnh các lợi ích để đảm bảo hợp lý giữa lợi ích xã hội, lợi ích người lao động và người sử dụng lao động. Pháp luật lao động đảm bảo lợi ích xã hội bằng các quy định về vấn đề giải quyết việc làm, hạn chế thất nghiệp, quy định bảo hiểm xã hội bắt buộc và mở rộng các chế độ bảo hiểm xã hội; bảo vệ người lao động, nhất là nhóm lao động yếu thế như lao động tàn tật, lao động trẻ em, lao động nữ,… (Lưu Bình Nhưỡng, 2002). Trên thị trường lao động Việt Nam hiện nay, các vấn đề phổ biến nhất trong việc áp dụng Bộ luật Lao động thường phát sinh vào giai đoạn giao kết hợp đồng và các vấn đề khác liên quan đến tiền lương. Việc doanh nghiệp không nắm bắt kỹ càng về các quy định này của Bộ luật Lao động có thể dẫn tới tình trạng vi phạm và giảm uy tín của doanh nghiệp trên thị trường lao động; đồng thời, nếu người lao động không có hiểu biết cơ bản về các quy định của pháp luật, họ sẽ bỏ qua các quyền lợi của mình và phải gánh chịu các thiệt hại không đáng có. Để khắc phục hiện trạng này, Nhóm 5 tiến hành phân tích và đề ra phương hướng giải quyết tình huống cụ thể về các vấn đề giao kết hợp đồng, tiền lương và tạm giữ tiền lương dưới sự hướng dẫn của Giảng viên Đỗ Thị Mai. 2. Nội dung Đề tài thảo luận số 2: Tôi làm việc tại công ty TNHH NẠNH NÙNG ở vị trí chăm sóc khách hàng từ ngày 01072013. Trước khi vào làm, công ty có nói thời gian thử việc sẽ là 2 tháng, sau đó nếu đạt thì sẽ ký hợp đồng chính thức, công ty còn nói sẽ giữ lại 1 tháng lương đầu tiên và sẽ trả cho tôi vào 6 tháng sau kể từ ngày làm việc đầu tiên. Nhưng sau hơn 5 tháng mà công ty vẫn im lặng không hề đề cập đến vấn đề kí hợp đồng, tăng lương, hay chế độ bảo hiểm nào cho tôi cả. Ngoài ra, trong thời gian làm việc, tiền lương của tôi và các đồng nghiệp thường xuyên trễ hơn 5 ngày quy định (ngày 5 hàng tháng) 2,3 ngày. Vì công ty tôi là công ty thương mại, làm việc ở vị trí chăm sóc khách hàng, tôi kiêm luôn việc bán sản phẩm của công ty và sẽ được hưởng doanh thu theo quý. Đến nay là đã bước sang quý I năm 2014 rồi, vậy mà tiền hoa hồng quý III, quý IV 2013 công ty vẫn chưa thanh toán tiền cho nhân viên. Đến 02122013 tôi có gửi thư xin nghỉ việc qua email cho Ban Giám đốc công ty nhưng vẫn không thấy ai đả động đến, đến khi tôi hỏi trực tiếp thì họ mới đồng ý giải quyết mà cho tôi bàn giao công việc và nghỉ vào 09122013. Hiện nay, đã qua ngày nhận lương hàng tháng mà công ty không hề thanh toán những ngày lương của tháng 122013 cho tôi và cũng đến hạn công ty phải thanh toán tháng lương đầu tiên của tôi. Tôi có gọi điện cho Giám đốc để hỏi: Anh ấy cho rằng anh ấy không cần phải thanh toán cho tôi bất kỳ khoản nào hết. Vì tôi không làm việc đủ 6 tháng như giao ước miệng ban đầu nên không trả lương tháng đầu tiên cho tôi. Vấn đề giao kết hợp đồng lao động Vấn đề tạm giữ lương Vấn đề tiền lương
Trang 1Môn: PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VÀ AN SINH XÃ HỘI
ĐỀ TÀI THẢO LUẬN MÔN HỌC: PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VÀ AN
SINH XÃ HỘI
1 Lời mở đầu
Lao động là hoạt động quan trọng nhất của con người, tạo ra của cải vật chất
và các giá trị tinh thần của xã hội Lao động có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao là yếu tố quyết định sự phát triển của đất nước Lao động là hoạt động có ý thức, có mục đích của con người nhằm tạo ra một giá trị sử dụng nhất định Vì vậy, những quy định điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực lao động cũng là bộ phận quan trọng trong hệ thống pháp luật của bất kì quốc gia nào Trước hết, luật lao động đảm nhiệm vai trò quan trọng chung của pháp luật, đó là sự thể chế hóa đường lối của Đảng đối với lĩnh vực lao động xã hội Thị trường lao động phát triển khi Bộ luật Lao động ghi nhận quyền tự do việc làm và tự do tuyển dụng lao động, các bên được thỏa thuận tiền lương căn cứ vào giá trị sức lao động và tương quan cung cầu lao động của thị trường, từ đó Bộ luật Lao động là công cụ để Nhà nước quản lý và điều tiết thị trường lao động Bộ luật Lao động điều chỉnh các lợi ích để đảm bảo hợp lý giữa lợi ích xã hội, lợi ích người lao động và người sử dụng lao động Pháp luật lao động đảm bảo lợi ích xã hội bằng các quy định về vấn đề giải quyết việc làm, hạn chế thất nghiệp, quy định bảo hiểm xã hội bắt buộc và mở rộng các chế độ bảo hiểm xã hội; bảo vệ người lao động, nhất là nhóm lao động yếu thế như lao động tàn tật, lao động trẻ em, lao động nữ,… (Lưu Bình Nhưỡng, 2002)
Trang 2Trên thị trường lao động Việt Nam hiện nay, các vấn đề phổ biến nhất trong việc áp dụng Bộ luật Lao động thường phát sinh vào giai đoạn giao kết hợp đồng
và các vấn đề khác liên quan đến tiền lương Việc doanh nghiệp không nắm bắt kỹ càng về các quy định này của Bộ luật Lao động có thể dẫn tới tình trạng vi phạm và giảm uy tín của doanh nghiệp trên thị trường lao động; đồng thời, nếu người lao động không có hiểu biết cơ bản về các quy định của pháp luật, họ sẽ bỏ qua các quyền lợi của mình và phải gánh chịu các thiệt hại không đáng có Để khắc phục hiện trạng này, Nhóm 5 tiến hành phân tích và đề ra phương hướng giải quyết tình huống cụ thể về các vấn đề giao kết hợp đồng, tiền lương và tạm giữ tiền lương dưới sự hướng dẫn của Giảng viên Đỗ Thị Mai
2 Nội dung
Đề tài thảo luận số 2: Tôi làm việc tại công ty TNHH NẠNH NÙNG ở vị trí
chăm sóc khách hàng từ ngày 01/07/2013 Trước khi vào làm, công ty có nói thời gian thử việc sẽ là 2 tháng, sau đó nếu đạt thì sẽ ký hợp đồng chính thức, công ty còn nói sẽ giữ lại 1 tháng lương đầu tiên và sẽ trả cho tôi vào 6 tháng sau kể từ ngày làm việc đầu tiên Nhưng sau hơn 5 tháng mà công ty vẫn im lặng không hề
đề cập đến vấn đề kí hợp đồng, tăng lương, hay chế độ bảo hiểm nào cho tôi cả Ngoài ra, trong thời gian làm việc, tiền lương của tôi và các đồng nghiệp thường xuyên trễ hơn 5 ngày quy định (ngày 5 hàng tháng) 2,3 ngày Vì công ty tôi là công
ty thương mại, làm việc ở vị trí chăm sóc khách hàng, tôi kiêm luôn việc bán sản phẩm của công ty và sẽ được hưởng doanh thu theo quý Đến nay là đã bước sang quý I năm 2014 rồi, vậy mà tiền hoa hồng quý III, quý IV 2013 công ty vẫn chưa thanh toán tiền cho nhân viên
Đến 02/12/2013 tôi có gửi thư xin nghỉ việc qua email cho Ban Giám đốc công ty nhưng vẫn không thấy ai đả động đến, đến khi tôi hỏi trực tiếp thì họ mới đồng ý giải quyết mà cho tôi bàn giao công việc và nghỉ vào 09/12/2013 Hiện nay,
Trang 3đã qua ngày nhận lương hàng tháng mà công ty không hề thanh toán những ngày lương của tháng 12/2013 cho tôi và cũng đến hạn công ty phải thanh toán tháng lương đầu tiên của tôi Tôi có gọi điện cho Giám đốc để hỏi: Anh ấy cho rằng anh
ấy không cần phải thanh toán cho tôi bất kỳ khoản nào hết Vì tôi không làm việc
đủ 6 tháng như giao ước miệng ban đầu nên không trả lương tháng đầu tiên cho tôi
- Vấn đề giao kết hợp đồng lao động
- Vấn đề tạm giữ lương
- Vấn đề tiền lương
CÂU HỎI: Các Bạn hãy bình luận tình huống trên.
1, Vấn đề giao kết hợp đồng lao động:
Về vấn đề giao kết hợp đồng lao động trong tình huống này, ta có thể căn cứ
theo Điều 16 ( Hình thức hợp đồng lao động) với các điều khoản như :
1 Hợp đồng lao động phải được giao kết bằng văn bản và được làm thành 02 bản, người lao động giữ 01 bản, người sử dụng lao động giữ 01 bản, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
2 Đối với công việc tạm thời có thời hạn dưới 03 tháng, các bên có thể giao kết hợp đồng lao động bằng lời nói.
Áp dụng vào trường hợp này, có thể nói bên công ty đã vi phạm do chỉ giao ước miệng mà không có bất cứ hợp đồng nào với người lao động
Ngoài ra, căn cứ vào Khoản 2 điều 20 ( Những hành vi người sử dụng lao
động không được làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động ): theo đó Công
ty không được phép “ Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm
bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp đồng lao động.”
Trang 4Như vậy, có thể kết luận rằng bên công ty- người sử dụng lao động đã vi phạm pháp luật do có yêu cầu giữ 1 tháng lương của người lao động và hoàn trả sau 6 tháng kể từ ngày làm việc đầu tiên
Sau 2 tháng người lao động thử việc xong, công ty không đề cập gì đến vấn đề
có ký hợp đồng chính thức với người lao động hay không và người lao động vẫn tiếp tục làm việc cho công ty, như vậy có thể coi rằng công ty đã đánh giá 2 tháng thử việc của người lao động là đạt yêu cầu và chấp nhận cho người lao động tiếp
tục làm việc tại doanh nghiệp Vậy nên công ty đã tiếp tục vi phạm Khoản 1 Điều
29 “Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp
đồng lao động với người lao động “
Tại Khoản 2 Điều 27 Thời gian thử việc có ghi: “Thời gian thử việc căn cứ
vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 01 lần đối với một công việc và bảo đảm các điều kiện sau đây: 2 Không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghè cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ.” Thực tế,
người lao động làm việc ở vị trí chăm sóc khách hàng và kiêm luôn công việc bán sản phẩm của công ty nên người sử dụng lao động đã vi phạm điều này do kéo dài thời gian thử việc của người lao động lên đến 2 tháng ( quá 30 ngày) và hơn nữa còn để người lao động thử việc 01 lần đối với cả 2 vị trí trong công ty ( chăm sóc khách hàng, bán sản phẩm)
2, Vấn đề tạm giữ lương :
Việc tạm giữ 1 tháng lương của người lao động của Công ty đã vi phạm quy
định tại khoản 2 Điều 20 về những hành vi người sử dụng lao động không được
làm khi giao kết, thực hiện hợp đồng lao động là: “Yêu cầu người lao động phải thực hiện biện pháp bảo đảm bằng tiền hoặc tài sản khác cho việc thực hiện hợp
Trang 5đồng lao động” Như vậy, người lao động có quyền đề nghị Công ty hoàn trả lại 1
tháng lương đã tạm giữ của anh ấy
Đồng thời, theo Nghị định 05/2015/NĐ-CP
Ngoài ra, căn cứ Theo Điều 24: Nguyên tắc trả lương quy định các điều
khoản:
1 Người lao động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng thời hạn
2 Trường hợp đặc biệt do thiên tai, hỏa hoạn hoặc lý do bất khả kháng khác
mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng thời hạn theo thỏa thuận trong hợp đồng lao động thì không được trả chậm quá 01 tháng Việc người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động do trả lương chậm được quy định như sau:
a, Nếu thời gian trả lương chậm dưới 15 ngày thì không phải trả thêm
b, Nếu thời gian trả lương chậm từ 15 ngày trở lên thì phải trả thêm một khoản tiền ít nhất bằng số tiền trả chậm nhân với lãi suất trần huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương Khi Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không quy định trần lãi suất thì được tính theo lãi suất huy động tiền gửi có kỳ hạn 01 tháng của ngân hàng thương mại, nơi doanh nghiệp, cơ quan mở tài khoản giao dịch thông báo tại thời điểm trả lương
Như vậy, theo quy định nêu trên, nếu không có lí do bất khả kháng, đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng không thể trả lương đúng thời hạn thì người sử dụng lao động không được chậm trả, giữ lương của người lao động
Công ty không được phép thực hiện hành vi giữ lương, chậm trả lương hay kỷ luật bằng hình thức phạt tiền lương…
Trang 6Công ty chậm trả lương cho người lao động còn có thể bị xử phạt hành chính
theo Điều 13 Nghị định 95/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung tại Nghị định
88/2015/NĐ-CP).
Cụ thể, khoản 3 Điều 13 Nghị định này quy định, công ty trả lương không đúng
hạn sẽ bị phạt tiền từ 05 - 50 triệu đồng tùy vào mức độ vi phạm
Ngoài bị phạt tiền, doanh nghiệp còn bị buộc trả đủ tiền lương cộng với khoản lãi của số tiền lương chậm trả cho người lao động tính theo mức lãi suất tiền gửi không kỳ hạn cao nhất của các ngân hàng thương mại Nhà nước công bố tại thời điểm xử phạt đối với hành vi vi phạm quy định
3, Vấn đề tiền lương :
Về vấn đề tiền lương trong thời gian thử việc Căn cứ theo Điều 28 Bộ luật lao động năm 2012 có quy định như sau “Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do hai bên thoả thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó”
Do đó, khi công ty không trả lương thử việc là không đúng theo quy định của pháp luật
Kết thúc thời gian thử việc thì căn cứ theo khoản 1 Điều 29 Bộ luật lao động có
quy định như sau: “Khi việc làm thử đạt yêu cầu thì người sử dụng lao động phải giao kết hợp đồng lao động với người lao động.” Theo đó, căn cứ vào thỏa thuận
của NLĐ với công ty về việc hết thời gian thử việc thì ký hợp đồng chính thức thì NLĐ cần dùng thông tin này làm cơ sở xác định trách nhiệm thực hiện hợp đồng lao động được xác lập đương nhiên sau thời gian thử việc Như vậy, dù NLĐ chưa
ký hợp đồng lao động nhưng bạn đã được coi là nhân viên chính thức của công ty,
và được hưởng lương chính thức như thỏa thuận
Trang 7Mặc dù NLĐ làm việc không ký hợp đồng lao động, tuy nhiên quan hệ lao động
đã tồn tại trên thực tế
Do đó, việc bạn làm đơn xin nghỉ việc tức là bạn đã chấm dứt quan hệ lao động trên
Căn cứ Khoản 2 Điều 47 Bộ luật lao động 2012 về trách nhiệm của người sử
dụng lao động khi chấm dứt HĐLĐ: " Trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản
có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên; trường hợp đặc biệt, có thể kéo dài nhưng không được quá 30 ngày".
Ngoài ra, theo Điều 96 về Nguyên tắc trả lương.- BLLĐ 2012 “ Người lao
động được trả lương trực tiếp, đầy đủ và đúng hạn Trong trường hợp đặc biệt không thể trả lương đúng thời hạn thì không thể chậm quá 01 tháng và người sử dụng lao động phải trả thêm cho người lao động một khỏan tiền ít nhất bằng lãi suất huy động tiền gửi do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm trả lương”
Như vậy, về nguyên tắc khi nghỉ việc thì trong thời hạn 7 ngày (tối đa là 30 ngày) thì công ty phải có trách nhiệm thanh toán đầy đủ tiền lương cho nhân
viên.Trong trường hợp này, công ty không trả tiền lương của những ngày làm việc trong tháng 12 và tiều hoa đồng là không đúng quy định
Theo như thỏa thuận ban đầu là “ giữ lại tháng lương đầu tiên và sẽ trả cho nhân viên sau 6 tháng thử việc kể từ ngày làm việc đầu tiên’’ Trong trường hợp này bạn không được nhận tháng lương đầu tiên vì bạn chưa làm đủ 6 tháng kể từ ngày làm việc chính thức đầu tiên( 01/07/2013 đến 02/12/2013 thời gian bạn làm việc là 5 tháng)
Trang 83 Kết luận
Báo cáo thuyết trình đã trình bày hướng giải quyết của Nhóm 5 đối với đề tài về giao kết hợp đồng, tiền lương và tạm giữ tiền lương Cụ thể với vấn đề giao kết hợp đồng lao động, công ty đã vi phạm Điều 16, Khoản 2 Điều 20, Khoản 2 Điều 27 và Khoản 1 Điều 29 ; với vấn đề tạm giữ lương, công ty đã vi phạm Khoản 2 Điều 20
và Điều 24 ; với vấn đề tiền lương, công ty đã vi phạm Khoản 2 Điều 47 và Điều
96 trong Bộ Luật lao động Có thể nói, do người lao động không trang bị kiến thức, thiếu hiểu biết về pháp luật nên đã dẫn đến việc đánh mất quyền lợi của bản thân, gây ra những thiệt hại không đáng có trong quá trình lao động
Qua việc phân tích đề tài được giao, nhóm 5 đã biết áp dụng Bộ Luật lao động
để xử lí tình huống cũng như trau dồi cho bản thân những kiến thức cần thiết, quan trọng Tuy vậy, do hạn chế về thời gian và khả năng phân tích tình huống, áp dụng kiến thức có hạn nên bài thảo luận không tránh khỏi những khiếm khuyết, kính mong được sự đóng góp ý kiến của cô giáo và các bạn để bài thảo luận của nhóm 5 được hoàn thiện hơn
4 Danh mục tài liệu tham khảo
1 Lưu Bình Nhưỡng (2002), Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Hà Nội
2 Quốc hội (2012), Bộ Luật Lao động số 10/2012/QH13 ngày 18/06/2012
Trang 9Trường đại học Thương Mại
Môn: Pháp luật lao động và an sinh xã
hội
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM 5
(Lần 1)
I Thành viên tham gia
1 Giáp Thị Quỳnh Mai
2 Hoàng Thị Mai
3 Hoàng Thị Quỳnh Mai
4 Nguyễn Thị Mai
5 Phó Thị Kim Mai
6 Đặng Thị Ngân
7 Trần Thị Ngân
8 Quách Thị Cẩm Ngọc (nhóm trưởng)
II Mục đích cuộc họp
Gặp mặt các thành viên trong nhóm và phân chia các công việc chung ban đầu
III Nội dung công việc
1 Thời gian: 21/10/2019
2 Địa điểm: phòng học G101
3 Nhiệm vụ chung của cả nhóm
Trang 10- Lập nhóm chat trên Facebook.
- Thảo luận hướng giải quyết chung của cả nhóm.
4 Nhiệm vụ từng thành viên
Các thành viên đều tham gia vào nhóm chat của nhóm Các bạn đều sẽ thực hiện công việc đã được phân công
IV Đánh giá chung
Tất cả các thành viên đều tham gia buổi họp và đóng góp ý kiến sôi nổi
Nhóm trưởng
(ký tên)
Trang 11Trường đại học Thương Mại
Môn: Pháp luật lao động và an sinh xã
hội
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM 5
(Lần 2)
V Thành viên tham gia
1 Giáp Thị Quỳnh Mai
2 Hoàng Thị Mai
3 Hoàng Thị Quỳnh Mai
4 Nguyễn Thị Mai
5 Phó Thị Kim Mai
6 Đặng Thị Ngân
7 Quách Thị Cẩm Ngọc (nhóm trưởng)
VI Mục đích cuộc họp
Phân công công việc cụ thể cho các thành viên trong nhóm
VII Nội dung công việc
1 Thời gian: 28/10/2019
2 Địa điểm: phòng học G101
Trang 123 Nhiệm vụ từng thành viên
- Giáp Thị Quỳnh Mai: xây dựng kịch bản
- Hoàng Thị Mai: thuyết trình
- Hoàng Thị Quỳnh Mai: nghiên cứu vấn đề giao kết hợp đồng lao động, tổng hợp word
- Nguyễn Thị Mai: nghiên cứu vấn đề tạm giữ tiền lương, quay và chỉnh sửa video
- Phó Thị Kim Mai: nghiên cứu vấn đề tiền lương, làm powerpoint
- Đặng Thị Ngân: nghiên cứu vấn đề tiền lương
- Trần Thị Ngân: nghiên cứu vấn đề tạm giữ lương
- Quách Thị Cẩm Ngọc: nghiên cứu vấn đề giao kết hợp đồng lao động
I Đánh giá chung
Các thành viên đều tham gia buổi họp đóng góp ý kiến sôi nổi Có thành viên vắng mặt trong buổi họp
Nhóm trưởng
(ký tên)
Trang 13Trường đại học Thương Mại
Môn: Pháp luật lao động và an sinh xã
hội
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
BIÊN BẢN HỌP NHÓM 5
(Lần 3)
II Thành viên tham gia
1 Hoàng Thị Mai
2 Hoàng Thị Quỳnh Mai
3 Nguyễn Thị Mai
4 Phó Thị Kim Mai
5 Đặng Thị Ngân
6 Trần Thị Ngân
7 Quách Thị Cẩm Ngọc (nhóm trưởng)
III Mục đích cuộc họp
Tổng hợp bài cá nhân, phân vai và thực hiện quay video
IV Nội dung công việc
1 Thời gian: 23/10/2019