Đây là tài liệu về tiểu luận, bài thu hoạch môn tâm lý học dạy học Đại học dành cho sinh viên đại học, học viên nghiên cứu về tâm lý học dạy học đại học. Tiểu luận nghiên cứu đầy đủ, chi tiết cụ thể về môn học tâm lý dạy học đại học.
Trang 1MỞ ĐẦU
Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã từng nói rằng: “Làm việc gì cũng phải có cái tâm và yêu nghề thì chúng ta mới thành công được” Lời dạy của Bác luôn là phương hướng hành động, là kim chỉ nam để người giảng viên hoàn thành tốt công việc của mình Giảng viên là một trong những nhân tố quan trọng quyết định chất lượng giáo dục -đào tạo, chất lượng đội ngũ giảng viên được cấu thành bởi các yếu tố: Trình độ kiến thức, năng lực sư phạm, kinh nghiệm thực tiễn, và phẩm chất đạo đức, phương pháp dạy học Trong đó năng lực sư phạm và phương pháp dạy học là những yếu tố rất quan trọng Giảng viên đại học là những người đã chạm vào cuộc đời những học trò của mình bằng nghệ thuật dạy học và nghệ thuật thắp lên, nuôi dưỡng những ngọn lửa tìm tòi, sáng tạo, ý chí vươn lên trong tâm hồn lớp lớp học trò
Công việc giáo dục và đào tạo con người là một hoạt động rất đặc thù, vừa mang tính khoa học, vừa mang tính sáng tạo và nghệ thuật Đặc trưng nghề nghiệp tạo nên những khó khăn nhất định đối với giáo viên và khiến cho nghề dạy học có những yêu cầu đặc biệt đối với người làm nghề Giáo viên không chỉ là người am hiểu về khoa học giảng dạy mà còn là người nghệ sĩ Vì vậy, công cụ quan trọng của nghề dạy học là toàn bộ nhân cách ở người giáo viên K.D.Usin-xki - nhà sư phạm lỗi lạc người Nga khẳng định: “Nhân cách của người thầy là sức mạnh có ảnh hưởng to lớn đối với học sinh, sức mạnh đó không thể thay thế bằng bất kỳ cuốn sách giáo khoa nào, bất kỳ câu chuyện châm ngôn đạo đức, bất kỳ một hệ thống khen thưởng hay trách phạt nào khác”
Nhân cách không được sinh ra mà được hình thành, nó là cấu tạo tâm lý phức tạp và phong phú Sự hình thành và phát triển nhân cách là một quá trình tu dưỡng văn hóa và rèn luyện tay nghề trong thực tiễn sư phạm, mà hiệu quả trước hết của nghề
Trang 2dạy học mang lại là những giá trị tinh thần lớn lao đối với cả người dạy và người học
NỘI DUNG
1 Những vấn đề chung về nhân cách
1.1 Khái niệm nhân cách
Nhân cách là một khái niệm dùng để chỉ con người Hiện nay có rất nhiều định nghĩa khác nhau về nhân cách Cách hiểu đơn giản nhất, nhân cách là thuộc tính tâm lý; là tổ hợp những thuộc tính tâm lý của cá nhân, biểu hiện ở bản sắc và giá trị xã hội của cá nhân ấy:
Bản sắc: cái chung (kinh nghiệm xã hội) chuyển thành cái riêng, cái đơn
nhất (kinh nghiệm của từng người)
Giá trị xã hội: những thuộc tính đó thể hiện ở những việc làm, những cách
ứng xử, hành vi của người đó được xã hội đánh giá
1.2 Đặc điểm của nhân cách
- Tính ổn định của nhân cách: Các phẩm chất, đặc điểm tâm lý của nhân
cách tương đối khó hình thành và khi đã hình thành thì khó mất đi vì nó
có tính tương đối ổn định, bền vững
- Tính thống nhất của nhân cách: Nhân cách là một chỉnh thể thống nhất
của tất cả mọi thuộc tính, đặc điểm, phẩm chất tâm lý, giữa phẩm chất và năng lực, giữa đức và tài, giữa ba cấp độ xem xét giá trị xã hội của nhân cách (cấp độ bên trong, cấp độ liên nhân cách, cấp độ siêu nhân cách)
- Tính tích cực của nhân cách: Nhân cách là chủ thể của hoạt động và
giao tiếp, là sản phẩm của xã hội
- Tính giao lưu của nhân cách: Nhân cách chỉ có thể hình thành, phát
triển, tồn tại và thể hiện trong sự giao lưu với những nhân cách khác
1.3 Cấu trúc tâm lý của nhân cách
Trang 3Có nhiều cách quan niệm khác nhau về cấu trúc nhân cách, nhưng tựu chung lại cấu trúc của nhân cách gồm hai mặt thống nhất là tài và đức:
+ Phẩm chất (đức):
Phẩm chất xã hội (đạo đức - chính trị): Thế giới quan, lý tưởng, lập trường, niềm tin…
Phẩm chất cá nhân (đạo đức, tư cách): Các nết, các thói, các “thú” (ham muốn)
Phẩm chất ý chí: Tính mục đích, tính độc lập, tính tự chủ, tính quả quyết, tính kiên trì…
Cung cách ứng xử: Tác phong, lễ tiết, tính khí
+ Năng lực (tài):
Năng lực xã hội hoá: Khả năng thích ứng, hoà nhập, mềm dẻo, cơ động, linh hoạt trong cuộc sống…
Năng lực chủ thể hoá: Khả năng thể hiện tính độc đáo, đặc sắc, thể hiện cái riêng của cá nhân
Năng lực hành động: Khả năng hành động có mục đích, chủ động, tích cực,
có hiệu quả
Năng lực giao tiếp: Khả năng thiết lập, duy trì mối quan hệ với người khác
2 Các phẩm chất nhân cách của người giảng viên
2.1 Thế giới quan khoa học
Trong phẩm chất nhân cách người giảng viên cần phải có thế giới quan khoa học Thế giới quan vừa là hiểu biết, quan điểm vừa là sự thể nghiệm, vừa là tình cảm, là yếu tố quan trọng trong cấu trúc nhân cách, quyết định niềm tin chính trị và hành động của con người Thế giới quan của người giảng viên là thế giới quan Mác Lênin, bao hàm những quan điểm duy vật biện chứng về các quy luật phát triển của thế giới (tự nhiên, xã hội và tư duy) Nó được hình thành dưới nhiều ảnh hưởng
Trang 4khác nhau Trước hết là học vấn của người giảng viên, là việc nghiên cứu nội dung giảng dạy, là ảnh hưởng của toàn bộ thực tế đất nước, là do việc nghiên cứu Triết học…Thế giới quan của người giảng viên chi phối nhiều mặt hoạt động cũng như thái độ của họ đối với các mặt hoạt động đó như việc lựa chọn nội dung, phương pháp giảng dạy và giáo dục Thế giới quan là kim chỉ nam giúp người giảng viên đi tiên phong trong việc xây dựng niềm tin cho sinh viên
2.2 Lý tưởng đào tạo sinh viên
Đây được coi là hạt nhân trong cấu trúc nhân cách người giảng viên Không chỉ định hướng, dẫn dắt người giảng viên đi lên phía trước, thấy hết giá trị lao động của bản thân mà lý tưởng còn có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành nhân cách sinh viên
Biểu hiện của lý tưởng đào tạo sinh viên là niềm say mê nghề nghiệp, lương tâm nghề nghiệp, hy sinh cho công việc, tác phong làm việc cần cù, trách nhiệm, lối sống giản dị và thân tình…Vì thế, người giảng viên có thể vượt qua được những khó khăn về tinh thần, vật chất, hoàn thành nhiệm vụ đào tạo thế hệ sinh viên Đồng thời, sẽ để lại những dấu ấn đậm nét trong sinh viên, có tác dụng hướng dẫn, điều khiển quá trình hình thành và phát triển nhân cách của sinh viên
Lý tưởng đào tạo sinh viên không phải là có sẵn, không thể truyền từ người này sang người khác bằng cách áp đặt mà được hình thành và phát triển thông qua một quá trình hoạt động tích cực trong công tác giáo dục Chính trong quá trình đó, nhận thức về nghề nghiệp ngày càng được nâng cao, tình cảm nghề nghiệp ngày càng tỏ rõ quyết tâm cao Việc giáo dục lý tưởng nghề nghiệp cho sinh viên trong các trường sư phạm là cần thiết A.X Macarenco đánh giá nếu không giáo dục lý tưởng trong các trường sư phạm có nghĩa là không giáo dục gì cả
2.3 Lòng yêu nghề
Trang 5Lòng yêu người và yêu nghề gắn bó chặt chẽ với nhau, lồng vào nhau Càng yêu người bao nhiêu càng yêu nghề bấy nhiêu, có yêu người mới có lòng yêu nghề Bởi yêu người tạo động lực mạnh mẽ để suốt đời phấn đấu vì lý tưởng nghề nghiệp
Lòng yêu nghề của người giảng viên thể hiện ở việc luôn nghĩ đến sự cống hiến cho sự nghiệp đào tạo sinh viên Giảng viên luôn làm việc với tinh thần trách nhiệm cao, luôn cải tiến nội dung, phương pháp, không tự thỏa mãn với trình độ và tay nghề của mình, có niềm vui khi được giao tiếp với sinh viên Chỉ có người giảng viên nào hiến cả cuộc đời mình cho sự nghiệp đào tạo thế hệ sinh viên, lấy việc hy sinh phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ đào tạo làm hạnh phúc cao cả của cuộc đời mình thì mới có thể thực hiện chức năng “người kỹ sư tâm hồn” một cách xứng đáng
2.4 Một số phẩm chất đạo đức và phẩm chất ý chí của người giảng viên
Trong hoạt động giảng dạy và giáo dục, mối quan hệ thầy trò có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hoạt động Người giảng viên giáo dục sinh viên không chỉ bằng những hành động trực tiếp của mình mà còn bằng tấm gương của cá nhân Một mặt người giảng viên phải lấy những quy luật khách quan làm chuẩn mực cho mọi tác động sư phạm Mặt khác, phải có những phẩm chất đạo đức và phẩm chất
ý chí cần thiết Đó là: Tinh thần nghĩa vụ, thái độ nhân đạo, công bằng, tính nguyên tắc, kiên nhẫn…Những phẩm chất đạo đức là nhân tố để tạo ra sự công bằng theo quan điểm trong các mối quan hệ thầy –trò Những phẩm chất ý chí là sức mạnh để làm cho những phẩm chất và năng lực của người giảng viên thành hiện thực và tác động sâu sắc đến sinh viên
3 Năng lực của người giảng viên
Trang 6Năng lực là tổ hợp những thuộc tính tâm lý cơ bản của cá nhân đảm bảo cho việc thực hiện có kết quả một hay một số lĩnh vực hoạt động nhất định Năng lực
sư phạm là năng lực chuyên biệt, năng lực sư phạm của người giảng viên được thể hiện trong hoạt động giảng dạy và giáo dục Căn cứ vào hai dạng hoạt động cơ bản này, người ta đã phân chia thành các nhóm năng lực như sau: Nhóm năng lực dạy học, nhóm năng lực giáo dục, nhóm năng lực tổ chức các hoạt động sư phạm
3.1 Nhóm năng lực dạy học
- Năng lực hiểu sinh viên
Dạy học là hoạt động chung của giảng viên và sinh viên, trong đó giảng viên đóng vai trò là người tổ chức, điều khiển hoạt động học tập của sinh viên nhằm giúp họ chủ động tích cực lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Bởi vậy, hiệu quả của quá trình dạy học phụ thuộc vào sự điều khiển, tổ chức của người giảng viên Người giảng viên chỉ có thể làm tốt vai trò này khi hiểu sinh viên trong quá trình dạy học Đây là năng lực thâm nhập vào thế giới bên trong của sinh viên, sự hiểu biết tường tận về nhân cách của họ, năng lực quan sát tinh tế những biểu hiện tâm lý của sinh viên trong quá trình dạy học và giáo dục
Năng lực hiểu sinh viên được thể hiện trong tất cả các giai đoạn của quá trình dạy học: Chuẩn bị bài giảng, trong quá trình giảng dạy
Khi chuẩn bị bài giảng, người giảng viên phải biết tính đến trình độ văn hóa, trình độ phát triển của sinh viên Do đó, khi chế biến tài liệu, người giảng viên biết đặt mình vào vị trí sinh viên, suy nghĩ về đặc điểm nội dung, xác định khối lượng, mức độ khó khăn và hình thức trình bày sao cho phù hợp và thuận lợi nhất đối với sinh viên
Trong quá trình giảng dạy, bằng những quan sát tinh tế, người giảng viên có thể xây dựng những biểu tượng chính xác về diễn biến của việc lĩnh hội bài giảng
Trang 7ở sinh viên: dự đoán mức độ hiểu bài và có khi còn phát hiện cả mức độ sai lệch của chúng
Năng lực hiểu sinh viên là kết quả của quá trình lao động đầy trách nhiệm, thương yêu và sâu sát sinh viên, nắm vững môn mình dạy, am hiểu về Tâm lý học
sư phạm, óc quan sát, khả năng phân tích, đánh giá…
- Tri thức và tầm hiểu biết của người giảng viên
Đây là một trong những năng lực trụ cột của nghề dạy học Phương tiện người giảng viên sử dụng trong quá trình giảng dạy và giáo dục sinh viên đó là tri thức, quan điểm, kỹ năng, thái độ…mà loài người đã khám phá ra, đặc biệt là tri thức thuộc lĩnh vực giảng dạy Giảng viên phải nắm vững nội dung, bản chất và con đường mà loài người đã đi qua Có như thế, người giảng viên mới có thể tổ chức cho sinh viên tái tạo và lấy lại những cái cần cho sự phát triển tâm lý, nhân cách sinh viên
Sự tiến bộ và phát triển nhanh của khoa học công nghệ đã đề ra những yêu cầu ngày càng cao đối với trình độ văn hóa chung của sinh viên Đối với người giảng viên, tri thức và tầm hiểu biết có tác dụng mạnh mẽ trong việc tạo ra uy tín cho bản thân, được thể hiện như sau:
+ Nắm vững và hiểu biết rộng môn mình phụ trách
+ Thường xuyên theo dõi những xu hướng, những phát minh khoa học thuộc môn mình phụ trách, biết tiến hành nghiên cứu khoa học và có những hứng thú lớn lao đối với công việc đó
+ Có năng lực tự học, tự bồi dưỡng để bổ túc và hoàn thiện tri thức của bản thân, tự nguyện tiếp thu mọi tinh hoa của khoa học, của nền văn hóa nhân loại
Để có được năng lực này, đòi hỏi người giảng viên phải đáp ứng những điều kiện cơ bản sau:
Trang 8+ Có nhu cầu về sự mở rộng tri thức và tầm hiểu biết (nguồn gốc của tính tích cực và động lực của việc tự học)
+ Có những kỹ năng để làm thỏa mãn nhu cầu đó (phương pháp tự học)
- Năng lực chế biến tài liệu học tập của người giảng viên
Chế biến tài liệu học tập là sự gia công sư phạm của người giảng viên đối với tài liệu học tập nhằm làm phù hợp tối đa với sinh viên (đặc điểm lứa tuổi, đặc điểm cá nhân, trình độ, kinh nghiệm…) và đảm bảo logic sư phạm
Để có thể thực hiện được công việc này, người giảng viên cần phải tiến hành các hoạt động sau:
+ Đánh giá đúng đắn tài liệu: Đó là việc xác lập được mối quan hệ giữa yêu cầu kiến thức của chương trình với trình độ nhận thức của sinh viên Nghĩa là phải đảm bảo được yêu cầu chung về kiến thức của chương trình vừa phải làm cho tài liệu đó vừa sức tiếp thu với sinh viên
+ Chế biến, gia công tài liệu: Nhằm làm cho nó vừa đảm bảo logic của sự phát triển khoa học, vừa phù hợp với logic sư phạm, lại thích hợp với trình độ của sinh viên
+ Có khả năng phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa kiến thức: Khi trình bày một tài liệu, người giảng viên phải phân tích để thấy cái gì là bản chất, là cơ bản, mối quan hệ giữa chúng với những cái chi tiết, cái thứ yếu, suy nghĩ cách trình bày, dẫn dắt để làm cho nội dung được nổi bật, thành đối tượng tiếp thu của sinh viên
+ Có óc sáng tạo: Óc sáng tạo của người giảng viên thể hiện ở mấy điểm sau: a) Trình bày tài liệu theo suy nghĩ và lập luận của mình, cung cấp cho sinh viên những kiến thức tinh và chính xác, liên hệ được nhiều mặt giữa kiến thức cũ và kiến thức mới, kiến thức giữa các bộ môn với nhau, liên hệ, vận dụng vào thực tiễn cuộc sống; b) Tìm ra những phương pháp mới, hiệu nghiệm để bài giảng đầy sức lôi cuốn
Trang 9và giàu cảm xúc tích cực; c) Nhạy cảm với cái mới và giàu cảm hứng sáng tạo cũng
là yếu tố góp phần thúc đẩy năng lực chế biến tài liệu ở người giảng viên
- Nắm vững kỹ thuật dạy học
Kỹ thuật dạy học là kỹ thuật tổ chức và điều khiển hoạt động nhận thức của sinh viên qua bài giảng và đạt đến mức năng lực
Biểu hiện của việc nắm vững kỹ thuật dạy học ở người giảng viên:
+ Tạo cho sinh viên ở vị trí người phát minh
+ Truyền đạt tài liệu rõ ràng, dễ hiểu và làm cho nó trở nên vừa sức với sinh viên
+ Gây hứng thú và kích thích sinh viên suy nghĩ tích cực, độc lập
+ Tạo ra tâm thế có lợi cho sự lĩnh hội, khắc phục sự suy giảm hoạt động trong giờ học hoặc thái độ thờ ơ, uể oải
Việc hình thành một năng lực như vậy là kết quả của một quá trình học tập nghiêm túc và rèn luyện tay nghề công phu của người giảng viên
- Năng lực ngôn ngữ
Năng lực ngôn ngữ là khả năng biểu đạt rõ ràng và mạch lạc ý nghĩ, tình cảm của mình bằng lời nói cũng như nét mặt và điệu bộ Đây là một trong những năng lực quan trọng của người giảng viên, là công cụ sống còn, đảm bảo cho người giảng viên thực hiện chức năng dạy học và giáo dục của mình Bằng ngôn ngữ, giảng viên truyền đạt thông tin đến sinh viên, thúc đẩy sự chú ý và suy nghĩ của sinh viên vào bài giảng, điều khiển và điều chỉnh hoạt động nhận thức của sinh viên Năng lực ngôn ngữ của người giảng viên thường được biểu hiện ở cả nội dung và hình thức của nó, do đó yêu cầu phải có độ sâu sắc về nội dung và giản dị
về hình thức
+ Về nội dung: a) Ngôn ngữ phải chứa đựng mật độ thông tin lớn, diễn tả trình bày phải chính xác, cô đọng; b) Lời nói phải phản ánh được tính kế tục và
Trang 10tính luận chứng để đảm bảo thông tin liên tục, logic; c) Nội dung và hình thức ngôn ngữ phải thích hợp với các nhiệm vụ nhận thức khác nhau; d) Nhân cách của người giảng viên là hậu thuẫn vững chắc và duy nhất cho lời nói của mình
+ Về hình thức: a) Giản dị, sinh động, giàu hình ảnh, có ngữ điệu, sáng sủa, biểu cảm với cách phát âm mạch lạc, không có sai sót về mặt tu từ học, về ngữ pháp, ngữ âm; b) Tránh những câu dài, cấu trúc từ phức tạp, những thuật ngữ và cách trình bày khó hiểu c) Nhịp điệu ngôn ngữ của người giảng viên không được đều đều, đơn điệu, cũng không được quá gấp Ngôn ngữ quá to, quá mạnh hoặc ngược lại quá yếu cũng gây ảnh hưởng tiêu cực cho sinh viên Nhịp độ tối ưu là trung bình và hoạt bát
3.2 Nhóm năng lực giáo dục
- Năng lực vạch dự án phát triển nhân cách sinh viên
Mục đích giáo dục là hình thành và phát triển nhân cách, một tổ hợp những phẩm chất và năng lực của sinh viên theo một cấu trúc nhất định Vì vậy, mọi hoạt động sư phạm đều phải nhằm hình thành nên những chất liệu đó tạo nên nhân cách sinh viên Để làm được điều này, người giảng viên cần dựa vào mục đích đào tạo
để xây dựng những nội dung và cách thức giáo dục cho từng sinh viên những phẩm chất nhân cách và hướng hoạt động của mình để đạt tới hình mẫu đó
Một số biểu hiện của năng lực này:
+ Vừa có kỹ năng tiên đoán sự phát triển của những thuộc tính này hay khác
ở từng sinh viên, vừa nắm được nguyên nhân sinh ra cũng như mức độ phát triển của những thuộc tính đó
+ Có sự sáng rõ về những biểu hiện nhân cách của những sinh viên khác nhau sẽ thu được trong tương lai dưới ảnh hưởng của những dự án phát triển nhân cách do mình xây dựng