MỤC LỤC MỞ ĐẦU 04 1. Lí do chọn đề tài 04 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 05 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 05 4. Câu hỏi nghiên cứu 05 5. Tổng quan tài liệu 06 6. Phương pháp nghiên cứu khoa học 06 7. Kết cấu đề tài 06 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI Ở CÁC TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI 07 1.1. Các khái niệm về người cao tuổi và dịch vụ công tác xã hội chăm sóc người cao tuổi 07 1.1.1. Khái niệm người cao tuổi 07 1.1.2. Khái niệm dịch vụ 07 1.1.3. Khái niệm công tác xã hội 08 1.1.4. Khái niệm dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi 08 1.2. Cơ sở lí luận về dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi 09 1.2.1. Một số đặc điểm cơ bản của người cao tuổi 09 1.2.2. Những nguyên tắc cơ bản trong dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi 10 1.2.3. Các dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi tại các Trung tâm bảo trợ xã hội 10 1.2.3.1. Dịch vụ chăm sóc dài hạn 10 1.2.3.2. Dịch vụ chăm sóc ban ngày 11 1.2.4. Vai trò của các Trung tâm đối với người cao tuổi 12 CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC CHĂM SÓC, HỖ TRỢ NGƯỜI CAO TUỔI TẠI CÁC TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 13 2.1. Khái quát về Trung tâm bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên 13 2.2. Nhu cầu của người cao tuổi 13 2.3. Các dịch vụ công tác xã hội tại Trung tâm 15 2.4. Những khó khăn của người cao tuổi, của Trung tâm 16 2.4.1. Khó khăn của người cao tuổi 16 2.4.2. Khó khăn của Trung tâm bảo trợ xã hội 16 CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỊCH VỤ CÔNG TÁC CHĂM SÓC, HỖ TRỢ NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 19 3.1. Phát triển ngành công tác xã hội 19 3.2. Nâng cao chất lượng dịch vụ của Trung tâm đến với người cao tuổi 20 3.3. Xã hội hóa các dịch vụ công tác xã hội 21 3.4. Giải pháp về chính sách, pháp luật 21 3.5. Đẩy mạnh công tác truyền thông, quảng cáo Trung tâm bảo trợ xã hội 22 3.6. Đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất của Trung tâm 22 KẾT LUẬN 24 TÀI LIỆU THAM KHẢO 25 PHỤ LỤC 27 PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lí do chọn đề tài: Việt Nam hiện đang được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ già hóa dân số nhanh nhất Thế Giới. Thế hệ người cao tuổi ở nước ta đa số là những người đã từng tham gia trong các cuộc chiến tranh Việt Nam, họ đóng góp một phần không hề nhỏ vào việc bảo vệ chủ quyền dân tộc, làm rạng danh quê hương đất nước ta. Họ giữ một vai trò rất quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy những bản sắc dân tộc, những truyền thống tốt đẹp mà ông cha ta đã để lại từ bao đời nay. Chính vì vậy mà việc chăm sóc, hỗ trợ người già giúp nâng cao chất lượng cuộc sống về cả mặt vật chất và mặt tinh thần vừa là đạo lí, vừa là trách nhiệm của Đảng, nhà nước và toàn xã hội. Hiện nay, tỉ lệ người cao tuổi sống một mình hoặc trong gia đình chỉ có người cao tuổi sinh sống đang ngày càng gia tăng. Điều này gây ra nhiều khó khăn trong các công tác hỗ trợ người cao tuổi và tạo ra thách thức lớn đối với các trung tâm bảo trợ xã hội nói chung và các nhân viên công tác xã hội nói riêng. Nhận thấy sự cấp thiết từ việc cần phải cung cấp các dịch vụ đời sống cho người cao tuổi, những năm gần đây, Đảng và nhà nước ta đã có những chính sách trong việc hỗ trợ người cao tuổi. Mặc dù đã có những chuyển biến tích cực nhưng nhìn chung vẫn còn nhiều hạn chế. Do nguồn kinh phí nhà nước bảo trợ còn hạn hẹp, các trung tâm bảo trợ xã hội mới chỉ đáp ứng được những nhu cầu cơ bản về việc ăn, mặc, ở và dịch vụ sinh hoạt hàng ngày. Thái Nguyên là tỉnh mà dân số khá đông so với các tỉnh trong nước, tính đến 00 giờ 00 phút ngày 01/04/2019, dân số của tỉnh là 1.286.751 người, trong đó người cao tuổi chiếm 10,8% số dân (Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2020), thực tế này cho thấy Thái Nguyên đang bước vào giai đoạn già hóa dân số. Do đó, việc chủ động thích ứng với việc già hóa dân số đang được các cấp, ngành chức năng của tỉnh đặc biệt quan tâm. Tuy nhiên, do điều kiện về kinh tế, xã hội còn gặp nhiều hạn chế khó khăn nên các hoạt động cung cấp các dịch vụ giúp đỡ người cao tuổi về mặt vật chất, tinh thần còn gặp rất nhiều trở ngại. Từ đó mà yêu cầu gấp rút đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, đời sống cho người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên. Nhận thấy những hạn chế đó, mạnh dạn xin phép được nghiên cứu, lựa chọn đề tài khoa học: “Dịch vụ công tác chăm sóc, hỗ trợ người cao tuổi tại Trung tâm bảo trợ và Công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên” và đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao chất lượng đời sống của người cao tuổi tỉnh Thái Nguyên. 2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2.1. Mục đích nghiên cứu Đề tài nghiên cứu, đánh giá thực trạng dịch vụ công tác chăm sóc, hỗ trợ người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay và đề xuất giải pháp khắc phục những khó khăn đó. Từ đó chỉ rõ vai trò của nhân viên công tác xã hội đối với người cao tuổi tại Trung tâm bảo trợ xã hội. 2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu Để thực hiện mục đích nghiên cứu đã đề ra, đề tài tập trung phân tích các nhiệm vụ nghiên cứu sau: - Nghiên cứu một số lý luận về dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi. - Nghiên cứu, đánh giá một cách khách quan thực trạng của các Trung tâm bảo trợ xã hội cung cấp dịch vụ cho người cao tuổi. - Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở tỉnh Thái Nguyên. - Đưa ra giải pháp, kiến nghị để nâng cao chất lượng dịch vụ. - Chỉ rõ vai trò của nhân viên công tác xã hội. 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu - Đối tượng nghiên cứu: Nhóm người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên. - Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thuộc phạm vi tỉnh Thái Nguyên. 4. Câu hỏi nghiên cứu? - Thực trạng hiện nay của người cao tuổi ra sao? - Các Trung tâm bảo trợ xã hội có ý nghĩa như thế nào đối với hội người cao tuổi tỉnh Thái Nguyên? - Thực trạng các dịch vụ từ các Trung tâm bảo trợ xã hội đối với người cao tuổi hiện nay ra sao? - Cần phải có giải pháp gì để phát triển các dịch vụ hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi ở các Trung tâm bảo trợ xã hội? - Vai trò của nhân viên công tác xã hội ở đây là gì? 5. Tổng quan tài liệu Đề tài nghiên cứu khoa học này được thực hiện dựa trên tài liệu tham khảo từ các nguồn báo, mạng internet, các luận văn, luận án, tạp chí trong và ngoài nước, trang thông tin của tỉnh Thái Nguyên, Cục thống kê dân số,… 6. Phương pháp nghiên cứu khoa học - Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: tìm hiểu những tài liệu liên quan đến công tác xã hội như: Công tác xã hội đại cương, kĩ năng công tác xã hội nhóm của nhân viên công tác xã hội,… Đọc và phân tích những công trình nghiên cứu được phát hành thành văn bản trên sách, báo, tạp chí, luận văn, luận án, các văn bản pháp luật,… - Phương pháp khảo sát: Tiến hành thu thập thông tin bằng cách phỏng vấn các nhân viên công tác xã hội, người cao tuổi đang hưởng dịch vụ từ các trung tâm bảo trợ xã hội, phỏng vấn thêm người thân của người cao tuổi nhằm nắm rõ tình hình giúp đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn. - Phương pháp điều tra bảng hỏi: Tạo các phiếu khảo sát được thực hiện bằng cách in nhiều bảng hỏi giống nhau để hỏi nhiều người cũng một lúc. - Phương pháp quan sát: Quan sát qua thực tế để thu nhập thông tin về các dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi ở tỉnh Thái Nguyên. 7. Kết cấu đề tài: Phần nội dung của đề tài nghiên cứu gồm 3 chương: - Phần 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn - Phần 2: Thực trạng - Phần 3: Đề xuất giải pháp, kiến nghị và vai trò của nhân viên công tác xã hội. CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI Ở CÁC TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI 1.1. Các khái niệm về người cao tuổi và dịch vụ công tác xã hội chăm sóc người cao tuổi 1.1.1. Khái niệm người cao tuổi Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi. Trước kia, người ta dùng thuật ngữ “người già” vì theo họ “người già” là chỉ những người lớn tuổi, sức khỏe yếu không còn khả năng lao động hay chăm sóc bản thân mình nữa. Tuy nhiên, với thời buổi công nghệ 4.0 hiện nay, khi mà nền y học phát triển, các loại thực phẩm chức năng, thuốc điều trị được sản xuất ra thì “người già” hiện nay vẫn đủ sức khỏe để tự chăm lo cho bản thân mình hay thậm chí là kiếm được thu nhập nuôi sống bản thân. Chính vì vậy mà người ta đã sử dụng cụm từ “người cao tuổi” để thay thế cho “người già” với hàm nghĩa kính trọng hơn. Tiêu chí xác định ranh giới tuổi già hiện nay vẫn là một tiêu chí mở, mỗi quốc gia có một khái niệm khác nhau. Theo Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2010 quy định: “Người cao tuổi được quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”. 1.1.2. Khái niệm dịch vụ Dịch vụ là các hoạt động có ích của con người nhằm mang tới những sản phẩm không tồn tại được dưới dạng hình thái vật chất và không dẫn tới việc sở hữu hay chuyển giao quyền sở hữu. Thế nhưng vẫn có thể đáp ứng được đầy đủ và nhanh chóng, văn minh những nhu cầu về sản xuất và đời sống trong xã hội. Theo Philip Kotler (Lê Minh Trường, 2021): “Dịch vụ là bất kỳ hoạt động hay lợi ích nào mà chủ thể này có thể cung cấp cho chủ thể kia. Trong đó đối tượng cung cấp nhất định phải mang tính vô hình và không dẫn đến bất kỳ quyền sở hữu một vật nào cả. Còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không cần gắn liền với một sản phẩm vật chất nào”. Bản chất của dịch vụ là quá trình vận hành các hoạt động, hành vi dựa vào các yếu tố vô hình nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa xã hội với cá nhân. Hiệu suất của mỗi dịch vụ đều gắn với mục tiêu là mang lại giá trị nào đó cho người tiêu dùng. Là một quá trình, nó diễn ra theo một trình tự nhất định bao gồm nhiều giai đoạn, nhiều bước khác nhau. Trong mỗi giai đoạn đôi khi sẽ có thêm nhiều dịch vụ phụ, dịch vụ cộng thêm. Các dịch vụ không thể được nhìn thấy, nếm, cảm nhận, nghe hoặc ngửi trước khi bạn sử dụng chúng. Đặc điểm của dịch vụ bao gồm không thể tách rời, có nghĩa là dịch vụ được sản xuất và tiêu thụ cùng một lúc. 1.1.3. Khái niệm công tác xã hội Công tác xã hội là một nghề chuyên môn trợ giúp các đối tượng yếu thế giải quyết các vấn đề về việc thực hiện chức năng xã hội. Công tác xã hội là hoạt động đáp ứng những yêu cầu của thân chủ, là hoạt động chuyên môn phát triển liên tục, là một hình thức tổng hợp sáng tạo trong việc sử dụng những kiến thức, giá trị và các kỹ năng, là một tiến trình giải quyết vấn đề và là hoạt động can thiệp vào các tương tác xã hội của con người. Theo Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Hoa Kỳ - NASW (Ths. Nguyễn Trung Hải, 2011): “Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm, cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm thực hiện mục tiêu đó.” Theo Hiệp hội nhân viên CTXH thế giới – IFSW (TS. Trần Văn Kham, 2009): “Nghề công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ con người và thúc đẩy việc trao quyền lực và sự giải phóng nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Bằng việc sử dụng các học thuyết về hành vi con người và các hệ thống xã hội, công tác xã hội can thiệp vào sự tương tác với môi trường sống của họ”. Theo Tiến sĩ Bùi Thị Xuân Mai (2010)6: “Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội.” 1.1.4. Khái niệm dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi Dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi là các hoạt động được tổ chức do các trung tâm bảo trợ xã hội mở ra, ở đó thì các nhân viên công tác xã hội sẽ làm việc hết sức mình nhằm giúp đỡ khó khăn cho những người cao tuổi. Mỗi người cao tuổi sẽ có một vấn đề riêng của bản thân mình. Nhìn chung thì mọi khó khăn đều xoay quanh vấn đề sức khỏe, tiền bạc, tâm lí tuổi già,… Điều này cho thấy cần có sự đa dạng hóa về các dịch vụ công tác xã hội nhằm nâng cao chất lượng phục vụ người cao tuổi. Việc này đòi hỏi người cung cấp dịch vụ phải xác định được nhu cầu của từng đối tượng, xác định được khả năng trợ giúp của bản thân và nhanh chóng lên phương án giải quyết vấn đề một cách đúng đắn, phù hợp và hiệu quả nhất. Nếu được trợ giúp một cách liên tục về mặt vật chất lẫn mặt tinh thần, chất lượng cuộc sống người cao tuổi sẽ được nâng cao một cách đáng kể. 1.2. Cơ sở lí luận về dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi 1.2.1. Một số đặc điểm cơ bản của người cao tuổi Khi bước vào giai đoạn tuổi già, sức khỏe của người cao tuổi sẽ giảm sút rõ rệt. Sự lão hóa của cơ thể sẽ làm suy giảm hoặc mất hẳn các chức năng nghe, nhìn, đi lại. Người cao tuổi có nguy cơ mắc các bệnh lí nền về tim mạch, huyết áp, Alzheimer hoặc thậm chí là tai biến, đột quỵ. Những điều đó sẽ trở thành mối đe dọa cận kề đối với người cao tuổi và người thân của họ. Bước vào giai đoạn này, tâm lí của người cao tuổi cũng có một sự chuyển biến sâu theo hướng tiêu cực. Họ chuyển từ trạng thái làm việc, tiếp xúc với nhiều người, với xã hội,… sang trạng thái thư thản, nghỉ ngơi, ít tiếp xúc với mọi người, với xã hội. Nhiều người cao tuổi bị sốc do không kịp làm quen với giai đoạn này. Họ cảm thấy buồn chán, thiếu tự tin, cảm thấy bản thân già yếu, vô dụng,… Với tình hình sức khỏe ngày một giảm sút, họ cũng sợ đối mặt với cái chết. Hoặc là họ cảm thấy cô đơn hơn, nhạy cảm hơn với lời nói, cái nhìn từ phía gia đình,… Tại một đất nước đang phát triển như Việt Nam, người cao tuổi thuộc nhóm nghèo nhất trong các nhóm nghèo. Chính tình trạng ấy đã ảnh hưởng rất lớn đến vấn đề ăn uống, vệ sinh, sức khỏe, khiến họ khó mà tiếp cận được với các dịch vụ xã hội. Đáng buồn là một số lượng không nhỏ người cao tuổi vẫn phải tiếp tục lao động để trang trải cuộc sống.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 04
1 Lí do chọn đề tài 04
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 05
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 05
4 Câu hỏi nghiên cứu 05
5 Tổng quan tài liệu 06
6 Phương pháp nghiên cứu khoa học 06
7 Kết cấu đề tài 06
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI Ở CÁC TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI 07
1.1 Các khái niệm về người cao tuổi và dịch vụ công tác xã hội chăm sóc người cao tuổi 07
1.1.1 Khái niệm người cao tuổi 07
1.1.2 Khái niệm dịch vụ 07
1.1.3 Khái niệm công tác xã hội 08
1.1.4 Khái niệm dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi 08
1.2 Cơ sở lí luận về dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi 09
1.2.1 Một số đặc điểm cơ bản của người cao tuổi 09
1.2.2 Những nguyên tắc cơ bản trong dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi 10
1.2.3 Các dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi tại các Trung tâm bảo trợ xã hội 10
1.2.3.1 Dịch vụ chăm sóc dài hạn 10
1.2.3.2 Dịch vụ chăm sóc ban ngày 11
1.2.4 Vai trò của các Trung tâm đối với người cao tuổi 12
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC CHĂM SÓC, HỖ TRỢ NGƯỜI CAO TUỔI TẠI CÁC TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI Ở TỈNH THÁI NGUYÊN 13
2.1 Khái quát về Trung tâm bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên 13
2.2 Nhu cầu của người cao tuổi 13
2.3 Các dịch vụ công tác xã hội tại Trung tâm 15
2.4 Những khó khăn của người cao tuổi, của Trung tâm 16
2.4.1 Khó khăn của người cao tuổi 16
2.4.2 Khó khăn của Trung tâm bảo trợ xã hội 16
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DỊCH VỤ CÔNG TÁC CHĂM SÓC, HỖ TRỢ NGƯỜI CAO TUỔI TẠI TRUNG
Trang 33.1 Phát triển ngành công tác xã hội 19
3.2 Nâng cao chất lượng dịch vụ của Trung tâm đến với người cao tuổi 20 3.3 Xã hội hóa các dịch vụ công tác xã hội 21
3.4 Giải pháp về chính sách, pháp luật 21
3.5 Đẩy mạnh công tác truyền thông, quảng cáo Trung tâm bảo trợ xã hội 22
3.6 Đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất của Trung tâm 22
KẾT LUẬN 24
TÀI LIỆU THAM KHẢO 25
PHỤ LỤC 27 3.7.
Trang 4PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài:
Việt Nam hiện đang được đánh giá là một trong những quốc gia có tốc độ giàhóa dân số nhanh nhất Thế Giới Thế hệ người cao tuổi ở nước ta đa số là những người
đã từng tham gia trong các cuộc chiến tranh Việt Nam, họ đóng góp một phần không
hề nhỏ vào việc bảo vệ chủ quyền dân tộc, làm rạng danh quê hương đất nước ta Họgiữ một vai trò rất quan trọng trong việc bảo tồn và phát huy những bản sắc dân tộc,những truyền thống tốt đẹp mà ông cha ta đã để lại từ bao đời nay Chính vì vậy màviệc chăm sóc, hỗ trợ người già giúp nâng cao chất lượng cuộc sống về cả mặt vật chất
và mặt tinh thần vừa là đạo lí, vừa là trách nhiệm của Đảng, nhà nước và toàn xã hội
Hiện nay, tỉ lệ người cao tuổi sống một mình hoặc trong gia đình chỉ có ngườicao tuổi sinh sống đang ngày càng gia tăng Điều này gây ra nhiều khó khăn trong cáccông tác hỗ trợ người cao tuổi và tạo ra thách thức lớn đối với các trung tâm bảo trợ xãhội nói chung và các nhân viên công tác xã hội nói riêng
Nhận thấy sự cấp thiết từ việc cần phải cung cấp các dịch vụ đời sống chongười cao tuổi, những năm gần đây, Đảng và nhà nước ta đã có những chính sáchtrong việc hỗ trợ người cao tuổi Mặc dù đã có những chuyển biến tích cực nhưng nhìnchung vẫn còn nhiều hạn chế Do nguồn kinh phí nhà nước bảo trợ còn hạn hẹp, cáctrung tâm bảo trợ xã hội mới chỉ đáp ứng được những nhu cầu cơ bản về việc ăn, mặc,
ở và dịch vụ sinh hoạt hàng ngày
Thái Nguyên là tỉnh mà dân số khá đông so với các tỉnh trong nước, tính đến 00giờ 00 phút ngày 01/04/2019, dân số của tỉnh là 1.286.751 người, trong đó người cao
tuổi chiếm 10,8% số dân (Cục Thống kê tỉnh Thái Nguyên, 2020), thực tế này cho
thấy Thái Nguyên đang bước vào giai đoạn già hóa dân số Do đó, việc chủ động thíchứng với việc già hóa dân số đang được các cấp, ngành chức năng của tỉnh đặc biệtquan tâm Tuy nhiên, do điều kiện về kinh tế, xã hội còn gặp nhiều hạn chế khó khănnên các hoạt động cung cấp các dịch vụ giúp đỡ người cao tuổi về mặt vật chất, tinhthần còn gặp rất nhiều trở ngại Từ đó mà yêu cầu gấp rút đề xuất các biện pháp nhằmnâng cao chất lượng dịch vụ, đời sống cho người cao tuổi trên địa bàn tỉnh TháiNguyên
Trang 5Nhận thấy những hạn chế đó, mạnh dạn xin phép được nghiên cứu, lựa chọn đềtài khoa học: “Dịch vụ công tác chăm sóc, hỗ trợ người cao tuổi tại Trung tâm bảo trợ
và Công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên” và đề xuất một số giải pháp giúp nâng cao chấtlượng đời sống của người cao tuổi tỉnh Thái Nguyên
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu, đánh giá thực trạng dịch vụ công tác chăm sóc, hỗtrợ người cao tuổi trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên hiện nay và đề xuấtgiải pháp khắc phục những khó khăn đó Từ đó chỉ rõ vai trò củanhân viên công tác xã hội đối với người cao tuổi tại Trung tâm bảotrợ xã hội
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu đã đề ra, đề tài tập trung phân tíchcác nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu một số lý luận về dịch vụ chăm sóc sức khỏe người
cao tuổi
- Nghiên cứu, đánh giá một cách khách quan thực trạng của các
Trung tâm bảo trợ xã hội cung cấp dịch vụ cho người cao tuổi
- Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ chăm sóc sức khỏe người cao
tuổi ở tỉnh Thái Nguyên
- Đưa ra giải pháp, kiến nghị để nâng cao chất lượng dịch vụ.
- Chỉ rõ vai trò của nhân viên công tác xã hội
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Nhóm người cao tuổi từ 60 tuổi trở lên.
- Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu thuộc phạm vi tỉnh Thái Nguyên
4 Câu hỏi nghiên cứu?
- Thực trạng hiện nay của người cao tuổi ra sao?
- Các Trung tâm bảo trợ xã hội có ý nghĩa như thế nào đối với hội người cao
tuổi tỉnh Thái Nguyên?
Trang 6- Thực trạng các dịch vụ từ các Trung tâm bảo trợ xã hội đối với người cao
tuổi hiện nay ra sao?
- Cần phải có giải pháp gì để phát triển các dịch vụ hỗ trợ, chăm sóc sức khỏe
người cao tuổi ở các Trung tâm bảo trợ xã hội?
- Vai trò của nhân viên công tác xã hội ở đây là gì?
5 Tổng quan tài liệu
Đề tài nghiên cứu khoa học này được thực hiện dựa trên tài liệu tham khảo từcác nguồn báo, mạng internet, các luận văn, luận án, tạp chí trong và ngoài nước, trangthông tin của tỉnh Thái Nguyên, Cục thống kê dân số,…
6 Phương pháp nghiên cứu khoa học
- Phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu: tìm hiểu những tài liệu liên quan
đến công tác xã hội như: Công tác xã hội đại cương, kĩ năng công tác xã hộinhóm của nhân viên công tác xã hội,… Đọc và phân tích những công trìnhnghiên cứu được phát hành thành văn bản trên sách, báo, tạp chí, luận văn,luận án, các văn bản pháp luật,…
- Phương pháp khảo sát: Tiến hành thu thập thông tin bằng cách phỏng vấn
các nhân viên công tác xã hội, người cao tuổi đang hưởng dịch vụ từ cáctrung tâm bảo trợ xã hội, phỏng vấn thêm người thân của người cao tuổinhằm nắm rõ tình hình giúp đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn
- Phương pháp điều tra bảng hỏi: Tạo các phiếu khảo sát được thực hiện bằng
cách in nhiều bảng hỏi giống nhau để hỏi nhiều người cũng một lúc
- Phương pháp quan sát: Quan sát qua thực tế để thu nhập thông tin về các
dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi ở tỉnh Thái Nguyên
7 Kết cấu đề tài:
Phần nội dung của đề tài nghiên cứu gồm 3 chương:
- Phần 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
- Phần 2: Thực trạng
- Phần 3: Đề xuất giải pháp, kiến nghị và vai trò của nhân viên công tác xã
hội
Trang 7CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI Ở CÁC
TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI CAO TUỔI
1.1 Các khái niệm về người cao tuổi và dịch vụ công tác xã hội chăm sóc người
cao tuổi
1.1.1 Khái niệm người cao tuổi
Có rất nhiều khái niệm khác nhau về người cao tuổi Trước kia, người ta dùngthuật ngữ “người già” vì theo họ “người già” là chỉ những người lớn tuổi, sức khỏeyếu không còn khả năng lao động hay chăm sóc bản thân mình nữa Tuy nhiên, vớithời buổi công nghệ 4.0 hiện nay, khi mà nền y học phát triển, các loại thực phẩm chứcnăng, thuốc điều trị được sản xuất ra thì “người già” hiện nay vẫn đủ sức khỏe để tựchăm lo cho bản thân mình hay thậm chí là kiếm được thu nhập nuôi sống bản thân.Chính vì vậy mà người ta đã sử dụng cụm từ “người cao tuổi” để thay thế cho “ngườigià” với hàm nghĩa kính trọng hơn
Tiêu chí xác định ranh giới tuổi già hiện nay vẫn là một tiêu chí mở, mỗi quốcgia có một khái niệm khác nhau Theo Luật Người cao tuổi Việt Nam năm 2010 quyđịnh: “Người cao tuổi được quy định trong Luật này là công dân Việt Nam từ đủ 60tuổi trở lên”
1.1.2 Khái niệm dịch vụ
Dịch vụ là các hoạt động có ích của con người nhằm mang tới những sản phẩmkhông tồn tại được dưới dạng hình thái vật chất và không dẫn tới việc sở hữu haychuyển giao quyền sở hữu Thế nhưng vẫn có thể đáp ứng được đầy đủ và nhanhchóng, văn minh những nhu cầu về sản xuất và đời sống trong xã hội
Theo Philip Kotler (Lê Minh Trường, 2021): “Dịch vụ là bất kỳ hoạt động haylợi ích nào mà chủ thể này có thể cung cấp cho chủ thể kia Trong đó đối tượng cungcấp nhất định phải mang tính vô hình và không dẫn đến bất kỳ quyền sở hữu một vậtnào cả Còn việc sản xuất dịch vụ có thể hoặc không cần gắn liền với một sản phẩmvật chất nào”
Trang 8Bản chất của dịch vụ là quá trình vận hành các hoạt động, hành vi dựa vào cácyếu tố vô hình nhằm giải quyết các mối quan hệ giữa xã hội với cá nhân Hiệu suất củamỗi dịch vụ đều gắn với mục tiêu là mang lại giá trị nào đó cho người tiêu dùng Làmột quá trình, nó diễn ra theo một trình tự nhất định bao gồm nhiều giai đoạn, nhiềubước khác nhau Trong mỗi giai đoạn đôi khi sẽ có thêm nhiều dịch vụ phụ, dịch vụcộng thêm Các dịch vụ không thể được nhìn thấy, nếm, cảm nhận, nghe hoặc ngửitrước khi bạn sử dụng chúng Đặc điểm của dịch vụ bao gồm không thể tách rời, cónghĩa là dịch vụ được sản xuất và tiêu thụ cùng một lúc
1.1.3 Khái niệm công tác xã hội
Công tác xã hội là một nghề chuyên môn trợ giúp các đối tượng yếu thế giảiquyết các vấn đề về việc thực hiện chức năng xã hội Công tác xã hội là hoạt động đápứng những yêu cầu của thân chủ, là hoạt động chuyên môn phát triển liên tục, là mộthình thức tổng hợp sáng tạo trong việc sử dụng những kiến thức, giá trị và các kỹnăng, là một tiến trình giải quyết vấn đề và là hoạt động can thiệp vào các tương tác xãhội của con người
Theo Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Hoa Kỳ - NASW (Ths Nguyễn TrungHải, 2011): “Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm, cộngđồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạonhững điều kiện thích hợp nhằm thực hiện mục tiêu đó.”
Theo Hiệp hội nhân viên CTXH thế giới – IFSW (TS Trần Văn Kham, 2009):
“Nghề công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan
hệ con người và thúc đẩy việc trao quyền lực và sự giải phóng nhằm nâng cao chấtlượng cuộc sống Bằng việc sử dụng các học thuyết về hành vi con người và các hệthống xã hội, công tác xã hội can thiệp vào sự tương tác với môi trường sống của họ”
Theo Tiến sĩ Bùi Thị Xuân Mai (2010)6: “Công tác xã hội là một nghề, mộthoạt động chuyên nghiệp nhằm giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng caonăng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môitrường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình vàcộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xãhội.”
Trang 91.1.4 Khái niệm dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi
Dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi là các hoạt động được tổ chức docác trung tâm bảo trợ xã hội mở ra, ở đó thì các nhân viên công tác xã hội sẽ làm việchết sức mình nhằm giúp đỡ khó khăn cho những người cao tuổi
Mỗi người cao tuổi sẽ có một vấn đề riêng của bản thân mình Nhìn chung thìmọi khó khăn đều xoay quanh vấn đề sức khỏe, tiền bạc, tâm lí tuổi già,… Điều nàycho thấy cần có sự đa dạng hóa về các dịch vụ công tác xã hội nhằm nâng cao chấtlượng phục vụ người cao tuổi
Việc này đòi hỏi người cung cấp dịch vụ phải xác định được nhu cầu của từngđối tượng, xác định được khả năng trợ giúp của bản thân và nhanh chóng lên phương
án giải quyết vấn đề một cách đúng đắn, phù hợp và hiệu quả nhất Nếu được trợ giúpmột cách liên tục về mặt vật chất lẫn mặt tinh thần, chất lượng cuộc sống người caotuổi sẽ được nâng cao một cách đáng kể
1.2 Cơ sở lí luận về dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi
1.2.1 Một số đặc điểm cơ bản của người cao tuổi
Khi bước vào giai đoạn tuổi già, sức khỏe của người cao tuổi sẽ giảm sút rõ rệt
Sự lão hóa của cơ thể sẽ làm suy giảm hoặc mất hẳn các chức năng nghe, nhìn, đi lại.Người cao tuổi có nguy cơ mắc các bệnh lí nền về tim mạch, huyết áp, Alzheimer hoặcthậm chí là tai biến, đột quỵ Những điều đó sẽ trở thành mối đe dọa cận kề đối vớingười cao tuổi và người thân của họ
Bước vào giai đoạn này, tâm lí của người cao tuổi cũng có một sự chuyển biếnsâu theo hướng tiêu cực Họ chuyển từ trạng thái làm việc, tiếp xúc với nhiều người,với xã hội,… sang trạng thái thư thản, nghỉ ngơi, ít tiếp xúc với mọi người, với xã hội.Nhiều người cao tuổi bị sốc do không kịp làm quen với giai đoạn này Họ cảm thấybuồn chán, thiếu tự tin, cảm thấy bản thân già yếu, vô dụng,… Với tình hình sức khỏengày một giảm sút, họ cũng sợ đối mặt với cái chết Hoặc là họ cảm thấy cô đơn hơn,nhạy cảm hơn với lời nói, cái nhìn từ phía gia đình,…
Trang 10Tại một đất nước đang phát triển như Việt Nam, người cao tuổi thuộc nhómnghèo nhất trong các nhóm nghèo Chính tình trạng ấy đã ảnh hưởng rất lớn đến vấn
đề ăn uống, vệ sinh, sức khỏe, khiến họ khó mà tiếp cận được với các dịch vụ xã hội.Đáng buồn là một số lượng không nhỏ người cao tuổi vẫn phải tiếp tục lao động đểtrang trải cuộc sống
1.2.2 Những nguyên tắc cơ bản trong dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi
- Chấp nhận thân chủ.
- Tạo điều kiện để thân chủ tham gia giải quyết vấn đề.
- Tôn trọng tiếng nói của thân chủ.
- Đảm bảo tính cá nhân hóa, tính bảo mật của thân chủ.
- Tự ý thức về bản thân.
- Đảm bảo mối quan hệ nghề nghiệp.
1.2.3 Các dịch vụ công tác xã hội với người cao tuổi tại các Trung tâm bảo trợ xã
hội
1.2.3.1 Dịch vụ chăm sóc dài hạn
Người cao tuổi sẽ được đưa vào các Trung tâm bảo trợ xã hội được chăm sóctập trung, dài hạn với đa số các trường hợp là được chăm sóc đến cuối đời Họ sẽ đượcquan tâm, chăm sóc toàn diện một cách thường xuyên và nhanh chóng Người cao tuổi
sẽ được chăm sóc bởi đội ngũ nhân viên công tác xã hội chuyên nghiệp, có kiến thức,kinh nghiệm với cơ sở vật chất phù hợp nhất với từng đặc điểm của người cao tuổi
Dịch vụ này có một hạn chế mà ảnh hưởng khá lớn đến tâm lí của người caotuổi khi mà phải xa cách người thân, bạn bè, cách li với xã hội
Dịch vụ này được chia làm hai loại: Dịch vụ chăm sóc theo cơ chế nhà nước chitrả và dịch vụ chăm sóc theo cơ chế tự nguyện do cá nhân, người thân tự trả phí
Đối với dịch vụ chăm sóc do nhà nước chi trả, đối tượng ở đây là những ngườicao tuổi có hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn, không có người thân chăm sóc, cóvấn đề về sức khỏe không thể tự chăm sóc bản thân mình được,… Nhà nước sẽ dùngngân sách để chi trả các phí dịch vụ cho những người cao tuổi này Dịch vụ này chỉđược cung cấp bởi hệ thống các trung tâm bảo trợ xã hội công lập Mội trung tâm sẽđược giao phụ trách việc tiếp nhận những đối tượng người cao tuổi cư trú trên một địa
Trang 11bàn nhất địcnh do cơ quan chức năng quy định Tuy nhiên, chất lượng chăm sóc của
họ sẽ thấp hơn những đối tượng cao tuổi mà chi trả phí dịch vụ theo cơ chế tự nguyện.Các Trung tâm mới chỉ tập trung vào việc nuôi dưỡng, chăm sóc sức khỏe, việc chăm
lo đời sống văn hóa tinh thần của họ vẫn còn nhiều hạn chế
Đối với dịch vụ chăm sóc dài hạn theo cơ chế tự nguyện, do cá nhân hoặc ngườithân của người cao tuổi tự chi trả các mức phí dịch vụ Đối tượng của dịch vụ này lànhững người cao tuổi có mức thu nhập ổn định, có tích lũy tài sản lớn Họ được quyềnchọn lựa các dịch vụ mà theo họ cho là phù hợp nhất Chính vì vậy mà chất lượngcuộc sống của họ sẽ cao hơn so với các dịch vụ chăm sóc do nhà nước chi trả
1.2.3.2 Dịch vụ chăm sóc ban ngày
Đây là một lựa chọn cho các gia đình khi mà tất cả người thân phải đi làm, đihọc,… có việc bận mà không thể bỏ thời gian ra chăm sóc người cao tuổi được Banngày, người cao tuổi sẽ được đưa đến các Trung tâm bảo trợ, buổi tối và các ngày cuốituần họ sẽ được người thân đón về chăm sóc tại nhà
Ưu điểm của dịch vụ chăm sóc này là người cao tuổi được tiếp nhận các dịch vụchăm sóc từ những nhân viên công tác xã hội dày dặn kinh nghiệm mà vẫn giữ đượccác mối quan hệ thân thiết với người thâ, bạn bè, xã hội Đây là một lựa chọn mớitrong chăm sóc người cao tuổi hiện nay, giúp tiết kiệm ngân sách của gia đình và củacác Trung tâm bảo trợ
Các dịch vụ thường bao gồm các hoạt động sau:
- Hỗ trợ chăm sóc sức khỏe: Đo huyết áp, tái khám, điều trị các bệnh đơn
giản, cho uống thuốc đúng giờ, tập các bài vật lí trị liệu,…
- Cung cấp các bữa ăn với chế độ dinh dưỡng phù hợp.
- Tổ chức các hoạt động phù hợp với khả năng của người cao tuổi có thể tham
gia
- Tư vấn về các phương pháp chăm sóc cho bản thân và người thân của người
cao tuổi
- Tổ chức đưa đón người cao tuổi, người thân của họ từ gia đình đến trung
tâm và ngược lại
- …
Trang 121.2.4 Vai trò của các Trung tâm đối với người cao tuổi
Với thời đại 4.0 ngày nay, khi mà các điều kiện về kinh tế, xã hội đang pháttriển ngày càng nhanh chóng theo chiều hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Điều đóđặt ra nhiều yêu cầu bức thiết nhằm giải quyết các vấn đề an sinh xã hội Khi mà tốc
độ già hóa của nước ta đang ngày càng gia tăng, các nhu cầu của người cao tuổi ngàycàng nhiều hơn, sự xuất hiện của các Trung tâm bảo trợ xã hội như một luồng gió mớithổi mát, xoa dịu vấn đề nóng hổi này:
Thứ nhất, các Trung tâm bảo trợ giúp người cao tuổi nâng cao nhận thức đếnvấn đề sức khỏe của bản thân, giúp nâng cao đời sống và chất lượng sức khỏe của họ
Thứ hai, giảm sự phụ thuộc của người cao tuổi vào người thâ, gia đình của họ.Khi được tiếp nhận các dịch vụ chăm sóc từ các nhân viên công tác xã hội có kinhnghiệm, chuyên môn
Thứ ba, ngoài việc chăm sóc sức khỏe còn chú trọng đến chăm sóc tâm lí chongười cao tuổi Giúp người cao tuổi tránh cảm giác buồn bực, tự ti, cô đơn, lạc lõng,…Giúp gắn kết mối liên hệ giữa họ với gia đình, người thân, bạn bè
Thứ tư, giúp cộng đồng cũng như chính bản thân người cao tuổi nhìn ra đượctiềm năng của bản thân mình, từ đó có các giải pháp phát huy bản thân người cao tuổi,
từ đó nâng cao vị thế, địa vị của người cao tuổi trong xã hội
Thứ năm, huy động các nguồn nhân lực, các nguồn vốn tài trợ để phục vụ chămsóc người cao tuổi, giúp chất lượng đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổiđược nâng cao và cải thiện
Trang 13CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC CHĂM SÓC, HỖ TRỢ NGƯỜI CAO TUỔI TẠI CÁC TRUNG TÂM BẢO TRỢ XÃ HỘI Ở TỈNH THÁI NGUYÊN
2.1 Khái quát về Trung tâm bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên
Trung tâm bảo trợ và công tác xã hội tỉnh Thái Nguyên được thành lập ngày12/09/2018, Số 47, Tổ 36, Phường Quang Trung, TP Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên(Sở Lao động - Thương Binh và Xã Hội tỉnh Thái Nguyên, 2018) Trung tâm là đơn vịtrực thuộc của Sở Lao động – Thương binh và Xã hội Trung tâm có tư cách phápnhân, được sử dụng con dấu riêng và được mở tài khoản tại Kho bạc Nhà nước để hoạtđộng theo quy định của Pháp Luật
Trung tâm có chức năng, nhiệm vụ giúp Giám đốc Sở Lao động – Thương binh
và xã hội tổ chức thực hiện các hoạt động về lĩnh vực Công tác xã hội theo quy địnhcủa pháp luật Trung tâm chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp của Sở Lao động – Thươngbinh và xã hội, đồng thời chịu sự chỉ đạo hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ của BộLao động – Thương binh và xã hội
Tại Trung tâm, các đối tượng được thăm khám sức khỏe thường xuyên, đượccập nhật, ghi chép sổ sách, lập, hồ sơ bệnh án đầy đủ Điều trị kịp thời, đúng nguyêntắc và hiệu quả, với các đối tượng bệnh nặng được cấp cứu kịp thời và chuyển tuyếntrên điều trị Các cán bộ chăm sóc, nuôi dưỡng luôn gần gũi, thân thiện, luôn nắm bắttâm tư, nguyện vọng của thân chủ để kịp thời động viên tâm lý, đưa ra những cáchthức giáo dục, nuôi dưỡng phù hợp Đối với các cụ già yếu, một số phải nằm bất động,nhân viên hộ lý, y tế thường trực chăm sóc, động viên, chia sẻ như người ruột thịttrong gia đình
Hầu hết, người cao tuổi ở đây đều thiếu thốn tình cảm của gia đình nên mỗinhân viên công tác xã hội luôn tìm cách tiếp cận, đưa ra những biện pháp chăm sóchợp lý với mỗi trường hợp để các cụ được khỏe mạnh về thể chất và vui vẻ về tinhthần, sẵn sàng chia sẻ, tâm sự những tâm tư và vấn đề đang gặp phải Hàng tháng,Trung tâm sẽ tổ chức các buổi sinh hoạt nhóm để giao lưu chia sẻ và tham gia trò chơi,văn nghệ, đọc báo, thể dục, thể thao… dưới nhiều hình thức, nội dung hấp dẫn
Hàng năm, vào dịp Tết Nguyên đán, Tết Trung thu, Trung tâm đều tổ chứcmừng thọ cho các cụ cao tuổi, tặng quà, mừng tuổi, biểu diễn văn nghệ… tạo nên bầukhông khí vui tươi, thoải mái Nhờ vậy, Trung tâm luôn trở thành địa chỉ thân thương,chốn đi về ấm áp tình thân của những con người có hoàn cảnh đặc biệt
2.2 Nhu cầu của người cao tuổi
Trang 14- Nhu cầu về ăn ở: Vì vấn đề về sức khỏe, hầu hết người cao tuổi đều mong
muốn có một chế độ ăn uống dinh dưỡng phù hợp với bản thân mình Dosức khỏe bản thân ngày càng yếu đi, họ mong muốn có một không gian yêntĩnh, toáng mát và đặc biệt là không thích ở tầng cao
- Nhu cầu về an toàn: Vì độ tuổi này sức khỏe ngày một yếu đi, cộng thêm
bản tính lo trước lo sau của người cao tuổi, họ đòi hỏi rất cao về sự an toàncủa Trung tâm Điều này đòi hỏi Trung tâm phải luôn làm mới cơ sở vậtchất để tạo không khí vui vẻ, không căng thẳng ở người cao tuổi
- Nhu cầu tình cảm: Ở tuổi này, các mối quan hệ bị thu hẹp lại Đối với những
người cao tuổi ở dìa hạn trong Trung tâm, họ đòi hỏi khá mãnh liệt về mặttình cảm Họ luôn cảm thấy không ai muốn lắng nghe, tâm sự với mình
- Nhu cầu về sức khỏe: Người cao tuổi đều mong có được sức khỏe tốt, họ chỉ
mong bản thân có một sức khỏe tốt để sống, để vui chơi, để nghỉ ngơi Đó làmong muốn bình dị cuối đời của họ
Đối với các nhu cầu của người cao tuổi, Trung tâm đã tiếp nhận và có nhữngcải thiện rõ rệt:
- Nhu cầu về ăn ở: Bộ phận dinh dưỡng luôn tìm cách thay đổi, nhằm đa
dạng, phong phú các món ăn cũng như chất lượng dinh dưỡng cho các cụ.Môi trường sống được xây dựng lành mạnh, thoải mái, yên tĩnh đáp ứng đầy
đủ nhu cầu của người cao tuổi
- Nhu cầu về an toàn: Trung tâm luôn đặt vấn đề an toàn của Người cao tuôi
lên hàng đầu, đảm bảo an toàn về nơi ở, về chế độ dinh dưỡng, về con người
là quy định quan trọng nhất của Trung tâm luôn được nhấn mạnh đến cáccán bộ, công nhân viên công tác xã hội
- Nhu cầu về tình cảm: Trung tâm luôn quan tâm đến đời sống tinh thần của
người cao tuổi, cán bộ nhân viên luôn luôn tổ chức thăm hỏi, trò chuyện,tâm sự với người cao tuổi Khi người cao tuổi ốm đau hoặc muộn phiền đềuđược các nhân viên công tác xã hội bắt chuyện, chia sẻ và xoa dịu tâm lí củahọ
- Nhu cầu về được tôn trọng: Trung tâm luôn đề cao nhu cầu của người cao
tuổi từ những giao tiếp sinh hoạt hằng ngày Trung tâm có nội quy riêng về